Khái niệm Cán cân thương mại là cán cân đo lường độ chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia hay một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thư
Trang 1Lời mở đầu
Trong thời gian qua, cán cân thương mại của Việt Nam thường xuyên ở trong tình trạng thâm hụt, lại diễn biến phức tạp , có tính hệ thống và có chiều hướng gia tăng ở mức cao Điều này đã có tác động và ảnh hưởng tới nhiều cân đối kinh tế vĩ mô khác của đất nước cũng như gây nên những lo ngại nhất định từ phía Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát và điều chỉnh cán cân thương mại để góp phần tích cực vào ổn định và phát triển kinh tế theo hướng bền vững Có thể nói, một trong những lý do quan trọng khiến cho sự lo ngại này chưa được giải quyết chính bởi vì tới nay vẫn chưa có một câu trả lời thực sự rõ ràng, mạnh mẽ và đáng tin cậy về tình trạng này được đưa ra
Trước tình hình đó, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện chuyển đổi mô hình phát triển gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng và thực chất hơn các giai đoạn trước rất nhiều, bối cảnh và điều kiện phát triển kinh tế đất nước trong thời gian tới có nhiều sự thay đổi rất cơ bản…, thì việc cần thiết phải có những nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề nêu trên là rất cấp bách để từ đó có những giải pháp, hướng đi phù hợp trong thời gian tới
Với nhận thức về tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, chúng em đã lựa chọn đề tài thảo
luận là: "Cán cân thương mại và thâm hụt cán cân thương mại ở Việt Nam", với hy
vọng sẽ góp phần phân tích, làm rõ thực trạng cán cân thương mại và việc điều chỉnh cán cân thương mại của Việt Nam thời gian qua, từ đó có cái nhìn chính xác hơn về cán cân thương mại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Do thời gian có hạn nên bài thảo luận sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cô giáo và các bạn trong lớp
Chân thành cảm ơn cô giáo đã giúp chúng em hoàn thành bài thảo luận này
Trang 2PHẦN I TỔNG QUAN VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm
Cán cân thương mại là cán cân đo lường độ chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và
nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia hay một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
Tùy thuộc vào độ chênh lệch giữa giá trị của xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia hay một nền kinh tế trong từng giai đoạn, chúng ta có các trạng thái khác nhau của CCTM của quốc gia hay nền kinh tế đó Cụ thể, khi mức chênh lệch là lớn hơn
0, thì CCTM có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì CCTM có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, CCTM ở trạng thái cân bằng
1.2 Tác động của cán cân thương mại đến nền kinh tế vĩ mô
Sự thay đổi trong tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu cùng với giá trị chênh lệch giữa 2 ngành nhập khẩu – xuất khẩu, gọi chung là CCTM - công cụ đo lường quan trọng phản ánh xu hướng nền kinh tế trong nước và nước ngoài Số liệu CCTM không chỉ tác động trực tiếp tới biến động của các thị trường tài chính, nó còn gây hiệu ứng ảnh hưởng cơ bản tới giá trị đồng tiền của một quốc gia trên thị trường ngoại hối Giá trị nhập khẩu chỉ ra nhu cầu hàng hoá và dịch vụ từ thị trường nước ngoài của người dân trong nước, trong khi đó giá trị xuất khẩu cho thấy nhu cầu hàng hoá do một nước cung ứng tới thị trường các nước khác Ở một khía cạnh nào đó, đồng tiền của một nền kinh tế rất nhạy cảm với biến động bất ổn của nền kinh tế chủ yếu xuất phát từ sự thâm hụt thương mại và giá trị đồng này chỉ ổn định khi số liệu CCTM cho thấy nhu cầu hàng hoá và dịch vụ từ các nước khác nhiều hơn, dẫn tới thặng dư thương mại Thị trường trái phiếu khá nhạy cảm với các nguy cơ đến từ lạm phát nhập khẩu Thông qua báo cáo CCTM của một quốc gia, nhà đầu tư có thể nhận biết được một cách khái quát và toàn diện về tình hình thương mại của quốc gia đó so với các quốc gia khác trên thế giới Nếu như báo cáo CCTM thặng dư, nghĩa là kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia
mở rộng nhiều hơn so với nhập khẩu, cho thấy dấu hiệu nền kinh tế của quốc gia đó đang tăng trưởng mạnh mẽ và mở ra nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn ở quốc gia đó Ngược lại báo cáo CCTM thâm hụt cho thấy năng lực cạnh tranh của quốc gia đó kém CCTM có ảnh hưởng lên lãi suất và giá chứng khoán Giá chứng khoán rớt nếu CCTM thâm hụt, chỉ ra năng lực cạnh tranh của các công ty trong nước kém Mặt khác, thâm hụt CCTM cho thấy nhập khẩu tăng, khi đó lãi suất có xu hướng tăng, tỷ giá hối đoái có thể tăng dựa vào thâm hụt CCTM
Một số liệu CCTM tích cực cho thấy thặng dư thương mại trong khi số liệu tiêu cực cho thấy thâm hụt thương mại Đây là sự kiện kinh tế kích thích tính biến động của đồng USD Nếu nhu cầu trao đổi xuất khẩu ổn định thì sẽ dẫn dến tăng trưởng CCTM tích cực, khi đó sẽ hỗ trợ đồng USD và ngược lại
1.3 Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại
1.3.1 Cơ cấu Xuất-Nhập khẩu của Việt Nam
Về xuất khẩu, chủ yếu là nông lâm thủy hải sản, nguyên vật liệu thô như than đá,
dầu thô,về công nghiệp chủ yếu là các nhóm hàng giá trị thấp cần nguồn nhân công dồi dào, rẻ mạt như hàng gia công, dệt may, giày da
Trang 3Về nhập khẩu, chủ yếu là sản phầm công nghiệp, nguyên liệu đã qua chế biến, máy móc thiết bị phục vụ cho tiêu dùng và sản xuất trong nước, đáp ứng nhu cầu của đầu tư
và xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH
Ngoài việc nhập khẩu vốn hàng hóa, ngành xuất khẩu ở Việt Nam phụ thuộc quá nhiều và nguyên liệu nhập khẩu và đầu vào trung gian để sản xuất và lắp ráp hàng xuất khẩu Hệ quả là, các ngành xuất khẩu có đặc điểm là phụ thuộc rất nhiều nhập khẩu và giá trị gia tăng trong nước thấp
1.3.2 Sự phát triển của sản xuất công nghiệp trong nước
Nền sản xuất công nghiệp còn lạc hậu, thủ công, chậm áp dụng khoa học kĩ thuật
công nghệ cao Nhìn từ cơ cấu kinh tế theo khu vực : nhóm ngành nông, lâm nghiệp-thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong GDP, trong khi nhóm ngành Công nghiệp và dịch vụ
mang lại giá trị cao thì chiếm tỷ trọng thấp Chính nền sản xuất trong nước gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu Xuất –Nhập khẩu
Sự phát triển thị trường ngoài nước chủ yếu theo chiều rộng, chưa hướng mạnh vào phát triển theo chiều sâu, chất lượng thông tin dự báo chiến lược thị trường quốc tế còn yếu kém, chưa thực hiện thành công một số bước điều chỉnh chiến lược thị trường XNK
1.3.3 Công nghiệp phụ trợ
Trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam, tỷ lệ giá trị nhập khẩu tư liệu sản xuất rất cao (trên 90%) Tuy nhiên, tỷ trọng nhập khẩu là nguyên vật liệu, phụ liệu cho sản xuất trong nước và xuất khẩu còn rất lớn Hiện nay, ngành dệt mới đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu trong nước, còn lại phải nhập khẩu, đầu vào nhập khẩu của ngành giày dép chiếm tới 80% giá thành, chi phí bột giấy chiếm 65-70% giá thành, Trong các ngành công nghiệp chế tạo khác như ô tô, xe máy, điện, điện tử, hóa chất, vấn đề nguyên phụ liệu cũng hết sức bức xúc Nhìn chung ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn chưa phát triển đáp ứng yêu cầu sản xuất trong nước và sản xuất xuất khẩu Trong xu thế tăng giá các nguyên liệu đầu vào do giá thế giới tăng, sự phụ thuộc vào nguyên nhiên liệu nước ngoài
sẽ làm biến động giá cả gây lạm phát, giảm khả năng cạnh tranh của hàng trong nước và xuất khẩu, giảm sức thu hút FDI và gây tình trạng thâm hụt cán cân thương mại
1.3.4 Chính sách thương mại quốc tế
Chính sách thương mại quốc tế là chính sách của nhà nước bao gồm một hệ thống nguyên tắc và biện pháp thích hợp được áp dụng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương phù hợp với lợi ích chung của Nhà nước trong từng giai đoạn Nó ảnh hưởng tới quá trình tái sản xuất và phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất nhập khẩu và bảo
vệ thị trường nội địa nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu kinh tế, chính trị, xã hội trong hoạt động kinh tế đối ngoại Những công cụ chủ yếu:
Thuế quan : thuế đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định như tăng thu ngân sách nhà nước, hạn chế nhập khẩu-xuất khẩu; Tạo điều
kiện cho sản xuất trong nước phát triển, mở rộng quy mô, tạo thêm việc làm cho người lao động Góp phần kích thích các nhà sản xuất trong nước đầu tư đổi mới cải tiến công
nghệ sản xuất nhằm tăng sức cạnh tranh của họ trên thị trường trong và ngoài nước
Thuế xuất khẩu áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu và áp dụng với phạm vi hạn chế và mức thuế suất không cao Thường áp dụng đối với các mặt hàng truyền thống với thuế suất không ảnh hưởng đến cung cầu
Trang 4Thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và sử dụng tương đối phổ biến
ở các nước trên thế giới với các mức thuế suất rất khác nhau đối với từng nhóm hàng hoá
cụ thể và tuỳ theo điều kiện từng nước Những ảnh hưởng tiêu cực:
Gây ra thiệt hại cho toàn xã hội mà trực tiếp là người tiêu dùng phải gánh chịu, đồng thời lợi nhuận đối với các nhà kinh doanh nhập khẩu cũng có thể bị giảm sút
Nếu các doanh nghiệp được bảo hộ bằng thuế nhập khẩu làm ăn kém hiệu quả thì sẽ dẫn tới tình trạng sản xuất trong nước bị trì trệ làm cho hàng hoá cung cấp trên thị trường nội địa bị khan hiếm, do đó sẽ làm gia tăng thiệt hại đối với người tiêu dùng và có thể gây ra hiện tượng hoạt động buôn lậu làm thất thu ngân sách cho Nhà nước Nếu Chính phủ đánh thuế quá cao và trong thời gian dài thì các doanh nghiệp sẽ tìm cách trốn thuế
Hạn ngạch: Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một hàng hoá hay một nhóm hàng hoá được phép xuất khẩu hay nhập khẩu trong một thời gian nhất định thường là một năm đối với một thị trường cụ thể
Xét về ý nghĩa bảo hộ, Hạn ngạch nhập khẩu là công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất nội địa ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch nhập khẩu chỉ áp dụng đối với 4 loại hàng: ô tô 12 chỗ ngồi, xe 2 bánh gắn máy, linh kiện điện tử LKD, SKD, nguyên liệu phụ liệu sản xuất thuốc lá Để quản lý nhập khẩu các nước cũng áp dụng hạn ngạch xuất khẩu
Các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: nhằm hạn chế bớt những hàng hoá kém chất lượng nhập khẩu vào thị trường trong nước gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc những hàng hoá kém chất lượng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài dẫn đến làm mấy uy tín đối vơí khách hàng do đó sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của các nhà sản xuất hàng xuất khẩu Cụ thể là Nhà nước sẽ đưa ra những quy định về việc bảo đảm an toàn cho sức khoẻ con người đối với những hàng hoá là lương thực, thực phẩm (quy định về nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm, thời hạn sử dụng, bao bì đóng gói ) Quy định về mức gây ô nhiễm môi trường sinh thái đối với những sản phẩm làm bằng máy móc, thiết bị, dây truyền sản xuất, phương tiện giao thông vận tải
Trợ cấp xuất khẩu: Nhà nước cấp vốn trực tiếp cho các doanh nghiệp thông qua chính sách đầu tư, thực hiện cho vay ưu đãi thông qua chính sách tín dụng hoặc bằng cách trợ giá
1.3.5 Tỷ giá
Tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả của hàng hoá, dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước
- Tỷ giá thay đổi theo hướng làm giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tương đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nước khác Dẫn đến cầu
về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tăng, cầu về hàng hoá dịch vụ nước ngoài của nước đó sẽ giảm và tạo ra sự thặng dư của cán cân thương mại
- Tỷ giá biến đổi theo hướng làm tăng giá đồng nội tệ làm hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu Đồng thời, lượng ngoại tệ chuyển vào trong nước có xu hướng giảm xuống làm khối lượng dự trữ ngoại tệ ngày càng ít gây nên tình trạng thâm hụt cán cân thương mại
Trang 5Duy trì tỷ giá hối đoái thích hợp để cho các nhà sản xuất kinh doanh thương mại trong nước bán các sản phẩm, dịch vụ của họ ra thị trường thế giới Để thực hiện chiến lược xuất khẩu, ở Việt Nam trong thời gian qua, tiến hành phá giá thường kỳ để đạt được mức tỷ giá cân bằng được thị trường chấp nhận và sau đó duy trì tỷ giá tương quan với chi phí và giá cả đang bị lạm phát ở trong nước
1.3.6 Tiết kiệm và đầu tư trong nước
Đầu tư trong nước= Tiết kiệm trong nước + Vốn vào ròng
Vốn vào ròng= Nhập khẩu- Xuất Khẩu = Thâm hụt cán cân thương mại
Như vậy thâm hụt cán cân thương mại= Đầu tư trong nước- Tiết kiệm trong nước
+ Nếu nhu cầu Đầu tư = Tiết kiệm (I=S), không phải đi vay nước ngoài nên NX=0, CCTM thăng bằng
+ Nếu nhu cầu Đầu tư < Tiết kiệm (I<S), cho nước ngoài vay nên NX>0, CCTM thặng dư
+ Nếu nhu cầu Đầu tư >Tiết kiệm (I>S), đi vay nước ngoài nên NX<0, CCTM thâm hụt
1.3.7 Tăng chi tiêu của Chính phủ
Khi Chính phủ tăng chi tiêu G, dẫn đến tiết kiệm của Chính phủ giảm, mô hình chung sẽ làm giảm tiết kiệm quốc gia (S giảm suy ra S-I giảm) dẫn đến Đường S-I dịch chuyển sang trái, nguồn cung nội tệ giảm suy ra giá nội tệ tăng (tỷ giá e tăng) và NX giảm, hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn (Khuyến khích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu) gây ra thâm hụt CCTM
Hình 1: Đồ thi mối quan hệ giữa tỉ giá và xuất khẩu ròng khi Chính phủ tăng chi tiêu
Trang 6PHẦN II THỰC TRẠNG CCTM Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2015
2.1 Biểu đồ cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2015
Bảng 1: Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2015
thương mại
Giá trị(Triệu USD) Giá trị Tỷ trọng tăng % Giá trị Tỉ trọng tăng %
2000 14.482,7 3,48 15.636,5 3,15 -1.153,8
2001 15.029,2 3,77 16.217,9 3,72 -1.188,7
2002 16.706,1 11,16 19.745,6 21,75 -3.039,5
2003 20.149,3 20,61 25.255,8 27,91 -5.106,5
2004 26.485,0 31,44 31.968,8 26,58 -5.483,8
2005 32.447,1 22,51 36.761,1 14,99 -4.314,0
2006 39.826,2 22,74 44.891,1 22,12 -5.064,9
2007 48.561,4 21,93 62.764,7 39,82 -14.203,3
2008 62.685,1 29,08 80.713,8 28,60 -18.028,7
2009 57.096,3 -8,92 69.948,8 -13,34 -12.852,5
2010 72.236,7 26,52 84.838,6 21,29 -12.601,9
2011 96.905,7 34,15 106.749,8 25,83 -9.844,1
2012 114.529,2 18,19 113.780,4 6,59 748,8
2013 132.032,9 15,28 132.032,6 16,04 0,3
2014 150.217,1 13,77 147.849,1 11,98 2.368,0
2015 162.442,3 8,14 165.613,1 12,01 -3170,8
Hình 2: Biểu đồ cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2015
Trang 72.2 Phân tích, đánh giá về CCTM, nguyên nhân gây thâm hụt và thặng dư CCTM
2.2.1 Giai đoạn 2000-2006
a/Nhận xét đánh giá
- Kim ngạch XK tăng 25.344 triệu USD Kim ngạch NK tăng 29.255 triệu USD
- Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 17,3% /năm, nhanh hơn tốc
độ tăng trưởng GDP trên 2,4 lần (GDP tăng bình quân 7,21 % / năm)
- Xuất khẩu là một động lực tăng trưởng của khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và hướng về xuất khẩu Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản đạt 8,5% tỷ USD, gấp 2,1 lần năm 2001 (4,0 tỷ USD) Tỷ trọng hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 71% trong năm 2000 lên 76,3 % trong năm 2006
- CCTM luôn ở trạng thái thâm hụt, cụ thể:
+ Từ năm 2000 - 2002, CCTM thâm hụt trung bình khoảng hơn 1 tỷ USD;
+ Từ 2003 - 2006, mức thâm hụt tăng lên trung bình mỗi năm khoảng 5 tỷ USD b/ Nguyên nhân gây thâm hụt CCTM giai đoạn này
Cơ cấu Xuất nhập khẩu của Việt Nam: Trong giai đoạn 2001 – 2005 tỷ trọng của
nhóm hàng này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch nhập khẩu và bằng khoảng 40 %
GDP Xuất khẩu mặt hàng có giá trị thấp, nhập khẩu mặt hàng có giá trị cao là nguyên
nhân gây thâm hụt cán cân thương mại giai đoạn này
•Quy mô xuất khẩu còn nhỏ, phát triển xuất khẩu vẫn chủ yếu theo chiều rộng, chất lượng tăng trưởng thấp, chi phí xuất khẩu cao, hoạt động xuất khẩu phản ứng chậm so với các biến động của thị trường thế giới, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chậm chuyển dịch theo hướng hiệu quả, hiện đại
•Nhập khẩu hàng hoá và nhập siêu tăng cao tác động bất lợi đến các cân đối kinh tế
vĩ mô, chưa hướng mạnh vào phần cốt lõi của CNH, HĐH, chưa cải thiện được nhiều tình trạng lạc hậu về công nghệ ở một số ngành, ít tiếp cận được với công nghệ nguồn
Nền sản xuất công nghiệp còn lạc hậu, thủ công, còn chậm áp dụng khoa học kĩ
thuật công nghệ cao Nhìn từ cơ cấu kinh tế theo khu vực : nhóm ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong GDP, trong khi nhóm ngành Công nghiệp và
dịch vụ mang lại giá trị cao thì chiếm tỷ trọng thấp Chính nền sản xuất trong nước gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu Xuất –Nhập khẩu
Hình 3: Cơ cấu kinh tế theo ngành của Việt nam năm 2002 và 2009
Trang 8 Công tác quản lý Nhà nước đối với XNK hàng hoá tuy đã có nhiều cải tiến nhưng còn một số hạn chế, thụ động, tính đồng bộ chưa cao
Nhờ các chính sách thương mại : hàng rào thuế quan, hỗ trợ tín dung cho Nhà xuất khẩu, Việt Nam hạn chế được tình trạng nhập siêu và khuyến khích xuất khẩu Do đó, giá trị xuất - nhập khẩu giai đoạn này đều thấp, nhờ đó mức thâm hụt CCTM vẫn ở trạng thái kiểm soát được
Ngoài ra còn một số nguyên nhân, nhưng không chủ yếu như : Về tỷ giá ngoại hối,
đồng tiền nước ta luôn có giá trị thấp so với đồng USD, Yên Nhật, Nhân dân tê… là các
thị trường chính trong quan hệ xuất nhập khẩu giai đoạn này Về thị trường ngoại hối: Khá ổn định Về chính sách tài khóa của chính phủ :vẫn còn tỉnh trang thâm thụt ngân sách, đầu tư công còn dàn trải Về tiết kiệm và đầu tư trong nước: tiết kiệm gần như đáp
ứng nhu cầu đầu tư trong nước:
GDP(Tỷ USD) 31.2 32.7 35.1 39.6 45.5 52.9 60.9 89.4 94.05 101
Đầu tư/GDP (%) 29.6 31.2 33.2 35.4 35.5 35.6 36.8 41.5 42.4 46.1
Tiết kiệm/GDP(%) 31.7 33.2 32 30.6 32 34.5 36.5 30.8 25.1 26.8
2.2.2 Giai đoạn 2007-2011
a/Nhận xét, đánh giá
- Kim ngạch XK tăng 32.344 triệu USD, tăng 81,4 %
- Kim ngạch NK tăng 39.255 triệu USD, tăng 89,0 %
- Từ năm 2007 - 2010, mức thâm hụt trung bình mỗi năm khoảng 14,4 tỷ USD
- Đặc biệt năm 2008, mức thâm hụt lên tới 18,029 tỷ USD
- Ngoài ra, Việt Nam có vị thế ngày càng lớn trong xuất khẩu hàng hoá toàn cầu Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá thế giới đã tăng từ 0,24% trong năm 2001 lên 0,46% trong năm 2010 Đến nay, nhóm hàng chế biến xuất khẩu của Việt Nam đã chiếm trên 0,28 % thị phần toàn cầu, nhóm hàng thô và sơ chế chiếm trên 0,72 % (riêng điều nhân chiếm khoảng 50 %, hồ tiêu chiếm khoảng 45 %, cà phê chiếm 16 -18 %, cao su thiên nhiên 8 – 10 %, chè uống chiếm 5 – 6 %, thuỷ sản chiếm 5 – 6 %, đồ gỗ chiếm 2 – 3 %, gạo chiếm 12 – 18 %)
- Xuất khẩu hàng hoá góp phần chính yếu vào tăng trưởng GDP, trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong phần tổng cầu đóng góp cho tăng trưởng GDP, trước năm 2005, mức đóng góp của xuất khẩu hàng hoá là một số âm (năm 2005 là – 58,1%), trong giai đoạn 2006 – 2008 đóng góp của xuất khẩu hàng hoá luôn là một số dương (năm 2006 là + 99,9 %, năm 2007 là + 68,7 %, năm 2008 là + 50,2 %)
b/ Nguyên nhân gây thâm hụt trầm trọng CCTM giai đoạn này: Ngoài những nguyên nhân đã nêu ở giai đoạn 2000-2006, một số nguyên nhân mới trong giai đoạn này:
Cơ cấu hàng hóa XNK: có chuyển biến tích cực nhưng chưa rõ rệt
- Phần lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam là mặt hàng gia công, bởi thế khi xuất khẩu tăng cũng đồng nghĩa với nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu cũng tăng theo
- Nhập khẩu hàng tiêu dùng tuy chiếm tỷ trọng nhỏ(khoảng 7% - 9%) nhưng danh mục hàng hóa lại đa dạng dẫn đến việc quản lý nhập khẩu, hạn chế nhập siêu trở nên phức tạp hơn
Trang 9 Cơ cấu công nghiệp Việt Nam còn mất cân đối và thiếu tính bền vững, đặc biệt là
sự yếu kém của các ngành công nghiệp hỗ trợ
Sự phát triển thị trường ngoài nước chủ yếu theo chiều rộng, chưa hướng mạnh phát triển theo chiều sâu, chất lượng thông tin dự báo chiến lược thị trường quốc tế còn yếu kém, chưa thực hiện thành công một số bước điều chỉnh chiến lược thị trường XNK
Hội nhập các FTA, WTO chưa có một chiến lược tổng thể và lộ trình thống nhất, đồng bộ với chiến lược phát triển XNK, chưa tận dụng hiệu quả cơ hội và điều kiện thuận lợi của hội nhập quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu
Hiện tượng tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian 2007 làm cho luồng tiền đầu tư gián tiếp chảy vào Việt Nam Sự biến động này là do chênh lệch lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam với trái phiếu chính phủ các nước khác Vì vậy, luồng tiền này vô hình chung làm cho nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của Việt Nam tăng lên, trong khi xu hướng tiết kiệm của người Việt Nam đang giảm rõ nét
Thâm hụt thương mại của tổng thể nền kinh tế ở mức cao kỷ lục nhưng nếu so sánh với riêng khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) lại thặng dư Theo Tổng cục thống kê, năm 2007 cán cân thương mại thâm hụt là 14,2 tỷ USD, nhưng khu vực FDI lại thặng dư 6,57 tỷ USD; năm 2008 thâm hụt thương mại là 18 tỷ USD, trong khi khu vực FDI lại thặng dư 6,64 tỷ USD; năm 2009 cán cân thâm hụt là 12,2 tỷ USD nhưng khu vực FDI lại thặng dư 4,98 tỷ USD; và năm 2010 cán cân thương mại thâm hụt là 12,4 tỷ USD trong khi khu vực FDI lại thặng dư 2,35 tỷ USD Như vậy, rõ ràng là khu vực FDI đã có những chiến lược đúng đắn
Chính sách tỷ giá “cố định linh hoạt” của Việt Nam gắn với đồng đôla Mỹ, diễn biến tỷ giá một số thời điểm chưa theo kịp với thực tế của thị trường trong điều kiện chính sách tiền tệ nới lỏng, tỷ giá hầu như cố định đã góp phần làm giảm kim ngạch xuất khẩu, tăng kim ngạch nhập khẩu Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá thực có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây do chênh lệch tốc độ lạm phát của Việt Nam so với Mỹ và các nước đối tác thương mại chính đã góp phần làm giảm sức cạnh tranh về giá hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới Thực tế này một phần lý giải tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian qua trở nên lớn hơn
2.2.3 Giai đoạn 2012-2014
a/Nhận xét, đánh giá
- Có thể thấy, CCTM giai đoạn này có sự biến chuyển rõ rệt: năm 2012 thặng dư 748,8 triệu USD, và đến năm 2014, thặng dư 2.368 triệu USD, tăng lên gấp 3 lần so với 2012
- Cùng với tỷ giá tương đối ổn định trong thời gian qua, cho thấy tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam đã được cải thiện và không đáng lo ngại
b/Nguyên nhân thặng dư
+ Nguyên nhân trực tiếp là do nhập khẩu giảm: trong thời gian này, nền kinh tế toàn cầu suy thoái, Việt Nam giảm phát năm 2012-2013, hàng loạt các doanh nghiệp phá sản, đình trệ sản xuất
+ Xét về tổng quát thặng dư thương mại về hàng hóa dương nhưng xét về từng khu vực sở hữu, khu vực kinh tế trong nước luôn nhập siêu Cụ thể, nếu như năm 2000, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu khoảng 3 tỷ USD thì đến năm 2013 đã tăng lên 13 tỷ USD, tương đương 362% Trong ngắn hạn, thặng dư thương mại dương và GDP tăng
Trang 10trưởng do tăng trưởng của khu vực FDI nhưng về trung và dài hạn, nền sản xuất trong nước bị nước ngoài khống chế
2.2.4 Năm 2015
Theo thống kê của tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt hơn 328 tỷ USD, tăng 10,1% so với năm 2014; trong đó tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 162,44 tỷ USD, tăng 8,1% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 165,61 tỷ USD, tăng 12% CCTM tháng 12/2015 ước tính thâm hụt 300 triệu USD, nâng mức thâm hụt thương mại cả năm
2015 lên 3,17 tỷ USD, tương đương 2% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Về xuất khẩu, nửa cuối tháng 10/2015 đạt 7.75 tỷ USD, tăng 18% so với nửa đầu tháng Riêng doanh nghiệp FDI là 5.3 tỷ USD, tăng 17% và chiếm 69% cả nước
Hình 4: Kim ngạch XK 10 nhóm hàng lớn nhất hết tháng 10/2015 so với cùng kỳ năm 2014
Về nhập khẩu, đạt 7.33 tỷ USD, tăng 12.4% so với kết quả thực hiện nửa đầu tháng 10/2015 Trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm 4.3 tỷ USD, tăng 9% và chiếm 59%
Hình 5: Kim ngạch NK 10 nhóm hàng lớn nhất 10 tháng năm 2015 và so với cùng
kỳ năm 2014
b/ Nguyên nhân gây thâm hụt CCTM
dẳng cộng với nợ công tăng cao trong thời gian dài để phục vụ cho mô hình tăng trưởng