Vai trò của Công tác xã hội là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội. Để đạt được các điều này, ngành Công tác xã hội phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, ví dụ như tùy thuộc vào nhu cầu của người nhận dịch vụ và nguồn lực có được, cũng như tùy vào vai trò cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức mà nhân viên Công tác xã hội sẽ phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp. Theo quan điểm của Feyerico (1973) người NVCTXH có những vai trò sau đây: người vận động nguồn lực; người kết nối; người biện hộ; người vận động; người giáo dục; người tạo sự thay đổi; người tư vấn; người tham vấn; người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng; người chăm sóc; người xử lý dữ liệu; người quản lý hành chính; người tìm hiểu, khám phá cộng đồng.
Trang 1CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Khái quát về Công tác xã hội
1 Khái niệm về Công tác xã hội
Công tác xã hội được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay Công tác xã hội tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn đề cần giải quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành phần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng
Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên Công tác xã hội (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ Công tác xã hội tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực
và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và
dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội Công tác
xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: Công tác xã hội góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
2 Vai trò của Công tác xã hội
Vai trò của Công tác xã hội là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ
Trang 2đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội
Để đạt được các điều này, ngành Công tác xã hội phải thực hiện các nhiệm vụ tham vấn, trị liệu, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, ví dụ như tùy thuộc vào nhu cầu của người nhận dịch vụ và nguồn lực có được, cũng như tùy vào vai trò cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức mà nhân viên Công tác xã hội sẽ phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp Theo quan điểm của Feyerico (1973) người NVCTXH có những vai trò sau đây: người vận động nguồn lực; người kết nối; người biện hộ; người vận động; người giáo dục; người tạo sự thay đổi; người tư vấn; người tham vấn; người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng; người chăm sóc; người xử lý dữ liệu; người quản lý hành chính; người tìm hiểu, khám phá cộng đồng
II Nội dung Tám mục tiêu thiên niên kỷ.
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (còn gọi là Mục tiêu Thiên niên kỷ) là 8 mục tiêu được 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc nhất trí phấn đấu đạt được vào năm 2015 Những mục tiêu này (gọi tắt là MDGs) được ghi trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8/9/2000 tại trụ sở Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York, Mỹ Trước đó, năm 1996, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCED) đã đi tiên phong
trong việc đưa ra các Mục tiêu Phát triển Quốc tế trong bản Báo cáo Định hướng Thế
kỷ 21, là tiền thân của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
1 Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói
- Trong khoảng thời gian 1990-2015, giảm một nửa tỷ lệ người có thu nhập (tính theo sức mua tương đương PPP năm 1993) dưới 1 USD một ngày
- Trong khoảng thời gian 1990-2015, giảm một nửa tỷ lệ người bị thiếu ăn
- Tạo việc làm thích hợp và hữu ích cho tất cả mọi người bao gồm cả phụ nữ và thanh niên
2 Đạt phổ cập giáo dục tiểu học
Trang 3- Đảm bảo rằng đến năm 2015, tất cả trẻ em, không phân biệt trai gái, đều được
hoàn tất giáo dục tiểu học
3 Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ.
- Xóa bỏ tình trạng chênh lệch về giới tính ở giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp không chậm hơn năm 2015
4 Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em
- Giảm hai phần ba tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn
1990-2015
5 Nâng cao sức khỏe bà mẹ
- Giảm ba phần tư tỷ lệ tử vong ở bà mẹ trong giai đoạn 1990-2015.
- Đến năm 2015, phổ cập chăm sóc sức khỏe sinh sản
6 Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác
- Chặn đứng và bắt đầu thu hẹp sự lây lan của HIV/AIDS vào năm 2015
- Đến năm 2010, mọi đối tượng có nhu cầu đều được điều trị HIV/AIDS
- Chặn đứng và bắt đầu giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét cũng như các bệnh dịch khác vào năm 2015
7 Đảm bảo bền vững về môi trường
- Tích hợp nguyên tắc phát triển bền vững trong các chính sách và chương trình quốc gia; giảm thiểu tổn thất về môi trường
- Giảm tổn thất về tính đa dạng sinh học, đến năm 2010 giảm đáng kể tỷ lệ này
- Đến năm 2015, giảm một nửa tỷ lệ người không được tiếp cận thường xuyên với nước sạch và hợp vệ sinh
- Đến năm 2020, cải thiện đáng kể cuộc sống của ít nhất 100 triệu người đang sống trong nhà ổ chuột
8 Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển
- Tăng cường hơn nữa hệ thống thương mại và tài chính mở, dựa trên luật lệ, không phân biệt đối xử và có thể dự báo, trong đó có cam kết hướng tới sự quản lý tốt, phát triển và giảm thiểu tình trạng đói nghèo trên phạm vi quốc gia và quốc tế
- Đáp ứng nhu cầu đặc biệt của các nước kém phát triển nhất, trong đó có việc đảm bảo khả năng tiếp cận đối với các mặt hàng xuất khẩu của họ trên cơ sở miễn thuế và phi hạn ngạch; tăng cường giảm nợ cho các nước nghèo nợ nần nhiều; xoá các
Trang 4khoản nợ song phương chính thức; và tăng cường hỗ trợ phát triển chính thức cho các nước cam kết xoá đói giảm nghèo
- Đáp ứng nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển nằm sâu trong lục địa
và các quốc đảo nhỏ đang phát triển
- Giải quyết một cách toàn diện các vấn đề nợ nần của các nước đang phát triển thông qua các biện pháp quốc gia và quốc tế nhằm đảm bảo quản lý nợ lâu dài, bền vững
- Thông qua hợp tác với các nước đang phát triển tăng cường và thực hiện chiến lược tạo việc làm thích hợp và hữu ích cho thanh niên
- Bằng cách hợp tác với các công ty dược phẩm, cung cấp đủ những thuốc trị bệnh thiết yếu tại các nước đang phát triển
- Thông qua hợp tác với khu vực tư nhân, phát huy các lợi ích của những công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin
Trang 5CHƯƠNG II VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN
TÁM MỤC TIÊU THIÊN NIÊN KỶ
1 Mục tiêu 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói
Trong những năm qua, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế
-xã hội, nước ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó vấn đề nghèo đói luôn được quan tâm hàng đầu Tăng trưởng kinh tế một mặt đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân, dẫn tới hình thành những cộng đồng dân cư có thu nhập cao, đời sống được bảo đảm bởi hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục tương đối khá Người dân tại các cộng đồng này có nhiều
cơ hội phát triển, đựoc phát huy khả năng và được bảo vệ thông qua mạng lưới an sinh
xã hội an toàn, bền vững Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong quá trình phát triển cũng làm xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo, các nhóm yếu thế tại vùng sâu, vùng
xa, nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng một bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển Cộng đồng nghèo thường gắn liền với các đặc điểm: Cơ sở
hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ; thiếu cơ hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định Chính vì vậy, việc giúp đỡ, phát triển các cộng đồng nghèo là hết sức cần thiết và việc lựa chọn các phương pháp phù hợp để phát triển cộng đồng có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua Đó là phương pháp giải quyết một
số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không
Trang 6ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng Những nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng là sự tham gia và tự quyết của nhân dân; tin vào khả năng của người dân và phát huy nội lực của chính cộng đồng Phương pháp này luôn đánh giá cao vai trò của người dân và coi đây là nhân tố quyết định tới sự thành công trong việc phát triển cộng đồng nghèo
Thông thường, người ta thường sử dụng các kết quả các cuộc điều tra xã hội học (ví dụ điều tra mức sống dân cư, điều tra tỷ lệ hộ nghèo) để thu thập và đánh giá về mức độ nghèo đói trên địa bàn Qua đó, chính quyền các địa phương có thể lập kế hoạch và xây dựng định hướng giảm nghèo cụ thể và phù hợp Tuy nhiên, do các cuộc điều tra, khảo sát này không được tiến hành thường xuyên nên việc cập nhật thông tin
về tỷ lệ nghèo trên địa bàn đôi lúc còn chậm Do vậy, phương pháp đánh giá nghèo đói có sự tham gia của chính người dân là rất thiết thực Để đánh giá đúng tình trạng nghèo đói của cộng đồng, thông thường người ta có thể đánh giá nhanh tình hình nghèo thông qua các chỉ số như tỷ lệ nghèo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ học sinh
bỏ học, tỷ suất sinh tự nhiên….; so sánh tình hình của các địa bàn tương tự, tìm hiểu, phân tích nguyên nhân của tình trạng nghèo ở mỗi địa bàn Từ đó rút ra kết luận và đưa ra các đề xuất cho các chương trình và chính sách giảm nghèo liên quan cũng như lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng
Mặt khác, ta cũng có thể tiến hành lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân Đây là một trong những công cụ được một số dự án, như Dự
án Hỗ trợ giảm nghèo do GTZ tài trợ, áp dụng ở các huyện nghèo và bước đầu cho kết quả tích cực Theo đó, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia nhằm giúp người dân tiếp cận các tiềm năng, các khó khăn, cản trở và tìm kiếm các giải pháp phù hợp thông qua phương pháp có sự tham gia cũng như dựa vào kiến thức của người dân
Từ đó xây dựng các kế hoạch phát triển hàng năm và kế hoạch trung hạn ở cấp xã phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương; thực hiện và giám sát các
Trang 7hoạt động với sự hỗ trợ tích cực và hiệu quả của các cơ quan nhà nước và các tổ chức đoàn thể, các cá nhân dựa trên phương pháp giám sát và đánh giá có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện Bên cạnh đó, cần phải tăng năng lực của cộng đồng thông qua tăng nội lực và giúp cộng đồng tự lực phát triển
Nhờ đó, Việt Nam đã thành công về giảm nghèo và đã đạt Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giảm nghèo trước thời hạn Trong thời gian từ 1993-2008, tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu giảm từ 58,1% xuống còn 14,5%, đưa hàng triệu người ra khỏi tình trạng đói nghèo Trong giai đoạn tiếp theo, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia 2011-2015 đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống còn 9,8% năm 2013 Mức sống chung của người dân được nâng cao, các hộ gia đình đã sở hữu nhiều tài sản lâu bền hơn Tỷ
lệ thiếu đói đã giảm mạnh trong vòng 15 năm qua và tình trạng thiếu đói kinh niên đã được xóa bỏ ở hầu hết các tỉnh thành, tuy nhiên thiếu đói giáp hạt hoặc do thiên tai vẫn tồn tại ở một số nơi thuộc vùng miền núi, vùng đặc biệt khó khăn Đến năm 2008, Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu “giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi”
2 Mục tiêu 2: Đạt phổ cập giáo dục tiểu học
Việt Nam đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học (theo chuẩn quốc gia)
và đang tiến dần tới việc phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở Đến năm 2014, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc tiểu học đạt mức xấp xỉ 99,0%, cao nhất từ trước đến nay; tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc phổ thông cơ sở đạt 87,2% vào năm 2012 Trong suốt những thập
kỷ vừa qua, chính phủ đã chứng tỏ cam kết và đạt được thành công trong việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục quốc gia, giúp tăng cường chất lượng dạy và học cũng như cải thiện cơ sở vật chất nhà trường và môi trường học tập
3 Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ.
Công tác xã hội luôn là những hoạt động nhằm nâng cao giá trị hệ số môi trường xã hội của đối tượng và giảm giá trị như cầu, tham vọng vật chất, tinh thần của đối tượngthông qua các hoạt động:
Trang 8- Kết nối các nguồn lực cộng đồng xã hội tạo một mô trường tốt và khả năng vật chất, giảm thiểu những vấn đề nảy sinh cho phụ nữ
- Truyên truyền giáo dục , quan hệ thân thiện, chia sẽ với đối tượng để tạo nên giá trị như cầu, tham vọng vật chất, tinh thần của đối tượngthích hợp
- Giá trị đạo đức của đối tượng là một kết quả của quá trình hoạt động, đào tạo công tác xã hội một cách bền vững cho đối tượng phụ nữ trong qua trình mưu sinh và mưu cầu hạnh phúc của mình
Đến năm 2014, không còn có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ biết đọc biết viết và
tỷ lệ nhập học ở tất cả các cấp học giữa nam và nữ Phụ nữ cũng chứng tỏ vai trò ngày càng tăng trong giáo dục Tỷ lệ giảng viên nam và giảng viên nữ tại các trường đại học và cao đẳng hiện nay tương đương nhau, trong khi vào đầu những năm 2000 giảng viên nam vẫn còn chiếm đại đa số Về việc làm, sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động phi nông nghiệp đã tăng mạnh, đặc biệt ở khu vực nông thôn Tỷ số chênh lệch về tiền lương giữa lao động nam và nữ trong khu vực phi nông nghiệp đã giảm xuống còn 106,7% vào năm 2014
4 Mục tiêu 4: Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em
Vai trò của Công tác xã hội là vô cùng quan trọng trong quản lí và điều trị bệnh nhân cả trong bệnh viện và ngoài cộng đồng Vai trò của nhaan viên xã hội đã được
mở rộng khi họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động chuyên môn y tế và cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao
Nhân viên xã hội đóng vai trò là nhân viên tâm sinh học trong việc khuyến
khích, động viên, trao quyền… cho bệnh nhân và để họ tự quyết định các vấn đề về sức khoẻ từ đó làm tăng sự hài lòng của bệnh nhân và nâng cao hiệu quả điều trị; rút ngắn thời gian điều trị (từ đó giúp giảm chi phí điều trị) và giúp bệnh viện cung cấp những dịch vụ có chất lượng, đáp ứng nhu cầu người bệnh Nhân viên xã hội còn hỗ trợ tâm lí cho người nhà bệnh nhân, cung cấp thông tin, hướng dẫn chăm sóc bệnh nhân trong quá trình điều trị cũng như hỗ trợ người nhà bệnh nhân giải quyết các vấn
đề tâm lý sau khi bệnh nhân ra viện
Vai trò của nhân viên xã hội đặc biệt quan trọng trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân
mắc bệnh hiểm nghèo như bệnh ung thư hoặc nhóm yếu thế (trẻ em, vị thành niên, phụ nữ, người già…) và hỗ trợ sau điều trị
Trang 9Chức năng của nhân viên xã hội là giúp các bệnh nhân và gia đình họ hiểu một
căn bệnh cụ thể, chẩn đoán và khuyên nhủ về các quyết định cần thiết Nhân viên xã hội cũng là thành viên quan trọng của nhóm điều trị, làm việc cùng bác sĩ, điều dưỡng
và các nhân viên y tế khác Nhân viên xã hội giúp những nhà cung cấp dịch vụ y tế hiểu hơn về các khía cạnh xã hội và tình cảm của người bệnh
Kết quả của MICS 2014 cho thấy tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 5 năm trước điều tra đã giảm mạnh xuống còn 19,7‰, gần đạt được mục tiêu đã
đề ra cho năm 2015 là 19,3‰ Tương tự, tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi trong giai đoạn 5 năm trước cuộc điều tra là 16‰, gần đạt được mục tiêu đề ra là 14,8‰ vào năm 2015
5 Mục tiêu 5: Nâng cao sức khỏe bà mẹ
Sức khỏe sinh sản của bà mẹ đã được quan tâm đặc biệt, tỷ lệ tránh thai đạt 75,7% trên toàn quốc, tỷ lệ sinh vị thành niên giảm xuống còn 45 ca trên 1.000 phụ nữ vào năm 2014 Đa số phụ nữ trong thời kỳ thai sản được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc tiền sản, 95,8% được thăm khám ít nhất 1 lần và 73,7% được thăm khám ít nhất 4 lần (số liệu năm 2014)
6 Mục tiêu 6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác
Các dịch vụ Công tác xã hội hỗ trợ các trung tâm cai nghiện cũng như các trung tâm chăm sóc và hỗ trợ cho những người bị nhiễm HIV/AIDS trở về hòa nhập cộng đồng
Việt Nam đã giảm tỷ lệ mắc HIV xuống dưới 0,3% dân số Số lượng và chất lượng các dịch vụ điều trị, chăm sóc và hỗ trợ về HIV/AIDS đã được cải thiện, đặc biệt là độ bao phủ của liệu pháp ARV đã lên tới 67,6% số người cần được điều trị vào năm 2013, tăng gần gấp 34 lần so với năm 2005 Việt Nam đã đạt được mục tiêu kiểm soát sốt rét từ năm 2011 với tỷ lệ ca tử vong liên quan đến sốt rét chỉ ở mức 0,01 trên 100.000 người trong năm 2012 Việt Nam cũng đã vượt mục tiêu toàn cầu về kiểm soát bệnh lao khi giảm thành công 62% số lượng các ca mắc mới và tử vong so với mức năm 1990
7 Mục tiêu 7: Đảm bảo bền vững về môi trường
Phương pháp phát triển cộng đồng được áp dụng để khuyến khích cộng đồng tham gia vào giải quyết các vấn đề môi trường, từ việc tham gia vào góp ý kiến đóng góp cho chính sách đến việc đưa chính sách về môi trường áp dụng trong thực tiễn
Trang 10Tùy vào từng đặc điểm của từng địa phương mà vận dụng các mô hình khác nhau như: mô hình tự quản, xây dựng quy ước về môi trường…
Việt Nam đã không ngừng đưa các nguyên tắc bền vững vào các chính sách và chương trình quốc gia, cũng như tôn trọng các cam kết quốc tế Các kết quả về tăng cường tiếp cận nước sạch, điều kiện vệ sinh cơ bản và nơi ở an toàn là đáng khích lệ, tập trung ở phần đông dân số và các nhóm yếu thế Việt Nam cũng đã có các nỗ lực ấn tượng để hoàn thành trách nhiệm trong việc kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính (GHG) và và các chất gây hại tầng Ô-zôn (ODS), và tăng các bể các-bon tự nhiên qua các chương trình trồng rừng
8 Mục tiêu 8: Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển.
Những năm qua đã chứng kiến quá trình tự do hóa thương mại sâu rộng, nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết gần đây, phản ánh rõ mức độ hội nhập kinh tế sâu sắc hơn Quá trình tự do hóa thương mại đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, mặc dù vẫn còn tồn tại một vài vấn đề như tăng thâm hụt thương mại, các hàng rào phi thuế quan tạo ra bởi thị trường quốc tế, trong khi còn thiếu các rào cản tương ứng trên thị trường trong nước nhằm hỗ trợ các ngành công nghiệp non trẻ của Việt Nam Giá trị gia tăng thấp của các sản phẩm và dịch vụ xuất khẩu cùng với sự phụ thuộc cao vào một số thị trường trở thành thách thức lớn Bên cạnh đó, nguồn vốn ODA là một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA thời kỳ hậu MDG, Chính phủ đã cố gắng cải thiện hiệu quả quản lý đầu tư công và sẵn sàng giải quyết những rủi ro liên quan đến vốn vay, đặc biệt là khả năng trả nợ Nợ công tăng nhanh từ năm 2000 và duy trì ở mức 55% trong năm 2014, trong mức an toàn