1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu

162 491 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VÕ THÀNH TOÀN THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC HỌ ELEOTRIDAE VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ BỐNG PHÂN BỐ TRÊN TUYẾN SÔNG HẬU LUẬN ÁN TIẾN S

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

VÕ THÀNH TOÀN

THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC HỌ ELEOTRIDAE VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ BỐNG

PHÂN BỐ TRÊN TUYẾN SÔNG HẬU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ THUỶ SẢN

CẦN THƠ - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

VÕ THÀNH TOÀN

THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC HỌ ELEOTRIDAE VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ BỐNG

PHÂN BỐ TRÊN TUYẾN SÔNG HẬU

CHUYÊN NGÀNH: NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

MÃ SỐ: 62 62 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ THUỶ SẢN

CẦN THƠ - 2016

Trang 3

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu “Thành phần loài thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến Sông Hậu” là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận án này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tác giả luận án

Võ Thành Toàn

Trang 4

Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp trong Bộ Môn Quản lý và Kinh tế nghề cá - Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Cần Thơ, học viên cao học khoá 20 ngành Nuôi trồng thuỷ sản

và ngành sinh thái học, sinh viên lớp Quản lý nguồn lợi thuỷ sản khoá 37 và khoá

38 đã nhiệt tình hỗ trợ thu thập số liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận án Nhân đây, tôi cũng bày tỏ lòng cám

ơn đến gia đình tôi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành chương trình học nghiên cứu sinh và hoàn thành luận án này

Xin được cám ơn Ban chủ nhiệm đề tài "Fish biodiversity in Hau River, Vietnam" do Tổ chức USGS (United State Geology Survey - Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ) tài trợ và Ban chủ nhiệm đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá bống họ Eleotridae phân bố trên Sông Hậu và Sông Tiền, mã số đề tài: B2014-16-37” đã hỗ trợ kinh phí kịp thời trong quá trình thu thập số liệu và triển khai thực hiện luận án này

Trang 5

MỤC LỤC

Nội dung Trang

TÓM TẮT xii

ABSTRACT xiv

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.3 Nội dung nghiên cứu 4

1.4 Thời gian thực hiện 4

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 4

1.6 Điểm mới của luận án 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

2.1 Thành phần loài cá bống họ Eleotridae 6

2.2 Đặc điểm hình thái phân loại của các loài cá bống họ Eleotridae 10

2.2.1 Cá bống trứng (Eleotris melanosoma) 12

2.2.2 Cá bống trân (Butis butis) 14

2.2.3 Cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) 15

2.2.4 Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 17

2.3 Đặc điểm phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae 18

2.4 Đặc điểm dinh dưỡng của cá bống 21

2.5 Đặc điểm sinh trưởng của cá bống 25

Trang 6

2.6 Đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống 26

2.7 Tình hình nuôi và khai thác một số loài cá bống họ Eleotridae 35

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 38

3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 39

3.2.1 Nội dung 1: Xác định một số yếu tố sinh thái (nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng chảy, độ sâu, thực vật và động vật phù du, động vật đáy) trên tuyến Sông Hậu 39

3.2.2 Nội dung 2: Xác định thành phần loài và mức độ phong phú tương đối (CPUE) của cá bống họ Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu 42

3.2.3 Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 47

3.2.4 Nội dung 4: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 50

3.3 Phương pháp xử lý số liệu 55

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 56

4.1 Nội dung 1: Xác định một số yếu tố sinh thái (nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng chảy, độ sâu, thực vật và động vật phù du, động vật đáy) trên tuyến Sông Hậu 56

4.1.1 Yếu tố thủy lý (pH, nhiệt độ, độ mặn) 56

4.1.2 Tốc độ dòng chảy và độ sâu của thuỷ vực 57

4.1.3 Yếu tố thủy sinh vật 59

4.2 Nội dung 2: Xác định thành phần loài và mức độ phong phú tương đối (CPUE) của họ cá bống Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu 71

4.2.1 Thành phần loài cá bống họ Eleotridae 71

4.2.2 Mức độ phong phú tương đối (CPUE) của cá bống họ Eleotridae 82

Trang 7

4.3 Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá bống trứng (Eleotris

melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 85

4.3.1 Hình thái cấu tạo hệ tiêu hóa của cá bống trứng và cá bống dừa 85

4.3.2 Phổ thức ăn của cá bống trứng và cá bống dừa 93

4.4 Nội dung 4: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 100

4.4.1 Sự thành thục sinh dục của cá bống trứng và cá bống dừa 101

4.4.2 Hệ số thành thục sinh dục và hệ số tích lũy năng lượng 109

4.4.3 Hệ số điều kiện 115

4.4.4 Tỉ lệ đực-cái của cá bống trứng và cá bống dừa 117

4.4.5 Sức sinh sản của cá bống trứng và cá bống dừa 118

4.4.6 Chiều dài thành thục của cá (Lm) 121

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 124

5.1 Kết luận 124

5.2 Đề xuất 125

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127

PHỤ LỤC 145

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Cỡ mẫu thu để xác định chỉ tiêu hình thái các loài cá bống họ Eleotridae 43

Bảng 3.2: Toạ độ các vị trí thu mẫu tại khu vực đầu nguồn Sông Hậu 46

Bảng 3.3: Toạ độ các vị trí thu mẫu tại khu vực giữa nguồn Sông Hậu 46

Bảng 3.4: Toạ độ các vị trí thu mẫu tại khu vực cuối nguồn Sông Hậu 46

Bảng 3.5: Số lƣợng mẫu dùng phân tích tính ăn của cá bống trứng và cá bống dừa 47

Bảng 3.6: Các giai đoạn thành thục sinh dục của nhóm cá bống (Nikolsky, 1963) 50

Bảng 4.1: Mật độ trung bình thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát trên Sông Hậu 63

Bảng 4.2: Mật độ trung bình động vật phù du ở ba khu vực khảo sát trên Sông Hậu 66

Bảng 4.3: Mật độ động vật đáy ở ba khu vực khảo sát trên tuyến Sông Hậu 70

Bảng 4.4: Phân bố của các loài cá bống (Eleotridae) trên tuyến Sông Hậu 72

Bảng 4.5: Các chỉ tiêu đếm của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) 75

Bảng 4.6: Các chỉ tiêu đo của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) 76

Bảng 4.7: Các chỉ tiêu đếm của cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 77

Bảng 4.8: Các chỉ tiêu đo của cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) 77

Bảng 4.9: Các chỉ tiêu đếm của cá bống tƣợng (Oxyeleotris marmorata) 78

Bảng 4.10: Các chỉ tiêu đo của cá bống tƣợng (Oxyeleotris marmorata) 79

Bảng 4.11: Các chỉ tiêu đếm của cá bống trân (Butis butis) 80

Bảng 4.12: Các chỉ tiêu đo của cá bống trân (Butis butis) 80

Bảng 4.13: Các chỉ tiêu đếm của cá bống trân (Butis humeralis) 81

Bảng 4.14: Các chỉ tiêu đo của cá bống trân (Butis humeralis) 82

Bảng 4.15: Độ rộng miệng của cá bống trứng ở ba nhóm kích cỡ khác nhau 87

Bảng 4.16: Chỉ số Lt, Li, RLG của cá bống trứng ở ba nhóm kích cỡ 88

Bảng 4.17: Độ rộng miệng của cá bống dừa ở ba nhóm kích cỡ khác nhau 91

Trang 9

Bảng 4.18: Chỉ số Lt, Li, RLG của cá bống dừa ở 3 nhóm kích cỡ 92

Bảng 4.19: Thành phần thức ăn của cá bống trứng theo phương pháp tần số xuất hiện 93 Bảng 4.20: Thành phần thức ăn của cá bống trứng theo phương pháp khối lượng 95

Bảng 4.21: Thành phần thức ăn của cá bống dừa theo phương pháp tần số xuất hiện 97

Bảng 4.22: Thành phần thức ăn của cá bống dừa theo phương pháp khối lượng 98

Bảng 4.23: Số lượng mẫu cá bống trứng và bống dừa xác định chỉ tiêu sinh sản 100

Bảng 4.24: Đặc điểm hình thái noãn sào của cá bống trứng và bống dừa 103

Bảng 4.25: Đặc điểm mô học của noãn sào ở cá bống trứng và cá bống dừa 105

Bảng 4.26: Đặc điểm hình thái tinh sào của cá bống trứng và cá bống dừa 107

Bảng 4.27: Đặc điểm mô học của tinh sào ở nhóm cá bống theo Nikolski (1963) 108

Bảng 4.28: GSI của cá bống trứng đực và cái qua các tháng khảo sát 111

Bảng 4.29: HSI của cá bống trứng đực và cái qua các tháng khảo sát 111

Bảng 4.30: GSI của cá bống dừa đực và cái qua các tháng khảo sát 113

Bảng 4.31: HSI của cá bống dừa đực và cái qua các tháng khảo sát 114

Bảng 4.32: Sức sinh sản của cá bống trứng 119

Bảng 4.33: Sức sinh sản của cá bống dừa 120

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Cá bống trứng (Eleotris melanosoma) (Trần Đắc Định và ctv., 2013) 13

Hình 2.2: Cá bống trân (Butis butis) (Trần Đắc Định và ctv., 2013) 14

Hình 2.3: Cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) (Trần Đắc Định và ctv., 2013) 16

Hình 2.4: Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) (Trần Đắc Định và ctv., 2013) 17

Hình 3.1: Sơ đồ khu vực thu mẫu dọc theo tuyến Sông Hậu 38

Hình 3.2: Một số thiết bị dùng trong thu mẫu các chỉ tiêu sinh thái 40

Hình 3.3: Một số loại ngư cụ khai thác dùng trong thu mẫu 43

Hình 3.4: Một số đặc điểm hình thái dùng trong định danh các loài cá bống (Eleotridae) (Trần Đắc Định và ctv., 2013) 44

Hình 3.5: Lưới cào khung dùng xác định mức độ phong phú tương đối (CPUE) cá bống 45

Hình 4.1: Biến động pH tại ba khu vực khảo sát 56

Hình 4.2: Biến động nhiệt độ nước tại ba khu vực khảo sát 57

Hình 4.3: Biến động độ mặn của nước tại ba khu vực khảo sát 57

Hình 4.4: Tốc độ dòng chảy ở ba khu vực khảo sát dọc theo Sông Hậu 58

Hình 4.5: Độ sâu của nước ở ba khu vực khảo sát dọc theo Sông Hậu 58

Hình 4.6: Cấu trúc thành phần loài thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát 59

Hình 4.7: Số lượng các loài thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát 59

Hình 4.8: Số lượng các loài thực vật phù du xuất hiện ở đầu nguồn Sông Hậu 60

Hình 4.9: Số lượng các loài thực vật phù du xuất hiện ở giữa nguồn Sông Hậu 61

Hình 4.10: Số lượng các loài thực vật phù du xuất hiện ở cuối nguồn Sông Hậu 61

Hình 4.11: Số lượng các loài động vật phù du xuất hiện ở ba khu vực khảo sát 64

Hình 4.12: Cấu trúc thành phần loài động vật phù du ở ba khu vực khảo sát 64

Hình 4.13: Số lượng các loài động vật phù du xuất hiện ở đầu nguồn Sông Hậu 65

Trang 11

Hình 4.14: Số lượng các loài động vật phù du xuất hiện ở giữa nguồn Sông Hậu 65

Hình 4.15: Số lượng các loài động vật phù du xuất hiện ở cuối nguồn Sông Hậu 65

Hình 4.16: Cấu trúc thành phần loài động vật đáy ở ba khu vực khảo sát 67

Hình 4.17: Số lượng các loài động vật đáy ở ba khu vực khảo sát 68

Hình 4.18: Số lượng các loài động vật đáy xuất hiện ở đầu nguồn Sông Hậu 68

Hình 4.19: Số lượng các loài động vật đáy xuất hiện ở giữa nguồn Sông Hậu 69

Hình 4.20: Số lượng các loài động vật đáy xuất hiện ở cuối nguồn Sông Hậu 69

Hình 4.21: Chiều dài của 5 loài cá bống xuất hiện trong mùa mưa và mùa khô 74

Hình 4.22: Cá bống trứng (Eleotris melanosoma Bleeker, 1853) 75

Hình 4.23: Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)) 76

Hình 4.24: Cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852) 78

Hình 4.25: Cá bống trân (Butis butis (Hamilton, 1822)) 79

Hình 4.26: Cá bống trân (Butis humeralis (Valenciennes, 1837)) 81

Hình 4.27: CPUEn của cá bống trứng (E melanosoma) khu vực đầu nguồn Sông Hậu 83 Hình 4.28: CPUEn của cá bống trứng (E melanosoma) khu vực giữa nguồn Sông Hậu 83 Hình 4.29: CPUEn của cá bống trân (Butis butis) khu vực cuối nguồn Sông Hậu 83

Hình 4.30: CPUEw của cá bống trứng (E melanosoma) khu vực đầu nguồn Sông Hậu 84 Hình 4.31: CPUEw của cá bống trứng (E melanosoma) khu vực giữa nguồn Sông Hậu 84 Hình 4.32: CPUEw của cá bống trân (Butis butis) khu vực cuối nguồn Sông Hậu 85

Hình 4.33: Hình dạng miệng và răng của cá bống trứng 86

Hình 4.34: Các cơ quan tiêu hoá của cá bống trứng (A: thực quản, B: dạ dày, C: ruột) 87 Hình 4.35: Tương quan giữa chiều dài thân và độ rộng miệng của cá bống trứng 88

Hình 4.36: Hình dạng miệng (A) và răng (B) của cá bống dừa 89

Hình 4.37: Các cơ quan tiêu hoá của cá bống dừa (A: thực quản, B: dạ dày, C: ruột) 90

Hình 4.38: Tương quan giữa chiều dài thân và độ rộng miệng của cá bống dừa 92

Trang 12

Hình 4.39: Phổ thức ăn của cá bống trứng 95

Hình 4.40: Phổ thức ăn của cá bống dừa 99

Hình 4.41: Tỉ lệ (%) các giai đoạn thành thục sinh dục của cá bống trứng 101

Hình 4.42: Tỉ lệ (%) các giai đoạn thành thục sinh dục của cá bống dừa 102

Hình 4.43: Hình thái các giai đoạn phát triển noàn sào của cá bống trứng 104

Hình 4.44: Hình thái các giai đoạn phát triển noãn sào của cá bống dừa 104

Hình 4.45: Lát cắt các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của cá bống trứng 106

Hình 4.46: Lát cắt các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của cá bống dừa 106

Hình 4.47: Tinh sào của cá bống trứng ở giai đoạn chưa thành thục và đã thành thục 108 Hình 4.48: Tinh sào của cá bống dừa ở giai đoạn chưa thành thục và đã thành thục 108

Hình 4.49: Lát cắt của tinh sào ở cá bống trứng 109

Hình 4.50: Lát cắt của tinh sào ở cá bống dừa 109

Hình 4.51: Hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá bống trứng đực và cái 110

Hình 4.52: Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) của cá bống trứng đực và cái 110

Hình 4.53: Hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá bống dừa đực và cái 112

Hình 4.54: Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) của cá bống dừa đực và cái 113

Hình 4.55: Hệ số điều kiện của cá bống trứng 115

Hình 4.56: Hệ số điều kiện của cá bống dừa 116

Hình 4.57: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống trứng 116

Hình 4.58: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống dừa 117

Hình 4.59: Tỉ lệ đực-cái của cá bống trứng và cá bống dừa 118

Hình 4.60: Chiều dài thành thục (Lm) của cá bống trứng đực 121

Hình 4.61: Chiều dài thành thục (Lm) của cá bống trứng cái 122

Hình 4.62: Chiều dài thành thục (Lm) của cá bống dừa đực 122

Hình 4.63: Chiều dài thành thục (Lm) của cá bống dừa cái 123

Trang 13

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long

CPUE (catch per unit effort): Sản lượng trên một đơn vị đánh bắt GPS (Global Positional System): Hệ thống định vị toàn cầu

RLG (relative length of the gut): Tương quan giữa chiều dài và ruột

GW (gonad weigth): Khối lượng tuyến sinh dục

BW (body weigth): Khối lượng thân

LW (liver weigth): Khối lượng gan

Li (intestine length): Chiều dài ruột

Lt (total length): Chiều dài toàn thân

GSI (gonadosomatic index): Hệ số thành thục sinh dục

HSI (hepatosomatic index): Hệ số tích lũy năng lượng

CF (conditional factor): Hệ số điều kiện

Lm (maturity length): Chiều dài thành thục

Trang 14

TÓM TẮT

Các loài cá bống họ Eleotridae ở vùng đồng bằng sông Cửu Long khá đa dạng về thành phần loài và phong phú về sản lượng; trong đó, có một số loài có giá trị kinh tế cao Do đó, đề tài nghiên cứu về thành phần loài thuộc họ

Eleotridae và đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) trên sông Hậu đã được

thực hiện từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 12 năm 2014 Đề tài được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học để bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, định hướng nghiên cứu sản xuất giống và phát triển thành đối tượng nuôi Đề tài nghiên cứu gồm 4 nội dung: i) xác định một số chỉ tiêu sinh thái: nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng chảy,

độ sâu, thực vật phù du, động vật phù du và động vật đáy trên tuyến sông Hậu; ii) xác định thành phần loài và mức độ phong phú của cá bống họ Eleotridae trên

tuyến sông Hậu; iii) nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng cá bống trứng (E melanosoma) và bống dừa (O urophthalmus); và iv) nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá bống trứng (E melanosoma) và bống dừa (O urophthalmus)

Các yếu tố sinh thái được khảo sát ở đầu nguồn (An Giang), giữa nguồn (Cần Thơ) và cuối nguồn (Sóc Trăng) trên tuyến sông Hậu, mỗi khu vực thu 5 điểm đại diện Kết quả cho thấy pH ở giữa nguồn (mùa mưa: 7,6; mùa khô: 7,8) thấp hơn đầu nguồn (mùa mưa: 7,9; mùa khô: 8,0) và cuối nguồn (mùa mưa: 7,7; mùa khô: 8,1) Nhiệt độ ít biến động ở ba khu vực (mùa mưa: 29,1-29,6oC; mùa khô: 29,4-30,9oC) Độ mặn chỉ ghi nhận được ở cuối nguồn, mùa mưa (0-7,6‰)

thấp hơn mùa khô (2-10,8‰) Tốc độ dòng chảy mùa mưa (0,5-1,1 km/giờ) cao hơn mùa khô (0,4-0,6 km/giờ) Độ sâu đầu nguồn từ 4,3 đến 10,7 m, giữa nguồn

từ 6,2 đến 14,4 m và cuối nguồn từ 5,5 đến 10,0 m Thực vật phù du ở đầu nguồn

có 31 loài, giữa nguồn có 22 loài, cuối nguồn là 15 loài Động vật phù du đầu nguồn có 33 loài, giữa nguồn là 35 loài, cuối nguồn có 68 loài Động vật đáy đầu nguồn có 17 loài, giữa nguồn 23 loài, cuối nguồn 17 loài

Có 5 loài cá bống họ Eleotridae được xác định trên tuyến sông Hậu gồm:

cá bống trứng (Eleotris melanosoma Bleeker, 1853), bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus Bleeker, 1853), bống tượng (Oxyeleotris marmorata Bleeker,

Trang 15

1852), bống trân (Butis butis Hamilton, 1822) và bống trân (Butis humeralis

Valenciennes, 1837) Cá bống trứng, bống tượng và bống dừa xuất hiện ở đầu

nguồn, giữa nguồn, cuối nguồn Cá bống trân (B butis) ở giữa nguồn và cuối nguồn, loài B humeralis ở cuối nguồn Mức độ phong phú (CPUE) của cá bống

trứng ở mùa khô (5-173 cá thể/ha; 2,5-200,1 g/ha) thấp hơn mùa mưa (2-343 cá

thể/ha; 2,3-450,5 g/ha); trong khi đó, cá bống trân (B butis) vào mùa khô (1-21

cá thể/ha; 2,6-89,9 g/ha) cao hơn mùa mưa (3-6 cá thể/ha; 8,8-13,9 g/ha)

Cá bống trứng và bống dừa có cấu tạo ống tiêu hoá tương tự nhau: miệng

to, răng hàm mịn và nhọn, thực quản ngắn, ruột ngắn có nhiều nếp gấp, có tính ăn động vật (RLG<1) Phổ thức ăn cá bống trứng gồm: giáp xác (78,5%), thân mềm (15,0%), cá con (6,3%), thức ăn khác (0,2%) và của cá bống dừa là: thân mềm (47,7%), giáp xác (37,5%), cá con (14,1%), thức ăn khác (0,7%) và tỉ lệ các loại thức ăn này thay đổi theo kích cỡ của cá

Cá bống trứng có hệ số thành thục sinh dục (GSI) cao từ tháng 5-10, hệ số tích luỹ năng lượng (HSI) thấp nhất vào tháng 7 và hệ số điều kiện (CF) cao nhất tháng 4 và tháng 11 Tương tự, cá bống dừa có GSI cao từ tháng 4-10, HSI thấp nhất tháng 6 Các giai đoạn thành thục sinh dục của chúng đều đạt đến giai đoạn

IV và có tỉ lệ cao nhất từ tháng 4-6 (bống trứng) và từ tháng 5-6 (bống dừa) Kết quả cho thấy mùa vụ sinh sản của chúng kéo dài từ tháng 5-10, tập trung từ tháng 5-7 Sức sinh sản tuyệt đối khá cao ở cá bống trứng (2.981-19.520 trứng/cá cái)

và bống dừa 1.290-9.999 trứng/cá cái Sức sinh sản tương đối cá bống trứng từ 49-930 trứng/g cá cái (5,96-13,84 g) và bống dừa là 44-477 trứng/g cá cái (18,02-27,4 g) Chiều dài thành thục cá bống trứng đực là 8,62 cm, cá cái là 7,79 cm và bống dừa đực là 11,36 cm, cá cái là 7,96 cm

Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài cá bống họ Eleotridae phân

bố trên tuyến sông Hậu không nhiều, kích cỡ tương đối lớn và là các loài có giá trị kinh tế cao Trong số các loài được khảo sát, sự phân bố của chúng trên tuyến sông Hậu cũng khác nhau do ảnh hưởng của độ mặn Cá bống trứng và cá bống dừa là hai loài có tiềm năng phát triển thành đối tượng nuôi vì mùa vụ sinh sản của chúng khá dài và sức sinh sản cũng tương đối cao

Từ khoá: Eleotridae, Cá bống trứng, Cá bống dừa, Sinh thái, Đặc điểm sinh học

Trang 16

of Eleotridae; iii) to study on the nutritional characteristics of Eleotris melanosoma and Oxyeleotris urophthalmus; iv) to study on reproductive biology

of E melanosoma and O urophthalmus

The ecological parameters were measured in three locations of the Bassac river such as An Giang Province (upstream), Can Tho City (midstream) and Soc Trang Province (downstream), with 5 sampling sites in each location Results showed that pH in the midstream (rainy season: 7.6 and dry season: 7.8) is lower than the upstream (rainy season: 7.9 and dry season: 8.0) and the downstream (rainy season: 7.7 and dry season: 8.1) Temperature slightly different in the three locations (rainy season: 29.1-29.6oC and dry season: 29.4-30.9oC) In downstream, salinity fluctuated from 0 to 7.6 ‰ in rainy season, and from 2 to 10.8 ‰ in dry season Water current in rainy season (0.5 to 1.1 km/h) was higher than that in dry season (0.4-0.6 km/h) Water depth fluctuated from 4.3 to 10.7 m

in the upstream, 6.2 to 14.4 m in the midstream and from 5.5 to 10.0 m in the downstream Phytoplankton was determined with 31 species in the upstream, 22 species in the midstream and 15 species in the downstream Zooplankton in up-, mid- and down-stream were 33, 35 and 68 species; and zoobenthos were 17, 23 and 17 species, respectively

Five species of Eleotridae were identified such as Eleotris melanosoma, Oxyeleotris urophthalmus, Oxyeleotris marmorata, Butis butis and Butis humeralis E melanosoma, O urophthalmus and O marmorata were distributed

Trang 17

from up- to down-stream; B butis was found in the mid- and down-stream; meanwhile B humeralis was found in the downstream only The abundance (CPUE) of E melanosoma in dry season (5-173 individuals/ha; 2.5-200.1 g/ha)

was lower than in rainy season (2-343 individuals/ha; 2.3-450.5g/ha); meanwhile,

CPUE of B butis in dry season (1-21 individuals/ha; 2.6-89.9 g/ha) was higher

than in rainy season (3-6 individuals/ha; 8, 8-13.9 g/ha)

E melanosoma and O urophthalmus had similar structure of digestive

system with wide mouth, smooth and sharp teeth, short stomach, short gut with

folds and carnivorous feeding (RLG<1) Food spectrum of E melanosoma

included crustaceans (78.5%), molluscs (15.0%), fish juveniles (6.3%), and other

(0.2%); meanwhile the food spectrum of O urophthalmus was molluscs (47.7%),

crustaceans (37.5%), fish juveniles (14.1%), and other (0.7%) The result showed that the proportion of those kinds of food were varied in different sizes of the fish.

Results of study on reproductivie biology showed that E melanosoma

reached the highest value of gonadosomatic index (GSI) from May to October, but the lowest hepatosomatic index (HSI) in July, and the highest condition factor

(CF) in April and May; O urophthalmus had the highest GSI from April to

October and the lowest HSI in June The results indicated that their breeding season occurred from May to October with spawning peak from May to July

Absolute fecundity of E melanosoma ranged from 2,981 to 19,520 eggs/female and O urophthalmus from 1,290 to 9,999 eggs/female Relative fecundity of E melanosoma and O urophthalmus was from 49-930 and 44-77 eggs per gram of

female, respectively Length at first maturity (Lm) of male and female E melanosoma were 8.62 cm and 7.79 cm, respectively; and those of O urophthalmus were 11.36 cm and 7.96 cm, respectively

The results indicated that there are five species of Eleotridae in the Bassac river, all of them are large size fish with high commercial value The distribution

of those species was different and dependent on the salinity E melanosoma and

O urophthalmus can be the new species for aquaculture because of their long

spawning season and high fecundity

Key words: Eleotridae, Eleotris melanosoma, Oxyeleotris urophthalmus,

Ecology, Biological characteristics

Trang 18

CHƯƠNG 1:

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Sông MêKông được xem là khá đa dạng về thành phần loài thủy sinh vật

(Dudgeon et al., 2006, Allen et al., 2012), chúng không những đa dạng về loài mà

còn là nơi quan trọng cho khai thác thủy sản và an ninh lương thực cho cả vùng

(Poulsen et al., 2004, Halls et al., 2013) với hơn 790 loài thủy sản nước ngọt, 28 loài cá bản địa (Baran et al., 2012; Campbell, 2012) và là nơi tập trung nguồn lợi

thủy sản cao nhất Châu Á và đứng thứ 2 của thế giới sau sông Amazon và được xem là một trong những hệ thống sông lớn và màu mỡ của thế giới, khu hệ cá ở đây khá phong phú và đa dạng loài với khoảng 1.200 loài cá các loại, trong đó có

từ 50-100 loài được đánh bắt thường xuyên (Sverdrup-Jensen, 2002), chúng sống chủ yếu ở vùng đồng bằng Theo Quỹ Môi trường thiên nhiên Nhật Bản (Nagao)

có 540 loài cá sinh sống ở đây, trong đó có 67 loài cá lần đầu tiên được ghi nhận

và 21 loài chưa được mô tả (Tran Dac Dinh et al., 2011) và ở lưu vực hạ lưu sông

MêKông thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam có 322 loài

trong 77 họ (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

Vùng hạ lưu sông MêKông có hai nhánh sông chính chảy ra Biển Đông thuộc ĐBSCL gồm Sông Hậu và Sông Tiền Trong đó, sản lượng cá nội địa của Sông Hậu chiếm gần 3 triệu tấn/năm (Hortle and Bush, 2003) và nghề đánh bắt cá

ở đây đã trở thành nghề lớn của thế giới Nghiên cứu của Dinh (2011) cho thấy ở đầu nguồn Sông Hậu có 68 loài cá (29 họ, 10 bộ), trong đó có 10 loài (5 họ, 4 bộ)

có nguồn gốc từ biển, thành phần loài cá ở đây chiếm 39,3% trong tổng số loài cá của vùng ĐBSCL, chiếm 31,5% trong tổng số loài cá của Miền Nam Nghiên cứu gần đây của Âu Văn Hoá và Vũ Ngọc Út (2014) cho thấy thành phần loài cá trên Sông Hậu có 192 loài (49 họ, 16 bộ), trong đó ở đầu nguồn có số loài cao nhất với 145 loài (thuộc 41 họ, 13 bộ), giữa nguồn có 121 loài thuộc 36 họ, 12 bộ và ở cuối nguồn có 107 loài (40 họ, 11 bộ) Các loài cá khai thác được ở đây chủ yếu

Trang 19

là cá di cư, trong đó có nhóm cá bống do phần lớn chúng có vòng đời phân bố ở

sông và phụ thuộc vào điều kiện môi trường sống của sông MêKông (Poulsen et al., 2002) Các nghiên cứu trước đây cho thấy có 7 loài cá bống thuộc họ

Eleotridae và đã được công bố bởi các tác giả như: Mai Đình Yên (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) và Nguyễn Nhật Thi (2000), trong đó chỉ có 4 loài được mô tả về hình thái bên ngoài của chúng Nghiên cứu gần đây

của Trần Đắc Định và ctv (2013) cũng phát hiện có 7 loài cá bống thuộc họ

Eleotridae phân bố ở vùng ĐBSCL, trong đó có 4 loài cá xuất hiện thường xuyên

ở khu vực nước ngọt và 3 loài xuất hiện ở vùng cửa sông

Trong các loài cá nước ngọt, lợ và mặn, cá bống là nhóm cá có thành phần loài lớn nhất với 220 giống và 1.875 loài thuộc 5 họ (Eleotridae, Gobiidae, Periophthalmidae, Apocrypteidae và Gobioididae) đã được các nước trên thế giới ghi nhận (Healey, 1971); trong đó họ Eleotridae có 31 giống, 178 loài (Froese and Pauly, 2014) Tuy nhiên, ở lưu vực sông MêKông, theo Rainboth (1996) có đến

34 giống và 101 loài thuộc 5 họ cá bống này Ở Việt Nam trước đây cũng có 5 họ

cá bống, riêng họ cá bống đen (Eleotridae) có 3 giống và 7 loài (Mai Đình Yên,

1992, Nguyễn Hữu Phụng, 1997 và Nguyễn Nhật Thi, 2000) và tương tự với kết

quả nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv (2013) cũng có 7 loài cá bống đen phân bố ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm: Butis butis Hamilton, 1822 (Larson, 2012), Butis humeralis Valenciennes, 1837 (Bailly, 2015), Butis koilomatodon Bleeker, 1849 (Bailly, 2015), Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852 (Allen, 2011), Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 (Bailly, 2015), Oxyeleotris urophthalmus Bleeker, 1853 (Bailly, 2015) và Bostrychus scalaris Larson, 2008 (Larson, 2008) Một số loài có giá trị kinh tế cao gồm cá bống

tượng, cá bống dừa và cá bống trứng thường phân bố ở vùng nội địa và cửa sông

(Murdy, 1989), ở môi trường nhiệt đới và cận nhiệt đới (Chotkowski et al., 1999),

có nhiều loài cá bống đến đây đẻ trứng và hoàn thành vòng đời của chúng (Blaber

et al., 2000) Trong 7 loài cá bống đen hiện nay, chỉ có một loài cá bống tượng

Trang 20

đang là đối tượng được nuôi và đánh bắt quan trọng ở vùng ven Sông Hậu, hai loài cá bống có giá trị kinh tế do thịt thơm, ngon và có sản lượng cao như cá bống trứng và cá bống dừa (Bộ Thuỷ sản, 1996) chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều

và cũng có rất ít công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về sự đa dạng loài và đặc điểm sinh học của các loài cá bống họ Eleotridae

Cho đến nay hiểu biết về thành phần loài, mức độ phong phú của các loài

cá họ Eleotridae phân bố ở vùng hạ lưu sông MêKông, cũng như về đặc điểm dinh dưỡng và sinh học sinh sản của cá bống trứng và bống dừa chưa có nhiều công trình nghiên cứu trong khi chúng là một trong những nhóm cá có giá trị kinh

tế cao ở vùng ĐBSCL Vì vậy, nghiên cứu thành phần loài thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống có giá trị kinh tế là rất cần thiết

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm xác định thành phần loài, mức độ phong phú của họ cá bống Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài có giá trị kinh tế phân bố trên tuyến Sông Hậu, làm cơ sở cho công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, cũng như cho nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số loài cá bống kinh tế trong tương lai

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu

a) Nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh thái, thành phần loài và mức độ phong phú tương đối của họ cá bống Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu được thực hiện từ đầu nguồn (An Phú và Long Xuyên) đến giữa nguồn (Thốt Nốt và Ninh Kiều) và cuối nguồn (Long Phú và Trần Đề) của tuyến Sông Hậu b) Nghiên cứu xác định đặc điểm dinh dưỡng và sinh học sinh sản của cá bống

trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) được

thực hiện dọc theo tuyến Sông Hậu

Trang 21

1.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài gồm có 4 nội dung:

(i) Xác định một số chỉ tiêu sinh thái (nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng chảy, độ sâu, thực vật phù du, động vật phù du và động vật đáy) trên tuyến Sông Hậu (ii) Xác định thành phần loài và mức độ phong phú tương đối của họ cá bống Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu

(iii) Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá bống trứng (Eleotris melanosoma)

và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus)

(iv) Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus)

1.4 Thời gian thực hiện

Từ tháng 8/2012 đến tháng 12/2014

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận án nhằm bổ sung dẫn liệu khoa học về thành phần loài cá thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống kinh tế phân bố trên tuyến Sông Hậu Kết quả này là nguồn tư liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhằm quản lý, phục hồi và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản nói chung và nhóm cá bống nói riêng

1.6 Điểm mới của luận án

Luận án nghiên cứu thành phần loài cá họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống kinh tế phân bố trên tuyến Sông Hậu, trong đó tập trung

nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) Các điểm nổi bật từ kết

quả nghiên cứu này được thể hiện là:

(i) Kết quả khảo sát một số yếu tố sinh thái cho thấy độ mặn có liên quan đến

sự phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae, đặc biệt là cá bống trứng (E

Trang 22

melanosoma) và cá bống trân (B butis) Mức độ phong phú tương đối

(CPUE) của hai loài cá này biến động theo mùa và phụ thuộc vào sự đa dạng các loài thuỷ sinh vật, tốc độ dòng chảy và độ sâu của nước

(ii) Có 5 loài cá bống thuộc họ Eleotridae được xác định phân bố trên tuyến

Sông Hậu, trong đó cá bống trứng (E melanosoma), cá bống dừa (O urophthalmus) và cá bống tượng (O marmorata) xuất hiện nhiều ở đầu nguồn và giữa nguồn, trong khi đó cá bống trân (Butis butis) có ở giữa nguồn và cuối nguồn, đặc biệt là loài Butis humeralis chỉ có ở cuối nguồn Tuy nhiên, khi khai thác bằng nghề lưới kéo phát hiện cá bống trứng (E melanosoma) xuất hiện ở đầu nguồn và giữa nguồn, cá bống trân (B butis)

chỉ có ở cuối nguồn và mức độ phong phú tương đối (CPUE) của cá bống trứng nhiều hơn cá bống trân và mùa mưa phong phú hơn mùa khô

(iii) Cá bống trứng (E melanosoma) và cá bống dừa (O urophthalmus) có cấu

tạo ống tiêu hóa phù hợp với loài cá ăn động vật, mặc dù có 4 loại thức ăn xuất hiện trong phổ thức ăn của chúng nhưng chỉ có 3 loại được xem là thức

ăn ưa thích đối với hai loài cá này (giáp xác, thân mềm và cá con) Tỉ lệ các thành phần thức ăn của chúng cũng thay đổi theo sự gia tăng về chiều dài thân và độ rộng miệng của cá

(iv) Hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá bống trứng và bống dừa cao từ tháng

5 đến tháng 10, trong khi đó hệ số tích luỹ năng lượng (HSI) thấp ở tháng 7,

hệ số điều kiện (CF) cao nhất ở tháng 4 và tháng 11, qua đó cho thấy mùa

vụ sinh sản của hai loài này khá dài (từ tháng 5 đến tháng 10) và tập trung từ tháng 5 đến tháng 7 Kết quả cũng cho thấy sức sinh sản của cá bống trứng dao động từ 49 đến 930 trứng/g cá cái cao hơn cá bống dừa (từ 44 đến 477 trứng/g cá cái), sức sinh sản tuyệt đối của cá bống trứng từ 2.981-19.520 trứng/cá cái và cá bống dừa từ 1.290-9.999 trứng/cá cái Chiều dài thành thục (Lm) của cá bống trứng đực là 8,62 cm, cá bống trứng cái là 7,79 cm;

Lm cá bống dừa đực là 11,36 cm và của bống dừa cái là 7,96 cm

Trang 23

Theo Phạm Hùng Việt (2005), ở Việt Nam có 3 họ cá bống: họ cá bống trắng (Gobiidae), họ cá bống đen (Eleotridae) và họ cá bống biển (Cottidae) Thức ăn chủ yếu của cá bống đen là ấu trùng giáp xác, cá con, ấu trùng côn trùng,… chúng sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở nước ngọt, sông suối triền núi và vùng đồng bằng Hiện nay có 7 loài cá bống đen sống ở nước

ngọt và lợ (Trần Đắc Định và ctv., 2013), các loài cá bống này thuộc nhóm cá

xương và có hình dạng dẹt bên, vẩy lược, hai vây lưng cách xa nhau, vây ngực tròn khá phát triển, vây đuôi tròn, vây bụng rời nhau và thuộc nhóm cá nhỏ, sống tầng đáy, một số loài có giá trị kinh tế cao như: cá bống tượng, cá bống dừa, cá bống trứng, (Bộ Thủy sản, 1996)

Mai Đình Yên (1978) đã công bố kết quả nghiên cứu về định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam và phát hiện có 201 loài cá với 10 loài cá bống thuộc bộ cá vược (Perciformes) với 2 họ Mai Đình Yên (1992) cũng đã công bố công trình nghiên cứu về định loại các loài cá nước ngọt ở Nam Bộ và đã tìm ra trong bộ phụ cá bống Gobioidei có 5 họ, 19 giống và 25 loài Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) có 5 họ cá bống xuất hiện ở ĐBSCL, 5 họ

cá bống này nằm trong bộ phụ Gobioidei của bộ cá vược (Perciformes) với 15

Trang 24

loài Nguyễn Nhật Thi (2000) đã phân loại được 4 họ, 5 phân họ, 54 giống và 92 loài cá bống biển Việt Nam, tác giả này cũng đã nghiên cứu các chỉ tiêu về hình thái, đặc điểm sinh học và sinh thái, về sự phân bố, giá trị kinh tế của các loài cá bống biển Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), trong công trình nghiên cứu về cá nước ngọt Việt Nam đã phân loại được 3 họ của phân bộ cá bống (Gobioidei): họ

cá bống đen ống tròn (Odontobutididae), họ cá bống đen (Eleotridae) và họ cá bống trắng (Gobiidae) và theo nghiên cứu của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) có 15 loài thuộc bộ phụ (Gobioidei) phân bố ở ĐBSCL Kết quả nghiên cứu của Tống Xuân Tám và Nguyễn Hữu Dực (2005) trên tuyến sông Sài Gòn và đã xác định được hai họ cá bống đen và cá bống trắng, kết quả đã xác

định được 3 loài gồm: cá bống trân (Butis butis); cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) Các nghiên cứu trên

cũng cho thấy cá bống đen thuộc họ cá xương nhỏ, có thân trụ tròn, đầu hình chóp, ngắn, phần cuối đuôi dẹt bên, có hai vây lưng rời, vây đuôi tròn, màu đen có thể thay đổi theo môi trường Thức ăn chủ yếu của nhóm cá bống này là ấu trùng giáp xác, cá con, ấu trùng côn trùng, chúng sống chủ yếu ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở nước ngọt, sông suối và đồng bằng, nhiều loài có thể sống ở thuỷ vực nước bẩn

Một số loài cá bống hiện nay đang là đối tượng được nuôi và đánh bắt quan trọng ở vùng ven Sông Hậu (cá bống tượng, cá bống dừa, cá bống trứng,…)

và cho đến nay đã có một số nghiên cứu về nuôi cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) của Nguyễn Phú Hoà và Dương Hữu Tâm (2007); khảo sát khả năng lựa chọn thức ăn của cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) của Liem (2001) và

của Nguyễn Phú Hoà (2006); kỹ thuật sinh sản và nuôi cá bống tượng của Nguyễn Chung (2013) và Phạm Văn Khánh (2014), kỹ thuật nuôi cá bống tượng của Nguyễn Thị Hồng (2013), nghiên cứu tác dụng gây chín và rụng trứng của hỗn hợp HCG với một số yếu tố hormon và phi hormon trên cá bống dừa của Nguyễn Tường Anh (1985), Tuy nhiên, một số loài cá bống còn lại thuộc họ Eleotridae (cá bống dừa, cá bống trứng, cá bống trân,…) vẫn chưa được quan tâm nghiên

Trang 25

cứu nhiều và hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu đầy đủ về sự đa dạng thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá bống họ Eleotridae phân bố tự nhiên dọc theo tuyến Sông Hậu

Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) và cá bống trứng (Eleotris melanosoma) hiện nay là hai đối tượng rất quen thuộc với người dân ở khu vực

miền Tây Nam Bộ, đây là hai loài cá sống chủ yếu ở vùng nước ngọt nội địa, chúng phân bố chủ yếu ở Nhật Bản, Thái Lan và vùng ĐBSCL của Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993) Hiện nay, các nghiên cứu về hai loài cá bống này còn rất hạn chế, các nghiên cứu trên chủ yếu chỉ tập trung vào việc phân loại và mô tả đặc điểm hình thái bên ngoài của chúng như: Mai Đình Yên, (1992); Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, (1993); Trần Đắc

Định và ctv (2013),… trong khi đó nghiên cứu về các đặc điểm sinh học và phân

bố của hai loài cá này chưa được thực hiện đầy đủ

Nghiên cứu của Murdy (1989) đã cho thấy đa phần các loài cá bống có tính phân bố rộng Cá bống thường có tên gọi chung để chỉ nhóm cá xương nhỏ,

có thân hình trụ, hai vây lưng rời nhau, sống ở tầng đáy vùng biển (gần bờ, rạn

đá, san hô) và đầm lầy nước ngọt và có nhiều loài thuộc nhiều họ khác nhau Trước đây, mặc dù cá bống là loài ít có giá trị kinh tế nhưng về thành phần loài và

số lượng của chúng chiếm ưu thế ở các loại hình thủy vực, đặc biệt là các bãi bồi ven biển ở các nước nhiệt đới (Taki, 1974)

Việc xác định tên các loài cá bống đã được các nhà khoa học trên thế giới

đề cập đến từ rất sớm cùng với việc đưa ra một số hệ thống phân loại như của Günther (1861b), Bleeker (1874) và Jordan (1885, 1923), các hệ thống phân loại này chủ yếu là dựa vào cấu trúc của các tia vây cá, hình dạng răng và vị trí mắt của cá Theo Regan (1911), việc phân loại đầu tiên của ba họ cá bống (Eleotridae, Gobiidae và Psammichthydae) là dựa vào phần xương của hộp sọ cá và số đốt sống của cá, trong đó họ cá bống đen (Eleotridae) đã được tách ra từ họ cá bống trắng (Gobiidae) trên cơ sở hình dạng của xương khẩu cái ở các loài cá thuộc họ

Trang 26

cá bống đen phát triển lớn hơn so với các loài thuộc họ cá bống trắng và dựa trên những đặc điểm này các loài cá thuộc giống Rhyacichthys cũng đã được đặt trong

họ Eleotridae Theo Hoese (1971, 1983) và Gill et al (1992), Sanzo (1911) là các

tác giả đầu tiên nghiên cứu về hệ thống cảm giác của cá và được dùng trong việc xác định tên các loài cá bống và sau đó được Miller (1963, 1973, 1992b) sử dụng rất rộng rãi trong hệ thống phân loại các loài cá bống sau này

Dựa theo hệ thống phân loại của các tác giả nêu trên Bleeker (1874) đã xác định có 3 phân họ cá bống gồm: Eleotriformes, Gobiiformes, Amblyopodiformes Jordan (1923) cũng đã chia nhóm cá bống thành 8 họ (Rhyacichthyidae, Eleotridae, Gobiidae, Periophthalmidae, Gobioididae, Trypauchenidae, Doliichthyidae và Psammichthyidae) Theo Duncker (1928), chỉ có 4 họ cá bống gồm: Eleotridae, Gobioididae, Periophthalmidae và Gobiidae Berg (1940) công

bố chỉ có 2 họ cá bống đen (Eleotrioidae) và cá bống trắng (Gobioidae) Tuy nhiên, ba tác giả Ginsburg (1933a), Koumans (1953) và Gosline (1955) đã chỉ ra

sự hạn chế của hệ thống phân loại này và cho rằng hình dạng của xương khẩu cái

và sự hiện diện hay vắng mặt của xương bả vai của cá không tách rời nhau đối với các loài cá trong hai họ cá bống đen (Eleotridae) và cá bống trắng (Gobiidae)

và theo Miller (1963) sự khác nhau giữa các loài trong hai họ bống đen và bống trắng chủ yếu dựa vào vị trí của các tia vây chậu riêng biệt của các loài cá bống này Trước đây, trên thế giới chỉ xác định có 7 loài cá bống thuộc 1 giống Gobius (Linnaeus, 1758) và sau đó số lượng các loài này lần lượt tăng lên theo thời gian

là 11 loài (Bloch và Schneider, 1801), 23 loài (Günther, 1861b) và 99 loài (Bleeker, 1874) Takagi (1967) đã xác định ở vùng biển Nhật Bản có 82 loài trong 54 giống và sau đó xác định có 85 loài trong 71 giống (Akihito, 1969)

Gần đây nhất, theo hệ thống phân loại của các tác giả như: Lindberg (1971) (được trích dẫn bởi Kanayama, 1991) và Taki (1974) cá bống được xác định là nhóm cá có thành phần loài rất phong phú với hơn 1.875 loài và có sức

sinh sản khá cao (Healey, 1971; Miller, 1984; Chotkowski et al., 1999; Caputo et

Trang 27

al., 2000; Hajisamae et al., 2006) và theo Kottelat and Whitten (1996) trên đoạn

sông Mêkong chảy qua Lào đã xác định được 481 loài thuộc 50 họ, trong đó họ

cá bống Gobiidae có 16 loài thuộc 6 giống và nhóm cá bống thuộc họ Eleotridae

có 31 giống và 178 loài (Froese and Pauly, 2014), chúng thường phân bố ở Ấn

Độ, Malaysia, Thái lan, Indonesia, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, các loài cá này thường được tìm thấy ở vùng nước ngọt và cửa sông, chúng có tập tính sống lưỡng cư, thường làm hang ở các bãi bùn và có thể trườn lên các bãi này để đi lại

và tìm thức ăn Nhiệt độ thích hợp cho các loài cá bống sinh trưởng và phát triển

là 23-28oC (Kottelat and Whitten, 1996) Có khoảng 150 loài cá bống được phát hiện chủ yếu ở vùng nhiệt đới, trong đó có nhiều loài trải qua giai đoạn phù du ngoài biển và một số loài hoàn toàn sống ngoài biển, cá bống trưởng thành sống ở các thủy vực như: sông, rạch nước ngọt và lợ và là loài động vật săn mồi trong các hệ sinh thái sông suối nước ngọt trên các đảo giữa đại dương như New Zealand và Hawaii Hình thái giải phẫu của họ cá bống đen này tương tự họ cá bống trắng (Gobiidae) do chúng không có giác mút ở phần khung chậu (Hampel

et al., 2004) Cá bống đen là nhóm các dạng cá nhỏ sinh sống trên chất nền, thảm

thực vật thủy sinh, trong các hang hốc hay các kẽ nứt trong đá và rạn san hô, hầu hết các loài cá thuộc họ Eleotridae đều không có các giác bám ở vây chậu, loài có

kích cỡ lớn như cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) có thể đạt kích cỡ 60

cm/cá thể, loài có kích thước nhỏ thuộc giống Hypseleotris thường phân bố ở các thủy vực nước lợ và ngọt của Châu Úc (Riehl and Baensch, 1997)

2.2 Đặc điểm hình thái phân loại của các loài cá bống họ Eleotridae

Cá bống đen là nhóm cá thuộc bộ cá vược (Perciformes) và nằm trong

họ Eleotridae, được phát hiện chủ yếu ở khu vực nhiệt đới với 35 giống và 150

loài (Helfman et al., 1997) Trong khi có nhiều loài cá bống đen trải qua giai đoạn

phù du ngoài biển và một số loài hoàn toàn sống ngoài biển thì phần lớn ở giai đoạn trưởng thành chúng đều sống trong các sông, rạch nước ngọt và lợ Về hình thái giải phẫu chúng tương tự như họ cá bống trắng (Gobiidae), tuy nhiên các loài

Trang 28

cá bống đen này không có giác mút ở phần khung chậu và không có giác bám ở

phần vây chậu (Hampel et al., 2004)

Theo Helfman et al (1997), hệ thống phân loại trong khoa học đối với các

cá tương tự như cá bống (Hoffman et al., 2010) Một số loài cá bống có giá trị

kinh tế cũng đã được Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) mô tả chi

tiết như cá bống tượng (Oxyeleotris marmotarus), nhóm cá bống này có đầu to,

rộng, dẹp bằng, chiều rộng của đầu bằng hoặc lớn hơn cao thân, mõm dài và nhọn, hướng lên trên, giữa mõm có u nhô cao Miệng trên rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra phía trước Rạch miệng xiên, kéo dài chạm với đường thẳng

Trang 29

đứng kẻ qua giữa mắt Răng nhọn, gốc răng to, xếp thưa thành nhiều hàng trên mỗi hàng, không râu Mắt tròn, nhỏ, lệch về mặt lưng của đầu, gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang Lưỡi rất phát triển, dẹp bằng, đầu lưỡi tròn Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn nằm ngay sau rãnh môi trên Phần trán giữa hai mắt rộng, cong lõm và tương đương với 2 lần đường kính mắt Thân cá mập, phần trước dẹp bằng, phần sau dẹp bên, đường lưng lõm xuống ở trán Cuống đuôi thon dài, vảy nhỏ, phủ khắp thân và đầu (trừ mõm) Đầu và phần trước của thân phủ vảy tròn, phần sau phủ vảy lược, vảy phủ lên gốc vây ngực và lớn hơn nửa vây đuôi Khoảng cách 2 vây lưng nhỏ hơn chiều dài gốc vây lưng thứ nhất

Cơ gốc vây ngực phát triển Hai vây bụng tách rời nhau Vây đuôi tròn, cơ gốc vây đuôi phát triển Cá có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, có nhiều sọc nhỏ màu nâu hoặc xám tạo thành vân Mặt lưng có 3 đốm đen: Một ở sau đầu, một ở gốc vây lưng thứ nhất và một ở gốc vây lưng thứ hai Mặt bên thân cá có nhiều đốm đen

to những đốm này không có hình dạng nhất định Gốc vây đuôi có một đốm đen

to Vây ngực màu cam với nhiều hàng chấm đen nằm song song với tia vây, rìa vây bụng màu cam Đây là phương pháp mô tả rõ ràng, dễ nhận dạng có thể sử dụng phương pháp này để mô tả hình thái cho họ cá bống

Nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv (2013) đã xác định được 7 loài cá

thuộc họ cá bống đen (Eleotridae) phân bố ở ĐBSCL gồm: cá bống trứng

(Eleotris melanosoma), hai loài cá bống trân (Butis butis và Butis humeralis), cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata), cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus),

cá bống hoa (Bostrychus scalaris) và cá bống lưng cao (Butis koilomatodon)

Trong đó, có 4 loài đã được Mai Đình Yên (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Nguyễn Nhật Thi (2000) và Nguyễn Văn Hảo (2005) nghiên cứu và mô tả các chỉ tiêu hình thái của chúng

2.2.1 Cá bống trứng (Eleotris melanosoma)

Họ: Eleotridae

Giống: Eleotris

Trang 30

Loài: Eleotris melanosoma

Tên đồng danh:

Loài: Culius melanosoma Bleeker, 1852 Loài: Eleotris fusca non Forster, 1801 Loài: Eleotris melanosoma (Bleeker, 1852)

Hình 2.1: Cá bống trứng (Eleotris melanosoma) (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

Nguyễn Nhật Thi (2000) đã xác định được các tia vây của loài cá này là:

số tia vây lưng (D=I, 8), số tia vây ngực (P=15-19), số tia vây hậu môn (A=I, 8)

Tỉ lệ về các chỉ tiêu hình thái của cá bống trứng được xác định như sau:

Dài chuẩn / Dài đầu = 3,13 (2,5-3,9)

Dài chuẩn / Cao thân = 4,7 (3,7-5,8)

Dài đầu / Dài mõm = 2,8 (2,3-3,3)

Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 3,2 (2,5-4,6)

Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 1,9 (1,5-2,2)

Cao thân / Cao cuống đuôi = 1,7 (1,3-2,2)

Cá bống trứng có đầu to, ngắn, tròn, có dạng hình chớp, mõm ngắn hướng lên, miệng rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra trước, răng nhọn mịn xếp thành nhiều hàng, mắt nhỏ nằm giữa trên của đầu, khoảng cách giữa hai mắt rộng Hai vây lưng tách rời nhau, khởi điểm của vây hậu môn sau khởi điểm của vây lưng thứ hai nhưng điểm kết thúc ngang nhau, cơ gốc vây ngực tương đối phát triển, hai vây bụng không dính nhau, vây đuôi tròn Thân phần trước tròn, phần sau dẹp bên, cuống đuôi thon dài, gai niệu sinh dục dài, nhọn, kéo dài sau đuôi

Trang 31

hoặc đến khởi điểm gốc vây hậu môn, toàn thân phủ vảy lược lớn Đầu phủ vảy tròn lớn hơn Cá thường có màu nâu đỏ hoặc nâu đen, có nhiều đốm đậm màu ở

vị trí không cố định, các vây lưng, vây ngực, vây hậu môn và vây đuôi có màu vàng, có nhiều hàng sọc đen vắt ngang các tia vây, vây bụng màu vàng xám

2.2.2 Cá bống trân (Butis butis)

Hình 2.2: Cá bống trân (Butis butis) (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

Các tia vây của loài cá này đã được Nguyễn Nhật Thi (2000) và Mai Đình Yên (1992) xác định là: số tia vây lưng (D=I, 8), số tia vây ngực (P=19-20), số tia vây hậu môn (A=I, 8), số tia vây bụng (V=I, 5) và tỉ lệ về các chỉ tiêu hình thái của loài cá bống trân này là:

Trang 32

Dài chuẩn / Dài đầu = 2,96 (2,60-3,82)

Dài chuẩn / Cao thân = 4,90 (3,11-6,09)

Dài đầu / Dài mõm = 2,60 (1,88-3,50)

Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 4,55 (3,71-8,50)

Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 2,48 (1,82-3,50)

Cao thân / Cao cuống đuôi = 2,01 (1,60-3,00)

Cá bống trân có đầu to, dẹp bằng, mõm dài, nhọn, hướng lên, miệng trên rộng, răng hàm dưới dài hơn hàm trên và daì ra trước, khe mang rộng, kéo dài về phía trước ở mặt bụng đến dưới mắt, phần trước thân tròn, phần sau dẹp bên, cuống đuôi thon dài Đường lưng hơi lõm xuống ở trán, toàn thân và đầu phủ vảy lược, vảy phần sau to hơn phần trước, vẩy ở mõm nhỏ hơn vẩy ở thân Gai niệu sinh dục của loài cá này dài, nhọn, kéo dài về phía sau và khởi điểm gốc vây hậu môn, hai vây lưng tách rời nhau, cơ gốc vây ngực tương đối phát triển, hai vây bụng không dính nhau, vây đuôi tròn, cơ gốc vây phát triển, không dính nhau Toàn thân có màu xám ửng vàng, lưng có nhiều đốm màu vàng, bụng có nhiều đốm màu da cam, vây lưng màu vàng xám có đốm đen, vây bụng có màu vàng cam có nhìêu hàng chấm đen vệt ngang các tia vây, gốc vây hậu môn vàng, vây đuôi màu đen

Trang 33

Loài: Gigantogobius jordani Fowler, 1905 Loài: Oxyeleotris marmorata Smith, 1930 Loài: Oxyeleotris marmorata M Weber, 1931 Loài: Oxyeleotris marmorata Herre, 1927 Loài: Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852

Hình 2.3: Cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata) (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

Theo Nguyễn Nhật Thi (2000) và Nguyễn Văn Hảo (2005), các tia vây của loài cá này là: số tia vây lưng (D=I, 9), số tia vây ngực (P=17-19), số tia vây hậu môn (A=I, 7-9), số tia vây bụng (V=I, 5) Tỉ lệ về các chỉ tiêu hình thái của cá bống tượng được xác định là:

Dài chuẩn / Dài đầu = 2,78 (2,72- 2,84)

Dài chuẩn / Cao thân = 4.83 (4,52-5,14)

Dài đầu / Dài mõm = 3,10 (3,03-3,17)

Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 4,05 (3,80- 4,29)

Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 1,73 (1,72-1,74)

Cao thân / Cao cuống đuôi = 1,52 (1,45-1,59)

Về hình thái cá bống tượng có thân to, phần trước hình trụ, phần sau hơi dẹp bên, đầu to, rộng, dẹp bằng, mõm dài nhọn hướng lên trên, miệng trên rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra phía trước, răng nhọn, gốc to, xếp thưa thành nhiều hàng trên mỗi hàm, miệng không có râu, mắt nhỏ, tròn ở vị trí lệch về mặt lưng của đầu gần nơi chót mõm, lưỡi cá phát triển, dẹp, đầu lưỡi tròn, khoảng

Trang 34

cách hai mắt rộng Thân cá có nhiều vẩy nhỏ, phủ khắp thân và cả đầu, đuôi có cuống thon dài, cá thường có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, có nhiều sọc nhỏ màu nâu hoặc xám, tạo thành vân, mặt lưng có 3 đốm đen: 1 ở sau đầu, 1 ở gốc vây lưng thứ nhất và 1 ở gốc vây lưng thứ hai Vây đuôi tròn, ngắn hơn đầu Ở cuốn đuôi có khoảng trắng hình chữ V, mũi nhọn hướng về phía trước Vây ngực dài

và nhọn Vây lưng tách rời Vây lưng thứ nhất tù, khởi điểm vây lưng thứ nhất sau khởi điểm vây ngực và vây bụng Hai vây bụng tách rời nhau

2.2.4 Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus)

Loài: Eleotris urophthalmus Bleeker, 1851

Loài: Oxyeleotris urophthalmus Smith, 1945

Hình 2.4: Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

Theo Mai Đình Yên (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), các tia vây của loài cá này là: số tia vây lưng (D=I, 9-10), số tia vây ngực (P=16-17), số tia vây hậu môn (A=I, 8-10), số tia vây bụng (V=I, 5) Tỉ lệ về các chỉ tiêu hình thái của cá bống tượng được xác định là:

Trang 35

+ Dài chuẩn / Dài đầu = 3,35 (3,00-4,17)

+ Dài chuẩn / Cao thân = 5,16 (4,06-6,11)

+ Dài đầu / Dài mõm = 2,74 (2,24-3,75)

+ Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 3,40 (2,75-4,25)

+ Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 1,74 (1,43-2,31)

+ Cao thân / Cao cuống đuôi = 1,46 (1,20-2,25)

Về đặc điểm hình thái, cá bống dừa có thân phía trước tròn, phía sau dẹp bên Mõm tù, hướng lên Miệng rộng, răng nhọn và nhỏ mịn Lưỡi dài, dẹp bằng, đầu lưỡi tròn Mắt tròn nhỏ, khoảng cách hai mắt rộng gấp hai lần đường kính mắt và gần bằng chiều dài mõm Không có râu Cuốn đuôi thon dài Vẩy rất nhỏ, phủ khắp thân và đầu Đầu và phần trước thân phủ vảy tròn, phần sau phủ vảy lược Cá có màu đen bóng và có khi màu nâu Cạnh trên của gốc vây đuôi có một đốm đen, hai vây bụng tách rời nhau, vây đuôi tròn và các vây này có màu vàng hoặc xám đen, phần dưới bụng có màu ửng vàng có nhiều đốm đen nhỏ

2.3 Đặc điểm phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae

Cá bống thường phân bố ở các nước thuộc khu vực nhiệt đới như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, đặc biệt là rất phong phú ở khu vực ĐBSCL (Murdy, 1989; Mai Đình Yên, 1992; Trương Thủ

Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Rainboth, 1996; Tran Dac Dinh, et al.,

2002) Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy phạm vi phân bố của các loài cá bống trong vùng biển Việt Nam khá rộng từ bãi triều đến độ sâu 100 m và chịu được độ mặn từ 3-38‰, ở các khu vực vùng cửa sông, bãi triều và các đảo là vùng phân bố tập trung của các loài cá bống cả về thành phần loài và mật độ cá thể (Nguyễn Nhật Thi, 2000)

Ở ĐBSCL, cá bống phân bố rộng từ vùng nước ngọt đến vùng lợ và mặn, trong các bãi bùn ven biển, rừng ngập mặn và cửa sông, trong đó các loài cá bống thuộc họ Eleotridae thường được tìm thấy ở vùng nước ngọt và cửa sông Nhiệt

độ thích hợp cho các loài cá bống sinh trưởng và phát triển là 23-28oC (Kottelat

Trang 36

and Whitten, 1996) Họ cá bống Eleotridae thường được tìm thấy chủ yếu trong khu vực nhiệt đới Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và có khoảng 150 loài Trong khi nhiều loài cá bống đen trải qua giai đoạn phù du ngoài biển và một số loài hoàn toàn sống ngoài biển thì phần lớn các dạng trưởng thành đều sống trong các sông, rạch nước ngọt và lợ Chúng đặc biệt quan trọng như là các động vật săn bắt mồi trong các hệ sinh thái sông suối nước ngọt trên các đảo giữa đại dương như New Zealand và Hawaii, chẳng hạn như cá da trơn Về hình thái giải phẫu chúng tương tự như họ cá bống Gobiidae, mặc dù không giống như phần lớn các loài cá bống trắng nhưng chúng không có giác mút ở phần khung chậu

(Hampel et al., 2004) Cá bống đen là nhóm các dạng cá nhỏ sinh sống trên chất

nền, thường là thảm thực vật thủy sinh, trong các hang hốc hay trong các kẽ nứt trong đá và rạn san hô, hầu hết các loài cá thuộc họ Eleotridae đều không có các giác bám ở vây chậu, cùng với các khác biệt về hình thái khác và được sử dụng

để phân biệt với họ cá bống trắng Có một vài loài cá bống đen săn mồi có thể lớn

hơn như cá bống tượng (Oxyeleotris marmorata), một số loài cá nước ngọt sống ở

vùng Đông Nam Á có thể dài tới 60 cm/cá thể (Riehl and Baensch, 1996)

Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) phân bố chủ yếu ở Thái Lan và

Borneo (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993), Đại Tây Dương và

Ấn Độ Dương (Trần Đắc Định và ctv., 2013) Ở Việt Nam cá bống dừa phân bố ở các tỉnh ĐBSCL (Trần Đắc Định và ctv., 2013) Trong tự nhiên cá sống chủ yếu ở

các nhánh sông, rạch, ao, mương vườn và đặc biệt là những nơi có nhiều dừa

nước (Nypa fruticans) phát triển, cá thích sống trong điều kiện có nhiều bùn, cá

thường trú ẩn trong hang, hốc, khe giữa hai bẹ dừa nước

Cá bống tượng (O marmorata) là loài đặc trưng cho vùng nhiệt đới

Chúng phân bố rộng rãi các nước thuộc Đông Nam châu Á như Cambodia, Lào, Thái lan, Indonesia, Malaysia và Việt Nam Ở Việt Nam, cá được tìm thấy ở các lưu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long, sông Vàm Cỏ và sông Đồng Nai (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995) Cá bống tượng có tập tính sống đáy, hoạt động

Trang 37

nhiều về đêm, ban ngày thường vùi thân mình xuống bùn, đặc biệt khi gặp nguy hiểm chúng có thể lặn xuống sâu đến 1 m ở lớp bùn đáy và có thể sống ở đó hàng chục giờ Trong ao, cá thường sống ẩn ở ven bờ, những nơi có hang hốc, rong cỏ

và thực vật thủy sinh thượng đẳng làm giá đỡ Ở Việt Nam, cá thường được khai thác, đánh bắt ngoài tự nhiên, sản lượng khai thác tự nhiên hàng năm khá lớn và theo thống kê của Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh Phương (1994) sản lượng khai thác cá bống ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên khoảng 40 tấn/năm Cá bống tượng sống trong các thủy vực nước ngọt như: sông ngòi, kênh rạch, ao hồ Cá có thể chịu đựng được với môi trường nước phèn có pH dao động

từ 5 đến 6 và chúng có thể sống trong nước lợ có nồng độ muối 15‰ Một số loài

cá do có cơ quan hô hấp phụ nên chúng có thể chịu được trong điều kiện hàm lượng ôxygen thấp và có thể sống chui rúc sâu ở lớp bùn đáy trong nhiều giờ Cá

có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 15oC đến 41,5oC, nhiệt độ thích hợp nhất là

từ 26oC đến 32oC (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995) Poulsen et al (2004) đã có khái

quát về sự di cư của các loài cá này ở hạ lưu sông MêKông và nghề đánh cá ở đây

là một trong những nghề đánh cá lớn nhất trên thế giới, qua đó bổ sung thông tin chi tiết về 40 loài cá quan trọng đối với nghề khai thác cá trên sông MêKông

Một số chỉ tiêu sinh thái trong vùng phân bố của cá bống cũng được đề cập đến trong nghiên cứu này gồm:

- Tốc độ dòng chảy và cấu trúc nền đáy có liên quan đến phân bố cũng như cấu

trúc thành phần loài thủy sinh vật Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002), ở

vùng hạ lưu sông MêKông nước chảy chậm, nền đáy mềm, bùn cát và cát bùn

là môi trường thích hợp cho các loài cá đáy phát triển, trong khi đó ở các vùng cửa sông châu thổ nền đáy kém đa dạng hơn so với các cửa sông có bờ đá (vịnh, đầm phá,…), khu hệ cá nghèo nàn và đơn điệu hơn Một số loài giun nhiều tơ thuộc họ Nereidae chỉ được tìm thấy trên các nền đáy bùn, ngược lại các loài thuộc nhóm Polychaeta (họ Ophelidae và họ Paraonidae) chỉ tồn tại trên các nền đáy cát và cá sống đáy ở vùng núi cũng kém phát triển hơn so với

Trang 38

ở vùng có nền đáy mềm bùn-cát, cát-bùn và nơi có nền đáy là bùn cát và bùn

có sự phân bố của các loài cá đáy, trong đó có nhóm cá bống (Smiljkov and Slavevska-Stamenkovic, 2006) Ở vùng cửa sông được xem là nơi cư trú của quần xã sinh vật có kích thước cơ thể nhỏ như nhóm cá bống này (Vũ Trung Tạng, 2009)

- Độ mặn của nước thay đổi cũng ảnh hưởng lớn đến sự phân bố của các loài cá trong thủy vực tự nhiên, mỗi loài cá có khoảng thích hợp về độ mặn khác

nhau Nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002) cho thấy thành phần

các loài thủy sinh vật ở thủy vực nước lợ, mặn thường phong phú hơn so với thủy vực nước ngọt

- Chỉ tiêu thủy sinh vật: Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002), các thuỷ vực bị

ô nhiễm hữu cơ số lượng các loài cá đáy phân bố ít và tốc độ dòng chảy thấp Theo Smiljkov and Slavevska-Stamenkovic (2006), những điểm có nhiều thực vật phù du sự đa dạng sinh học của nhóm cá đáy sẽ cao, điều này cho thấy sự hiện diện của động vật phù du và thực vật phù du là một trong những yếu tố quan trọng giúp làm tăng mức độ đa dạng sinh học của nhóm cá bống và sự phân bố của sinh vật đáy cũng phụ thuộc vào độ sâu của thủy vực (Đặng Ngọc

Thanh và ctv., 2002), theo chiều thẳng đứng của thủy vực nước tĩnh (hồ tự

nhiên) ở vùng ven bờ có nền đáy mềm, bùn cát các loài cá này phát triển nhiều hơn so với vùng đáy sâu

2.4 Đặc điểm dinh dưỡng của cá bống

Tính ăn của động vật thủy sản trong tự nhiên rất đa dạng và phong phú, một số loài cá có tập tính chỉ ăn động vật hay thực vật, một số loài khác có tập tính ăn tạp thiên về động vật hay thực vật, ăn lọc và có loài bắt mồi ở các tầng nước khác nhau Vì vậy, hệ tiêu hóa của động vật thủy sản quyết định đến tính ăn khác nhau của chúng (Lê Thanh Hùng, 2008) Có thể xác định tính ăn của cá dựa vào chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG - Relative Length of the Gut), giá trị RLG được tính theo công thức của Al-Hussaini (1949),

Trang 39

nếu RLG<1 là nhóm cá ăn động vật; RLG>1 là nhóm cá ăn thực vật và RLG=1 là nhóm cá ăn tạp

Các loài cá bống được xem là nhóm có tập tính ăn động vật và các loại

thực vật sống bám vào nền đáy của thủy vực (Trần Đắc Định và ctv., 2002), trong

đó các loài cá bống thuộc họ Eleotridae thường có tập tính bắt mồi vào ban ngày

và săn mồi bằng cách ngụy trang tìm mồi Con mồi phổ biến của các loài cá bống này là giáp xác nhỏ và động vật thân mềm, động vật đáy, giáp xác chân chèo, nhóm tôm cua nhỏ, ốc, sò và một số động vật không xương sống khác (Watts,

2004) Theo Helfman et al (1997), thức ăn chủ yếu của cá bống đen là ấu trùng

giáp xác, cá con và ấu trùng côn trùng Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng (1995) đã cho thấy chiều dài ruột và chiều dài thân của cá bống tượng có tỉ

lệ RLG<0,5 nên mang đặc tính của cá ăn động vật (Nikolsky, 1963), đây là loài

cá dữ điển hình, thức ăn chủ yếu là động vật như tôm, tép, cá nhỏ, cua, ốc Tuy nhiên, cá bống tượng không chủ động bắt mồi mà chỉ rình mồi Gần đây, có một

nghiên cứu về tính ăn của cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) phân bố ở khu

vực ven biển Bạc Liêu và Sóc Trăng của Lê Thị Ngọc Thanh (2010), kết quả cũng cho thấy tính ăn của loài cá này thiên về động vật (thức ăn chủ yếu là giáp xác nhỏ, copepoda và cá con), tuy nhiên nghiên cứu này chưa thể hiện được tính

ăn của cá ở các giai đoạn phát triển cũng như chưa so sánh được tính ăn của cá trong mùa mưa và mùa khô một cách đầy đủ hơn

Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv (2002) trên cá kèo vẩy nhỏ (Pseudapocyptes elongatus) đã cho thấy chỉ số RLG là 3,27 và trong

ống tiêu hóa của cá kèo có tảo khuê, tảo lam và mùn bã hữu cơ là chủ yếu, trong

đó tảo khuê chiếm tỉ lệ cao nhất trong chuỗi thức ăn của cá kèo (83,1%), kế đến là các mùn bã hữu cơ (14,9%) và tảo lam (1,9%), ngoài ra một số rất ít các động vật phù du cũng hiện diện trong thức ăn của cá bao gồm Copepoda (0,06%) và Cladocera (0,03%), qua đó cho thấy các loài cá bống này có khả năng sống trong môi trường giàu tảo khuê và mùn bã hữu cơ, nền đáy là bùn hay bùn cát

Trang 40

Khái niệm về phổ thức ăn của cá cũng được đề cập đến trong nghiên cứu này Dinh dưỡng là sự chuyển hóa vật chất từ thức ăn thành các yếu tố cấu thành

cơ thể thông qua quá trình sinh lý và hóa học, quá trình dinh dưỡng diễn ra bên trong cơ thể Thức ăn là cơ sở cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng cho quá trình dinh dưỡng (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Phổ thức ăn của loài là những loại thức ăn ưa thích của loài được tìm thấy trong dạ dày và sự thay đổi tập tính ăn của cá thường thể hiện qua các giai đoạn phát triển trong chu

kỳ sống của cá Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) đã chỉ ra rằng trong một chu kỳ sống sự phát triển của cơ thể cá trải qua 5 giai đoạn:

(i) Giai đoạn phôi: Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ sống, được bắt đầu

khi trứng thụ tinh và phân cắt Đặc trưng dinh dưỡng ở giai đoạn này của cá là dinh dưỡng bên trong (dinh dưỡng tự cung tự cấp) có hệ số sử dụng năng lượng cao nhất (50%) so với các giai đoạn khác trong chu kỳ sống Vật chất dinh dưỡng

là noãn hoàng Giai đoạn phôi chia thành hai thời kỳ là thời kỳ trứng và thời kỳ phôi tự do Ở thời kỳ phôi tự do trong chu kỳ sống, cá dinh dưỡng hoàn toàn bằng noãn hoàng đến khi xuất hiện phase hỗn dưỡng (phase chuyển tính ăn lần thứ nhất), việc xuất hiện phase hỗn dưỡng là thời điểm lượng noãn hoàng sử dụng gần hết và đòi hỏi chúng phải tập ăn thức ăn ngoài môi trường

(ii) Giai đoạn ấu trùng: Giai đoạn ấu trùng được chuyển tiếp nhanh chóng

từ sau phase chuyển tính ăn lần thứ nhất của giai đoạn phôi tự do, bắt đầu từ khi

cá sử dụng hết noãn hoàng (kết thúc giai đoạn dinh dưỡng bên trong) và được kết thúc bằng sự hình thành phase chuyển tính ăn lần thứ hai Ở giai đoạn này cá đã hoàn toàn sử dụng thức ăn bên ngoài và phải tự kiếm thức ăn Thức ăn thích hợp trong giai đoạn ấu trùng cho cá là động vật phù du

(iii) Giai đoạn tiền trưởng thành: Đặc trưng dinh dưỡng của giai đoạn tiền

trưởng thành là cá bắt đầu biểu hiện và tiến tới ổn định tính ăn của loài (tính ăn của cá trưởng thành) Thời gian đầu mới chuyển qua giai đoạn tiền trưởng thành

từ ấu trùng, cá sử dụng thức ăn của loài ở mức độ “tập ăn” và sau đó cá dần dần

Ngày đăng: 14/06/2016, 08:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Sơ đồ khu vực thu mẫu dọc theo tuyến Sông Hậu  (www.maps.google.com, cập nhật ngày 05/06/2012) - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 3.1 Sơ đồ khu vực thu mẫu dọc theo tuyến Sông Hậu (www.maps.google.com, cập nhật ngày 05/06/2012) (Trang 55)
Hình 3.2: Một số thiết bị dùng trong thu mẫu các chỉ tiêu sinh thái - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 3.2 Một số thiết bị dùng trong thu mẫu các chỉ tiêu sinh thái (Trang 57)
Hình 3.5: Lưới cào khung dùng xác định mức độ phong phú tương đối (CPUE) cá bống - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 3.5 Lưới cào khung dùng xác định mức độ phong phú tương đối (CPUE) cá bống (Trang 62)
Hình 4.22: Cá bống trứng (Eleotris melanosoma Bleeker, 1853) - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.22 Cá bống trứng (Eleotris melanosoma Bleeker, 1853) (Trang 92)
Hình 4.26: Cá bống trân (Butis humeralis (Valenciennes, 1837)) - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.26 Cá bống trân (Butis humeralis (Valenciennes, 1837)) (Trang 98)
Hình 4.37: Các cơ quan tiêu hoá của cá bống dừa (A: thực quản, B: dạ dày, C: ruột) - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.37 Các cơ quan tiêu hoá của cá bống dừa (A: thực quản, B: dạ dày, C: ruột) (Trang 107)
Bảng 4.18: Chỉ số Lt, Li, RLG của cá bống dừa ở 3 nhóm kích cỡ - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Bảng 4.18 Chỉ số Lt, Li, RLG của cá bống dừa ở 3 nhóm kích cỡ (Trang 109)
Bảng 4.23: Số lƣợng mẫu cá bống trứng và bống dừa dùng để xác định chỉ tiêu sinh sản - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Bảng 4.23 Số lƣợng mẫu cá bống trứng và bống dừa dùng để xác định chỉ tiêu sinh sản (Trang 117)
Hình 4.43: Hình thái các giai đoạn phát triển noàn sào của cá bống trứng - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.43 Hình thái các giai đoạn phát triển noàn sào của cá bống trứng (Trang 121)
Hình 4.47: Tinh sào của cá bống trứng ở giai đoạn chƣa thành thục và đã thành thục - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.47 Tinh sào của cá bống trứng ở giai đoạn chƣa thành thục và đã thành thục (Trang 125)
Bảng 4.29: HSI của cá bống trứng đực và cái qua các tháng khảo sát - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Bảng 4.29 HSI của cá bống trứng đực và cái qua các tháng khảo sát (Trang 128)
Bảng 4.31: HSI của cá bống dừa đực và cái qua các tháng khảo sát - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Bảng 4.31 HSI của cá bống dừa đực và cái qua các tháng khảo sát (Trang 131)
Hình 4.58: Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống dừa - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.58 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá bống dừa (Trang 134)
Hình 4.61: Chiều dài thành thục (L m ) của cá bống trứng cái - Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu
Hình 4.61 Chiều dài thành thục (L m ) của cá bống trứng cái (Trang 139)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w