1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành của cảng theo khoản mục và theo yếu tố

61 2,2K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 369 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp chi tiết Trong ĐAMH đã sử dụng phương pháp chi tiết sau: Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết được quan hệ cấu t

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

Bài thiết kế này đề cập tới nội dung chính : “Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành của Cảng theo khoản mục và theo yếu tố”.

Thông qua việc đánh giá phân tích tìm hiểu được những nguyên nhân gây ra những biến đông kinh tế trong doanh nghiệp, đồng thời đưa ra những ưu điểm, hạn chế của doanh nghiệp trong công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực, vật lực Qua đó giúp doanh nghiệp có biện pháp hữu hiệu, tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành và phương hướng cải tiến công tác quản lý giá thành, đưa ra những

Trang 3

biện pháp khắc phục yếu kém từ bản thân doanh nghiệp để doanh nghiệp phát triển tốt hơn

I Mục đích của phân tích hoạt động kinh tế

- Đánh giá kết quả hoạt động kinh tế, kết quả của việc thực hiện các nhiệm

vụ được giao.Đánh giá việc chấp hành các chế độ, chính sách của Nhà nước

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố Xác định các nguyên nhân dẫn đến sự biến động các nhân tố làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của hiện tượng kinh tế

- Đề xuất các biện pháp và phương hướng để cải tiến phương pháp kinh doanh, khai thác các khả năng tiềm tàng trong nội bộ doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh

II Ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh tế

Là một nhà kinh doanh, bao giờ bạn cũng phải quan tâm đến hiệu quả và mong muốn hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao Để đạt được điều đó, trước hết phải có nhận thức đúng Từ nhận thức đúng đi đến quyết định và hành động Nhận thức, quyết định và hành động là bộ ba biện chứng của lãnh đạo quản lý khoa học Trong đó, nhận thức giữ vai trò quan trọng trong việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ tương lai Để có thể nhận thức đúng đắn, người ta sử dụng một công cụ quan trọng là phân tích kinh tế Dùng công cụ này, người ta

Trang 4

nghiên cứu mối quan hệ cấu thành, quan hệ nhân quả để phát hiện quy luật tạo thành, quy luật phát triển các hiện tượng kinh tế và kết quả kinh doanh Từ đó có những quyết định đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanhh của doanh nghiệp Nếu thiếu những kết luận rút ra từ việc phân tích hoạt động kinh tế thì mọi quyết định đưa ra đều thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn, vì thế nó khó có thể có kết quả tốt đẹp.

Vậy có thể phát biểu về ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế như sau:

“Với vị trí là công cụ quan trọng của nhận thức, phân tích hoạt động kinh tế trở thành một công cụ quan trọng để quản lý khoa học có hiệu quả các hoạt động kinh tế Nó thể hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước.”

B Các phương pháp phân tích sử dụng trong bài

Các phương pháp kỹ thuật dùng trong phân tích được chia thành 2 nhóm:

* Nhóm 1: Các phương pháp đánh giá kết quả kinh doanh.

- Phương pháp so sánh: So sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối, so sánh bằng số bình quân

- Phương pháp chi tiết: chi tiết theo thời gian, chi tiết theo không gian (địa điểm, đơn vị), chi tiết theo các bộ phận cấu thành

* Nhóm 2: Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố

đến chỉ tiêu phân tích

- Phương pháp thay thế liên hoàn

- Phương pháp số chênh lệch

- Phương pháp cân đối

- Phương pháp liên hệ cân đối

- Phương pháp chỉ số

- Phương pháp tương quan hồi quy …

Trong phạm vi đồ án này, ta sử dụng các phương pháp kỹ thuật sau:

I Phương pháp so sánh

Trang 5

Là phương pháp dược vận dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định vị trí và xu hướng biến động của hiện tượng, đánh giá kết quả Có thể có các trường hợp so sánh sau:

- So sánh giữa thực hiện với kế hoạch để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch

- So sánh giữa kỳ này với kỳ trước để xác định nhịp độ, tốc độ phát triển của hiện tượng

- So sánh giữa bộ phận và tổng thể để xác định kết cấu hiện tượng nghiên cứu

- So sánh giữa đơn vị này với đơn vị khác để xác định mức độ tiên tiến hoặc lạc hậu giữa các đơn vị

- So sánh giữa thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu

Trong bài ĐAMH đã sử dụng các phương pháp so sánh sau:

1 So sánh bằng số tuyệt đối

Mức biến động tuyệt đối (chênh lệch tuyệt đối) : ∆y = ( y1- y0 ) cho biết quy

mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu đạt vượt hoặc hụt giữa 2 kỳ

Trong đó : y1, y0 : mức độ của hiện tượng kinh tế kỳ nghiên cứu, kỳ gốc

2 So sánh bằng số tương đối

2.1 Số tương đối động thái

Dùng để biểu hiện xu hướng biến động, tốc độ phát triển của hiện tượng theo thời gian

2.1.1 Số tương đối động thái dạng đơn giản

t = (y1/ y0).100 (%)Trong đó : y1, y0 : mức độ của hiện tượng kinh tế kỳ nghiên cứu, kỳ gốc.2.1.2 Số tương đối động thái dạng liên hệ

Áp dụng khi tính cần liên hệ với một chỉ tiêu nào đó có liên quan

Trị số chỉ tiêu kỳ nghiên cứu.100(%)

t’ =

Trang 6

Trị số chỉ tiêu kỳ gốc Hệ số tính chuyển

Trị số chỉ tiêu liên hệ kỳ NC

Hệ số tính chuyển =

(chỉ số của chỉ tiêu liên hệ) Trị số chỉ tiêu liên hệ kỳ gốc

2.1.3 Số tương đối động thái dạng kết hợp

Mức biến động tương đối

của chỉ tiêu nghiên cứu = y1 – y0 hệ số tính chuyển

2.2 Số tương đối kết cấu

Để xác định tỷ trọng của bộ phận so với tổng thể:

d = ybp.100/ ytt (%)Trong đó :ybp, ytt là trị số của chỉ tiêu ở bộ phận và tổng thể

II Phương pháp chi tiết

Trong ĐAMH đã sử dụng phương pháp chi tiết sau:

Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành

Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết được quan hệ cấu thành của các hiện tượng và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh

tế từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp được chính xác, cụ thể

và xác định được nguyên nhân cũng như trọng điểm của công tác quản lý

III Phương pháp cân đối

Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp các nhân tố có mối quan

hệ tổng đại số Cụ thể để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đến chỉ tiêu nghiên cứu đúng bằng chênh lệch giữa trị số kỳ nghiên cứu và trị số kỳ gốc của nhân tố đó

Khái quát nội dung của phương pháp :

Trang 7

+ Xác định đối tượng phân tích: ∆y = y1- y0 = (a1 + b1 - c1)- (a0 + b0 - c0) + Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

*) Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (a) đến y:

Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆ya = a1- a0

Ảnh hưởng tương đối: δya = (∆ya.100)/y0 (%)

*) Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:

Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yb = b1- b0

Ảnh hưởng tương đối: δyb = (∆yb.100)/y0 (%)

*) Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:

Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yc = c1- c0

Ảnh hưởng tương đối: δyc = (∆yc.100)/y0 (%)

Tổng ảnh hưởng của các nhân tố :

MĐAH

→y(%)Qui

Tỷ trọng (%)

Qui mô

Tỷ trọng (%)

Trang 9

-PHẦN II : NỘI DUNG PHÂN TÍCH

CHƯƠNG I PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ

THÀNH THEO KHOẢN MỤC

I Mục đích, ý nghĩa.

1 Khái niệm giá thành

Giá thành là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định

- Đề xuất các biện pháp và phương hướng nhằm cải tổ công tác tổ chức quản lí đầu tư cũng như việc sử dụng tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh nhằm tiết kiệm các hao phí khi sản suất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm, phấn đấu cho một giá thành hợp lý hơn

- Làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như là việc lựa chọn các phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp Làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch về tài chính doanh nghiệp

- Đánh giá trình độ kế hoạch hoá giá thành

3 Ý nghĩa

Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp Nó cũng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh đồng thời nhiều quá trình của vấn đề của quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 10

Trước hết nó phản ánh trình độ trong việc đầu tư quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, các tài sản cố định vốn và nguồn vốn, đồng thời nó phản ánh chất lượng của công tác tổ chức, quản lý và sử dụng lao động cũng như các công tác liên quan tới việc tổ chức quản lý, định mức, cấp phát sử dụng, tiêu hao các yếu tố các điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh

Giá thành là một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản tới lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó mà ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà Nước, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như với việc tái sản xuất, tái sản xuất mở rộng của doanh nghiêp, tiết kiệm các chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm, là một nhiệm vụ kinh tế chính trị quan trọng của các doanh nghiệp

Từ ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành thì việc phân tích chỉ tiêu giá thành cũng

có vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp Đây là nội dung phân tích thường xuyên được tiến hành phân tích ở các doanh nghiệp Là một trong các trọng tâm phân tích khi phân tích kinh tế doanh nghiệp Chỉ có thông qua phân tích chỉ tiêu này mà doanh nghiệp mới có điều kiện để nhìn nhận một cách xuyên suốt việc quản lý và tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh của mình, qua đó phát hiện những bất hợp lý, lãng phí để rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng những biện pháp, phương hướng trong thời gian tới

Trang 11

§2 Phân tích.

1 Lập biểu.

*) Phương trình kinh tế:

≠+ +

+ +

+ +

+ +

=

C Cl Cbhxh Cnl Cvl Cđl Ckh Csc Cql C ( đ )

Trong đó : ∑C : giá thành sản lượng

Cl : Chi phí cho LươngCbhxh : Chi phí bảo hiểm xã hộiCnl : Chi phí cho nhiên liệuCvl : Chi phí cho vật liệuCđl : Chi phí động lựcCkh : Chi phí khấu hao cơ bảnCsc : Chi phí sửa chữa

Cql : Chi phí quản lý phíC≠ : Các chi phí khác …

Số liệu: + Tổng chi phí kì nghiên cứu: 543.210.123 (103 đ)

+ So sánh về tổng chi phí: 107,6 %+ So sánh về sản lượng : 106 %

*) Đối tượng phân tích:

Ta có Giá thành sản lượng kỳ nghiên cứu: ∑C1 = 543.210.123 (103 đ)

Giá thành sản lượng kỳ gốc :

∑C0 =543107.210,60.123 x 100 = 504.842.122 (103 đ)Đối tượng phân tích

∑ = ∑C1 - ∑C0 = 543.210.123 – 504.842.122 = 38.368.001 (103 đ)

Trang 12

2 Đánh giá chung:

Qua bảng ta thấy giá thành sản lượng ở kì gốc là 504.842.122 (103 đ), ở kì nghiên cứu là 543.210.123 (103 đ), như vậy giá thành đã tăng lên 7,6% so với kì gốc tức tương đương với 38.368.001(103 đ) Nếu liên hệ với chỉ tiêu sản lượng thì thấy bội chi tương đối là 8.077.474 (103 đ) Sở dĩ có hiện tượng tăng giá thành sản lượng này là do sự ảnh hưởng của các nhân tố: Tiền lương, bảo hiểm

xã hội, nhiên liệu, vật liệu, động lực, khấu hao, sửa chữa, quản lý phí, chi khác

Trong các nhân tố trên có nhân tố tăng, có nhân tố giảm Cụ thể:

- Có 8 nhân tố tăng: tiền lương (+6,9%), BHXH (+13,87%), Nhiên liệu (+20,53%), vật liệu (+24,73%), động lực (+17,37%), khấu hao (+8,93%), sửa chữa (+16,96%), quản lí phí (+2,69%)

- Có 1 nhân tố giảm: chi khác (-28,02%)

Có thể thấy hầu hết các nhân tố đều tăng Trong đó, nhân tố chi phí vật liệu tăng nhiều nhất , tăng 24,73% so với kì gốc , tương ứng một lượng là 3.058.535 (103 đ) Nhân tố chi phí quản lí phí là nhân tố tăng ít nhất, tăng 2,69%

so với kì gốc, tương ứng với một lượng là 1.248.374 (103 đ) Tuy nhiên sự tăng giảm này chỉ là tuyệt đối, nếu liên hệ với chỉ tiêu sản lượng ta thấy trong các nhân tố tăng thì chi phí khấu hao tăng là hợp lý, với tiết kiệm tương đối 4.181.506 (103 đ) Còn các nhân tố tăng khác là chưa hợp lý

Bên cạnh đó thì nhân tố chi phí chi khác lại giảm 28,02% so với kì gốc, tương ứng với một lượng là 7.816.932 (103 đ) Nhân tố này tuy la nhân tố giảm duy nhất nhưng lượng giảm đi cũng khá đáng kể

Như vậy qua đánh giá sơ bộ tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành sản lượng theo khoản mục chi phí ta thấy tổng chi phí của doanh nghiệp xếp dỡ tại cảng tăng, tuy nhiên tốc độ tăng của giá thành lại cao hơn mức độ tăng của sản lượng Điều này tác động không tốt tới tình hình sản xuất kinh doanh Để thấy

rõ hơn mức độ ảnh hưởng của các khoản mục chi phí tới giá thành sản lượng, ta tiến hành đi sâu phân tích từng nhân tố

Trang 13

3 Phân tích chi tiết các nhân tố:

3.1 Khoản mục tiền lương:

Chi phí tiền lương ở kì gốc là 177.300.553(103 đ) chiếm tỷ trọng 35,12% đến kỳ nghiên cứu là 189.526.012 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 8,1% Như vậy tiền lương đã tăng 6,9% so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 12.225.459 (103 đ) làm bội chi tương đối 1.587.426(103 đ).Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 2,42% Chi phí này tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng tiền lương cao hơn so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục tiền lương tăng có thể do các nguyên nhân sau:

- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá năng lực làm việc của nhân viên

- Nhà nước điều chỉnh chế độ phụ cấp theo môi trường làm việc

- Tuyển thêm công nhân bổ sung cho các khâu, bộ phận làm việc có yêu

cầu về khả năng sử dụng thiết bị máy móc hiện đại

-Tăng hệ số lương cho những công nhân đã có kinh nghiệm làm việc thành thạo

+ Nguyên nhân thứ nhất : Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá năng lực làm việc của nhân viên

Do cơ chế trả lương hiện nay không cao, không đánh giá được hết khả năng của từng người, trong khi năng suất lao động cao, bốc dỡ theo tấn, sản phẩm cao hơn mức trung bình Đối với công nhân bốc xếp là lực lượng lao động chủ yếu của xí nghiệp với đa số là thanh niên từ 18-25 tuổi làm việc hăng say, nếu trả lương theo hệ số cấp bậc và hệ số công việc thì lương sẽ rất thấp, thiệt thòi cho người lao động Bởi vậy cần hoàn thiện hơn công tác trả lương để cải thiện thêm thu nhập cho công nhân xếp dỡ sao cho đảm bảo với nguyên tắc trả lương chung của xí nghiệp, công bằng theo số lượng, chất lượng

Công tác trả lương được thực hiện bằng cách giao quỹ lương cho tổ và trả lương theo các hệ số năng suất và thành tích phối hợp trong lao động Lương

Trang 14

được trả chia làm 3 loại với 4 tiêu chuẩn đánh giá : mức sản lượng, mức thời gian, tính đoàn kết trong lao động và chấp hành kỉ luật lao động.

Việc xếp loại lương của công nhân bốc xếp trong cùng một tổ với các mức đánh giá không giống nhau đã đánh giá được thực chất của từng cá nhân theo 4 tiêu chí trên tránh được cách tính lương bình quân, không công bằng cho người làm việc tích cực hơn Tuy nhiên do mới áp dụng cách trả lương mới cho xí nghiệp nên các bước thực hiện còn cứng nhắc và quá đi vào chi tiết nên làm cho tổng quỹ lương tăng nhưng không hợp lý Đây cũng là 1 trong số các nguyên nhân giúp khuyến khích công nhân làm việc tích cực hiệu quả được đề ra từ phía

xí nghiệp được cho là tích cực và là nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến tổng quỹ lương

+ Nguyên nhân thứ hai : Nhà nước điều chỉnh chế độ phụ cấp theo môi trường làm việc.

Lao động bốc xếp tại cảng là lao động trong điều kiện nặng nhọc, chật hẹp, độc hại Đặc biệt là đối với các công nhân làm việc dưới hầm hàng, ở bộ phận kho và các thiết bị máy móc nguy hiểm Trong kỳ nghiên cứu Nhà nước đã quy định tăng mức phụ cấp theo môi trường lao động, làm mức tiền lương tăng Việc điều chỉnh này là phù hợp vì mức phụ cấp cũ còn thấp, không đủ bù đắp những vất vả và sức khỏe bị ảnh hưởng của công nhân

Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ 3 : Tuyển thêm công nhân bổ sung cho các khâu, bộ phận làm việc có yêu cầu về khả năng sử dụng thiết bị máy móc hiện đại

Để đáp ứng số lượng công nhân phục vụ máy móc thiết bị tại Cảng doanh nghiệp đã thuê thêm 1 số công nhân có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại lắp đặt tại cảng Chính sách này của doanh nghiệp nhằm giúp cho năng suất ngày càng cao, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ; hướng tới chuyên môn hóa, hiện đại hóa Việc doanh nghiệp thuê thêm công nhân này đã làm cho chi phí tiền lương tăng

Trang 15

Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực Tuy nhiên cũng cần đánh giá hiệu quả của việc đào tạo công nhân mới sao cho thực hiện tốt định hướng của doanh nghiệp, tránh lãng phí tiền của, thời gian và nhân lực

+ Nguyên nhân thứ tư : Tăng hệ số lương cho những công nhân đã có

kinh nghiệm làm việc thành thạo

Nhằm tạo động lực làm việc tốt cho công nhân và giữ được những công nhân có kinh nghiệm ở lại với doanh nghiệp nên trong kỳ nghiên cứu ban lãnh đạo quyết định tăng hệ số lương Điều này khiến cho khoản mục tiền lương tăng lên Đây là chính sách phát triển chú trọng vào nguồn nhân lực, giúp những công nhân có tinh thần làm việc tốt, nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như sự trung thành với doanh nghiệp; đồng thời tạo không khí thi đua, mục tiêu phấn đấu trong toàn tổ đội

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

3.2 Khoản mục BHXH:

Chi phí BHXH ở kì gốc là 28.545.389 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5,65% đến

kỳ nghiên cứu là 32.503.711 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 5,98 % Như vậy BHXH

đã tăng 13,87 % so với kỳ gốc tương đương với một lượng là 3.958.322 (103 đ) làm bội chi tương đối là 2.245.599 (103 đ) Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 0,78 % Chi phí này tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng cao hơn so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục BHXH tăng có thể do các nguyên nhân sau:

- Số lượng công nhân nghỉ hưu tăng

- Số công nhân đau ốm do thời tiết, nghỉ bệnh tăng

- Sự tăng lương tối thiểu theo vùng trong chính sách tiền lương của Nhà

Nước

- Do chính sách tăng tỷ lệ trích BHXH của nhà nước

+ Nguyên nhân thứ nhất : Số lượng công nhân nghỉ hưu tăng.

Trong kỳ nghiên cứu số lượng công nhân của doanh nghiệp tăng lên, đó là do: Số lượng công nhân đến tuổi nghỉ hưu tăng Để đáp ứng yêu cầu về mở rộng sản xuất mà xí nghiệp đã tuyển thêm công nhân bổ sung vào những vị trí vừa có

Trang 16

công nhân nghỉ và làm việc phục vụ cho cầu tàu mới xây dựng Vì số lượng công nhân tăng dẫn tới chi phí lương của họ cũng tăng theo Sự tăng này phán ảnh quy

mô của quỹ lương, ngoài phần phí nộp cho nhà nước phần còn lại là cơ sở để xí nghiệp có thể thực hiện tốt việc chi trợ cấp cho cán bộ công nhân viên trong các trường hợp ốm đau, mất sức, từ đó làm tăng lên chi phí BHXH của doanh nghiệp

Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực Khi doanh nghiệp thực hiện tốt sẽ

có tác dụng thúc đẩy sản xuất, khuyến khích người lao động tích cực sản xuất lao động Do đó doanh nghiệp phải có kế hoạch trích phụ cấp hợp lí, thực hiện tốt những biện pháp an toàn lao đông, có những biện pháp chăm sóc, cải thiện sức khỏe cho người lao động

Tuy nhiên lượng công nhân tăng đột biến khiến cho chi phí tiền lương cũng như chi phí BHXH tăng quá cao, trong khi sản lượng khai thác chưa tương xứng với năng lực xếp dỡ Điều này ảnh hưởng chưa thực sự hợp lí tới tình hình sản xuất kinh doanh trong kỳ Doanh nghiệp cần nghiêm túc xem xét quyết định của mình nên thực hiện vào thời điểm nào là hợp lý và sẵn sàng

+ Nguyên nhân thứ hai : Số công nhân đau ốm do thời tiết, nghỉ bệnh tăng

Tính từ đầu kì, số cán bộ nhân viên nghỉ ốm, đau bệnh của doanh nghiệp tăng so với kì trước Do thời tiết nóng ẩm, oi bức đổi gió liên tục làm sức đề kháng con người chưa kịp thích ứng và dễ mang bệnh cộng với điều kiện làm việc tại cảng là môi trường làm việc nặng và khắc nghiệt, tiếp xúc nhiều với môi trường ngoài trời Số công nhân bị ốm tăng đã làm tăng chi phí bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp bởi lẽ ngoài phần phí nộp cho Nhà nước doanh nghiệp còn chủ động thực hiện tốt việc chi trợ cấp cho cán bộ công nhân viên trong các trường hợp ốm đau, mất sức … nhằm động viên khuyến khích, giúp đỡ người lao động tích cực sản xuất, lao động Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực

Trang 17

Doanh nghiệp cần có kế hoạch trích phụ cấp hợp lý, thực hiện tốt những biện pháp an toàn lao động, có những biện pháp chăm sóc, cải thiện sức khỏe cho người lao động.

+ Nguyên nhân thứ ba : Sự tăng lương tối thiểu theo vùng trong chính sách tiền lương của Nhà Nước:

Lương tối thiểu là một mức lương thấp nhất theo quy định của Luật lao động do Quốc hội Việt Nam ban hành Mức lương tối thiểu này được dùng làm

cơ sở để tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp hạch toán mức lương tối thiểu phải trả cho công nhân theo quy định Trong kỳ nghiên cứu mức lương tối thiểu theo vùng năm 2015 do Nhà Nước đã tăng từ 2.700.000 đồng/tháng lên 3.100.000 đồng/tháng ở vùng I; 2.400.000 đồng/tháng lên 2.750.000 đồng/tháng ở vùng II; 2.100.000 đồng/tháng lên 2.400.000 đồng/tháng ở vùng III; 1.900.000 đồng/tháng lên 2.150.000 đồng/tháng ở vùng IV khiến cho tiền lương cơ bản tăng mạnh Từ đó khiến chi phí BHXH tăng theo

Đây là nguyên nhân khách quan,tích cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Do chính sách tăng tỷ lệ trích BHXH của nhà nước

Chính sách bảo hiểm cho người lao động được nhà nước quy định và tỷ lệ trích BHXH tăng theo lộ trình qua các năm Trong kỳ nghiên cứu, nhà nước đã tiến hành tăng tỷ lệ trích BHXH từ 23% lên 24.5% của lương cơ bản, trong đó doanh nghiệp chịu 18% (so với kỳ trước là 17%) làm chi phí BHXH cũng tăng lên Việc tăng này là chính sách nhằm đảm bảo sự an toàn hơn cho công tác của người lao động, từ đó giúp họ tập trung và toàn tâm hơn trong công việc, làm tăng năng suất và lợi nhuận cho doanh nghiệp

Đây là nhân tố khách quan, tích cực

Trang 18

3.3 Khoản mục nhiên liệu:

Chi phí nhiên liệu ở kì gốc là 30.240.043 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5.99 % đến kỳ nghiên cứu là 36.449.399 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 6.71 % Như vậy chi phí nhiên liệu đã tăng 20,53 % so với kỳ gốc tương đương với một lượng là 6.209.356 (103 đ) làm bội chi tương đối là 4.394.953 (103 đ).Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 1,23 % Chi phí này tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng cao hơn nhiều so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục nhiên liệu tăng có thể do các nguyên nhân sau:

- Giá nhiên liệu trên thị trường tăng

- Tình trạng kỹ thuật kém của máy móc, phương tiện cũ làm tiêu hao

nhiều nhiên liệu

- Xảy ra tình trạng trộm cắp, có lòng tham đối với nhiên liệu máy tại

doanh nghiệp

- Doanh nghiệp thực hiện chưa tốt công tác cấp phát nhiên liệu, định

mức tiêu hao nhiên liệu

+ Nguyên nhân thứ nhất : Giá nhiên liệu trên thị trường tăng

Trong kỳ nghiên cứu, giá dầu trong nước tăng lên Nguyên nhân của sự tăng giá này cũng rất là phức tạp:

+ giá xăng dầu thế giới bất ổn định (phần lớn xăng dầu tại Việt Nam là nhập khẩu)

+ tình hình kinh tế - chính trị thế giới: kinh tế suy thoái, bất ổn chính trị tại các vùng Trung Đông

+ Sự cạn kiệt dần nguồn tài nguyên dầu mỏ

+ chính sách tỷ giá hối đoái, lạm phát trong nước,

Đây là khó khăn lớn của doanh nghiệp, bởi nhiên liệu là 1 trong những chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành

Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực

+ Nguyên nhân thứ hai : Tình trạng kỹ thuật kém của máy móc, phương

tiện cũ làm tiêu hao nhiều nhiên liệu.

Trang 19

Phần lớn máy móc, phương tiện của doanh nghiệp đều là những máy móc thiết bị đã cũ có tuổi thọ cao, do thiếu sự quan tâm thích đáng, không được bảo dưỡng thường xuyên đã bộc lộ những hư hỏng và sự xuống cấp về tình trạng kỹ thuật làm tiêu hao nhiều nhiên liệu Sự tiêu hao quá mức này đã làm tăng chi phí nhiên liệu cũng như giảm công suất làm việc của máy móc.

Đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực Cần có biện pháp để khắc phục ngay:

- Mua mới, thay thế các máy móc đã quá cũ, hết tuổi sử dụng, công suất làm việc thấp

- Thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và định kì theo quy định kỹ thuật

- Phòng kỹ thuật – vật tư, thuyền trưởng, máy trưởng cần đôn đốc theo sát những nhiệm vụ trên, không để thợ sửa chữa hay công nhâ lười nhác, làm qua loa

+ Nguyên nhân thứ ba : Xảy ra tình trạng trộm cắp, có lòng tham đối với

nhiên liệu máy tại doanh nghiệp

Khâu quản lí chưa thật chặt chẽ cộng với việc doanh nghiệp tuyển thêm lượng công nhân mới chưa có tâm với nghề, 1 số có lòng tham đối với lượng nhiên liệu thừa sau ngày làm việc mà máy móc không sử dụng hết Họ tìm cách rút nhiên liệu đó để bán ra ngoài với mức giá rẻ hơn để kiếm lời cho bản thân Điều này làm cho máy móc thường xuyên phải bơm thêm nhiên liệu để làm việc làm cho chi phí nhiên liệu tăng

Đây là nguyên nhân chủ quan và rất tiêu cực, nó phản ánh thái độ làm việc

và ý thức không tốt của 1 số bộ phận công nhân mà doanh nghiệp cần thắt chặt quản lí, nắn chỉnh ý thức công nhân, đề phòng tình trạng trộm cắp xảy ra kéo dài gây thiệt hại chung cho doanh nghiệp

+ Nguyên nhân thứ tư : Doanh nghiệp thực hiện chưa tốt công tác cấp

phát nhiên liệu, định mức tiêu hao nhiên liệu

Trang 20

Đây là công tác không hề đơn giản, đòi hỏi khâu quản lí cấp phát của doanh nghiệp phải có nhiều kinh nghiệm Các cán bộ định mức chưa định mức sát với thực tế dẫn tới lãng phí nhiên liệu

Nguyên nhân chủ quan tiêu cực Doanh nghiệp nên có các biện pháp để giải quyết vân đề này:

- Qua các báo cáo về việc sử dụng nhiên liệu trong kỳ nghiên cứu thì rút ra được định mức tiêu hao sát với thực tế nhất Để trong kỳ tiếp theo có kế hoạch cấp phát đúng hơn

- Cán bộ cấp phát nhiên liệu phải nắm rõ lượng nhiên liệu cho các loại máy móc, cấp phát vào thời điểm hợp lý với khối lượng tính toán cụ thể cho từng lần cấp phát

3.4 Khoản mục vật liệu:

Chi phí vật liệu ở kì gốc là 12.368.632 (103 đ) chiếm tỷ trọng 2,45 % đến

kỳ nghiên cứu là 15.427.167 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 2,84 % Như vậy vật liệu

đã tăng 24,73 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 3.058.535 (103 đ) làm bội chi tương đối là 2.316.417 (103 đ) Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 0,61 % Chi phí này là khoản mục tăng nhiều nhất nhưng tăng là không hợp lý bởi mức độ tăng cao hơn so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục vật liệu tăng có thể do các nguyên nhân sau:

- Việc sử dụng vật liệu còn lãng phí

- Công tác quản lý vật liệu không chặt chẽ

- Giá cả vật liệu tăng

- Tỷ trọng hàng đến cảng là hàng bách hoá, hàng giá cao và hàng gỗ tăng

nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót

+ Nguyên nhân thứ nhất : Việc sử dụng vật liệu còn lãng phí :

Trong kì nghiên cứu, ý thức công nhân chưa tốt Đồng thời các cán bộ cũng lơ là trong công tác tư tưởng, kết nối chặt chẽ giữa người lao động và doanh nghiệp Vì vậy việc sử dụng vật liệu lãng phí,nhiều vật liệu còn tận dụng được bị bỏ đi hoặc là sử dụng nhiều quá mức cần thiết, làm cho chi phí nhiên liệu tăng

Trang 21

Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực Doanh nghiệp cần có biện pháp nâng cao ý thức công nhân bằng các buổi nói chuyện, gắn lợi ích người lao động với lợi ích doanh nghiệp, nhằm tạo thói quen tiết kiệm, kinh tế.

+ Nguyên nhân thứ hai : Công tác quản lý vật liệu không chặt chẽ.

Vào kì nghiên cứu doanh nghiệp đã làm lỏng lẻo công tác quản lý vật liệu, xảy ra các trường hợp vật liệu bị thất thoát trong quá trình sử dụng mà không rõ nguyên nhân Hơn nữa việc cấp phát chỉ theo yêu cầu trên cầu tàu và các yêu cầu

từ những người điều khiển máy móc thiết bị đưa ra chứ cán bộ quản lý vật liệu không nắm rõ được thực trạng tại đó đang có những vật liệu gì với số lượng bao nhiêu Chính từ việc quản lý này mà doanh nghiệp đã lãng phí một khoản chi phí vật liệu khá lớn khiến giá thành tăng cao

Đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực Biện pháp để giải quyết vấn đề trên:

- Đào tạo lại về chuyên môn cũng như ý thức của các cán bộ làm công quản lý vật liệu

- Có cơ chế định mức khao học và thưởng phạt với những người chịu trách nhiệm quản lý công tác này tại các bộ phận sử dụng máy móc thiết bị tại cảng

+ Nguyên nhân thứ ba : Giá cả vật liệu tăng

Trong kỳ nghiên cứu, khủng hoảng kinh tế vẫn tác động xấu tới mọi mặt trong sản xuất và đời sống Tỷ lệ làm phát làm cho giá cả tăng dần Giống như hầu hết các mặt hàng khác, giá cả vật liệu cũng tăng lên Với một lượng vật liệu dùng khá lớn trong nhiều khâu đoạn việc làm hàng ngày thì việc tăng giá này ảnh hưởng nhiều tới giá thành

Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Tỷ trọng hàng đến cảng là hàng bách hoá, hàng

giá cao và hàng gỗ tăng nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót.

Do trong kì nghiên cứu doanh nghiệp ký ít hơn những hợp đồng vận chuyển hàng đóng trong container, kiện mà thay vào đó là những hợp đồng vận

Trang 22

chuyển hàng bách hóa, hàng giá cao, hàng gỗ Các loại hàng này có khoảng trống khi xếp dỡ, dễ bị xê dịch nên yêu cầu khi vận chuyển cần nhiều vật liệu chèn lót Vì vậy doanh nghiệp đã phải tốn được một khoản tiền lớn hơn dùng để mua vật liệu chèn lót so với kì gốc

Đây là nguyên nhân khách quan

3.5 Khoản mục động lực

Chi phí khoản mục động lực ở kì gốc là 11.106.527 (103 đ) chiếm tỷ trọng 2,2 % đến kỳ nghiên cứu là 13.037.043 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 2,4 % Như vậy vật liệu đã tăng 17,38 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 1.930.516 (103 đ) làm bội chi tương đối là 1.264.125 (103 đ) Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 0,38 % Chi phí này tăng nhưng tăng không hợp lý bởi mức độ tăng cao hơn so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục động lực tăng

có thể do các nguyên nhân sau:

- Giá số của điện, nước đồng loạt tăng

- Sử dụng nhiều thiết bị máy móc năng suất cao cùng lúc

- Chính quyền địa phương không thường xuyên cắt điện, nước tạm thời

- Ý thức sử dụng điện nước của công nhân cảng chưa thực sự tốt

+ Nguyên nhân thứ nhất : Giá số của điện, nước đồng loạt tăng

Mức giá của điện, nước trong kì nghiên cứu Nhà nước đã quy định tăng lên đáng kể so với kì gốc Điện và nước được tính theo đơn vị số điện và khối nước , càng sử dụng nhiều thì các số điện và khối nước về sau giá càng lên cao Việc doanh nghiệp sử dụng điện năng hoạt động các thiết bị gây hao năng lượng nhiều làm cho mức điện năng phục vụ sản xuất tại cảng lên cao nhiều, tỉ lệ thuận với mức giá ban hành

Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực

+ Nguyên nhân thứ hai : Sử dụng nhiều thiết bị máy móc năng suất cao

cùng lúc

Doanh nghiệp sở hữu rất nhiều máy móc trang thiết bị cần sử dụng điện để vận hành Nhưng việc không thể tránh khỏi đó là vận hành các máy móc cùng lúc gây tiêu hao năng lượng điện của cảng Việc này cần các cán bộ công nhân

Trang 23

giám sát phòng điều khiển chú tâm và điều chỉnh hợp lí cho các thiết bị hoạt động cùng 1 lúc không quá nhiều Việc vận hành quá nhiều thiết bị một lúc cũng

có thể gây cháy nổ, chập, quá tải số điện, chi phí lên cao

Vậy nên đây là 1 trong số những nguyên nhân chủ quan, tiêu cực

+ Nguyên nhân thứ ba : Chính quyền địa phương không thường xuyên cắt

điện, nước tạm thời

So với kì gốc thì tại kì nghiên cứu này , số lần điện , nước phục vụ chung cho khu công nghiệp cảng được giảm đi đáng kể Công nhân làm việc liên tục, không mất thời gian lãng phí chờ điện và nước, không bị ngừng tác nghiệp nhiều như ở kì gốc Điều này cũng thể hiện rằng các điện năng tiêu thụ là luôn luôn trong quá trình tác nghiệp, tăng nhiều so với kì gốc

Tuy là mức điện năng lên cao nhưng việc không bị lãng phí thời gian ngừng tác nghiệp đối với doanh nghiệp là một điều thuận lợi tác động đến năng suất làm việc và mức sản lượng

Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Ý thức sử dụng điện nước của công nhân cảng

chưa thực sự tốt

Việc vận hành máy móc tiêu hao nhiên liệu trong nhiều giờ liền và không

có kiểm soảt của 1 số bộ phận công nhân cảng gây hao phí điện năng rất lớn Tình trạng bật tắt các thiết bị không quy củ cũng là 1 vấn đề cần lưu tâm Các cán bộ cấp trên cần quản lí chặt hơn về vấn đề sử dụng điện nước bừa bãi, không ngắt các thiết bị khi không cần thiết, tránh để thực trạng kéo dài Tình trạng chi phí khoản mục nào cao vượt mức so với kì gốc cũng gây ảnh hưởng nhiều đến doanh nghiệp

Vì vậy đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực Cần có biện pháp xử lí ngay

3.6 Khoản mục khấu hao

Chi phí khấu hao ở kì gốc là 142.516.931 (103 đ) chiếm tỷ trọng 28,23 % đến kỳ nghiên cứu là 155.249.453 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 28,58 % Như vậy

Trang 24

chi phí khấu hao đã tăng 8.93 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 12.732.522 (103 đ) làm bội chi tương đối một khoản là 4.181.506 (103 đ).Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 2,52% Chi phí này tăng là hợp lý bởi mức độ tăng thấp hơn so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục khấu hao tăng có thể do các nguyên nhân sau:

- Mua thêm xe nâng mới

- Nhận góp vốn bằng tài sản cố định

- Thay đổi tỷ lệ trích khấu hao để tránh hao mòn vô hình do khoa học kĩ

thuật phát triển

- Thay đổi thời gian tính khấu hao.

+ Nguyên nhân thứ nhất : Mua thêm xe nâng mới.

Để đẩy nhanh tốc độ bốc xếp hàng bằng cơ giới hóa nhằm đảm bảo và nâng cao năng xuất xếp dỡ, đáp ứng kịp thời việc vận chuyển lượng hàng hóa đến cảng, tránh ùn tắc ở nhưng khâu sau trong năm qua doanh nghiệp đã mua thêm 5 chiếc xe nâng Doanh nghiệp đang có xu hướng phát triển theo hướng cơ giới hóa một phần và toàn bộ các quá trình tác nghiệp để rút ngắn thời gian xếp

dỡ hàng hóa bằng lao động thủ công Việc đầu tư mua xe nâng mới giúp doanh nghiệp đẩy cao năng suất làm hàng, tiết kiệm thời gian và đáp ứng được lượng hàng đến cảng trong những ngày nhiều hàng nhất, từ đó làm tăng doanh thu của doanh nghiệp và đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới Với 5 chiếc xe nâng mới mua thì nguyên giá tài sản cố định đã tăng mạnh, dẫn đến chi phí khấu hao tài sản cố định cũng tăng lên

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ hai : Nhận góp vốn bằng tài sản cố định.

Để đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh và nguồn vốn đầu tư nên doanh nghiệp có tham gia liên kết với các doanh nghiệp ngoài khác và cũng nhận vốn góp từ các công ty đó Đầu năm, công ty liên kết đã tăng vốn góp vào doanh nghiệp bằng các máy móc trang thiết bị, điều này làm tăng nguyên giá tài sản cố định của doanh nghiệp Dẫn đến chi phí trích khấu hao tài sản cố định tăng

Trang 25

Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực, bới giúp doanh nghiệp tăng vốn

cố định, nhận được những máy móc thiết bị mới thay thế những thứ đã cũ, hỏng hóc

+ Nguyên nhân thứ ba : Thay đổi tỷ lệ trích khấu hao để tránh hao mòn vô

hình do khoa học kĩ thuật phát triển.

Khoa học kĩ thuật những năm gần đây phát triển nhanh, vì vậy mặc dù không muốn làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng vào đầu năm, doanh nghiệp vẫn phải tăng tỉ lệ khấu hao đối với một số máy móc trang thiết bị tại cảng để giảm bớt sự hao mòn vô hình, nếu không chỉ vài năm sau một số trang thiết bị đã phải thay thế mà vẫn chưa thu hồi đủ vốn Tuy nhiên điều này lại sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh hơn để có thể đầu tư mua tài sản mới, tránh việc lạc hậu, kém chất lượng gây tổn thất cho doanh nghiệp

Đây là nhân tố chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Thay đổi thời gian tính khấu hao.

Trong kì vừa qua, theo quy định của cơ quan Nhà nước, điều chỉnh lại thời gian trích khấu hao, khoảng cách thời gian sử dụng tối thiểu và tối đa đối với một số tài sản cố định của doanh nghiệp Theo đó, một số cơ sở vật chất, thiết bị của doanh nghiệp có thời gian trích khấu hao ngắn hơn so với trước, chính điều này đã làm chi phí khấu hao của doanh nghiệp trong kì tăng lên Tuy làm tăng giá thành sản xuất trong kì của doanh nghiệp, nhưng chính sự thay đổi này lại giúp doanh nghiệp sớm thu hồi vốn Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực

3.7 Khoản mục sửa chữa

Chi phí sửa chữa ở kì gốc là 28.422.611 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5,63 % đến

kỳ nghiên cứu là 33.244.460 (103 đ) chiếm tỷ trọng là 6,12 % Như vậy chi phí sửa chữa đã tăng 16,96% so với kỳ gốc, tương đương với một lượng là 4.821.849 (103 đ) gây bội chi tương đối là 3.116.492 (103 đ).Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 0,96 % Chi phí này tăng là không hợp lý bởi

Trang 26

mức độ tăng cao hơn so với mức độ tăng sản lượng Khoản mục sửa chữa tăng

có thể do các nguyên nhân sau:

- Nhiều cầu tàu và thiết bị đưa vào sửa chữa trong kỳ

- Khó khăn trong việc thay thế phụ tùng trang thiết bị

- Mức độ sửa chữa nhiều do xảy ra sự cố mà nguyên nhân là sự thiếu

trách nhiệm

- Giá nhân công sửa chữa tăng

+ Nguyên nhân thứ nhất : Nhiều cầu tàu và thiết bị đưa vào sửa chữa

trong kỳ

Trong thời gian hoạt động của một thiết bị, thì ngoài việc bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa những hư hỏng bất thường phát sinh trong quá trình tác nghiệp còn tiến hành sửa chữa định kì (hàng năm, trung tu, đại tu) Do có nhiều thiết bị đến kì bảo dưỡng thường xuyên cho nên chi phí phát sinh lớn hơn các kì khác Đó là những thiết bị có cùng serie đóng cùng năm, do đó nó có thời hạn bảo dưỡng định kì gần nhau

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực vì việc bảo dưỡng, sửa chữa cho thiết bị là hết sức cần thiết, giúp thiết bị hoạt động tốt, đảm bảo an toàn thiết bị, hàng, công nhân, từ đó đem lại năng suất cao trong sản xuất, tăng doanh thu cho doanh nghiệp được lâu dài hơn

+ Nguyên nhân thứ hai : Khó khăn trong việc thay thế phụ tùng trang thiết

bị

Trong doanh nghiệp có một số máy móc,thiết bị hiện đại mới mua từ nước ngoài, trong kỳ nghiên cứu có một số máy móc bị trục trặc phải thay thế phụ tùng Tuy nhiên do các thiết bị này được sản xuất ở nước ngoài nên các phụ tùng thay thế của nó cũng phải nhập khẩu từ nước ngoài do trong nước không chế tạo được nên giá của các loại phụ tùng khá cao Điều này làm tăng chi phí sửa chữa trong kỳ làm tăng giá thành

Đây là nguyên nhân chủ quan, tiêu cực

+ Nguyên nhân thứ ba : Mức độ sửa chữa nhiều do xảy ra sự cố mà

nguyên nhân là sự thiếu trách nhiệm

Trang 27

Trong kì, do sự sơ suất của bộ phận điều khiển, công nhân thực thi mà một số con thiết bị như cần trục, cẩu giàn, xe nâng, xe ủi, ô tô… xảy ra những sự

cố đáng tiếc không đáng có, một số thiết bị bị hư hỏng do công nhân không có kiến thức sử dụng hoặc thiếu trách nhiệm

Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực, gây hậu quả lớn cho doanh nghiệp Phải áp dụng ngay các biện pháp giải quyết, tránh gây tổn thất nặng nề hơn trong những năm sau :

- Tuyển chọn công nhân có trình độ chuyên môn đáp ứng được đúng nhiệm

vụ, chức danh, ngoài bằng cấp thì cần kiểm tra cả trên thực tế

- Thường xuyên tổ chức đào tạo hoặc cho công nhân đi học tập về các thiết

bị hiện đại để biết cách sử dụng hiệu quả, bảo quản bảo dưỡng tốt

- Nâng cao ý thức, trách nhiệm của công nhân với tài sản chung, có chế độ thưởng – phạt rõ ràng nhằm khuyến khích các nhân tố tích cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Giá nhân công sửa chữa tăng.

Việc bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị phải được tổ chức thường xuyên, theo đúng yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo an toàn công nhân lao động và độ bền lâu của thiết bị, năng suất làm việc Doanh nghiệp chủ yếu vẫn phải thuê ngoài công nhân sửa chữa nên giá nhân công cũng ảnh hưởng nhiều tới chi phí sửa chữa Do chính sách tiền lương của Nhà nước quy định tăng mức lương tối thiểu hàng tháng; đồng thời tình hình kinh tế lạm phát làm giá nhân công sửa chữa tăng Điều này dẫn đến chi phí sửa chữa tăng

Đây là nguyên nhân khách quan, tiêu cực

3.8 Khoản mục quản lý phí

Chi phí quản lý ở kì gốc là 46.445.475 (103đ) chiếm tỷ trọng 9,2% đến kỳ nghiên cứu là 47.693.849 (103đ) chiếm tỷ trọng 8,78 % Như vậy chi phí quản lý chỉ tăng 2,69 % so với kỳ gốc tương đương với một lượng là 1.248.374 (103đ) làm tiết kiêm tương đối là 1.538.355 (103đ) Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng tăng 0,25 % Khoản mục quản lý phí tăng có thể do các nguyên nhân sau:

- Tăng chi phí mua sắm

Trang 28

- Tăng nhân viên quản lý

- Giá cước điện thoại tăng

- Tách riêng Phòng kinh doanh và và Phòng khai thác

+ Nguyên nhân thứ nhất : Tăng chi phí mua sắm

Trong thời đại hiện nay công nghệ thông tin phát triển, việc quản lý đã được hỗ chợ rất nhiều Phát triển theo định hướng đó nên trong kỳ gốc doanh nghiệp tiến hành mua sắm thiết bị văn phòng như máy tính, các phần mềm tin học quản lý, đưa cán bộ quản lý đi học cách quản lý mới Đó là những chi phí quản lý đáng kể Trong kỳ nghiên cứu thì doanh nghiệp không cần mua sắm thêm nhiều nữa nên chi phí không tăng quá cao ở khoản mục này Việc thay đổi phương pháp quản lý như vậy là tích cực giúp công việc được giải quyết nhanh chóng, chính xác, khoa học và theo kịp thời đại

Đây là nhân tố chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ hai : Tăng nhân viên quản lý

Do tình hình doanh nghiệp điều chỉnh lại các bộ phận, phòng ban quản lý

đã thêm vào 1 số nhân viên Doanh nghiệp giữ nguyên những cán bộ công nhân viên có năng lực, trách nhiệm, làm việc chủ động sáng tạo và đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và thuê thêm vài công nhân phụ việc đồng thời đào tạo hướng dẫn kinh nghiệm cho họ để biết việc khi có những nhân viên nghỉ hưu hoặc nghỉ việc đột ngột

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ ba : Giá cước điện thoại tăng

Trong kỳ nghiên cứu, ngành viễn thông đã thay đổi cách tính giá cước điện thoại nên đã làm cho đơn giá dịch vụ điện thoại của doanh nghiệp tăng lên làm cho chi phí quản lí của doanh nghiệp cũng vì thế mà tăng theo

Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tính tiêu cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Tách riêng Phòng kinh doanh và và Phòng khai

thác

Trang 29

Sau khi nghiên cứu tình hình hoạt động nhận thấy 2 phòng : phòng Kinh doanh và phòng Khai thác đều có những nhiệm vụ cần đảm nhiệm riêng , số nhân lực đông và lượng việc làm nhiều Vậy nên trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã quyết định tách riêng 2 phòng này thay vì để chung làm một phòng Kinh Doanh – Khai thác như ở kì gốc Đây là quyết định đúng đắn, vừa làm cho công việc được thực hiện một cách tập trung, chuyên môn và mang lại hiệu quả hơn cho doanh nghiệp.

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

3.9 Chi khác:

Chi phí khác ở kì gốc là 27.895.961 (103đ) chiếm tỷ trọng 5,53 % đến kỳ nghiên cứu là 20.079.029 (103đ) chiếm tỷ trọng 3,7 % Như vậy chi phí khác đã giảm 28,02 % so với kỳ gốc, tương đương với một lượng giảm là 7.816.932 (103đ) giúp tiết kiệm tương đối 9.490.690 (103đ) Sự biến động này đã làm cho giá thành sản lượng giảm 1,55% Khoản mục chi khác giảm có thể do các nguyên nhân sau:

- Giảm chi phí liên hoan, quà tặng biếu dịp lễ không cần thiết giảm

- Giảm các trường hợp bị phạt hợp đồng do làm hàng chậm

- Giảm các trường hợp bị phạt bồi thường tổn thất hàng hóa

- Giảm tiền phạt nộp thuế chậm

+ Nguyên nhân thứ nhất : Giảm chi phí liên hoan, quà tặng biếu dịp lễ

không cần thiết giảm

Ý thức được tình hình kinh tế khó khăn chung nên trong năm qua, doanh nghiệp đã cắt giảm nhiều các cuộc liên hoan hàng quý một cách lãng phí Tổ chức liên hoan đơn giản, nhưng vẫn ý nghĩa và tạo không khí vui vẻ cho cán bộ, công nhân viên để vào việc hứng khởi hơn Đồng thời quà biếu vào các dịp lễ tết, ngày kỷ niệm cũng được lựa chọn, đánh giá trước khi quyết định, nhằm tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ hai : Giảm các trường hợp bị phạt hợp đồng do làm

hàng chậm

Trang 30

Trong kỳ gốc, trường hợp làm hàng chậm chễ xảy ra khá nhiều Nguyên nhân là thời gian xếp dỡ hàng bị ảnh hưởng nhiều vì thời tiết Hậu quả là nhiều hợp đồng doanh nghiệp bị phạt bồi thường Năm nay phòng tổ chức khai thác đã rút kinh nghiệm khi ký hợp đồng, phải tính toán hợp lý và dôi ra thời gian cho những trường hợp bất khả kháng, để tránh thiệt hại cho doanh nghiệp Nhờ vậy

mà năm nay trường hợp vi phạm hợp đồng giảm đáng kể, nên giảm tiền nộp phạt

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ ba : Giảm các trường hợp bị phạt bồi thường tổn thất

hàng hóa

Trong năm nghiên cứu do doanh nghiệp mua thêm các trang thiết bị hiện đại, kho bãi đảm bảo tiêu chuẩn sạch sẽ, thông gió tự động nên hàng hóa đến cảng được bảo quản tốt Tại cảng công tác xếp dỡ cũng được giám sát cẩn thận,

ít trường hợp bất cẩn làm hư hỏng hàng Điều này đã giảm rất nhiều tổn thất hàng hóa, vừa giảm chi phí tiền phạt doanh nghiệp chịu so với năm trước, vừa nâng cao uy tín doanh nghiệp, tạo sự tin tưởng của chủ hàng

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

+ Nguyên nhân thứ tư : Giảm tiền phạt nộp thuế chậm

Trong kỳ trước, phòng Tài chính kế toán do phân công nhiệm vụ không

rõ ràng nên đã chậm trễ trong việc lập các báo cáo chính và gửi về cơ quan thuế Việc chậm trễ này khiến doanh nghiệp phải nộp phạt Rút kinh nghiệm của kỳ trước, trong kỳ nghiên cứu phòng Tài chính kế toán đã hoàn thành đúng hạn các báo cáo tài chính, nộp về cơ quan thuế đúng theo quy định Vậy nên kỳ này doanh nghiệp không phải chịu tiền phạt cho nộp thuế chậm, giảm được các một phần trong các khoản chi khác so với kỳ gốc

Đây là nguyên nhân chủ quan, tích cực

Ngày đăng: 13/06/2016, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w