được cả bề rộng và bề sâu, đưa ra được sản phẩm du lịch đặc thù.Đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa ở Thái Bình góp phần phát triển kinh tế của tỉnh.Chủ yếu Thái Bình mới chỉ phát triển
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa quản trị kinh doanh,thêm vào đó là sự chỉ bảo đóng góp ý kiến của cô giáo Nguyễn Thị Huệ Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình tới nhà trường, tới tất cả các thầy cô giáo đã tạo điều kiện cho em để em có thể hoàn thành bài khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa quản trị kinh doanh trường cao đẳng Công nghệ Viettronics đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 3 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để
em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Huệ đã tận tình chỉ bảo , giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận Là một sinh viên năm cuối của trường, được sự đồng ý của nhà trường và sự giúp đỡ của các thầy cô em đã và đang cố gắng hoàn thiện bản thân và xây dựng được ước mơ hoài bão của mình Được sống và học tập ở mái trường Viettronics đã giúp em có thêm nhiều bài học quý giá không những trong sách vở mà còn hiện hữu ngay trong cách sống và ý trí phấn đấu Tuy nhiên trong quá trình phân tích có thể có nhiều điều thiếu sót không thể tránh được,do quá trình nhận thức về vấn đề của mình chưa sâu sắc,em rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến, nhận xét chỉ bảo của các thầy cô giáo và hội đồng chấm đề tài tốt nghiệp để vấn đề nghiên cứu của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VIỆC KHAI THÁC LỄ HỘI
THÁI BÌNH 45
3.1 Giải pháp gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc truyền thống lễ hội 45
3.2 Giải pháp về vốn 46
3.3 Giải pháp nâng cao đội ngũ lao động 47
3.4 Giải pháp về thị trường du lịch 47
3.5 Giải pháp tổ chức,quy hoạch và đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật 49
3.6 Giải pháp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, xúc tiến phát triển du lịch 50
3.7 Các trung tâm văn hóa thể thao phục vụ vui chơi giải trí tỉnh Thái Bình 52
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới.Nó là “tấm gương”phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc
Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào bất cứ mùa nào cũng có những ngày lễ hội Gắn liền với bước đi của lịch sử, lễ hội như một bảo tàng bách khoa phong phú về đời sống và tinh thần,văn hóa của dân tộc,có sức lan tỏa và tác động sâu sắc tới tâm hồn, tâm tư ,tình cảm,cốt cách của bao thế hệ.Trong nhiều năm vừa qua lễ hội truyền thống Việt Nam có những thăng trầm: có khi lắng xuống, có khi lại phát triển ồ ạt, thiếu tính tổ chức Trong nững nguyên nhân của thời kì lắng xuống ấy có thể kể đến nguyên nhân khách quan như chiến tranh hay do kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn; trong những nguyên nhân chủ quan phải kể đến nhận thức và cách thức quản lí của các nhà quản lí văn hóa – xã hội Có lúc lễ hội bị coi là một sự lãng phí, tốn kém tiền của của nhân dân, là
mê tín dị đoan nên đã đưa ra quyết định quản lí lễ hội nặng nề cấm đoán hành chính, thiếu căn cứ khoa học Chính vì thế, nhiều lễ hội truyền thống không được vận hành theo đúng quy luật của văn hóa, nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội theo đó cũng bị mai một.Lễ hội đã đóng góp một phần không nhỏ cho hoạt động du lịch Do đó đặt vấn đề hàng đầu trong thời kì đất nước ta bước vào con đường hội nhập hiện nay.Đó là khai thác lễ hội để làm sao không mất đi những giá trị truyền thống vốn có của nó để phục vụ phát triển du lịch tại địa phương.Đây là một lí do thực tiễn góp phần không nhỏ vào việc định hướng bước đi lâu dài trong việc phát triển du lịch , góp phần đẩy mạnh kinh tế của Thái bình nói riêng và của đất nước nói chung Thái Bình được biết đến là một thành phố nông nghiệp nổi tiếng với lúa gạo mà còn là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa, là nơi có nhiều lễ hội trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước
Trang 6Một số lễ hội tiêu biểu thu hút được du khách trong và ngoài nước như: Lễ hội Chùa Keo( Vũ Thư), Lễ hội đền Đồng Bằng( Quỳnh Phụ), Hội La Vân( Quỳnh Phụ), Hội Tiên La, Hội Làng An Cố( Thái Thụy) Làm sao để bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của lẽ hội ? Xuất phát từ lí do trên, em đã chọn đề tài: “Khai thác lễ hội truyền thống Thái Bình phục vụ phát triển du lịch địa phương” làm khóa luận tốt nghiệp , với mong muốn góp phần phát triển du lịch của tỉnh.
2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện bài khóa luận về đề tài: “Khai thác lễ hội truyền thống Thái Bình phục vụ phát triển du lịch địa phương” nhằm mục đích nâng cao những hiểu biết, những nhận thức về các lễ hội Vận dụng những kiến thức lễ hội vào mục đích nghiên cứu của đề tài, nâng cao nhận thức, tri thức trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, đồng thời mở rộng thêm kiến thức của mình còn thiếu.Nhằm cung cấp nguồn tư liệu, hiểu biết về thực tiễn và lý luận, góp phần tìm hiểu , góp phần tôn vinh các giá trị của lễ hội để phát triển du lịch của tỉnh Thái Bình.Cung cấp tư liệu nghiên cứu cho các bạn sinh viên khóa sau và những
ai muốn tìm hiểu về vấn đề trên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu một số lễ hội tại Thái Bình, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về các giá trị,tiềm năng và thực trạng khai thác các lễ hội nhằm phát triển du lịch Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các lễ hội tại Thái Bình Đồng thời trên cơ sở đó sẽ xây dựng các tour du lịch lễ hội kết hợp với các điểm du lịch khác trong thành phố,với các huyện và tỉnh lân cận tạo thành một quần thể du lịch thống nhất
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Để hoàn thành bài khóa luận này, em đã sử dụng một số quan điểm sau:
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các lễ hội truyền thống tiêu biểu của thành phố Thái Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm các làng, xã, huyện thuộc tỉnh Thái Bình có lễ
hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch địa phương
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp này dùng để phỏng vấn các
du khách tham gia hoạt động du lịch tới các lễ hội trên địa bàn thành phố Thái Bình, những người làm công tác quản lí, tổ chức các hoạt động trong lễ hội Nhằm nắm được tâm tư, nguyện vọng của người dân địa phương cũng như nhu cầu của khách, từ đó có cái nhìn đúng đắn về việc sử dụng tài nguyên phục vụ khai thác phát triển du lịch
- Phương pháp thực địa và thu thập tài liệu ,đây là phương pháp thực tế,áp dụng việc nghiên cứu lí luận gắn liền với thực tiễn Quá trình đi thực địa đã giúp
em sưu tầm và thu thập vốn kiến thức phong phú thêm.Đây là phương pháp quan trọng giúp mọi người có được thông tin chính xác hơn
- Phương pháp bản đồ tranh ảnh, phương pháp này cho phép thu thập những thông tin mới, phát hiện đối tượng, không gian nghiên cứu.Từ đó có nhận thức đầy đủ hơn các giá trị của lễ hội
- Phương pháp tổng hợp : Từ những phân tích trên bài , mỗi phần cuối em có thể tổng hợp lại ý,để người đọc có thể hiểu rõ hơn
- Phương pháp phân tích tài liệu: số liệu lượng khách đến mỗi năm, người đọc
có thể biết cụ thể hơn
6 Những đóng góp thực tiễn
Việt Nam là một dân tộc có bề dày lịch sử truyền thống với hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, đồng thời có truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Những năm gần đây, vấn đề khai thác bản sắc văn hóa dân tộc trong sự phát triển du lịch đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Du lịch được xác định là một ngành có tầm chiến lược mang hiệu quả kinh tế cao trong thời kì hội nhập mở cửa hiện nay, trong đó du lịch lễ hội góp phần quan trọng vào sự phát triển du lịch nói chung Du lịch lễ hội văn hóa đang trở thành xu thế chủ đạo trong chiến lược phát triển của ngành du lịch thế giới Trong những năm qua du lịch Thái Bình đã phát triển không ngừng, trong đó sản phẩm văn hóa góp một phần không nhỏ
Ngày nay, nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở việc giao lưu hội nhập về kinh tế mà còn có sự tiếp xúc, tìm hiểu về văn hóa, con người và phong tục tập quán giữa những quốc gia, đây là tiền đề cho du lịch văn hóa ngày càng phát triển Để thỏa mãn nhu cầu của du khách những người làm du lịch phải đáp ứng
Trang 8được cả bề rộng và bề sâu, đưa ra được sản phẩm du lịch đặc thù.Đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa ở Thái Bình góp phần phát triển kinh tế của tỉnh.Chủ yếu Thái Bình mới chỉ phát triển một số điểm xung quanh khu vực nội thành, còn ngoại thành được đánh giá có nhiều tài nguyên du lịch nhân văn nhưng chưa được khai thác nhiều cho hoạt động du lịch.Hàng năm trên đất nước ta có rất nhiều lễ hội được tổ chức với nhiều hình thức, quy mô và ý nghĩa khác nhau Lễ hội truyền thống là một loại hình văn hóa tinh thần đặc biệt, mang tính tập thể có giá trị to lớn trong việc kết cấu cộng đồng.Trải theo tiến trình lịch sử dân tộc, do chiến tranh khốc liệt hoặc do nền kinh tế nước nhà kém phát triển,nên lễ hội ít được chú ý và phát huy những giá trị to lớn của nó.Vì vậy nhiều giá trị văn hóa
bị mai một,việc nghiên cứu phục dựng cũng chưa được quan tâm đúng mức.Vậy việc nghiên cứu đề tài: “ Khai thác lễ hội truyền thống Thái Bình phục vụ phát triển du lịch địa phương” cho chúng ta biết được những đóng góp phần không nhỏ vào việc phát triển đất nước Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng
7 Kết cấu của khóa luận
Trong khóa luận, ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về du lịch và lễ hội truyền thống tại Thái Bình
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác lễ hội truyền thống Thái Bình phục vụ phát triển du lịch địa phương
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao việc khai thác lễ hội truyền thống Thái Bình
Trang 9CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ LỄ HỘI TRUYỀN
THỐNG TẠI THÁI BÌNH1.1 Những vấn đề chung về du lịch
1.1.1 Khái niệm về du lịch
-Ngày nay kinh tế xã hội đã trở thành một hiện tượng phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Do hoàn cảnh khác nhau,dưới góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có cách hiểu về du lịch khác nhau.Xét trên phạm vi toàn thế giới, du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, du lịch đã trở thành ngành kinh tế đứng thứ 4 sau các ngành: Công nghiệp dầu khí, công nghiệp chế tạo xe hơi, công nghệ – thông tin
-Dưới con mắt của “ Guer Freuler” du lịch là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu sức khỏe và môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì liên quan đến sự di chuyển đó
-Theo quan điểm của I.I Priôjnik ( 1985): “ Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa, thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam( 1966) đã tách 2 nội dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt.Nghĩa thứ nhất( đứng trên mức độ mục đích chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật
Nghĩa thứ 2( đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về mọi mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ
Trang 10Theo UNWTO: Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du khách, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm
du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch
-Vai trò của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình
thành các sản phẩm du lịch, chất lượng của sản phẩm và hiệu quả của hoạt động
du lịch Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du
lịch.Tài nguyên du lịch còn ảnh hưởng đến quy mô, thứ bậc của khách sạn và
quyết định tính mùa vụ đi du lịch của khách du lịch
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch
Địa hình: Đối với du lịch, địa hình còn tạo nên phong cảnh…Địa hình miền núi có không khí trong lành, có nhiều đối tượng hoạt động du lịch như suối, thác, hang động, sinh vật và các dân tộc ít người
Khí hậu: Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người.Khí hậu là sự thay đổi theo chu kỳ của thời tiết Tài nguyên khí hậu phục vụ du lịch là tổng hợp các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người
Trang 11Ảnh hưởng của khí hậu đối với du lịch được thể hiện:
Người sống ở nơi khi hậu khắc nghiệt thường thích đi du lịch ở nơi có khí hậu thích hợp hơn, các nước phương bắc thường thích đi du lịch xuống phương nam,khách ở các đới xứ nóng muốn đi nghỉ biển hoặc ở nơi núi cao
Đa số khách ưa thích khí hậu ôn hoà, còn khí hậu lạnh, nóng, ẩm hoặc quá khô hanh và nhiều gió thì không được ưa thích
Đối với khách đi du lịch biển thì thời tiết được coi là thuận lợi khi:
Số ngày mưa tương đối ít vào thời gian du lịch
+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng
+ Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, giải trí.Các loại hình du lịch thể thao vui chơi giải trí như nhảy dù, tàu lượn, khinh khí cầu, thả diều, thuyền buồm…rất cần có các điều kiện khí hậu thích hợp như hướng gió, tốc độ gió, quang mây, không có sương mù
Mùa du lịch vào mùa hè như du lịch leo núi, du lịch tắm biển và các loại hình dulịch ngoài trời
Tóm lại, tài nguyên khí hậu tác động lớn đến sức khoẻ con người, đến loại hình
du lịch phục vụ chữa bệnh an dưỡng và việc triển khai các loại hình du lịch Thuỷ văn: Các bãi biển hoặc bãi ven hồ sử dụng để tắm mát, dạo chơi, hoạt động thể thao như bơi lội, du thuyền, lướt ván.Là mặt thoáng tạo nên phong cảnh đẹp yên bình.Các dòng sông lớn cùng với núi non, rừng cây, mây trời, ánh nắng, công trình kiến trúc soi bóng nước là những phong cảnh hữu tình
* Tài nguyên du lịch nhân văn
Đó là những đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trọng quá trình phát triển Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sang tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn là giải trí
Việc tìm hiểu diễn ra trong thời ngắn, do đó trong chuyến đi du lịch có thể đi thăm quan nhiều đối tượng tài nguyên
Tài nguyên du lịch nhân tạo thường tập trung ở các thành phố, ở các điểm quần cư nên không cần xây dựng thêm cơ sở vật chất riêng
Trang 12Tài nguyên du lịch nhân tạo không có tính mùa vụ như tài nguyên du lịch tự nhiên.Đối với tài nguyên du lịch nhân tạo, khách quan tâm là những người có trình độ văn hoá cao, có mức sống cao và hiểu biết rộng Sở thích của người tìm đến tài nguyên du lịch nhân tạo phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, thế giới quan, vốn trí thức của họ.
Các di tích lịch sử văn hoá là những công trình được tạo ra bởi tập thể hoặc cá nhân con người trong quá trình sáng tạo lịch sử, hoạt động văn hoá Văn hoá bao gồm: văn hoá vật chất, văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần
+ Các di tích lịch sử:Di tích ghi dấu về dân tộc học, ăn, ở của các dân tộc ít người Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa quyết định hướng phát triển của đất nước, địa phương
Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược
Di tích ghi dấu kỉ niệm
Di tích ghi dấu vinh quang trong lao động
Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc phong kiến
+ Các di tích văn hoá nghệ thuật:
Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc, có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Nó chứa đựng giá trị kiến trúc và giá trị văn hoá tinh thần
Lễ hội là một hình thức văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của một dân tộc.Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước hoặc liện quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân
1.1.3Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường tự nhiên - văn hóa -xã hội
*Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường tự nhiên
Tác động môi trường là những ảnh hưởng (xấu hay tốt) do hoạt động phát triển du lịch gây ra cho môi trường, bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên cũng như các yếu tố môi trường xã hội - nhân văn Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực
-Các tác động tích cực :
Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn và Vườn Quốc gia
Trang 13Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc.
Ðề cao môi trường: Việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có thể
đề cao giá trị các cảnh quan
Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường
sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch
Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua việc trao đổi và học tập với du khách
- Các tác động tiêu cực:
Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của địa phương
Nước thải: Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan
và nuôi trồng thủy sản
Rác thải: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch Ðây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội
Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói", nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy
và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông.Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả
và lãng phí
Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại
Trang 14Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất.
Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát
có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng ) Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô
do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền
*Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường văn hóa- xã hội
-Các tác động tích cực
Du lịch phát triển thì kinh tế xã hội đời sống con người nâng cao, mở rộng tri thức giúp con người yêu thiên nhiên yêu cuộc sống và có ý thức bảo vệ môi trường hơn
Du lịch giúp cho con người có thêm công ăn việc làm ổn định tăng thêm nguồn thu nhập từ hoạt động du lịch và phát triển kinh tế Du lịch là ngành công nghiệp “ Không Khói” và được coi là: “ con gà đẻ trứng vàng” nếu biết khai thác và sử dụng hợp lí sẽ đem lại lợi ích lớn
Du lịch đảm bảo được trật tự xã hội con người sẽ dành thời gian đi du lịch nhiều hơn, giúp khách hiểu hơn về văn hóa phong tục tập quán vùng miền gặp gỡ giao lưu học hỏi điều hay lẽ phải giúp tâm hồn du khách thanh tịnh và đẹp hơn
Du lịch có vai trò lớn đến đời sống con người giảm đi mệt nhọc căng thẳng sau giờ làm việc vất vả, do sức ép môi trường: ô nhiễm không khí, tiếng ồn,tệ nạn xã hội, gia tăng đô thị hóa.Hàng năm nhờ hoạt động du lịch đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế chung của cả nước, lượng khách nước ngoài đến nước
ta ngày càng đông tăng thêm nguồn ngoại tệ,bên cạnh đó còn quảng bá hình ảnh quê hương đất nước,những giá trị văn hóa,cho bạn bè đất nước biết đến Lưu giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ đó thu hút khách du lịch
Trang 15- Các tác động tiêu cực:
Tình trạng đông đúc, tắc nghẽn giao thông và phá vỡ lối sống chung vượt ra ngoài khả năng chấp nhận của cộng đồng Xuất hiện các điểm nóng về du lịch, đồng thời người nghèo không được hưởng các lợi ích từ du lịch
Có khả năng làm thay đổi nền văn hóa, do đó làm mất đi ý nghĩa và xói mòn các giá trị văn hóa
Mất mát hoặc gây tổn hại đối với các di tích lịch sử mà không thể sửa chữa và thay thế được
Các công ty lữ hành không đảm bảo sức khỏe và an toàn cho du khách có thể dẫn tới thất lạc hoặc trộm cắp tài sản của khách và ảnh hưởng tới an ninh và an toàn của họ Điều này có thể dẫn tới vấn đề pháp lý và gây ảnh hưởng tiêu cực với hình ảnh điểm đến Việt Nam trên báo chí quốc tế, dẫn tới giảm lượng khách tới cũng như lượng khách tiềm năng."
Sân khấu hóa,thương mại hóa các sản phẩm du lịch
Du nhập lối sống không phù hợp với văn hóa dân tộc
1.2 Khái quát về lễ hội
1.2.1 Khái niệm lễ hội
Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về lễ hội Trước khi có những định nghĩa cụ thể triết gia Democrite cho rằng: “ Cuộc sống không có lễ hội là một chặng đường dài bụi bặm không có quán trọ”
Khi nghiên cứu đặc tính và ý nghĩa của lễ hội nước Nga, M Bachiz cho rằng: “ Thực chất lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới hình thức tế leexvaf trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộn đồng dân cư Tuy nhiên bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu chính nó không thăng hoa liên kết và quy tụ thành thế giới của tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên những phương tiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thời thực tại hữu hiện, đạt tới thực tại lí tưởng mà ở đó mà mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lung linh,siêu việt và cao ca
Ở Việt Nam, cho đến nay lễ hội là khái niệm chưa được thống nhất Và có những định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu, cụ thể là:
- Trong cuốn “ Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc” tác giả cho rằng: lễ hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng
Trang 16- Trong cuốn “ Hội hè Việt Nam” Lễ hội là sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam chúng ta, hội và lễ hội có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội để trở thành một nhu cầu, một khá vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ.
Trong cuốn: “Địa lí du lịch” Lẽ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc để giải quyết những nỗi âu lo, những khao khát , ước mơ mà cuộc sống thực tai chưa giải quyết được
Nhìn chung các định nghĩa về lễ hội đều có chỗ giống nhau, đó là quãng thời gian mà trong đó cộng đồng người tập trung nhau lại tiến hành những nghi lễ thờ cúng một vị thần hay một vật thiêng liêng nào đó của cộng đồng tại một điểm nào đó có ăn uống vui chơi gọi là lễ hội
Lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng "Lễ" là hệ
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống
mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện "Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Lễ hội gồm 2 phần: phần nghi lễ và phần hội
Phần nghi lễ: Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo thời gian và không gian Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính đến các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc Phần nghi lễ tạo thành một nền móng vững chắc, tạo một yếu tố thiêng liêng, một giá trị thẩm mĩ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang xem hội
Phần hội: diễn ra những hoạt động điển hình của tâm lí cộng đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đối với thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên Trong hội thường có những trò vui, những cuộc thi tài tượng trưng cho sự nhớ ơn và ghi công của người xưa
Trang 17Hội Ngày xuân cũng là ngày hội của chiến đấu và chiến thắng, Thái Bình mở hội mùa xuân nhưng khi đất nước lâm nguy thì quân dân ra chiến trường giữa ngày xuân, ngày tết Thế mới biết lễ hội của người Việt từ bao đời nay đắm mình trong lịch sử cuộn cuộn chảy qua các chiến thắng lẫy lừng, nó bị lịch sử hóa từ những nghi thức, lễ nghi nông nghiệp luôn theo nhịp thời gian củ công việc nhà nông, công việc làng xã, cất mình vươn cao trong những ngày hội lịch sử, sức tỏa rộng ra cả quốc gia và bén rễ sâu hơn vào tâm thức cộng đồng yêu nước, dựng nước và giữ nước.
Trong các lễ hội của người Việt ở cộng đồng Bắc Bộ
- Phân loại lễ hội : Muốn nghiên cứu bất cứ loại hình văn hóa nào cũng cần phải phân loại chúng Và việc nghiên cứu lễ hội ở nước ta đã trải qua một quá trình lâu dài và đạt được nhiều thành quả Song cho đến nay , việc phân loại lễ hội ở nước ta còn nhiều ý kiến khác nhau tùy thuộc vào từng chuyên ngành khoa học khác nhau Đặc biệt chưa ai đưa ra được những tiêu chí chung để phân loại các lễ hội, cho nên các ý kiến vẫn còn có sự khác nhau
Dựa trên phân tích dân tộc học về ý nghĩa và cội nguồn của làng, Lê Thị Nhâm Tuyết đã phân lễ hội thành 5 loại:
- Lễ hội nông nghiệp là lễ hội mô tả những lễ nghi liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp hoặc biểu dương, rước thờ các thành phẩm của sản xuất nông nghiệp chẳng hạn như lễ hội trình nghề, trò rước lúa
- Lễ phồn thực giao duyên là loại lễ hội gắn với những quan niệm sinh xôi, nảy nở cho con người và vật nuôi ,cây trồng mang tính chất tín ngưỡng phồn thực
- Lễ hội văn nghệ, giải trí, thi hát dân ca
- Lễ hội thi tài thể hiện tài năng như: nấu cơm, dệt vải, kéo co,
- Lễ hội lịch sử là lễ hội có những trò diễn nhắc lại và biểu dương công sức của vác vị thành hoàng là những người có công với nước
1.1.2 Mục tiêu của lễ hội
Mục tiêu của lễ hội là:
Lễ hội là một hoạt động văn hóa nổi bật trong đời sống con người với nhiều hình thức khác nhau nhằm phục vụ lợi ích con người
Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là cách ứng xử thông minh khôn ngoan của con người với sức mạnh vô hình hoặc hữu hình mà con người không
Trang 18lí giải được nhưng muốn khống chế họ phải kính và sợ Chính vì thế lễ hội giải phóng năng lượng tâm linh, tâm lí, vật chất của con người.
Lễ hội vì thế có tính chất tái tạo, con người hiến dâng để cầu xin tốt lành cho tương lai và hưởng thụ vật chất và tinh thần đầy đủ trong hiện tại
Lễ hội là cách thức giao cảm cộng đồng, giao hòa giữa con người với trời đất, giữa hiện tại với hồi tưởng trong quá khứ và hi vọng tương lai
Với thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội truyền thống, đặc biệt với Thái Bình, ngoài một số hội lớn như hội đền Đồng Bằng, chùa Keo, đền Tiên La, đền Trần, lễ hội làng Quang Lang, lễ hội làng La Vân có sự quản lý trực tiếp của UBND các huyện, số còn lại đều do UBND các xã chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức điều hành lễ hội Quy mô lễ hội thường ở mức hội làng và tiểu vùng Vì thế, khi khách du lịch tới đông sẽ làm thay đổi các hoạt động bình thường của cư dân,
có thể tác động không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội của địa phương nơi
có lễ hội Bản sắc văn hóa vùng, miền có sự giao thoa theo cả hướng tốt và xấu.Hoạt động du lịch với đặc thù riêng của nó dễ làm biến dạng các lễ hội truyền thống Vì lễ hội truyền thống dù có đặc tính mở thì vẫn có những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội cổ truyền vốn chỉ phù hợp với một khuôn mẫu và không gian bản địa Hiện nay, khi hoạt động du lịch mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao…sẽ làm mất sự cân bằng, dẫn tới phá vỡ khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình diễn ra lễ hội
Những khó khăn thách thức mới sẽ đặt ra cho tỉnh nhà khi các lễ hội của tỉnh ngày nay đang được dần khôi phục lại và phát triển Điều đó đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà tổ chức và khai thác lễ hội phải có sự phối hợp chặt chẽ trong mọi hoạt động, để khi du khách đến với các lễ hội không xảy ra tình trạng “một lần đến, một lần đi, không một lần trở lại”, mà phải xây dựng Thái Bình trở thành một điểm đến du lịch luôn ấn tượng và hấp dẫn
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của lễ hội truyền thống với du lịch Thái Bình
Trong Pháp lệnh Du lịch được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua nêu rõ: “Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh
tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Trong điều kiện
Trang 19kinh tế hiện nay, mùa lễ hội cũng là mùa du lịch, vì thế đã tạo nên hình thức du lịch lễ hội kéo theo sự phát triển của ngành kinh tế du lịch.
Khi du lịch phát triển, cũng là dịp để chúng ta giới thiệu, quảng bá hình ảnh các lễ hội của địa phương tới bạn bè trong và ngoài nước Đến với các lễ hội ở Thái Bình, du khách được hòa mình trong không gian văn hóa đặc sắc, trong tình cảm cộng đồng sâu sắc So với một số tỉnh trong khu vực thì Thái Bình còn duy trì nhiều hội làng hơn Vì cho đến những thập kỷ cuối của thế kỉ XX thì hơn 90% dân số Thái Bình vẫn sống ở khu vực nông thôn với khá đầy đủ thuộc tính vốn có của nông dân Mặt khác, Thái Bình còn hiện diện hơn 1.400 thiết chế tín ngưỡng vốn là nơi tổ chức hội làng thưở trước, nay do nhu cầu tâm linh tín ngưỡng nên nhiều lễ hội đã được phục hồi Cũng có lẽ do yếu tố công nghiệp, thị dân còn mờ nhạt nên các trò chơi, trò diễn dân gian như: thi pháo đất, thi bắt trạch, thi nấu cơm, thả diều vẫn còn tồn tại bền bỉ Qua các hội làng đã được khôi phục, thống kê được trên 30 tục thi mang đậm sắc thái văn hoá nông nghiệp Ngoài các tục thi trình nghề như: dệt chiếu, dệt vải, xe đay, làm go, làm bánh, làm bún còn có các trò đua tài giải trí như: vật cầu, vật ống, bơi chải, bắt trạch, bắt vịt, thả diều, pháo đất, kéo lửa nấu cơm Mỗi trò chơi ở mỗi hội lại có
sự khác nhau Thi kéo lửa nấu cơm hội chùa Keo khác với thi kéo lửa nấu cơm hội làng Tống Vũ, hội làng Bạt Trung khác với hội làng Đa Cốc, tục thả diều ở hội làng Sáo Đền khác với hội làng Tuộc Mỗi hội lại có những tục thi riêng gắn với huyền thoại về sự tích, hành trạng của vị thần được thờ và những điệu múa dân gian gắn với nghi thức tín ngưỡng Trong số những hội làng ở Thái Bình đã khôi phục, có tới gần 20 điệu múa dân gian được duy trì ở các lễ hội Có những điệu múa mang tính phổ biến trong nhiều hội như múa trống trắc, múa lân, múa phượng, múa tứ linh, múa cờ, múa rồng , có điệu múa chỉ có trong nghi thức tế thánh ở một số hội như múa quạt, múa đèn, múa dâng hương dâng hoa, múa chèo đò, múa kéo chữ
Trong năm 2014, tỉnh Thái Bình đón ước đạt 607.000 lượt khách du lịch đến thăm quan các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, trong đó có khoảng 10.000 lượt khách quốc tế Tổng doanh thu ước đạt 197 tỷ đồng Điều đó chứng
tỏ sự phát triển loại hình du lịch lễ hội đã mang đến cho địa phương có lễ hội một nguồn lợi kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương từ các hoạt động dịch vụ như: dịch vụ lưu trú, dịch vụ phục vụ ăn uống, bán hàng hóa,
Trang 20đồ lưu niệm Nhân dân vùng có lễ hội vừa có dịp quảng bá hình ảnh về văn hóa, đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa được giao lưu học hỏi tinh hoa văn hóa từ phía du khách.
Du lịch cũng mang đến cho các lễ hội của Thái Bình một sắc thái mới, một sức sống mới, mang đến môi trường, điều kiện để trưng bày, phô diễn những giá trị hàm chứa trong lễ hội Thông qua các hoạt động nội tại của mình, lễ hội được hoạt động du lịch kiểm chứng, thẩm định, từ đó rút ra được bài học để tự đổi mới, điều chỉnh lễ hội phù hợp với điều kiện mới
Như vậy, sự phát triển của du lịch, của lễ hội đã tạo ra sức mạnh tổng hợp
mà từ đó các loại hình văn hóa được chung đúc, tạo ra một sắc thái mới và động lực mới, mở ra thế và lực mới cho tỉnh
Trang 21CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC LỄ
HỘI TRUYỀN THỐNG THÁI BÌNH PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Khái quát tiềm năng du lịch của Thái Bình
2.1.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng miền Bắc Việt
Nam Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía Tây Nam Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc, Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây và tây nam Phía đông là biển Đông Thái Bình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế và trung tâm du lịch lơn Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, gần một số tỉnh có tiềm năng du lịch như Ninh Bình, Hà Tây là cầu nối quan trọng giữa miền Trung với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Hệ thống đường 10 đã hoàn thành , đường 39 đang được nâng cấp, hệ thống đường nông thôn rất phát triển là điều kiên thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội, du lịch giữa Thái Bình với các tỉnh bạn
Thái Bình còn có hệ thống sông ngòi dày đặc chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại
là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ,người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km, mật độ bình quân từ 5–6 km/km2 Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình
Cảnh quan thiên nhiên khá độc đáo, điển hình của vùng ven biển Bắc Bộ,
đó là dải bờ biển dài 53 km, có cửa sông lớn và một số bãi cát mịn ở các cồn, các bãi cùng với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển độc đáo như Cồn Vành, Cồn Đen có thể tổ chức loại hình tham quan nghiên cứu, du lịch sinh thái, thể thao biển, nghỉ dưỡng tắm biển cuối tuần
Trang 22Thái Bình là một tỉnh đông dân cư, nhân dân cần cù, khéo tay, chất phác, mến khách Trong những năm qua kinh tế xã hội được ổn định và phát triển, đời sống vật chất tinh thần người dân được nâng cao, nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, bồi dưỡng sức khỏe cũng như nhu cầu nghiên cứu của người dân càng thay đổi Điều đó thể hiện qua số lượng khách du lịch nội tỉnh tăng trên 10%/năm, đó là lợi thế phát triển ngành du lịch tại Thái Bình.
Cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch được đầu tư nâng cấp ngày càng hoàn thiện Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch Đồng Châu với tổng số vốn trên 50 tỉ đồng, xây dựng đường và phục hồi các di sản thuộc Khu di tích lịch sử các Vua Trần tại Hưng Hà trên 70 tỉ đồng đã và đang được triển khai, 3 khách sạn lớn từ 3- 4 sao đang được nâng cấp và xây dựng mới, hơn 20 khách sạn cỡ nhỏ và vừa với gần 600 phòng tiêu chuẩn đủ sức phục vụ trên 1.000 lượt khách / ngày
2.1.2 Tiềm năng du lịch nhân văn
* Di tích lịch sử văn hóa
Theo thống kê, Thái Bình có trên 1.400 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó
có 261 di tích được xếp hạng; các di tích lịch sử - văn hóa được phân bố ở khắp các huyện, thị trong tỉnh Những di tích quan trọng có ý nghĩa chính trị, văn hóa
và phục vụ phát triển kinh tế du lịch Chẳng hạn, cụm di tích Thành phố Thái Bình và vùng phụ cận, bao gồm: Khu di tích chùa Keo, đền Đồng Xâm, chùa Đoan Túc, đình Thượng Liệt, khu lưu niệm Bác Hồ, cụm di tích Hưng Hà, bao gồm: Khu lăng mộ các vua Trần, cung Long Hưng, từ đường Lê Quý Đôn, đền Tiên La, Chùa Diệc… cụm di tích đền Đồng Bằng và phụ cận, gồm: Di tích các đình An Cổ, Vân Đồn, Ngũ Thôn, Bích Đoài, Tử Các, khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh… Đó là những cụm, nhóm di tích - lịch sử văn hóa có giá trị và khả năng thu hút khách du lịch cao Mỗi nhóm di tích trên đều có những nội dung và đặc trưng khác nhau, có thể khai thác kết hợp với du lịch sinh thái để hình thành các tuyến du lịch tổng hợp và tuyến du lịch chuyên đề
Thái Bình là mảnh đất địa linh nhân kiệt, hiện còn lưu giữ nhiều di tích lịch
sử văn hóa nổi tiếng mang ý nghĩa quốc gia như khu di tích nhà Trần, chùa Keo,
từ đường Lê Quý Đôn,đền Đồng Bằng Thái Bình còn là quê hương của nghệ thuật hát chèo, múa rối nước Đó là những tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc, độc đáo và là thế mạnh của du lịch Thái Bình Các tài nguyên này được phân bố
Trang 23ở các vị trí khá thuận lợi cho việc khai thác phục vụ phát triển du lịch, thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình tham quan du lịch như: Du lịch sinh thái đồng quê, du lịch trở về cội nguồn, du lịch tham quan làng nghề, du lịch văn hóa lễ hội đang là xu hướng chủ đạo trong phát triển du lịch của khu vực và trên thế giới, có sức cuốn hút du khách hết sức mạnh mẽ.
*Làng Nghề:
Với khoảng 200 làng nghề rải khắp địa bàn , Thái Bình được mệnh danh là một trong những cái nôi làng nghề của đất nước Hiện nay, 100% xã phường trên địa bàn tỉnh đều có ít nhất một ngành nghề truyền thống Những cái tên như bánh cáy làng Nguyễn( huyện Đông Hưng), chạm bạc Đồng Xâm( Kiến Xương), dệt Phương La- Thái Phương( Hưng Hà), dệt chiếu cói Tiên Lễ( Hưng Hà), dệt đũi Nam Cao( Kiến Xương)…là minh chứng sống động cho tài hoa, trí tuệ con người Thái Bình
* Lễ hội:
Lễ hội dân gian: lễ hội truyền thống Thái Bình thường được tổ chức gắn liền các di tích lịch sử- văn hóa và ở đó có nhiều trò chơi, thi tài, các hình thức diễn xướng văn nghệ dân gian độc đáo có nguồn gốc khác nhau như: trò múa ông Đùng bà Đà cổ xưa gắn liền với nghi lễ phồn thực sơ khai của một làng ven biển, một hội làng duy trì tục đánh Hổ( đánh Bệt hay múa Bệt)
Lễ hội ở Thái Bình chủ yếu gắn với lễ hội nông nghiệp, thể hiện nhiều hình thức, tập tục khác nhau: thờ lúa gạo( Tiền Hải), hội đền Sao Đền( Vũ Thư) có các trò thi mang sắc thái nông nghiệp như thi bắt vịt, thi nấu cơm, thi bắt chạch… Hội chùa Keo, đền Đồng Xâm có rước nước, cầu mưa
Thái Bình là một nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, nơi sản sinh ra nhiều bậc anh tài và có công với đất nước như: Bát Nạn tướng quân, Lí Nam Đế, Trần Hưng Đạo, quốc sư Không Lộ…
Hiện nay, hơn 100 hội làng truyền thống ở Thái Bình được khôi phục, duy trì, tổ chức vào thời gian nhất định Nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Thái Bình vừa phong phú vừa đặc sắc, mang đậm yếu tố lịch sử và trữ tình như:
Xá( Hưng Hà), chèo Khuốc( Đông Hưng) và chèo Sáo Đền( Vũ Thư) Đây là những dòng chèo đặc trưng của địa phương
Trang 24- Múa rối nước: Có 7 hội cổ truyền ở các làng Nguyễn, Tăng, Tuộc, Đống, Kỳ Hội, Bắc Lạng, Tây Trong, Tây Ngoài của huyện Đông Hưng, mà nay nổi tiếng hơn cả làng Nguyên Xá.
ông Đùng, bà Đà, múa Đánh Bệt, múa bát Dật, múa Giáo Cờ Giáo Quạt, múa Sênh Tiền, múa Trống – Trắc
* Tài nguyên nhân văn khác tại Thái Bình
Tỉnh Thái Bình có bảo tàng thành phố, nhiều công trình thể thao văn hóa, công viên, công trình công nghiệp là đối tượng cho du khách tìm hiểu và tham quan
Là vùng đất nổi tiếng với những món ăn đặc sản như: bánh cáy Làng Nguyễn, canh cá Quỳnh Côi, gỏi nhệch, sứa muối- Thái Thụy, ổi bo, bún bung hoa chuối, bánh gai –Vũ Thư, bánh giò Bến Hiệp- Quỳnh Phụ Về sinh hoạt văn hóa dân gian có: múa rối nước Những sản phẩm nổi danh đã gắn với các địa danh như: chạm bạc Đồng Xâm- Hồng Thái,dệt chiếu Tân Lễ….là những vốn quý của tỉnh Thái Bình phục vụ cho phát triển du lịch
2.2 Thực trạng khai thác các lễ hội truyền thống tại Thái Bình
2.2.1 Thực trạng khai thác lễ hội chùa Keo
Chùa Keo, xưa có tên là "Thần Quang Tự", nay thuộc xã Duy Nhất, huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Trải gần 400 năm tồn tại, qua nhiều lần tôn tạo, Chùa vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ độc đáo của ngôi chùa Việt, có từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) Hằng năm, Chùa Keo là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đặc biệt, bao gồm hai cụm kiến trúc: Khu Chùa là nơi thờ phật và khu Đền thánh thờ đức Dương Không Lộ - Vị đại sư thời nhà Lý có công dựng chùa Một năm chùa mở hội 2 lần, đó là Hội Xuân vào ngày mồng 4 tết Nguyên Đán và Hội chính mùa thu, từ ngày 13 đến ngày 15/9 âm lịch Hội tháng 9 gắn liền với sự tích của Không Lộ Thiền Sư (13-9 là 100 ngày mất của ngài, còn 14 tháng 9 là ngày sinh)
Chùa Keo là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia đặc biệt, bao gồm hai cụm kiến trúc: Khu Chùa là nơi thờ phật và khu Đền thánh thờ đức Dương
Không Lộ - Vị đại sư thời nhà Lý có công dựng chùa.
Ngày 13, mở đầu là cuộc rước kiệu kỷ niệm 100 ngày tịch của thiền sư Không Lộ Chiều có các cuộc đua trải Tối có cuộc thi kèn và trống
Trang 25Sáng 14, kỷ niệm ngày sinh của sư Không Lộ Sau lễ dâng hương đến đám rước gồm có đôi ngựa hồng, ngựa bạch có đủ yên cương và 4 bánh do người kéo Tiếp đến là 8 lá cờ thần, 42 người vác bát bửu lỗ bộ Chiều 14, tại toà Giá Roi diễn ra nghi lễ chầu thánh mang tính nghệ thuật , đó là điệu múa cổ còn gọi
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa vẫn giữ nguyên nét kiến trúc
cổ kính, vững chắc với thời gian
Với những giá trị kiến trúc, văn hóa lịch sử, khoa học đặc biệt đã được xếp hạng của di tích, chùa Keo là một trong những ngôi chùa cổ đẹp bậc nhất của Việt Nam, là điểm đến hấp dẫn với du khách thập phương chiêm bái cảnh chùa trong ngày Xuân và những ai yêu thích kiến trúc chùa cổ của Việt Nam
Trong những năm gần đây một thực tế đang diễn ra tại chùa Keo :
Tắc đường là tình trạng diễn ra thường xuyên trong dịp lễ hội những năm gần đây Lực lượng chức năng không điều hành nhất quán, quyết liệt phân lối ra, vào dẫn đến con đường nhỏ mà xe cộ cả ngược lẫn xuôi Người và xe chen chúc mặc thích đi sao thì đi, cả tiếng đồng hồ mà không qua được đoạn đường 500mNạn buôn bán tràn lan từ ngoài đường tới tận trong khuôn viên chùa, bất kể chỗ nào trống là có bàn, có quầy, chiếm hết gần lối đi Những biển “ cấm bán hàng” chỉ để làm cảnh.Giá cả thì vô cùng,chặt chém Nhìn cột đình đen bóng canh những cái bàn ghế xanh đỏ cứ ngỡ là quán nhậu, đủ loại quần áo,giày dép, trang sức, thực phẩm,nhất là thực phẩm từ thịt bầy bán chật kín, mùi khói đốt thịt,tiếng loa mời chào mua hàng cứ xộc thẳng lên mũi, vào tai du khách một cách khó chịu.Cửa chùa đã không phóng sinh mà có người còn mang lồng chim đến bán Các trò chơi nặng về đỏ đen bày la liệt khắp chùa Những bóng bay nổ
do phi tiêu vang lên đều đều như pháo.Quầy chơi xèng được vây kín bởi những cậu choai choai.Sách mê tín, dị đoan được bày bán công khai từ ngoài bờ hồ cho
Trang 26đến tận cửa chùa.Có hàng chục người ăn xin đủ già trẻ gái trai ngồi lê lết chìa nón rách, rổ nhựa ra xin tiền, có nhiều em bé bị bố/ mẹ bế cùng ngồi dưới cái mưa phùn và nền đất bẩn
Thắp hương, đốt giấy tiền không trật tự và còn sai vị trí Những vỏ giấy từ thẻ hương chất đống, nằm la liệt quanh các lư hương không khác gì bãi rác màu
đỏ Trò chơi đạp vịt ngay ao bên cạnh chùa, một trò chơi được du nhập từ Hà Nội Những con vịt được thả xuống ao và các nam thanh nữ tú hào hứng chơi trò chơi vốn không ở quê lúa.Rác thải từ bóng bay vỡ, que xiên xúc xích, vỏ chai ngổn nagng khắp nơi, không biết ai sẽ thu dọn và môi trường sẽ ô nhiễm ra sao, nhất là ao hồ của chùa
Người dân địa phương đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của ngôi chùa Người dân địa phương chính là kho tàng dân gian, nơi lưu giữa lại những lễ hội truyền thống đặc trưng của chùa Đó chính là phần hồn, cái ẩn sau kiến trúc để tăng thêm phần hấp dẫn của một ngôi chùa Vì vậy để phát huy được yếu của cư dân địa phương đòi hỏi các cơ quan quản lí cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân về việc bảo tồn và phát huy giá trị của ngôi chùa, đồng thời phục dựng, tổ chức lại các lễ hội truyền thống để thu hút đông đảo sự tham gia của người dân địa phương và du khách thập phương trên cơ sở đó sẽ góp phần vừa bảo tồn, vừa phát huy được những giá trị của ngôi chùa
Lượng khách năm 2013 tới vãn cảnh chùa Keo ngày càng tăng:1.200 lượt khách/năm
Năm 2014 là: 1800 lượt khách/ năm chùa đã thu được số tiền công đức là 2 tỉ mỗi năm.Việc thu chi công đức được tiến hành công khai ,có đóng dấu và có số seri
Nhận thức rõ về tầm quan trọng về việc bảo vệ và tôn tạo một di tích mang tầm quốc gia, các cơ quan chức năng đã đưa ra nhiều biện pháp hữu hiệu trong việc trùng tu, tôn tạo và phát huy những giá trị của ngôi chùa
Trước sự xuống cấp của chùa do thời gian thì các cơ quan chức năng đã nhiều lần trùng tu tôn tạo
Cho đặt những hòm công đức mục đích kêu gọi lòng hảo tâm của du khách thập phương để tăng thêm nguồn kinh phí trong việc trùng tu tôn tạo chùa
Trang 27Bên cạnh đó để phát huy hơn nữa những giá trị của chùa Keo thì các cơ quan chức năng cần: Tập trung đưa chùa Keo không chỉ là nơi tín ngưởng tâm linh với du khách thập phương thông qua những lễ hội, mà cần phải đưa chùa Keo trở thành điểm du lịch thông qua việc thiết kế những tua tuyến tham quan liên kết nhiều các di tích với nhau trong đó có chùa Keo Trên cơ sở đó góp phần phát huy những giá trị của chùa Keo làm cơ sở cho việc trùng tu tôn tạo chùa, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh chùa Keo tới du khách
2.2.2 Thực trạng khai lễ hội đền Đồng Bằng,đền Tiên La và đền Đồng Xâm
*Thực trạng khai lễ hội đền Đồng Bằng
Dân gian có câu ca:
“ Dù ai buôn bán trăm nghề
20 tháng 8 nhớ về Đào thôn”
Đền Đồng Bằng tương truyền thờ Đức Vua cha Bát Hải Nằm trên địa bàn
xã An Lễ,huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Đền được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia Là một quần thể di tích mang trong mình một truyền thuyết về nơi khai sinh và hóa thánh của 8 (Bát vị) thánh có công chống giặc cứu nước Để tưởng nhớ công đức của các vị nhân dân đã dựng đền và tổ chức lễ hội vào tháng 8 âm lịch hàng năm
Đền Đồng Bằng là một bảo tàng mỹ thuật điêu khắc gỗ tuyệt đẹp, một điểm
du lịch hấp dẫn của vùng quê lúa Thái Bình Xuôi đường 10 đi Hải Phòng, dừng chân bên cầu Vật, du khách sẽ bị cuốn hút trước công trình kiến trúc uy nghi, lộng lẫy đứng khiêm nhường bên dòng sông Cổ đầy ắp huyền thoại Làng Đồng Bằng xưa là trang Đào Động - Một trong những phòng tuyến quân sự của nhà Trần thế kỷ 13 Nơi đây còn âm vang khí thế hào hùng oanh liệt của quốc gia đại Việt chống giặc Nguyên Mông
Có thể nói, đền Đồng Bằng mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống trong văn hoá làng xã Bắc Bộ nhưng lại ảnh hưởng bởi kiến trúc Huế những năm đầu thế kỷ Đó là nghệ thuật ghép gốm và mái tứ diện chồng diêm, âu cũng
là sự giao thoa văn hoá và cũng từ đó càng làm gia tăng vẻ đẹp mê hồn của ngôi đền độc nhất vô nhi trên vùng đất này
Đã thành thông lệ, hàng năm đền Đồng Bằng khai hội vào ngày 20/8 (âm lịch), tại Đền Đồng Bằng xã An Lễ, Quỳnh Phụ, là nơi thờ Đức Vua Cha Bát
Trang 28Hải Động Đình, người có công lớn trong việc bình thục giữ nước và chiêu dân lập ấp xây dựng giang sơn xã tắc từ buổi sơ khai.
Đền có sắc phong: Tam Kỳ Linh Ứng Vĩnh Công Đại Vương Thượng Đẳng Thần (vào đời Vua Hùng thứ 18) Tới thời Tiền Lê, đền được xây dựng
mở rộng thành năm cung và bốn ban thờ Công Đồng khang trang và được liệt vào “Tứ cố cảnh” Từ cuối thế kỷ 13, đền Đồng Bằng còn là nơi tưởng niệm Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng Hoàng thân Quốc thích nhà Trần trong 3 lần đại phá quân Nguyên Mông và lập nên 8 trang Đào Động xưa
Số lượng khách đến với lễ hội những năm gần đây ngày càng tăng:
Năm 2013 :1.400 nghìn lượt khách/ năm tới thăm quan
Năm 2014: 1.600 nghìn lượt khách/ năm Số lượng khách tăng đáng kể vậy, số tiền công đức, giọt dầu cho chùa thu được 1,3 tỉ mỗi năm.Số tiền đó được thu công khai và góp phần tu sửa cho đền
Hội kéo dài từ ngày 20 đến 26 tháng 8 âm lịch Hội đền Đồng Bằng là một hội tứ phủ lớn trong vùng Đây là dịp tập hợp lớn nhất của các ông đồng, bà cốt
từ khắp mọi miền
Vào ngày 20 tháng 8, diễn ra các nghi lễ trong đền Đồng Bằng của hội tứ phủ Tất nhiên, trong các ngày sau đó tại đây vẫn tiếp tục những nghi thức này, song vào ngày 20 tháng 8 sinh hoạt hội tứ phủ vương mẫu là nhộn nhịp nhất.Sáng ngày 21 tháng 8 dân làng tiến hành rước bài vị các thần ra đình bơi Đám rước vô cùng long trọng và uy nghi, tôn kính Khi bài vị các thần đã dâng bày lên hương án, khói ngang nghi ngút, việc cúng lễ bắt đầu Người ta tin rằng như vậy đức vua cha cùng các vị thần khác sẽ về ngự để xem làng đua thuyền.Qua ngày 22 tháng 8 người ta tổ chức bơi thăm thẻ Hội bơi kéo dài suốt mấy ngày cho đến chiều ngày 25 tháng 8 làng tổ chức lễ cất trải và trao phần thưởng cho tích nào thắng cuộc
Ngoài tục bơi trải nổi tiếng lễ hội còn tổ chức các trò vui khác trước và sau cuộc bơi như múa lân, hát chèo, đấu vật, đánh cờ tướng
Trang 29*Thực trạng khai đền Tiên La
Đền Tiên La là ngôi đền thờ Bát Nàn Tướng Quân (tướng quân phá nạn
cho dân, có nơi gọi là "bát nạn" hay "bát não") Vũ Thị Thục (sinh năm 17, mất năm 43), một nữ tướng của Hai bà Trưng có công đánh Tô Định
Đền Tiên La tọa lạc tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng (huyện Hưng Hà) , tỉnh Thái Bình) trên một diện tích khoảng 4000 m² Mặt trước đền hướng ra phía con sông Tiên Hưng
Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay đền có quy mô lớn và đẹp, bao gồm nhiều công trình như hệ thống cổng đền, tòa tiền tế, tòa trung tế, thượng điện và hệ thống sân đền Tòa điện bái đường và thượng điện của đền được kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết, nội thất được chạm trổ long -lân – quy - phượng, đan xen với thông - trúc - cúc – mai
Lễ hội đền Tiên La để tưởng nhớ công ơn Bát Nạn Tướng Quân, được tổ chức vào các ngày 15 đến 17 tháng 3 âm lịch Ngày nay để phục vụ đông đảo du khách về dự hội ban tổ chức lễ hội đã mở hội từ ngày 10 đến 20 tháng 3 âm lịch Chính hội là ngày 17, trùng ngày hy sinh của bà tướng là ngày 17 tháng 3 năm Quý Mão (năm 43) Phần hội có trò chọi gà, đấu vật, múa rồng múa sư tử, đặc biệt là phần rước kiệu và một số trò chơi dân gian khác như đánh đáo, trọi gà, thổi sáo trúc.Ngoài ra, vào dịp lễ hội còn có nhiều đoàn văn hoá nghệ thuật của tỉnh Thái Bình và các tỉnh lân cận cũng đến biểu diễn các tiết mục văn hoá đặc sắc như các vở chèo: Quan âm Thị Kính; Lưu Bình - Dương Lễ, Phạm Tải - Ngọc Hoa
Tại đền Tiên La, ngay cổng là cặp sư tử Trung Quốc màu trắng, trên các thành bậc cầu thang cũng xuất hiện thêm 2 cặp sư tử đá cỡ nhỏ khác Một cặp sư tử hình dáng Trung Quốc cũng được đặt ngay trước lăng Mẫu trong khu vực hậu cung, bên cạnh đó là đôi đèn đá, trên ban thờ là cặp cá chép dáng dấp ngoại lai
Đoàn thanh tra cũng phát hiện cặp bia đề tên người công đức đặt trên lưng rùa được đặt phía trước cửa vào đền Chưa kể, là hổ, nghê được nhà đền đưa vào thùng kính cỡ lớn làm nơi để người đi lễ bỏ tiền công đức; các cặp lọ lộc bình; tượng sứ không rõ ý nghĩa đặt tràn lan trên các ban thờ Tất cả đều được khẳng định là không phù hợp với không gian của một di tích lịch sử văn hóa quốc gia
Trang 30Thủ nhang đền Tiên La, ông Đặng Vũ Trần Nhã cho biết, phần lớn hiện vật này đều là đồ cung tiến Cũng vì là đồ cung tiến nên lâu nay nhà đền còn “dễ dãi” khi tiếp nhận “Chỉ một vài ngày tới, chúng tôi sẽ di dời những hiện vật này ra khỏi di tích Nhà đền sẽ chú ý hơn khi tiếp nhận và bài trí hiện vật ”, thủ nhang đền Tiên La khẳng định.
Xuất hiện dầy đặc sư tử đá, đèn đá, đèn lồng, và cả tượng Quan Âm Bạch Y
là ở chùa Vạn Xuân (phường Bồ Xuyên, TP Thái Bình) Trong một không gian
di tích không lớn nhưng ngay khi bước chân vào sân chùa đã nhìn thấy 3 cặp
sư tử đá ngoại lai xuất hiện phía trước cửa vào chùa, trước Đài tưởng niệm liệt
sĩ và trước Cung thờ Mẫu Kích cỡ nhỏ hơn, một cặp sư tử lai hổ chễm chệ trên ban thờ tượng Quan Âm Bạch Y trước sân chùa
*Thực trạng khai đền Đồng Xâm
Khi đến thăm quê lúa Thái Bình, bên cạnh những thắng cảnh như bãi biển Đồng Châu, cồn Vành, chùa Keo… du khách không nên bỏ qua một điểm
du lịch văn hóa - lịch sử lý thú: đền Đồng Xâm thuộc xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương
Đền nằm bên con sông Vông hiền hòa Ngôi đền này gắn liền với danh tiếng của nghề chạm bạc truyền thống đã hình thành từ mấy trăm năm nay ở địa phương Khi đến xã Hồng Thái để thăm đền Đồng Xâm, du khách có thể cảm nhận được không khí tấp nập, trù phú rất riêng, khác hẳn vẻ yên ả, tĩnh lặng đặc trưng thường thấy ở một miền quê vùng đồng bằng Bắc bộ
Dọc con đường quê nhỏ tiếng chạm bạc vang vang Nhìn vào các ngôi nhà bên đường, ta dễ dàng bắt gặp những người thợ thủ công tài hoa đang tỉ mỉ, cần mẫn thực hiện nhiều đồ trang sức, đồ trang trí bằng bạc tinh xảo
Đền Đồng Xâm thờ Triệu Vũ Đế, hay còn gọi là Nam Việt Vũ Đế, và Trình Thị hoàng hậu - vợ Triệu Vũ Đế, cùng Nguyễn Kim Lâu là vị tổ nghề chạm bạc
cổ truyền của làng Thời điểm xây dựng ngôi đền không có sử sách ghi chép chính xác, song tương truyền rằng đền Đồng Xâm được Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) cho xây dựng từ trước Công nguyên
Trang 31Hằng năm, mỗi khi đến lễ hội Đồng Xâm (từ mồng 1 đến mồng 3 tháng 4
âm lịch) là nhân dân trong vùng cùng đông đảo du khách thập phương lại nô nức
về xã Hồng Thái để tham gia nhiều trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa đặc sắc của lễ hội, như hát ca trù, hát chèo, rước thánh sư, tế lễ…
Đặc biệt, sôi nổi nhất là cuộc thi đua thuyền của thanh niên trên sông Vông Trong thời gian diễn ra lễ hội, các sản phẩm chạm bạc của làng cũng được trưng bày và bán làm làm đồ lưu niệm cho du khách để giới thiệu và quảng bá thêm về nghề truyền thống này
2.2.3 Thực trạng khai khu lăng mộ các vua Trần và đền Trần
Đền Trần Thái Bình là một quần thể di tích gồm các đền thờ, lăng mộ thờ các vị vua quan nhà Trần Đền thờ các vua Trần trên đất phát tích Thái Bình
(còn gọi là Thái Đường Lăng) thuộc làng Tam Đường, xã Tiến Đức huyện Hưng
Hà Hệ thống các di tích lịch sử ở đây gồm Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần đều đã được chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng
Lễ hội đền Trần Thái Bình đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014
Lễ hội đền Trần diễn ra vào ngày 13 đến 18 tháng Giêng âm lịch hàng năm, qua đó khẳng định và tôn vinh công lao dựng nước của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam
Các nội dung diễn ra suốt lễ hội từ sáng 13 tháng giêng âm lịch đến hết ngày 17 tháng giêng âm lịch như: Thi cỗ cá, Thi gói bánh chưng, Thi thả diều, Thi pháo đất, Thi vật cầu, Thi kéo co
2.2.4Thực trạng khai hội La Vân
Làng La Vân là một thôn của xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình- nơi nổi tiếng ở Châu thổ Bắc Bộ với nghề ương bèo hoa dâu vào thập niên 1970 trở về trước Tục truyền rằng Thành hoàng làng là Uy Minh đại vương Lý Nhật Quang, con Lý Hành, em vua Lý Anh Tôn và Thiên Đê đại
vương- người có công "giáo dân dưỡng nghệ bình cầm" dạy cho dân ươm gây bèo hoa dâu, làm cho "dân khang vật thịnh" Hàng năm làng mở hội hai lần vào
ngày mồng 4 tháng giêng và từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 âm lịch
Hội mùng 4 tháng Giêng ở La Vân là hội "trình nghề" với những hình thức
diễn xướng dân gian độc đáo như một bức tranh thu nhỏ phản ánh xã hội xưa