BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG ---o0o--- NGUYỄN THỊ THIÊN THƯ THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VỀ DINH DƯỠNG CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
-o0o -
NGUYỄN THỊ THIÊN THƯ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
KIẾN THỨC VỀ DINH DƯỠNG CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG, NĂM 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
HẢI PHÒNG – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
-o0o -
NGUYỄN THỊ THIÊN THƯ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC VỀ DINH DƯỠNG CỦA CÁC BÀ MẸ SAU SINH TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG, NĂM 2016
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng quản lý Đào tạo đại học, Khoa Điều dưỡng, Bộ môn Điều dưỡng Sản trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã tạo cho em một môi trường học tập tốt, truyền dạy cho em những kiến thức và kinh nghiệm đáng quý của nghề điều dưỡng
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành gửi đến BSCKII Lại Thị Nguyệt Hằng – Trưởng bộ môn Điều dưỡng Sản trường Đại học Y Dược Hải Phòng, Ths Hoàng Thị Oanh và các cô giáo của bộ môn Điều dưỡng Sản trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em, truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu của mình trong suốt quá trình học tập và làm nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, các khoa phòng của bệnh viện Phụ sản Hải Phòng đã tạo điều kiện cho em thực hiện nghiên cứu tại cơ sở
Cuối cùng, em luôn ghi nhớ sự chia sẻ, động viên của gia đình, thầy cô, anh chị em, bạn bè đã giúp đỡ, cho em thêm nghị lực để học tập và hoàn thành bản luận văn này
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thiên Thư
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Thị Thiên Thư
Sinh viên lớp: CNĐDCQK8 – Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Trong thời gian năm 2016, tôi đã nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một
số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016”
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu do tôi trực tiếp thực hiện
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Thiên Thư
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CED Thiếu năng lượng trường diễn
FAO Tổ chức nông nghiệp và thực phẩm của Liên hợp quốc FNB Hội dinh dưỡng và thực phẩm Hoa Kỳ
NCDDKN Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
SEA-RDAs Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Đông Nam Á UNU Đại học Tổng hợp Liên hợp quốc
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về dinh dưỡng 3
1.2 Tầm quan trọng của dinh dưỡng bà mẹ sau sinh 4
1.3 Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của bà mẹ thời kì sau sinh 5
1.4 Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh trên thế giới và ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 22
3.1 Một số đặc điểm chung của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016 trong thời gian nghiên cứu 22
3.2 Thực trạng kiến thức về dinh dưỡng của bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016 25
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016 30
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 34
4.1 Đặc điểm chung của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016 34
4.2 Thực trạng kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viên Phụ sản Hải Phòng năm 2016 35
4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, năm 2016 38
KẾT LUẬN 42
KHUYẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Phân bố địa bàn cư trú của các bà mẹ nghiên cứu 22
Bảng 3.2 Đặc điểm trình độ học vấn của các bà mẹ nghiên cứu 23
Bảng 3.3 Thu nhập trung bình gia đình/tháng của các bà mẹ nghiên cứu 24
Bảng 3.4 Đặc điểm sinh con lần này của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.5 Kiến thức của các bà mẹ về chế độ ăn hàng ngày 25
Bảng 3.6 Kiến thức của các bà mẹ về chế độ ăn kiêng 25
Bảng 3.7 Kiến thức của các bà mẹ về bổ sung nước 28
Bảng 3.8 Kiến thức của các bà mẹ về các nguồn thực phẩm 28
Bảng 3.9 Kiến thức của các bà mẹ về ăn theo nhóm thực phẩm 29
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa phân bố địa bàn cư trú và kiến thức 30
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và kiến thức 30
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa trình độ văn hóa và kiến thức 31
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thu nhập TB gia đình/tháng với kiến thức 31
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa số lần sinh của bà mẹ với kiến thức 32
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tăng cân thai kỳ với kiến thức 32
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa cân nặng của trẻ với kiến thức 33
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi của các bà mẹ nghiên cứu 22
Biểu đồ 3.2 Phân bố nhóm nghề của các bà mẹ tham gia nghiên cứu 23
Biểu đồ 3.3 Kiến thức của các bà mẹ về các vi chất 26
Biểu đồ 3.4 Kiến thức của các bà mẹ về bổ sung vi chất 27
Biểu đồ 3.5 Đánh giá kiến thức chung về dinh dưỡng sau sinh của đối tượng nghiên cứu 29
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) theo y văn và dinh dưỡng học Quốc tế được định nghĩa là: Mức tiêu thụ năng lượng và các chất dinh dưỡng được coi là đủ để duy trì sức khỏe và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư [32]
Khi cuộc sống còn khó khăn, con người chỉ lo kiếm đủ ăn mà chưa quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng Ngày nay, khi điều kiện kinh tế phát triển thì nhu cầu về dinh dưỡng đã thay đổi từ trong nhận thức và thái độ nhìn nhận
về bữa ăn hằng ngày của mỗi người dân, song lại chưa biết cách cân bằng các yếu tố dinh dưỡng sao cho hợp lý dẫn đến tình trạng thừa cân mà vẫn thiếu các yếu tố vi chất
Việt Nam hiện nay đã thành công trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi nhóm nước nghèo, và vấn đề dinh dưỡng cũng từ đó mà ngày càng được quan tâm hơn cho các đối tượng như: trẻ sơ sinh, người già, phụ nữ trong thời kì mang thai, người mới ốm dậy,… và đối tượng phụ nữ sau sinh cũng là một đối tượng cần được quan tâm đặc biệt
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng tỷ suất sinh sơ bộ năm 2014
là 2,09 con/phụ nữ [1], tương đương khoảng 1,6 triệu trẻ em được sinh ra hàng năm, tức là có xấp xỉ con số đó phụ nữ trong giai đoạn sau sinh Sau sinh sự tiêu hao sức khỏe và năng lượng cho cuộc đẻ là rất lớn, là thời kì hồi phục về cấu tạo và chức năng của các cơ quan sinh sản, với thời gian là 42 ngày, thời gian để sản phụ hồi phục và có khả năng lao động được là 4 – 6 tháng [3] Vì vậy, cần phải thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lí như thế nào để vừa đảm bảo sức khỏe cho mẹ và chất lượng nguồn sữa cho bé Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phụ nữ giai đoạn sau sinh nhưng còn tập chung chủ yếu ở các vấn đề về hậu sản, cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, các biện pháp
Trang 10tránh thai,… mà lại rất ít nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng cho phụ nữ trong giai đoạn rất cần phải bổ sung này Đó là vấn đề cần đặt ra cho các cán bộ dinh dưỡng và các nhà nghiên cứu
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng là bệnh viện chuyên khoa phụ sản địa phương được thành lập sớm nhất tại miền Bắc Với chặng đường hơn 30 năm
cố gắng phấn đấu nỗ lực, bệnh viện đã phát triển mạnh mẽ, bền vững, luôn xứng đáng là một trung tâm sản – phụ khoa của khu vực Duyên hải Bắc Bộ
Trong những năm gần đây số sản phụ đẻ tại bệnh viện luôn giữ ở mức cao
Theo thống kê của bệnh viện chỉ tính riêng năm 2015 đã có 13.752 sản phụ sau sinh bao gồm cả đẻ thường và đẻ mổ [13] Như vậy đòi hỏi nhu cầu của
họ về chăm sóc nói chung và nhu cầu dinh dưỡng nói riêng là rất lớn Tại đây, cũng đã có một số nghiên cứu về chăm sóc sau sinh có đề cập đến vấn đề dinh dưỡng, nhưng việc đề cập lại chưa đầy đủ
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016” với hai mục tiêu chính:
1 Mô tả thực trạng kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của các
bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về dinh dưỡng
Ăn uống là một trong những nhu cầu quan trọng nhất của con người Cơ thể con người cần sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, tăng trưởng, thực hiện các chức phận bình thường của các cơ quan, các mô trong cơ thể và đảm bảo tạo ra năng lượng cho lao động, các hoạt động khác của con người Ăn uống không chỉ đáp ứng nhu cầu cần thiết của cơ thể mà còn giúp duy trì, nâng cao sức khỏe và tăng tuổi thọ Ngoài ra, nhiều nghiên cứu đã chứng minh ăn uống còn có mối liên quan chặt chẽ đến sức khỏe và bệnh tật Nếu ăn uống không hợp lý, không đảm bảo vệ sinh thì cơ thể con người sẽ phát triển kém, không khỏe mạnh và dễ mắc bệnh tật [4]
Các giai đoạn phát triển của con người từ khi còn là bào thai trong bụng
mẹ, sinh ra, lớn lên và trưởng thành cho đến tuổi già đều chịu ảnh hưởng hoặc mắc bệnh bởi chế độ dinh dưỡng không hợp lý Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc đời của một con người mà còn để lại hậu quả cho thế hệ mai sau Người phụ nữ khi mang thai nếu thiếu dinh dưỡng, tăng cân ít có nguy cơ sinh ra đứa trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, vòng đầu và chiều dài cơ thể thấp hơn Những đứa trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn, khi trưởng thành cũng
có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính, phát triển trí tuệ kém… Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, sữa mẹ không những là nguồn đạm và các vi chất quan trọng
mà còn là nguồn năng lượng quý giá đáp ứng đủ cho nhu cầu của trẻ trong vòng 4 – 6 tháng đầu [4]
Các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gồm 2 nhóm: Các chất sinh năng lượng bao gồm đạm (protid), chất béo (lipid), các chất đường bột
Trang 12(glucid); các chất không sinh năng lượng bao gồm các vitamin, chất khoáng
và nước [12]
1.2 Tầm quan trọng của dinh dưỡng bà mẹ sau sinh
Trong thời gian chuyển dạ và thực hiện cuộc đẻ, bà mẹ đã tốn rất nhiều năng lượng do phải gắng sức, lo lắng, mất máu, đau… Do đó sau khi sinh cơ thể người mẹ cần được bổ sung chất dinh dưỡng để bù đắp lại năng lượng đã tiêu tốn, phục hồi cấu trúc chức năng các cơ quan trong cơ thể, ngoài ra còn
để đảm bảo sữa nuôi trẻ cũng như thể lực cho việc chăm sóc trẻ sau này
Người mẹ bình thường có thể tạo sữa đủ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng (NCDD) của trẻ đến 6 tháng tuổi Vì vậy dinh dưỡng của mẹ trong thời kì này được xem xét và cân nhắc dựa vào số lượng sữa cho con bú và quá trình phát triển của đứa trẻ Năng lượng và các chất dinh dưỡng khác mà người mẹ đã
dự trữ trong thời kì mang thai được cung cấp cho quá trình tạo sữa Trong 6 tháng đầu trung bình một người mẹ một ngày cho con bú tiết ra 600 – 800 ml sữa [2]
Một nghiên cứu của Đại học California về sữa mẹ cho thấy số lượng và thành phần sữa mẹ chịu ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống của mẹ Hàm lượng một số chất khoáng chính như calci, phospho, magie, natri, kali trong sữa mẹ không bị ảnh hưởng bởi khẩu phần ăn của mẹ Tuy nhiên, một số yếu tố vi lượng khác như selen, iod trong sữa mẹ liên quan đến chế độ ăn của người
mẹ Hàm lượng vitamin trong sữa mẹ phụ thuộc vào lượng vitamin khẩu phần
và dự trữ trong cơ thể người mẹ, tuy nhiên có sự khác nhau với mỗi loại vitamin Khi người mẹ có chế độ ăn thành phần vitamin thấp kéo dài sẽ dẫn đến hàm lượng các vitamin trong sữa giảm đáng kể [2], [23]
Các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ bao gồm các chất đa lượng (protid, lipid, glucid) và vi lượng (vitamin, chất khoáng) đều rất thích hợp với nhu cầu
Trang 13phát triển của trẻ Ngoài ra, trong sữa mẹ còn có các enzyme, hormone, yếu tố phát triển, kháng thế và các chất giúp cho phát triển hệ vi khuẩn có ích trong ruột [20]
1.3 Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của bà mẹ thời kì sau sinh
Theo NCDDKN cho người Đông Nam Á (SEA – RDA 2005): Để cung được 100 ml sữa, khẩu phần ăn của mẹ cần tăng khoảng 80 – 95 kcal Do đó nhu cầu năng lượng của bà mẹ thời kì sau sinh cần tăng thêm [32]
Nếu các bà mẹ khi chưa có thai và trong thời kỳ mang thai vốn đã được
ăn uống dinh dưỡng tốt (tăng được 9 - 12kg) thì sau sinh năng lượng cần tăng thêm 505 Kcal/ngày
Nếu trong thời gian chưa có thai và trong thời kỳ mang thai bà mẹ ăn uống không tốt, có mức tăng cân ít hơn 9kg thì cần phải ăn nhiều và đa dạng hơn các loại thực phẩm khác nhau sao cho năng lượng tăng thêm 675 Kcal/ngày
1.3.1 Nhu cầu các chất sinh năng lượng (protein, lipid, glucid)
1.3.1.1 Protein
Lượng hấp thu protein ở bà mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết sữa Chất và lượng protein trong bữa ăn của bà mẹ không đủ có thể khiến lượng sữa mẹ tiết ra giảm đi và ảnh hưởng đến protein trong sữa mẹ, nên việc cung cấp protein đầy đủ, chất lượng tốt cho bà mẹ thời kì sau sinh là cực kì quan trọng
Hiện nay, nhu cầu protein khuyến nghị cho người trưởng thành vẫn để mức tối thiểu là 1,25g/kg/ngày theo Tổ chức nông nghiệp và thực phẩm của Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế Thế giới, Đại học Tổng hợp Liên hợp quốc
Trang 14(FAO/WHO/UNU, (1985) do trên thực tế mức tiêu thụ protein và chất lượng protein đã tăng lên (hệ số sử dụng protein ước tính bằng 70) [25]
Nhu cầu protein được tăng thêm ở bà mẹ sau sinh so với nhu cầu bình thường Cụ thể, nhu cầu bình thường dành cho bà mẹ cho con bú 6 tháng đầu tăng 23g protid/ngày (từ 20 – 25g); bà mẹ cho con bú các tháng sau nhu cầu bình thường tăng 17g protid/ngày (16 – 19g) [9] Theo bảng thực đơn ăn uống theo NCDD của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên nên ăn từ 400 – 500g các loại thực phẩm giàu protein như: thịt, cá, đậu phụ… [8]
Với năng lượng do protein cung cấp giao động từ 12 – 14% tổng số năng lượng (trong đó protein động vật chiếm 30 – 35% tổng số protein) [9]
Nguồn thực phẩm: Protein có nhiều trong thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, ốc, hến, phủ tạng… Protein cũng có trong thức ăn có nguồn gốc thực vật như các loại đậu đỗ, lạc, vừng… [17]
1.3.1.2 Lipid
Từ lâu, khoa học đã chứng minh rằng lipid là nguồn năng lượng cao nhất (1gam lipid vào cơ thể cung cấp 9,3 kcal, cao gấp hơn 2 lần so với protein 4,1 kcal/1gam và glucid 4,1 kcal/1gam) Lipid là nguồn cung cấp các acid béo, đồng thời là chất vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A, D, E và K) Giá trị sinh học của các vi chất dinh dưỡng tan trong dầu mỡ này phụ thuộc vào khả năng hấp thu lipid của cơ thể [9]
Khi tiêu thụ quá ít lipid sẽ ảnh hưởng đến chức phận của nhiều cơ quan
tổ chức trong cơ thể, đặc biệt là não bộ và thần kinh ở trẻ nhỏ Hậu quả là trẻ
sẽ bị chậm tăng trưởng và suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng
Ngược lại, tiêu thụ quá nhiều lipid có thể dẫn đến bệnh thừa cân - béo phì, mà tình trạng này có mối quan hệ thân thiết với các bệnh mạn tính không
Trang 15lây và hội chứng rối loạn chuyển hoá lipid; xử trí thừa cân – béo phì và các bệnh này là hết sức khó khăn, vất vả
Theo WHO, FAO (1993), trên cơ sở khuyến cáo của FAO/WHO/UNU (1985), Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế khuyến nghị năng lượng lipid đối với bà
mẹ sau sinh ở mức 20 – 25%, tối đa có thể tăng lên tới 30% năng lượng của khẩu phần Tuy nhiên, cần phải luôn ghi nhớ rằng trong bữa ăn hàng ngày tỷ lệ lipid động vật/lipid tổng số hiện nay không nên vượt quá 60% [25] Theo bảng thực đơn ăn uống theo NCDD của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên ăn từ 20 – 25 gam/ngày dầu thực vật và mỡ động vật [8]
Nguồn thực phẩm: Thức ăn có nguồn gốc đông vật có hàm lượng lipid
cao là thịt mỡ, mỡ cá, bơ, sữa, pho mát, lòng đỏ trứng… Thực phẩm có nguồn gốc thực vật có hàm lượng lipid cao là dầu thực vật, lạc, vừng, đậu tương, hạt
điều, hạt dẻ, cùi dừa… [17]
1.3.1.3 Glucid
Do chiếm khối lượng lớn nhất trong các bữa ăn hàng ngày nên glucid là nguồn cung cấp nhiều năng lượng nhất cho cơ thể (1 gam glucid cung cấp 4 kcal), trong đó lương thực là nguồn cung cấp năng lượng chính [9]
Theo Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế, hiện nay chúng ta có thể tham khảo SEA-RDAs về nhu cầu glucid khuyến nghị cho bà mẹ sau sinh là 61 – 70% năng lương khẩu phần [32] Theo bảng thực đơn ăn uống theo NCDD của bà
mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên ăn từ 500 – 600 các loại thực phẩm giàu glucid [8]
Nguồn thực phẩm: có nhiều trong lương thực bao gồm gạo, ngô, mì, khoai củ… Ngoài ra glucid còn có trong đậu tương, sữa [17]
Trang 161.3.2 Các chất không sinh năng lượng
1.3.2.1 Vitamin
Vitamin là nhóm chất hữu cơ cần thiết cho cơ thể Theo tính chất hòa tan, người ta chia vitamin thành hai nhóm: Nhóm vitamin tan trong dầu và nhóm vitamin tan trong nước
* Nhóm vitamin tan trong dầu, được hấp thu qua sữa mẹ gồm các vitamin: A, D, E, K
- Vitamin A có vai trò duy trì tình trạng bình thường của biểu mô, sự bền vững của màng tế bào, có vai trò quan trọng đối với chức phận thị giác, giúp
cơ thể tăng trưởng và tăng cường khả năng miễn dịch [7] Nhu cầu vitamin A khuyến nghị cho bà mẹ sau sinh là 850 mcg/ngày [5] Nguồn vitamin A trong thức ăn có nguồn gốc động vật bao gồm gan động vật, thịt, trứng… và thức ăn
có nguồn gốc thực vật bao gồm quả đỏ, rau xanh thẫm, dầu cọ và các loại dầu
ăn khác [17]
Cơ thể không tự tổng hợp được vitamin A mà phải lấy từ thức ăn Vì vậy, nguyên nhân chính gây thiếu vitamin A là do chế độ ăn nghèo vitamin A và caroten (caroten là chất đi vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành vitamin A) Nếu bữa ăn đủ vitamin A nhưng lại thiếu đạm và dầu mỡ cũng làm giảm khả năng hấp thu và chuyển hóa vitamin A Ở trẻ đang bú mẹ thì nguồn vitamin A
là sữa mẹ, trong thời kì này nếu chế độ ăn của mẹ thiếu vitamin A thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến con Vì vậy, Viện Dinh Dưỡng đưa ra giải pháp bổ sung uống một liều vitamin A (200.000 đơn vị) cho các bà mẹ trong vòng 1 tháng đầu sau sinh [15]
- Vitamin D giúp cơ thể sử dụng tốt calci và phospho để hình thành và duy trì
hệ xương, răng vững chắc [7] Nhu cầu vitamin D được khuyến nghị cho bà
mẹ sau sinh là: 5 mcg/ngày [5] Nguồn cung cấp trong tự nhiên có rất ít thực
Trang 17phẩm có lượng đáng kể vitamin D Các thực phẩm có vitamin D gồm một số dầu gan cá, nhất là ở các loại cá béo, trứng gà được nuôi có bổ sung vitamin
D, dầu tăng cường vitamin D hoặc các thức ăn bổ sung khác như bột ngũ cốc, bột mỳ, các sữa được tách béo… [17]
- Vitamin E: là một trong những chất chống oxy hóa chủ yếu bảo vệ cơ thể (theo Viện Y học Hoa Kỳ và Hội đồng dinh dưỡng và thực phẩm Hoa Kỳ IOM-FNB (2000) [26] Theo FAO/WHO (2002) và Philippines (2002), nhu cầu của bà mẹ sau sinh tính bằng công thức của IOM-FNB (2000) là 18 mg/ngày [24] Nguồn thực phẩm: nguồn vitamin E chủ yếu là các loại dầu ăn thực vật Nguồn vitamin E khác khá cao là các hạt ngũ cốc toàn phần và lạc Các loại hoa quả, rau, thịt, nhất là thịt mỡ có ít vitamin E hơn [17]
- Vitamin K: Lượng vitamin K rất thấp trong sữa mẹ, bú ít là các yếu tố gây thiếu vitamin K ở trẻ sơ sinh Chứng xuất huyết vào ngày đầu tiên sau sinh do thiếu vitamin K trong sữa mẹ mà có thể dẫn đến bệnh tật và tử vong sơ sinh
đã được thế giới ghi nhận [9] Việt Nam áp dụng mức nhu cầu vitamin K đối với bà mẹ sau sinh là 51 mg/ngày [15] Nguồn thực phẩm chứa vitamin K có trong thực vật bao gồm chủ yếu là từ các loại rau có màu xanh sẫm, tiếp đến
là một vài loại dầu ăn như dầu đậu tương, dầu hướng dương và động vật bao gồm: gan động vật, thịt, sữa [17]
* Nhóm vitamin tan trong nước: gồm các vitamin C, PP, và nhóm B
- Vitamin B1: giúp tăng khả năng hấp thu và chuyển hóa chất dinh dưỡng Vitamin B1 qua sữa mẹ, và sự bổ sung vitamin B1 thời kì sau sinh làm tăng chất lượng sữa mẹ Hàm lượng vitamin B1 trong sữa mẹ ở những bà mẹ không bổ sung vitamin B1 được xem là không đủ [9] Theo (IOM, 1997) và FAO/WHO (2002) được chấp nhận cho các nước khu vực và Việt Nam nhu
Trang 18cầu vitamin B1 đối với bà mẹ sau sinh là 1,5 mg/ngày [27] Vitamin B1 có nhiều trong cám gạo (lớp màng ngoài của hạt gạo) [17]
- Vitamin B2: rất cần thiết cho sự phát triển và sinh sản Có chức năng là một phần trong nhóm enzym phân giải và sử dụng các chất protid, lipid, glucid Vitamin B2 rất cần thiết cho quá trình hô hấp tế bào vì hoạt động cùng enzym trong việc sử dụng oxy Vitamin B2 cũng rất cần thiết cho mắt, da, móng tay
và tóc [9] Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu vitamin B2 đối với bà mẹ sau sinh
là 1,6 mg/ngày [5] Nguồn cung cấp vitamin B2 có trong thực phẩm tốt nhất là phủ tạng, sữa, rau xanh, pho mát, và trứng Các thực phẩm khác gồm bánh mì
có tăng cường vitamin B2, thịt nạc, ngũ cốc thô [17]
- Vitamin B3: cần thiết cho quá trình tổng hợp protein, chất béo và đường 5 carbon, là những coenzym cần thiết cho quá trình chuyển hóa năng lượng, nâng cao hiệu quả lưu thông và giảm nồng độ cholesterol trong máu, là chất quan trọng sống còn cho hoạt động hợp lí của hệ thần kinh, hình thành và duy trì làn da, lưỡi và hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh Vitamin B3 cũng rất cần thiết cho quá trình tổng hợp hormon sinh dục [9] Viện Dinh Dưỡng đã khuyến cáo đối với bà mẹ sau sinh nhu cầu vitamin B3 là 17 mg NE/ngày [5] Nguồn cung cấp vitamin B3 rất phổ biến trong thực phẩm, trong đó các sản phẩm men là nhiều nhất Thịt, cá cũng giàu vitamin B3 Thực phẩm giàu vitamin B2 như gan, ngũ cốc thô, các loại hạt và đậu cũng là nguồn thực phẩm tốt cung cấp vitamin B3 Sữa, rau xanh và cá cũng có một lượng đáng kể Hiện nay, rất nhiều loại ngũ cốc và bánh mì đã được tăng cường vitamin B3 [17]
- Vitamin B6: tham gia vào quá trình chuyển hóa protein, hỗ trợ tạo máu [7] Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu vitamin B3 đối với bà mẹ sau sinh là 2 mg/ngày [5] Vitamin B6 có trong ngũ cốc, rau quả với hàm lượng 0,1 - 0,3 mg/100g; Tuy nhiên do thực phẩm nguồn gốc thực vật có nhiều dẫn chất
Trang 19glucosid nên giá trị sinh học của vitamin B6 thấp Thực phẩm nguồn động vật
có từ 0,5 - 0,9mg B6/100g [9]
- Vitamin B9: hòa tan trong nước, có chức năng trong phản ứng di chuyển một carbon và tồn tại trong nhiều cấu trúc hóa học [7] Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu vitamin B9 đối với bà mẹ sau sinh là 500 mcg/ngày [5] Nguồn thực phẩm: có nhiều trong phủ tạng động vật, lớp ngoài của các hạt gạo, ngô, mì, đậu, lạc… [17]
- Vitamin B12: giúp tạo hồng cầu, giữ cho các tổ chức của hệ tiêu hóa và hệ thần kinh được tốt [7] Áp dụng nhu cầu khuyến nghị của IOM-FNB (1998)
và FAO/WHO (2002) đối với bà mẹ sau sinh là 2,8 mcg/ngày [30] Nguồn thực phẩm: vitamin B12 phần lớn là sản phẩm do vi sinh vật tổng hợp Ở người B12 được vi sinh vật tổng hợp trong đường ruột nhưng chỉ được hấp thu rất ít còn đa số bị đào thải qua phân Vitamin B12 có nhiều trong các thực phẩm nguồn động vật [17]
- Vitamin C: là chất chống oxy hóa để bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây oxy hóa có hại, giúp hấp thu và sử dụng sắt; calci và acid folic, làm tăng cường chức năng miễn dịch [7] Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu đối với bà
mẹ sau sinh là 95 mg/ngày [5] Hoa quả tươi và rau xanh rất giàu vitamin C là những thực phẩm rất sẵn có tại Việt nam và các nước Đông Nam Á [17]
1.3.2.2 Chất khoáng
Các chất khoáng có vai trò rất quan trọng cho việc vận chuyển và quá trình khoáng hoá, tích hợp các chất khoáng hình thành hệ xương và răng vững chắc, đảm bảo chức phận thần kinh và sự đông máu bình thường, duy trì các chức phận của cơ thể Dựa trên khuyến nghị của FAO/WHO (2002), có tham khảo NCDDKN (SEA-RDAs, 2005) [32]
Trang 20- Calci giúp cơ thể hình thành hệ xương, răng vững chắc, đảm bảo chức phận thần kinh và sự đông máu bình thường Đồng thời, tất cả các quá trình chuyển hoá trong cơ thể đều cần calci, vì vậy nồng độ calci trong cơ thể được duy trì không thay đổi [7] Hiện nay, chúng ta áp dụng nhu cầu khuyến nghị về calci cho bà mẹ sau sinh là 1.000 mg/ngày [5] Ở các nước phương tây, nguồn thực phẩm cung cấp calci hầu hết là các sản phẩm chế biến từ sữa, trong khi ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á nguồn cung cấp calci quan trọng là các sản phẩm từ đậu, ngũ cốc, rau xanh, nhất là cá và hải sản [17]
- Phospho: là chất khoáng có nhiều thứ hai trong cơ thể, phospho vừa có vai trò hình thành và duy trì hệ xương và răng vững chắc và duy trì các chức phận của cơ thể [7] Viện Dinh Dưỡng – Bộ Y tế đã đưa ra nhu cầu phospho cho bà
mẹ sau sinh là 700 mg/ngày [5] Nguồn thực phẩm động vật và thực vật chứa phospho đều rất có sẵn ở mọi nơi Phospho trong thức ăn nguồn động vật có giá trị sinh học cao hơn phospho trong thức ăn thực vật [17]
- Sắt: cùng với protein tạo thành huyết sắc tố (hemoglobin), là yếu tố vận chuyển O2 và CO2, phòng bệnh thiếu máu và tham gia vào thành phần các men oxy hóa khử [7]
Giới hạn tiêu thụ sắt: Bình thường, có mức giới hạn tiêu thụ tối đa là 45 mg/ngày (IOM, 2001) [28] Đối với bà mẹ sau sinh nhu cầu bình thường tăng khoảng 24 – 28 mg/ngày [14]
Nguồn thực phẩm: Thành phần sắt chứa trong các thực phẩm ở 2 dạng: dạng sắt heme hoặc không heme Dạng sắt heme có trong thức ăn nguồn gốc động vật, trừ trứng và sữa Sắt heme có thể dễ dàng được hấp thu ở ruột, trong khi hấp thu sắt không hem phụ thuộc vào sự có mặt của một số chất làm tăng cường hay cản trở hấp thu sắt Vitamin C, protid động vật và các acid hữu cơ trong hoa quả và rau có tác dụng làm tăng khả năng hấp thu chất sắt không
Trang 21heme Các chất ức chế hấp thu sắt thường có trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật, như phytat ở trong gạo và các loại ngũ cốc Chất ức chế khác là tanin trong một số loại rau, trà và cà phê Vì vậy, hàm lượng sắt của thực phẩm không nhất thiết phản ánh sự đầy đủ sắt trong chế độ ăn, nhu cầu sắt phụ thuộc vào lượng sắt có thể hấp thu được trong khẩu phần [9], [17]
Lượng sắt thực tế hiện nay trong bữa ăn của bà mẹ chỉ đạt khoảng 30 – 50% nhu cầu Do vậy, Viện Dinh Dưỡng đưa ra giải pháp bổ sung ngay từ khi có thai cần kết hợp ăn uống tốt với uống viên sắt đều đặn, mỗi ngày một viên (60mg sắt) cho tới sau khi sinh 1 tháng [15]
- Iod: Lượng tiêu hao nhiệt năng của người mẹ đang cho con bú rất lớn, lượng hấp thụ Iod cũng theo đó tăng lên Hàm lượng iod trong sữa mẹ cao hơn nồng
độ trong huyết tương, iod trong cơ thể mẹ sẽ tiết ra trong sữa mẹ [7] Theo Viện Dinh Dưỡng nhu cầu iod cho bà mẹ sau sinh là 200 mcg/ngày [5] Nguồn cung cấp iod trong thực phẩm như muối Iod, nước chấm và bột gia vị mặn như: nước mắm, nước tương, bột canh…; cá biển, rong biển… [17]
- Kẽm: Kẽm giúp cơ thể chuyển hóa năng lượng và hình thành các tổ chức, giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển tốt Nhu cầu kẽm: áp dụng khuyến nghị của SEA-RDAs (2005) [32]
Với mức hấp thu kém
Trang 22Nguồn thực phẩm bổ sung Kẽm: có nhiều trong các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật: thịt gia súc, gia cầm, cá, tôm, cua… Thực phẩm có nguồn gốc thực vật thường chứa ít kẽm trừ phần mầm của các loại hạt [17]
1.3.2.3 Chất xơ
Tuy hầu hết các chất xơ không có giá trị dinh dưỡng, nhưng lại có rất nhiều tác dụng đối với cơ thể Chất xơ có tác dụng nhuận tràng, kích thích khả năng hoạt động của ruột già, tăng khả năng tiêu hóa, đồng thời cũng là tác nhân tham gia thải loại các sản phẩm oxi hóa, các chất độc hại trong thực phẩm ra khỏi cơ thể; hấp thụ một số chất có hại cho sức khoẻ Ngoài ra, chất
xơ còn có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu, giảm các bệnh tim mạch, điều hòa glucose huyết và làm giảm đậm độ năng lượng trong khẩu phần ăn [9] Nguồn thực phẩm giàu chất xơ có trong rau, hoa quả, ngũ cốc (nhất là các hạt toàn phần) và khoai củ Các loại thực phẩm đã tinh chế như bột mì, bột gạo… lượng chất xơ bị giảm đáng kể, nên chỉ còn rất ít [17]
Theo IOM (2002) và SEA-RDAs (2005), nhu cầu chất xơ đối với bà mẹ sau sinh là 22 – 25 g/ngày [29], [32] Theo bảng thực đơn ăn uống theo NCDD của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, bà mẹ sau sinh nên ăn từ 500 – 650 g/ngày các loại hoa quả và rau xanh để đảm bảo cung cấp đủ chất xơ, vitamin
và chất khoáng cho cơ thể [8]
1.3.2.4 Nước
Nước chiếm 50% trọng lượng cơ thể người nữ trưởng thành Muốn bảo đảm tiêu hóa, hấp thu và sử dụng tốt lương thực và thực phẩm thì cơ thể cần phải có nước dưới dạng đồ uống hoặc ăn vào cùng với các loại thức ăn Ngoài việc cung cấp nước cho các nhu cầu của cơ thể, bà mẹ sau sinh cần phải đảm bảo đủ lượng nước cho cả sự tiết sữa [9] Theo Whitnmire SJ (2000), nhu cầu nước đối với bà mẹ thời kì sau sinh là 2000 – 3000 ml/ngày [33]
Trang 231.4 Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh trên thế giới
Khác với dinh dưỡng của PNMT xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 ở Châu Âu cũng như ở Bắc Mỹ và đến nay đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh gần đây mới được quan tâm đúng mức Nhìn chung số liệu về dinh dưỡng của phụ nữ sau sinh là tương đối hiếm và rất khác nhau giữa các vùng trên thế giới [21]
Một nghiên cứu của Ongosi và các đồng nghiệp năm 2010 ở một vùng kinh tế - xã hội thấp tại Nairobi trên tổng số 120 phụ nữ sau sinh tham gia cho thấy 92% có mức năng lượng trung bình 6.975,5 KJ/ngày, thấp hơn so với khuyến cáo của WHO là 11340 KJ/ngày Tần suất tiêu thụ cao nhất (100%) là
từ ngũ cốc, thấp nhất là vitamin A (6,6%) và các sản phẩm từ sữa (1,7%) Đa
số phụ nữ sau sinh (93%) có kiến thức dinh dưỡng tốt nhưng lí do cho việc áp dụng những kiến thức dinh dưỡng còn thiếu là: tình trạng kinh tế - xã hội, niềm tin và thực hành văn hóa, tình trạng sức khỏe đều là yếu tố được xác định ảnh hưởng đến chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu trên [22]
Kết quả nghiên cứu kiến thức dinh dưỡng của Risvan Javed và các đồng nghiệp năm 2014 ở Mangalore trên 60 phụ nữ sau sinh cho thấy 17% phụ nữ có kiến thức tốt, 49% phụ nữ có kiến thức trung bình, 34% phụ nữ có kiến thức kém Không có sự liên quan đáng kể giữa các độ tuổi, tôn giáo, tình trạng giáo dục, nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, thói quen ăn uống với kiến thức dinh dưỡng của phụ nữ sau sinh [31]
1.4.2 Thực trạng dinh dưỡng của bà mẹ thời kì sau sinh ở Việt Nam
Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng 2009 – 2010 cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (CED) ở bà mẹ có con dưới 5 tuổi đã giảm hẳn
Trang 24so với 10 năm trước Tỷ lệ này giảm từ 26,7% vào năm 2000 xuống còn 20,6% vào năm 2010 [18]
Tỷ lệ bà mẹ trẻ dưới 30 tuổi có tỷ lệ CED cao hơn hẳn so với nhóm tuổi
30 – 49 Cũng theo Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009 – 2010: tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 36,5% Chỉ có dưới 1/5 số bà mẹ có trẻ dưới
5 tuổi được uống viên sắt trong 6 tháng qua [18]
Việc bổ sung vitamin A đối với bà mẹ sau sinh lại chưa hiệu quả Tại buổi họp báo công bố ngày vi chất dinh dưỡng mới đây, PGS.TS Lê Thị Hợp Viện trưởng Viện Dinh dưỡng cho biết, các báo cáo từ địa phương đều cho biết tỷ lệ bà mẹ được uống vitamin A trong 1 tháng sau sinh luôn là 80% - 90%, nhưng thực tế trong đợt phỏng vấn trực tiếp bà mẹ gần nhất, con số này chỉ đạt 60% [10] Theo đó, tỉ lệ bà mẹ ở nông thôn thiếu vitamin A (đo bằng lượng vitamin A trong sữa mẹ) đang lên đến 30% - 50% Ở các thành phố như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ này có thấp hơn nhưng cũng ở mức 20%, chứng tỏ khẩu phần ăn của bà mẹ đang bị thiếu hụt vi chất Vì thế, việc bổ sung vitamin A trong vòng 1 tháng sau sinh rất quan trọng giúp tăng hàm lượng vitamin A trong sữa nhưng triển khai việc này lại chưa hiệu quả PGS.TS Lê Thị Hợp cho biết, với các bà mẹ sau sinh để uống được vitamin
A, hệ thống y tế ở các vùng nông thôn thực hiện hiệu quả hơn nhờ quản lí thai sản tốt và có hệ thống cộng tác viên dinh dưỡng Sau sinh bà mẹ có thể đến trạm y tế xã, phường để được uống vitamin A Còn ở các vùng thành thị, việc
bổ sung vitamin A cho các bà mẹ sau sinh chủ yếu thực hiện tại bệnh viện, nhưng hệ thống bệnh viện thực hiện việc này không hiệu quả Vì thế, để đảm bảo quyền lợi cũng như mang lại nguồn chất lượng sữa tốt nhất cho em bé, các bà mẹ sau sinh có thế đến phường, sở để đăng kí uống vitamin A 1 tháng sau sinh [10]
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 200 bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các bà mẹ tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Phụ nữ sau sảy thai, thai chết lưu
- Phụ nữ có các rối loạn tâm thần
- Phụ nữ không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
* Cỡ mẫu
Nghiên cứu được tiến hành với công thức tính cỡ mẫu:
Trang 26n = 𝑍1− 𝛼 22 ⁄ 𝑝(1−𝑝)
𝑑2Trong đó: n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có
Z = 1,96 (Hệ số tin cậy với độ tin cậy 95% và α = 0,05)
p = 13% (Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về dinh dưỡng sau sinh
theo Phạm Phương Lan nghiên cứu tại Hà Nội năm 2014 [11])
d = 0,05 (Khoảng sai lệch cho phép)
Thay vào công thức ta có:
n = (1,96)2 0,13.(1 − 0,13)
(0,05)2 = 174 Vậy cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 174, nhưng để tăng độ chính xác và
để phù hợp điều kiện thực tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với cỡ mẫu 200
* Chọn mẫu
Nghiên cứu trên 200 bà mẹ sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng trong thời gian nghiên cứu bằng cách chọn ngẫu nhiên
2.2.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
- Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ bằng bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn
- Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn Nội dung của bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 3 phần với 33 câu hỏi:
+ Phần 1: Thông tin chung
+ Phần 2: Kiến thức về dinh dưỡng của bà mẹ sau sinh
+ Phần 3: Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về dinh dưỡng của bà
mẹ sau sinh
Trang 272.2.4 Các biến số nghiên cứu
2.2.4.1 Thông tin chung về đối tượng: Bao gồm các chỉ số
- Địa bàn cư trú: Thành thị/nông thôn
- Nhóm tuổi: nhóm < 20 tuổi; 20 – 29 tuổi; 30 – 39 tuổi; ≥ 40 tuổi
- Trình độ văn hóa: Tiểu học (Lớp 1 – 5); THCS (Lớp 6 – 9); THPT ( Lớp 10 – 12); Trung cấp và cao đẳng trở lên
- Nghề nghiệp: Cán bộ công chức; học sinh, sinh viên; công nhân, nông dân; nội trợ, buôn bán nhỏ
- Tình trạng kinh tế (Thu nhập trung bình gia đình/tháng): Thấp (< 3 triệu); Trung bình (3 – 10 triệu); Cao (> 10 triệu)
2.2.4.2 Thông tin về lần sinh này
- Số con: Tỷ lệ bà mẹ có 1 con, ≥ 2 con
- Tăng cân thai kì: Tỷ lệ bà mẹ tăng < 9 kg, 9 – 12 kg, > 12 kg
- Hình thức sinh lần này: Tỷ lệ đẻ thường, mổ lấy thai, các can thiệp khác
- Cân nặng sơ sinh của trẻ sinh lần này: < 2.500 gram, 2.500 – 3.500 gram và
> 3.500 gram
2.2.4.3 Thông tin kiến thức về dinh dưỡng của các bà mẹ sau sinh
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung về dinh dưỡng (đạt/chưa đạt) Bao gồm:
- Chế độ dinh dưỡng khuyến nghị
- Vi chất và bổ sung vi chất
- Bổ sung nước hằng ngày
- Các nguồn thực phẩm chính
Trang 28- Tăng cân thai kỳ của các bà mẹ
- Hình thức sinh con lần này
- Cân nặng sơ sinh của trẻ
2.2.5 Quản lí và phân tích dữ liệu
Các phiếu phỏng vấn được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 19.0
2.2.7 Chỉ tiêu đánh giá
Đối chiếu và so sánh với các nội dung dinh dưỡng sau sinh của những nghiên cứu trước, nhà nghiên cứu đã xây dựng một thang điểm đánh giá về kiến thức của bà mẹ
Điểm tối đa = 22
Điểm đạt = điểm tối đa × 3/5 = 13,2
Như vậy nếu tổng điểm ≥ 14 điểm được coi là có kiến thức đạt về dinh dưỡng Mỗi nội dung trả lời đúng 1 điểm, trả lời sai hoặc không biết không có điểm Nội dung trả lời đúng như sau:
Trang 29Kiến thức về chế độ dinh dưỡng khuyến nghị: Câu 13.1 – b; 13.2 – Đ
Kiến thức về các vi chất: Câu 14 – Đ; 15 – Đ; 16 – Đ; 17 – Đ; 18 – Đ; 19 – Đ;
20 – Đ
Kiến thức về bổ sung các vi chất: 21 – a; 22 – a; 23 – a; 24 – a; 25 – a
Kiến thức về lượng nước bổ sung hằng ngày: Câu 26 – b
Kiến thức về nguồn cung cấp các thực phẩm chính: Câu 27 – c; 28 – c; 29 – c Kiến thức về chế độ ăn theo từng nhóm thực phẩm: Câu 30 – b; 31 – b; 32 – b; 33 – b
2.2.7 Sai số và phương pháp khắc phục
Sai số có thể xảy ra trong quá trình thu thập thông tin, nhập và xử lý số liệu Có thể khắc phục bằng cách:
- Giải thích kỹ các câu hỏi cho các bà mẹ trước khi trả lời
- Tiến hành điều tra thử với 30 phiếu để hoàn thiện công cụ thu thập, rồi sau đó mới tiến hành điều tra trên toàn bộ mẫu đã chọn
- Làm sạch số liệu trước khi nhập và phân tích kết quả
2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng thuận của trường Đại học Y Dược Hải Phòng và Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
Các đối tượng nghiên cứu đều được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và nội dung nghiên cứu, họ có quyền từ chối/ngừng tham gia nghiên cứu Việc từ chối/ngừng không ảnh hưởng đến việc điều trị tại khoa Các số liệu và kết quả nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu đã được đề ra, không sử dụng nhằm mục đích nào khác
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 3.1 Một số đặc điểm chung của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng năm 2016 trong thời gian nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố địa bàn cư trú của các bà mẹ nghiên cứu
Địa bàn cư trú Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy các bà mẹ sống ở khu vực
thành thị là 56% và các bà mẹ sống ở khu vực nông thôn là 44%
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi của các bà mẹ nghiên cứu
Nhận xét: Đối tượng tham gia nghiên cứu là các bà mẹ hầu hết nằm trong nhóm tuổi 20 – 29 (68,5%)
Trang 31Bảng 3.2 Đặc điểm trình độ học vấn của các bà mẹ nghiên cứu
Trình độ học vấn Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Trình độ học vấn của các bà mẹ ở nhóm THPT chiếm tỷ lệ cao
nhất (46,5%) và sau đó là trung cấp, cao đẳng trở lên (40%) Tuy nhiên vẫn còn 12% số bà mẹ tham gia nghiên cứu có trình độ THCS và 1,5% bà mẹ có