1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học hóa học

16 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức, xác định được kiến thức cơ bản từ đó đạt hiệu quả cao trong

Trang 1

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học hóa học

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy và học môn hóa học lớp 10 ở trường THPT Mạc Đĩnh Chi

3.Tác giả:

Họ và tên: Đoàn Thị Hương

Ngày/tháng/năm sinh: 06/03/1982

Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên giảng dạy hóa học trường THPT Mạc Đĩnh Chi

Điện thoại: DĐ:0979522579 Cố định: không có

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: THPT Mạc Đĩnh Chi

Địa chỉ:

Điện thoại:

I Mô tả giải pháp đã biết: (Mô tả giải pháp đã biết; ưu điểm, hạn chế của giải pháp đã, đang áp

dụng tại cơ quan đơn vị).

Trong thời đại hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ Tri thức thay đổi và

bị lạc hậu nhanh chóng cho nên chương trình dạy học theo định hướng nội dung cứng nhắc không còn phù hợp với thời đại giáo dục Do đó việc rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng cho việc chuẩn bị cho con người có khả năng học tập mọi lúc mọi nơi và học tập suốt đời

Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) bàn về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Để làm được điều đó phải đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy

Do đó người giáo viên không chỉ có nhiệm vụ cung cấp, truyền đạt tri thức mà quan trọng hơn là trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu và tự nắm bắt tri thức hay nói cách khác

là định hướng cho học sinh con đường chiếm lĩnh tri thức mới Giúp các em nhận thấy được “Học”

là một quá trình kiến tạo, xây dựng, phát hiện, khai thác và xử lí thông tin … để từ đó tự hình thành năng lực và phẩm chất

Hóa học là một môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm với nhiều kiến thức trừu tượng và được ứng dụng rộng rãi trong đời sống Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh không tốn nhiều thời gian ghi chép mà vẫn nắm được những kiến thức trọng tâm để thuận lợi trong

ôn luyện

Trong các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy

sẽ giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức, xác định được kiến thức cơ bản từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập Mặt khác sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy còn giúp học sinh rèn luyện, phát triển

tư duy logic, khả năng tự học, phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh không chỉ trong học tập môn Hóa học mà còn trong các môn học khác và các vấn đề khác trong cuộc sống

Trang 2

Vì thế, tôi chọn đề tài làm sáng kiến “Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học môn Hóa học 10” Với mục đích giúp học sinh tiết kiệm thời gian ghi chép, phát triển tư duy não bộ, hoạt động tích cực, chủ động và dễ dàng tiếp thu kiến thức, khơi dậy nguồn cảm hứng học tập đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn

II Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến

II.0 Nội dung giải pháp mà tác giả đề xuất

1 Cơ sở lý luận của vấn đề:

Phương pháp học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) được phát triển vào cuối thập niên 60

(của thế kỉ 20) bởi Anthony "Tony" Peter Buzan (sinh năm 1942) như là một cách để giúp học

sinh "ghi lại bài giảng" mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn

1.1 Bản đồ tư duy là gì? (hay còn gọi là sơ đồ tư duy)

BĐTD duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết…Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch

tư duy của mỗi người

Trang 3

BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học tập

cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực

tế cho thấy một số HS học rất chăm chỉ nhưng hiệu quả chưa cao, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng

tâm vào trí nhớ của mình Do đó, sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.

BĐTD- giúp HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ

não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

BĐTD- giúp HS nhìn thấy “bức tranh tổng thể” của bài học

Ý chủ đạo nằm ở vị trí trung tâm thuận lợi trong việc liên kết với những ý phân cấp khác giúp

dễ dàng triển khai một hệ thống hài hòa, đồng thời nó giữ vai trò định hướng chủ đạo, là công cụ hiệu quả để tạo hình dáng, cấu trúc giúp tư duy hoạt động theo cơ chế tự nhiên, những nhánh rẽ xung quanh, lại được phân thành các nhánh nhỏ nhằm thể hiện chủ đề được nghiên cứu sâu hơn

BĐTD- hổ trợ trí nhớ: Với sơ đồ tư duy, những phương pháp ghi nhớ được phát huy

hết tác dụng, cụ thể hơn sơ đồ tư duy có tác dụng xâu chuỗi các kiến thức lại với nhau, các hình ảnh, kí hiệu trên đó được người thiết kế lựa chọn vô cùng sinh động và đẹp mắt nhưng cũng mô tả được mục đích đề ra Do đó, việc ghi nhớ kiến thức trở nên dễ dàng hơn

Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình

1.2 Các bước cơ bản khi vẽ BĐTD:

- Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, hay có thể với một từ khóa được viết in hoa, viết đậm

- Bước 2: Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái

niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh

Trang 4

- Bước 3: Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

- Bước 4: Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

1.3 Cách ghi chép trên BĐTD: HS cần phải:

- Nghĩ trước khi viết

- Viết ngắn gọn

- Viết có tổ chức

- Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý (nếu sau này cần)

* Điều cần tránh khi ghi chép trên BĐTD:

- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng

- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết

- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép

(Trích: BĐTD - công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường)

Trang 5

1.4 Ưu điểm của việc sử dụng BĐTD đối với bộ môn Hóa học:

- Dễ nhìn, dễ nắm được trọng tâm của vấn đề Nhìn thấy bức tranh tổng thể mà lại chi

tiết

- Đỡ tốn thời gian ghi chép hơn so với kiểu ghi chép cũ

- Kích thích hứng thú học tập của học sinh

- Thuận lợi khi kiểm tra bài cũ hoặc củng cố kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương giáo viên tiết kiệm thời gian soạn giáo án, học sinh hiểu và nhớ lâu vấn đề hơn

2 Thực trạng của vấn đề:

Hóa học nói chung, Hóa học 10 nói riêng là môn học đòi hỏi nhiều tư duy để suy luận, kiến thức môn học đa dạng phong phú, nhiều quá trình và cơ chế nhưng lại mang tính thực tiễn cao, nên khó khăn khá lớn của học sinh là chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật” trong bài học, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức

có liên quan với nhau Mặt khác, học sinh lớp 10 như là giai đoạn chuyển giao giữa cấp THCS với THPT nên các em còn khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp học đúng đắn phù hợp Do đó người giáo viên cần phải lựa chọn phương pháp dạy học hợp lí nhằm khơi dậy nguồn cảm hứng học tập cho học sinh

3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

Với thực tế đó, tôi mạnh dạn vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ vận dụng BĐTD cho một số bài thuộc chương trình Hóa học 10 đặc biệt là phần củng cố cuối bài và ôn tập chương, tôi nhận thấy bản đồ tư duy không những giúp học sinh rút ngắn thời gian ghi chép, tăng thời gian thảo luận mà còn phát triển tư duy não bộ, chủ động tiếp thu kiến thức, khơi dậy nguồn cảm hứng học tập đồng thời nâng cao chất lượng bộ môn

3.1 Thiết kế một số BĐTD theo bài

Trang 6

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên nhất thiết phải chuẩn bị giáo án và đồ dùng dạy học thật kỹ Xong ở đề tài này tôi chỉ đề cập tới việc thiết kế một số BĐTD và giải pháp thực hiện các BĐTD này trong quá trình giảng dạy chứ không trình bày như một giáo án cụ thê

Trang 9

3.2 Giải pháp cụ thể đối với từng BĐTD:

Dạy học bằng BĐTD quan trọng là phải sử dụng BĐTD như thế nào để phát huy được hết giá trị Trước hết cần tạo tình huống có vấn đề để thu hút sự tập trung chú ý và kích thích hứng thú học tập, tính tích cực hoạt động của học sinh, đặc biệt là phải sử dụng linh hoạt vấn đáp kết hợp với hoạt động nhóm để hoàn thành nội dung bài học bằng BĐTD Giáo viên cần định hướng để học sinh hoạt động nhóm sau đó lên bảng hoàn thành Có thể giáo viên cho học sinh về nhà thiết kế trước để cùng thảo luận trên lớp (thông thường sử dụng ở các bài ôn tập) Để nâng cao hiệu quả, giáo viên có thể đánh giá kết quả hoạt động bằng cách cho điểm, cách làm này vừa khuyến khích HS đồng thời ren đe những HS làm qua loa, lười tư duy.

Đối với bản đồ tư duy dạng điền khuyết: Sau khi dạy xong bài học, giáo viên củng cố bài học bằng cách cho học sinh nhắc lại các kiến thức trọng tâm của bài từ

đó vẽ sơ bộ bản đồ tư duy theo hướng học sinh trả lời, sau đó cho học sinh tự rèn luyện vẽ bản đồ tư duy ở nhà Tiết học hôm sau, dùng bản đồ tư duy dạng điền khuyết để kiểm tra bài cũ bằng cách gọi học sinh lên bảng điền các nội dung còn thiếu vào bản đồ tư duy.

Trang 10

Đối với các bản đồ tư duy dạng đầy đủ dùng để củng cố kiến thức sau tiết học bằng phương pháp hỏi đáp từ đó hình thành nên bản đồ tư duy và yêu cầu học sinh về nhà vẽ lại bản đồ tư duy vào trong vở.

4 Hiệu quả của SKKN

Để đánh giá hiệu quả đề tài tôi tiến hành nghiên cứu trên 2 lớp 10C 6 và 10C 7 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi - Năm học 2015-2016

4.1 Khách thể nghiên cứu:

Học sinh 2 lớp 10C7 (lớp đối chứng) và 10C6 (lớp thực nghiệm) Trường THPT Mạc Đĩnh Chi - Năm học 2015-2016 Hai lớp được lựa chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương

đồng nhau về: Tỷ lệ giới tính, thái độ học tập và kết quả kiểm tra học kỳ đề chung của trường năm học 2015-2016, cụ thể như sau:

Bảng 4.1: Kết quả học sinh 2 lớp 10 C6 và 10 C7 (Trường THPT Mạc Đĩnh Chi)

4.2 Thiết kế nghiên cứu:

Chọn hai lớp: lớp 10 C6 là nhóm thực nghiệm và 10 C7 là nhóm đối chứng Tôi dùng điểm kiểm tra học kì 1 để lấy điểm trước tác động Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai nhóm

có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm

số trung bình của 2 nhóm trước khi tác động

Bảng 2 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương

Thực nghiệm(10C6) Đối chứng (10C7) Điểm trung bình

(Trước tác động)

Xác xuất xảy ra ngẫu

nhiên trước tác động (p)

0,94

Trang 11

p = 0,94 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương

Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương (được mô tả ở bảng 3):

Bảng 3 Thiết kế nghiên cứu

Thực

nghiệm

BĐTD

O3

pháp thông thường

O4

Hai thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập.

4.3 Quy trình nghiên cứu: Chuẩn bị của giáo viên:

- Nhóm đối chứng: thiết kế bài dạy theo phương pháp truyền thống

- Nhóm thực nghiệm: Thiết kế các bài dạy theo phương án mới đựợc đề ra Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm được tiến hành tuân theo thời khóa biểu, theo kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn và nhà trường.

4.4 Phân tích dữ liệu và kết quả:

- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra học kỳ một

- Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 45 phút giữa kỳ hai đề chung của toàn trường sau khi học xong các nội dung có áp dụng bản đồ tư duy.

- Hình thức kiểm tra là dạng trắc nghiệm khách quan 40%, tự luận 60%

Trang 12

Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, tôi tiến hành bài kiểm tra sau tác động Sau đó tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng và tổng hợp kết quả như sau:

Bảng 4 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động

Đối chứng Thực nghiệm

Kết quả kiểm tra đầu vào của 2 nhóm đối chứng và thực nghiệm tương đương nhau Sau tác động, kết quả điểm trung bình của nhóm thực nghiệm là 7.1 còn nhóm đối chứng là 6.1, vậy kết quả điểm trung bình của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng là 1 điểm, có thể kết luận tác động có kết quả, giả thuyết đặt ra là đúng

Như trên đã chứng minh rằng kết quả 2 nhóm trước tác động là tương đương Sau tác động kiểm chứng chênh lệch ĐTB bằng T-Test cho kết quả p = 0,00045, cho thấy: sự chênh lệch giữa ĐTB nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn

điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động

Mức độ ảnh hưởng (ES)=(Giá trị TB nhóm TN-Giá trị TB nhóm ĐC)/Độ lệch chuẩn nhóm thưc nghiệm=(7.1 – 6.1)/1,23=0.81 Điều đó cho thấy mức

độ ảnh hưởng của dạy học theo BĐTD đối với nhóm thực nghiệm là lớn.

Như vậy giả thuyết của đề tài có làm tăng kết quả học tập của HS lớp 10C6 Trường THPT Mạc Đĩnh Chi, tăng sự hứng thú và thái độ tích cực học tập của học sinh, giúp

HS yêu thích bộ mộn hơn và đã đạt được những kết quả tốt hơn trong học tập.

Trang 13

II.1 Tính mới, tính sáng tạo:

Đã trình bày cô đọng xúc tích phần tóm tắt

II.2 Khả năng áp dụng, nhân rộng:

Áp dụng cho rất nhiều lĩnh vực như ghi chép khi nghe giảng bài, viết báo cáo, chuẩn

bị cho buổi giảng bài, ôn tập để thi cử …

II.3 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp

a Hiệu quả kinh tế:

Phương pháp này đơn giản, ít tốn kém, tiện lợi, dễ thực hiện nhưng lại mang lại lợi ích rất cao áp dụng được cho mọi cơ sở vật chất từ những nơi đơn giản, cơ bản đến những vùng công nghệ hiện đại

b Hiệu quả về mặt xã hội:

Đề tài này được nghiên cứu và áp dụng từ nhiều năm nay khi có chính sách đổi mới giáo dục cho tất cả các đối tượng học sinh và áp dụng cho tất cả các môn ở trường THPT Mạc Đĩnh Chi đã góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh biết cách ghi chép đơn giản ngắn gọn, tránh tình trạng “ đọc chép”, biết cách tư duy, nắm được trọng tâm kiến thức Với những giá trị của việc sử dụng BĐTD như đã trình bày ở trên, đã góp phần thay đổi cả phương pháp giảng dạy “lấy học sinh làm trung tâm”, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục một cách toàn diện hiện nay theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, giúp HS tự định hướng để hình thành kiến thức mới và tăng tính hứng thú với môn học.

c Giá trị làm lợi khác:

Khi luôn được học tập bằng sơ đồ tư duy sẽ tạo cho người học có thói quen tốt áp dụng vào trong cuộc sống sau nay.Đứng trước một công việc được giao sẽ lên ý tưởng đầu tiên, thu thập sắp xếp các ý tưởng sẽ khoa học, logic và trình bày cũng rất mạch lạc, rõ ràng và sẽ dễ thành công hơn trong cuộc sống.

Ngày đăng: 13/06/2016, 21:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Kết quả học sinh 2 lớp 10 C 6  và 10 C 7  (Trường THPT Mạc Đĩnh Chi) - Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học hóa học
Bảng 4.1 Kết quả học sinh 2 lớp 10 C 6 và 10 C 7 (Trường THPT Mạc Đĩnh Chi) (Trang 10)
Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu - Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học hóa học
Bảng 3. Thiết kế nghiên cứu (Trang 11)
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động - Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học hóa học
Bảng 4. So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động (Trang 12)
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG - Vận dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy và học hóa học
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w