1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)

104 834 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 23,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề sử dụng đấtVấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRUỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO,

HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH (1986-2012)

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRUỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO,

HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH (1986-2012)

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NGÀNH: LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Loan

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Công tác nghiên cứu khoa học là một việc làm có ý nghĩa thiết thực đối vớisinh viên của trường đại học Để có thể hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoahọc nàycủa mình em đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều thầy cô và bạn bè

Em xin chân thành cảm ơn TSiến sĩ Nguyễn Thị Quế Loan, người đã tậntình hướng dẫn, chỉ dạy em trong suốt quá trình nghiên cứu

Em xin trân trọng cảm ơn Uỷ ban nhân dân xã Trực Đạo, phòng Ttàinguyên, môi trường huyện Trực Ninh, các cá nhân trên địa bàn xã Trực Đạo đãcung cấp cho em những tư liệu quý báu để em có thể thực hiện đề tài này

Em xin cảm ơn các thầy, cô giáo trongphòng nghiên cứu khoa học, khoaLịch Sử, các bạn bè cùng lớp sử Bb K45 đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong thờigian thực hiện đề tài.cho em được tham gia vào quá trình nghiên cứu khoa học

Vì đây là lần đầu làm quen với công tác em thực hiện một đề tài nghiêncứu khoa học, nênchính vì thế sẽ không tránh khỏi những bỡ ngỡ, thiếu sót VìvậyChính vì thế em mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô để đề tàicủa em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Vũ Thị Kim Thoa

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRUỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO,

HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH (1986-2012)

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NGÀNH: LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Loan

Thái Nguyên, năm 2013

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Mục lục

ii……….i

MỞ ĐẦU

Chương 1:

KHÁI QUÁT VỀ XÃ TRỰC ĐẠO, HUYỆN TRỰC NINH,

TỈNH NAM ĐỊNH

1.1 Vị trí điạ lí và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí:

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.2 Đặc điểm xã hội:

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:

ChươngHƯƠNG 2:

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO, HUYỆN TRỰC NINH,

TỈNH NAM ĐỊNH (1986- 2012)

2.1 Vài nét vềCác chính sách đất đai ở Việt Nam thời kì Đđổi mới:

2.2 Những chính sách mới về đất đai trong thời kì đổi mới đã gắn bó nhân dân với đất đai và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Hòa chung vào không khí phấn khởi của những chính sách đất đai mới, Đảng bộ và nhân dân xã Trực Đạo cũng đưa những chính sách mới vào góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn Việt Nam mới

Xxã Trực Đạo trong việc thực hiện chỉ thị 100CT-TWluật đất đai Phấn khởi đón nhận những thay đổi tích cực trong công tác giao đất, giao

việc tới tận tay từng hộ gia đình của ban bí thư trung ương Đảng, Đại hội

Đảng bộ xã Trực Đạo lần thứ 13(12/1980) đã gắn nội dung, nhiệm vụ công

tác khoán mới theo chỉ thị 100, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cho sản xuất

nông nghiệp giai đoạn 1981-1985 tháng 2 năm 1981, huyện Trực Ninh đã

Trang 5

mở hội nghị sơ kết làm điểm tổ chức khoán mới theo chỉ thị 100 Đảng bộ

và nhân dân xã Trực Đạo thấy đã có đủ điều kiện đi vào công cuộc thực hiện khoán mới từ giữa vụ chiêm năm 1981 theo nội dung hướng dẫn của thông tri số 10 Bộ nông nghiệp Đảng bộ xã đã chỉ đạo hợp tác xã nông

nghiệp xây dựng nội dung cụ thể để đi vào công tác khoán, phân chia lại ruộng đất, bình xét lại loại ruộng để căn cứ khoán sản lượng Đảng bộ đã thảo luận đề ra phương hướng nhiệm vụ và các xã viên phối hợp cùng các cơ sở thôn đội bàn bạc cụ thể theo hướng công khai dân chủ

để định mức khoán và giao nhận ruộng khoán Đội sản xuất có 2 hình thức khoán đó là khoán sảm phẩm đến người lao động và nhóm người lao động Đây là hình thức trả công và quản lí sản xuất gắn xới trách nhiệm và quyền lợi của người lao động với sản phẩm cuối cùng một cách trực tiếp Hình thức thứ 2 đó là đội sản xuất khoán việc cho nhóm lao động hay người lao động Hình thức này gắn trách nhiệm của xã viên với việc được giao một cách trực tiếp và gían tiếp liên quan tới sản phẩm cuối cùng Thực hiện

phương hướng đề ra vụ chiêm năm 1981 hợp tác xã Trực Đạo đã giao

khoán chi xã viên 2 khâu chăm sóc và thu hoạch Hợp tác xã đảm nhận 6 khâu: cấy, làm đất, phân bón, giống, thủy lợi, bảo vệ thực vật Bắt đầu từ

vụ mùa năm 1981 xã viên đã nhận khoán 3 khâu: cấy chăm sóc và thu

hoạch, hợp tác xã đảm nhiệm 5 khâu còn lại Ngoài công tấc khoán trong nông nghiệp, hợp tác xã cón thực hiện việc khoán chăn nuôi lợn tập thể, đàn trâu, nuôi vịt, sản xuất gạch ngói nghiệm thu bằng sản phẩm cuối cùng Kết quả của việc thực hiên công tác khoán theo chỉ thị 100 đó là năng suất lúa tăng ổn định từ năm 1981-1985 là 80 tạ/ha/năm Xã trực Đạo trở thành một trong những thành viên tiêu biểu của câu lạc bộ xã huyện từ 8 đến 10 tấn trong cả nước “trong đó hợp tác xã Trực Đông đạt 90.05 tạ, Trực

Trung đạt 90 tạ, Trực Đạo đạt 80.01 tạ”_Lịch sử đảng bộ huyện Trực

Ninh(trang 242-243) Việc thực hiện chỉ thị khoán 100 đã dem lại sự mới

mẻ và đột phá trong nông nghiệp, tạo niềm tin, sự phấn khỏi cho người lao

Trang 6

động, cải tiến và đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất nông

nghiệp việc sử dụng hợp lí phân bón, tận dụng đất đai, tiết kiệm chi phí sảnxuất đã đem lại lợi nhuận cao trong nông nghiệp và chấm dứt đựơc tình

trạng rong công, phóng điểm Việc khoán mới theo chỉ thị 100 là hình thức trả công lao động gắn với quyền lợi của người lao động với sản phảm cuối cùng một cách trực tiếp từ một hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả thu

nhập của hợp tác xã Trực Đạo đã tăng lên đáng kể, đại bộ phận xã viên

nhận khoán vượt từ 100-500 kg thóc/ vụ Đảng bộ và hợp tác xã đã phát động phong trào toàn dân và các đoàn thể quần chúng tham gia phong trào tiết kiệm, phát triến sản xuất Đoàn thanh niên và hội phụ nữ là những tổ chức đi đầu trong phong trào nhận ruộng tăng cao sản, nuôi lợn và gia cầm,nhận sản xuất lúa giống Năm 1981 phòng nông nghiệp huyện tổ chức hội nghị “đầu bờ” gồm các xã và các cơ quan trong huyện thăm quan hội thảo

về công tác phát triển và sản xuất lúa giống của xã Trực Đạo Hợp tác xã và

xã viên đã cung cấp và bán được 20 tấn lúa giống Hội thảo khoa học nông nghiệp toàn quốc tổ chức tại đại học Huế xã Trực Đạo đã được vinh dự cử đại diện đi báo cáo về đề tài khoa học thực hiện thâm canh lúa bằng phân bón vi lượng Việc đưa nghị quyết khoán 100 vào trong công tác xây dựng nông thôn và nền nông nghiệp mới xã Trực Đạo đã tạo ra bước chuyển căn bản trong bộ mặt kinh tế cũng như đời sống nhân trong xã tập thể có tích lũy, xã viên cóthu nhập lương thực dồi dào Nhân dân đã có điều kiện sắm sửa mua sắm tiện nghi ttrong gia đình và chăm lo việc học hành cho con cái Công tác quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm đúng mức, xã

đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng bao gồm các công trình như: trường học, trạm xá, cấu cống, lắp đặt hệ thống loa truyền thanh và mua máy biến thế điện Công tác quốc phòng an ninh dược giữ vững, những hiện tượng gây rối

trộm cắp mê tín dị đoan được kịp thời ngăn chặn, an ninh xã họi và trật tự

an toàn giao thông được đảm bảo

Trang 7

Chỉ thị 100 đã tạo ra một bước ngoặt trong công tác xây dựng nông

nghiệp, nông thôn mới Tuy nhiên việc vận dụng những đường lối Đổi mới của Đảng trong đại hội lần VI vẫn chưa được cụ thể hóa bằng những chủ

chương chính sách có lợi chi nhân dân Về cơ bản nông nghiệp Việt Nam

vẫn lạc hậu và được quản lí theo hướng tập trung, quan liêu, bao cấp Nhà

nước vẫn quản lí việc mua bán lương thực, thực phẩm và vật tư nông

nghiệp mặc dù giao ruộng đất cho nông dân nhưng lại không để họ tự do

canh tác không để họ tự do phát triển sản xuất vì thế người nông dân thấy

mình càng làm ra nhiều của cải thì lại càng phải nộp thuế cho nhà nước

nhiều Sản xuất bắt đầu ngưng trệ lại, nhiều hộ xã viên đã bắt đầu nợ đọng

sản phẩm Không ít hộ nông dân đã trả lại ruộng khoán và tìm đi nơi khác

để kiếm sống

Xã Trực Đạo trong công tác thực hiện chính sách khoán 10:

2.3 Các loại hình đất đai được sử dụng ở xã Trực Đaọ huyện Trực Ninh, tTỉnh Nam Định

2.3.2 Đất thủy sản:

2.3.3 Đất thổ cư:

2.3.4 Đất chuyên dùng

2.4 Các chủ thể trongvà việc sử dụng đất:

2.4.1 Hợp tác xã nông nghiệp xã Trực Đạo:

2.4.2 Các tổ chức chính trị xã hội trong việc sử dụng đất:

2.4.3 Hộ gia đình trong việc sử dụng đất:

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC

Trang 8

TÊN ĐỀ TÀI:VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO, HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH (1986-2012 )

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội loài người đang bước vào nền văn minh thứ ba- văn minh côngnghệ thông tin cùng với các hình thái kinh tế xã hội và các loại tư liệu sản xuấthiện đại, tiên tiến nhất Tuy nhiên dù ở trong nền văn minh nào, hay hình tháikinh tế xã hội nào thì đất đai vẫn là tư liệu quan trọng trong mọi hoạt động củacon người Trong thời đại toàn cầu hóa, với những vấn đề như gia tăng dân số,thiên tai, cạnh tranh khốc liệt thì vấn đề này lại càng trở nên nóng bỏng CBất kìhoạt động nào trong đời sống cũng diễn ra trên một phạm vi nhất định Nhữngquốc gia có lãnh thổ rộng lớn, nguồn tài nguyên phong phú sẽ là một thuận lợi

cơ bản để phát triển Các nhà nước cổ đại trên thế giới cũng xuất hiện ở lưu vựccác con sông lớn, đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp Khicon người bước vào nền văn minh đầu tiên- văn minh nông nghiệp thì đất đailại càng trở nên quan trọng Ngày nay con người đã xây dựng cho mình nền vănminh thứ ba- văn minh trí tuệ, nhưng đất đai lại càng trở thành vấn đề nóng bỏngbởi vì dân số đang tăng nhanh và nguồn tài nguyên đất đang được khi thác triệt

để Chính vì thế người ta nói rằng: Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quýgiá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàngđầu của môi trường sống Hơn thế nữa, đất đai còn là địa bàn phân bố dân cư,kinh tế xã hội an ninh quốc phòng Đất đai là yêu cầu tiên quyết để có thể tiếnhành các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp hay công nghiệp, dịch vụ Nhândân ta có câu: tấc đất, tấc vàng để nói lên giá trị của đất đai, và “người nghỉnhưng đất không nghỉ” để nói tới tính liên tục của loại tư liệu sản xuất này.loại

tư liệu sản xuất đặc biệt này

Xã Trực Đạo là một xã thuần nông của huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Địnhthuộc vùng Đồng bBằng sSông Hồng thì đất đai lại càng có ý nghĩa đặc biệt quantrọng đối với quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp Đối với người dân, đây làtài sản quý giá nhất mà họ có Không chỉ để sản xuất nông nghiệp, tiến hành

Trang 9

những hoạt động kinh doanh mà còn là để sinh sống Trong thời kì đất nước đangtrên đà đổi mới, với những chính sách của Đảng, chính phủ về đất đai nôngnghiệp nói chung đang hòa mình vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Đặc biệt trong những năm gần đây bộ nông nghiệp đang phát động phong tràoxây dựng nông thôn mới thì nông thôn Việt Nam đã có những bướcang chuyểnmình mạnh mẽ Chủ trương xây dựng nông thôn mới làm cho bộ mặt nôngnghiệp, nông thôn và nông dân thay đổi căn bản Một trong những điều được đặcbiệt quan tâm trong thời kì mới là việc quản lí và sử dụng đất đai trong nông thôn.Xuất phát từ những lí do thực tiễn đó nên em quyết định chọn “vấn đề sử dụngđất ở xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (1986-2012)” làm đề tàinghiên cứu khoa học.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia Vì vậy, vấn đề đấtđai và sử dụng đất đai giành là một vấn đề không mới, nó được sự quan tâm

nghiên cứu của nhiều nhà khoa học qua nhiều các tác phẩm nổi tiếng

Viết về vấn đề này thời cổ- trung đại đã có nhiều tác phẩm chuyên khảo

như: “

Phan Huy Lê, Chế độ ruộng đất và nền kinh tế thời Lê sơ”, Nhà xuất bảnNXB Văn- Sử -Địa, 1959 của tác giả Phan Huy Lê Tác phẩm khái quát vềkhung cảnh xã hội Đại Việt ở thời Lê sơ, dẫn đến những chế độ ruộng đất củacác triều vua thời Lê sơ và những chuyển biến trong sở hữu và sử dụng ruộngđất thời này

Năm 1982,? tác giả Trương Hữu Quýnh đã tìm hiểu về, “Chế độ ruộng đất ởViệt Nam thế kỉ XVII”, Nhà xuất bảnxb Văn hóa, tập 1 Tác phẩm viết về khungcảnh xã hội, chế độ ruộng đất Đại Việt, và diễn biến của chế độ ruộng đất thế kỉXVII

Việcấn đề đất đai và sử dụng đất đai trong nền kinh tế thời nông nghiệpnông thôn thời kì đổi mới được đề cập trong tác phẩm “Vvấn đề sở hữu và sử dụngđất đai trong nền kinh tế nhiều thành phần” xuất bản năm 1999 của tác giả Hoàng

Trang 10

Việt Tác phẩm đã nêu ra hiện trạng sở hữu và quản lí ruộng đất ở nước ta, đồngthời đưa ra kiến nghị về vấn đề hoàn thiện quan hệ sở hữu ruộng đất, tăng cường

sự quản lí của Nnhà nước tạo điều kiện cho các quan hệ ruộng đất vận động theoquy luật góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam thời kìđổi mới phát triển

Năm 2000, TS Vương Xuân Tình và Bùi Minh Đạo Công trình nghiêncứu về “Ssở hữu và sử dụng đất đai truyền thốông của các dân tộc thiểu số ởViệt Nam” của hai tiến sĩ Vương Xuân Tình và Bùi Minh Đạo Đây là côngtrình hợp tác cải cách địa chính của Việt Nam- Thụy Điển Các tác giả đã tìmhiểu và đề cập cụ thể đến các loại hình đất đai truyền thống và việc sử dụng và

sở hữu đất đai của các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam qua từng thời kì

Trong công trình này, các Hai tác giả cũng đi sâu nghiên cứu về sở hữu và sửdụng đất đai của 11 dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ: Việt- Mường, Tày- Thái,Môn- Khơme và nhóm Mmalayo- poolinêsiên

Nghiên cứu về vấn đề đất đai ở Nam Định cũng đã được nhiều nhà khoahọc quan tâm tTrong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu vềvấn đề đất đai ở Nam Định Ví dụ như : “Tác động của chính sách đất đai đếnviệc sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất phương án sử dụng đất nông nghiệpđến năm 2015 ở tỉnh Nam Định” của tác giả Trần Văn Toàn? Tác phẩm này đãnghiên cứu về điều kiện tự nhiên, , kinh tế xã hội và hiện trạng cũng như biếnđộng đất nông nghiệp, tác động của những chính sách đất đai đến việc sử dụngđất nông nghiệp Ttừ đó đề xuất những phương án sử dụng đất nông nghiệp trênđịa bàn tỉnh Nam Định theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế Gần đây nhất, vàonăm 2012 trong đề tài mang tên: “Dồn điền, đổi thửa ở xã Trực Đạo trong giaiđoạn đổi mới” thạc sĩ Hoàng Việt Trung đã đi sâu vào nghiên cứu nguồn gốcxuất phát của chủ trương này, quá trình Đảng bộ và nhân dân xã Trực Đạo vớicông tác dồn điền, đổi thửa Đồng thời, tác giả làm rõ những tác động của nó tớikinh tế xã hội của xã và nêu ra những hạn chế trong quá trình thực hiện và địnhhướng phát triển cho nông nghiệp của toàn xã trong những giai đoạn tiếp theo

Trang 11

Điểm lại các nghiên cứu Tuy nhiên công trình nghiên cứu này mới chỉ đisâu vào một vấn đề nhỏ đó là vấn đề dồn điền đổi thửa của xã Trực Đạo màkhông đề cập sâu đến vấn đề quản lí và sử dụng đất đaic.Có thể thấy, nói cho tớinay, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề đất đai và sửdụng đất đai ở xã Trực Đạo Tuy nhiên những công trình, tác phẩm nghiên cứucủa các tác giả đi trước đã phần nào làm sáng tỏ tình hình đất đai và sử dụng đấtđai ở nước ta nói chung và ở Nam Định nói riêng qua từng thời kì Đồng thời đó

là nguồn tư liệu tham khảo quý giúp em hoàn thành được đề tài của mình

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện với mục đích:

+ Tìm hiểu về các lọai hình đất đai của xã Ttrực Đạo, huyện Trực Ninh,tỉnh Nam Định

+ Tìm hiểu về các chủ thể sử dụng đất đai, mục đích của việc sử dụng đấtđai và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế, xã hội ở xã Trực Đạo, HuyệnTrực Ninh, tTỉnh Nam Định

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng đất ở xã Ttrực Đạo, huyện TrựcNinh, tTỉnh Nam Định

- 4 Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Vấn đề sử dụng đất ở xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnhNam Định

+ Về thời gian:từ năm 1986 đến năm 2012

+ Về không gian: địa bàn xã Trực Đạo, Huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

4 Nội dung nghiên cứu:

- Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội của xã Trực Đạo, huyện TrựcNinh, tỉnh Nam Định

Trang 12

- Tìm hiểu các chính sách đất đai của Việt Nam sau Đổi mới; các loạihình đất, chủ thể sử dụng đất ở xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định(1986-2012).

55 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, kết hợp vớibên cạnh đó là các phương pháp khác như: điền dã dân tộc học, phân tích, tổnghợp, thốông kê,… … để tập hợp và xử lí tư liệu

66 Đóng góp của đề tài:

Với việc nghiên cứu đất đai xã Trực Đạo, đề tài góp phần tìm hiểu rõ hơn

về đất đai xã Trực Đạo, các hình thức sử dụng đất đai, đồng thời cung cấp cáinhìn toàn diện về tác động của đất đai và các chính sách đất đai tới việc pháttriển kinh tế, chính trị, xã hội và, đảm bảo an ninh quốc phòng tại địa phương

77 Bố cục của đề tài:

Đề tài được bố cục thành các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệutham khảo và phụ lục

Phần nội dung đề tài được chia làm 2 chương:

Chương 1: Khái quát về xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định

Chương 2: Tình hình sử dụng đất ở xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh NamĐịnh (1986- 2012)

Trang 13

Hình 1.1 luợc đồ xã Trực Đạo

Trang 14

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ XÃ TRỰC ĐẠO, HUYỆN TRỰC NINH,

TỈNH NAM ĐỊNH

1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên:

- Vị trí địa lí, diện tích tự nhiên:

+ Làm rõ vị trí địa lí, diện tích tự nhiên của xã Trực Đạo trong huyện Trực Ninh và lịch sử hình thành cũng như phát triển của vùng đất này từ khi bắt đầu xuất hiện tới nay.

- Địa hình, sông ngòi:

+ Xác định vị trí của xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định thuộc vùng đồng bằng sông Hồng nên có địa hình bằng phẳng, đặc biệt ở khu vực giữa làng có cốt đất thấp.

+ Giới thiệu về hệ thống sông ngòi, ao hồ đầm của xã với chức năng chủ yếu phục vụ cho công tác nông nghiệp.

- Khí hậu:

+ Một vài đặc trưng cơ bản về khí hậu, nhiệt độ không khí, hướng gió, độ

ẩm, lượng mưa và đặc điểm về các hiện tượng bão lũ xảy ra trên địa bàn của xã.

1.2 Đặc điểm xã hội:

+ Giới thiệu về các dòng họ đã cùng nhau tới địa bàn xã để lập làng,lập xóm, cùng nhau tiến hành những hoạt động văn hóa cũng như những hoạt động sản xuất kinh tế để duy trì cuộc sống và tạo dựng nên tình làng nghĩa xóm- một trong những truyền thông tốt đẹp nhất của dân tộc ta.

+ Khái quát về hiện trạng dân số và phân bố dân cư hiện nay.

- Tình hình lao động việc làm:

+ Thống kê về lực lượng lao động trên địa bàn xã Trực Đạo tình lao động của các đối tượng lao động trong các ngàng kinh tế khác nhau của xã.

- Giáo dục, đào tạo, y tế:

+ Khái quát về cơ sở vật chất và hiện trạng của ngành giáo dục và ngành y

Trang 15

Bước vào thời kì đất nước đổi mới, Đảng bộ và nhân dân xã Trực Đạo đã tận dụng những nguồn lực của địa phương, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất

để thực hiện phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, đưa Trực Đạo trở thành xã đạt chuẩn nông thôn mới, góp phần đưa nền kinh tế Nam Định nói chung phát triển, làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Chương 2

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO,

HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH(1986-2012)

2.1 Các chính sách về đất đai ở Việt Nam thời kì Đổi mới:

2.1.1 Giới thiệu chung về công cuộc đổi mới ở Việt Nam năm 1986:

- Nêu khái quát về tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam những năm đầu sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ đó rút ra nhận xét về

sự cấp thiết của chủ chương đổi mới ở Việt Nam.

2.2.2 Các chính sách về đất đai ở Việt Nam thời kì đổi mới:

- Luật đất đai năm 1988

- Chính sách khoán 10

- Luật đất đai năm 1993

- Luật đất đai năm 2003

- Một số chính sách quan trọng khác về đất đai

2.2 Xã Trực Đạo trong công tác thực hiện đường lối Đổi mới:

- Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong đổi mới nên kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam, xã Trực Đạo đã phấn khởi đón nhận những chủ chương, chính sách lớn của Đảng như nghị quyết 100, nghị quyết 10, luật đất đai qua các năm và cụ thể hóa các chính sách đó để áp dụng cho phù hợp với tình hình địa phương mình.

2.3 Các loại hình đất ở xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định:

+Đất công trình thủy lợi

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa

+ Đất cơ quan hành chính sự nghiệp

+ Đất chợ

+ Đất giáo dục

2.4 Các chủ thể và việc sử dụng đất:

Các chủ thể chủ yếu như:

- Uỷ ban nhân dân xã

- Hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp trên địa bàn xã

Trang 16

- Các tổ chức chính trị xã hội: đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, phụ lão

- Hộ gia đình và cá nhân.

Tiểu kết chương 2.

Bằng việc làm rõ những lọai hình đất cơ bản của xã Trực Đạo và công tác vận dụng những chủ chương chính sách lớn của nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Trực Đạo chương 2 của đề tài đã chỉ ra những chuyển biến căn bản của tình hình sử dụng đất, tác động của những chính sách đất đai trong công tác phát triển kinh tế của địa phương Nó khẳng định sự sáng tạo của Đảng trong thời kì đổi mới, khẳng định những bước đi đúng đắn của Đảng bộ và nhân dân xã Trực Đạo trong quá trình vận dụng đường lối

cử Đảng vào thực tiễn địa phương mình.

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ban bí thư Trung Ương Đảng,Chỉ thị 100-CT/TW 31/8/1988 về cải tiến công tác khoán mở rộng sản phẩm đến nhóm người lao động và hợp tác xã nông nghiệp

2 Bộ chính trị, Nghị quyết 10- NQ/TW 5/4/1988 về đổi mới và quản lí kinh

8 Luật đất đai năm 1988, Nxb Pháp lí

9 Luật đất đai năm 1993, Nxb Chính trị quốc gia

10 Luật đất đai năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia

11 Ngọc Thắng, Trực Ninh đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, Báo Nam Định, số 858, trang 3, 2003

14 Nguyễn Xuân Minh, Lịch sử Việt Nam (1945-2000), Nxb Giáo dục, 1993 Thành Trung, Trực Ninh phát triển kinh tế trang trại, gia trại, báo Nam Định, (trang 3) số ra ngày 13-9- 2012

13.Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định, Kế hoạch triển khai thực hiện dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp ở Nam Định, số 124/VP3, 2002

14 Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định, Báo cáo công tác dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định, số 79/BC-

UBNDNĐ, 2011

Trang 17

15 Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, Báo cáo công tác dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh, số 88/ BC-

UBND

16 Niên giám thống kê huyện Trực Ninh từ năm 1987-2011

17.Uỷ ban nhân dân xã Trực Đạo, Thuyết minh xây dựng và quy hoạch nông thôn mới ở xã Trực Đạo, 2010

18 Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, Lịch sử Đảng bộ huyện Trực Ninh (1945-2005)

19 Uỷ ban nhân dân xã Trực Đạo, Lịch sử Đảng bộ xã Trực Đạo 2005)

(1945-20 Vương Xuân Tình, Bùi Minh Đạo, Sở hữu và sử dụng đất đai truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam, (chương trình cải cách hành chính Việt Nam- Thụy Điển, Hà Nội, 2000

Trang 18

hối hả, tất bật với những lo toan thường ngày Trực Đạo là một trong 19 xã của huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định Là một xã có bề dày truyền thống trong công

cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và có nhiều thành tích nổi bật góp phầnxây dựng đất nước thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xã Trực Đạo được biết tới trong bản đồ hành chính dưới thời nhà Nguyễnđầu thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, là một phần của huyện Chân Ninh với tên gọi

là Ngọc Giả

Sau khi Cách mạng tháng Tám8 thành công, trên cơ sở sát nhập nhiềulàng xã cũ, đồng thời đặt tên mới, địa danh của các xã có sự thay đổi Tháng 3năm 1947, bốn làng Ngọc Giỉảa, Ngọc Đông, Hạ Đồng, Cống Khê hợp lại thành

xã Tân Việt Năm 1950, làng Duyên Thọ thuộc xã Quang Hưng nhập về xã Tân

Trang 19

Việt Tháng 4 năm 1952, xã Tân Việt đổi thành xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh,tỉnh Nam Định.

Địa giới hành chính của xã tiếp tục có sự thay đổi trong thời kì miền Bắcxây dựng cChủ nghĩa xã hội để chi viện cho miền Nam tiến hành công cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước Tháng 6, năm 1968, xXã Trực Đạo thuộchuyện Trực Ninh đã sát nhập với huyện Nam Trực thành một huyện của tỉnh HàNam Ninh (gộp 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) Tháng 6 năm 1956, xãcắt thôn Ngọc Đông, xóm Giáp Ggiáo và Trại ông Trần Ngẫu nhập sang xã TrựcThanh, xóm Đồng Bản về Xã Nam Lợi, xóm Đông Tiến nhập về xã Trực Tuấn

Về cơ bản từ đó tới nay địa giới hành chính xã không có gì biến động

Xã Trực Đạo giáp sông Ninh Cơ, về phía Nam huyện Trực Ninh, phíaĐông Bắc giáp xã Trực Tuấn, phía Đông Nam giáp xã Cát Thành và huyện HảiHậu, phía Tây Bắc giáp huyện Nam Trực, phía Tây Nam giáp xã Trực Thanh

Xã cách thị trấn Cổ Lễ 4km, cách huyện lỵ Trực Ninh cũ 800m Diện tích tựnhiên của xã Trực Đạo là 599,6 ha Từ một vùng đất hoang hóa, gò bãi, sình lầy

thuộc vùng ven biển, qua những sự biến đổi của thời gian, sự vận động của cáckiến tạo địa lí ngày nay xã Trực Đạo là một vùng đất tốt tươi, màu mỡ Kết quả

đó đạt được cũng là do sự đoàn kết hợp lực của nhân dân trong vùng đã quai đêsông Ninh Cơ, sông GiáGía, sSông Nữ để gạn lắng phù sa tạo thành đồng ruộngmàu mỡ, tốt tươi, xóm làng trù phú, đông đúc Ngày nay, với những cánh đồng

mangchở nặng phù sa ấy, xã Trực Đạo cũng góp phần nhỏ bé của mình vào côngcuộc xây dựng vựa lúa lớn thứ 2 cả nước- Đồng bằng châu thổ sông Hồng

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Địa hình, sông ngòi:

- Địa hình:

Xã Trực Đạo thuộc vùng đồng bằng vậy nên địa hình khá bằng phẳng,không có gò đồi hay núi, độ cao so với mực nước biển bằng 0 Địa hình bằngphẳng là điều kiện tốt cho phát triển giao thông đường bộ Các nhà kinh tế họcnhận xét rằng: “Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống trong đó hệ thông giao thông

là các huyết mạch thì quá trình vận tải là quá trình đưa chất dinh dưỡng vào nuôi

Trang 20

các tế bào trong cơ thể đó” Kinh tế xã hội mà phát triển gấp đôi thì giao thôngvận tải phải phát triển gấp ba3 lần Xưa kia, trong thôn xóm đường sá, sông ngòinhỏ bé, chật hẹp, quanh co, đường đất vỡ lở, mùa mưa đi lại khó khăn Nhậnthức được sự quan trọng của hệ thống giao thông đường bộ, xã Trực Đạo đã huyđộng Đảng, tỉnh ủy, huyện ủy, ngân sách của địa phương cũng như của Nnhànước hỗ trợ để xây dựng một hệ thống giao thông hoàn chỉnh góp phần phục vụyêu cầu phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương., Ttrên địa bàn xã Trực Đạo đã

có những tuyến đường huyết mạch như: đường 53B từ huyện Trực Ninh nối liềnvới đường 55 ở Tam Thôn (xã Trực Thuận) Đường 53C từ chợ Giíáa đi chợQùy nối với đường Đen Tuyến đường từ chợ GiáGíaía đi Văn Lãng, An Mỹ,

thao sông Quýt lên Trung Lao- Cổ Lễ Những tuyến đường này đã được nângcấp vào năm 2007 để thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa thúc đẩy kinh tế

xã hội phát triển, giảm nhẹ thiên tai và cải thiện đời sống nhân dân

Ngoài những tuyến đường lớn nối với các xã và các huyện khác, đườngliên xóm liên thôn của xã Trực Đạo cũng được kiên cố hoá với phương châm:

“Nnhà nước và nhân dân cùng làm”, xã Trực Đạo đã huy động nhân dân đónggóp tiền và ngày công lao động để làm đường Đặc biệt, từ sau thời kì xã bắt đầu

triển khai xây dựng nông thôn mới thì công tác này càng được xã quan tâm.Những tuyến đường rộng rãi trải khắp trong từng thôn độôi giúp người dân đi lạithuận tiện không còn cảnh đường làng lầy lội đất vào mùa mưa và bụi đất vàomùa hè

Trước đây, sau làng có ba gò đất cao rộng khoảng 360 m2, trước làng có 3giếng nước tự nhiên sâu ngập con sào, ông cha thường gọi theo chữ nghĩa: “Tiềntam tỉnh, hậu tam sơn” (trước có ba giếng nước, sau có ba gò đất) Giếng nước đầulàng là nơi nhân dân thường nghỉ chân sau những giờ lao động mệt mỏi, đón lấydòng nước mát lành từ giếng nước làng và uống một bát chè xanh rồi thong thả ra

về Đầu làng xưa kia cũng có một cái đình, đó là nơi nhân dân trong làng thường tụhọp để bàn bạc những công việc lớn của làng xã Những ngày đầu năm đó còn là

Trang 21

chỗ để nhân dân tổ chức các hoạt động vui chơi, lễ hội Biểu tượng cây đa, bếnnước, sân đình từng là một nét đặc trưng của làng cảnh nơi đây.

- Sông ngòi

Đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam là ngắn và dốc, hệ thống sông ngòichằng chịt nhưng ít sông lớn Sông ngòi ở Trực Đạo đây cũng mang đặc trưng nhưthế Sông Ninh Cơ, sông Rẻ, sSông Nữ, sông Giíáa đều là những con sông tự nhiênchảy qua địa phận xã Trực Đạo Hàng năm, chủ yếu đồng ruộng Trực Đạo nhậnnước từ sông Ninh Cơ thông qua hệ thống kênh mương cấp 2 và cấp 3 phục vụ chocông tác tưới tiêu ruộng lúa đồng thời chở hàng tấn m3 phù sa bồi đắp cho nhữngthửa ruộng tốt tươi Thơ ca của Tnhững thi sĩ Vũ Ngọc Trữquê hươngtrong bài thơ

“Trực Đạo quê tôi” cũng nói về những giá trị to lớn đối với nông nghiệp của nhữngcon sông:

“Con sông Giá đôi bờ uốn congTưới cho đồng ruộng lúa tốt bôngPhù sa bồi đắp cánh đồng tốt tươiĐồng quê màu mỡ thêm nhiềuDân ta no ấm càng yêu ruộng đồng” Không chỉ có giá trị về nông nghiệp mà sông ngòi còn có giá trị về giaothông Con sông Giíáa thời kì trước chính là đường giao thông chính để cácthương nhân từ khắp nơi đến chợ GiáGía để giao lưu buôn bán Thời kì giaothông đường bộ chưa phát triển thì nơi đây những ngày chợ phiên luôn tấp nậpcảnh trên bến dưới thuyền Những con sông cũng mang lại giá trị kinh tế vớinguồn lợi thủy sản: cá, tôm, Ttừ xưa trong xã đã có nhiều gia đình tìm cáchkhai thác nguồn lợi lớn này, họ làm những dụng cụ đánh bắt chuyên phục vụcho việc đánh bắt: thả lưới, đăng đó, Chính vì nguồn lợi này mà ở xã TrựcĐạo có một1 phiên chợ đặc trưng họp và buổi chiều hàng ngày để buôn bán cácmặt hàng liên quan tới thủy sản

1.1.2.2 Đặc trưng khí hậu:

Trang 22

Xã Trực Đạo nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều).Đây là điều kiện cho mùa màng, cây cối tốt tươi, thảm thực vật phát triểntươitốt Xã thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, với 4 mùa xXuân, hHạ, tThu, đĐông rõrệt.

Nhiệt độ trung bình hàng năm là khoảng 20o độ, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, có ngày nên tới 39o 9 độ, trời nắng và nóng, nhưng tháng thấp nhất lại chỉ khoảng 5-6o , , độ trời rét và rất hanh khô

Hướng gió hàng năm thịnh hành là gió Nam và Đông Nam nhưng hay đổitheom mùa Tốc độ gió lớn nhất là 40m/s Mùa đông là gió Bắc sau chuyển dầnsang hướng Đông Mùa hạ thường chịu ảnh hưởng của gió Lào kết hợp với nắngnóng, ảnh hưởng không tốt đến cây trồng, vật nuôi

Độ ẩm không khí cao, trung bình từ 75%-85%, có tháng lên tới 95% Vàomùa hanh khô, độ ẩm khoảng 30% hoặc thấp hơn Bão vào khu vực này từtháng 6 đến tháng 10, nhiều nhất tập trung vào tháng 8 Bão cấp 12 trở nên cótần suất 20 năm 1 lần Lượng mưa trung bình hàng năm là 1740mm, tháng cólượng mưa lớn nhất là 284mm

Điều kiện về tự nhiên của xã Trực Đạo thuận lợi cho việc phát triển kinh

tế nông nghiệp nông thôn Với vùng đất màu mỡ, những con sông chở nặng phù

sa, mưa nhiều, cây cối tốt tươi, hệ thực vật đa dạng phong phú vào tất cả cácmùa trong năm Tuy nhiên bên cạnh đó cũng là những khó khănăn, làm nôngnghiệp chủ yếu dựa vào thời tiết để chỉ đạo sản xuất, khí hậu nhiệt đới ẩm mưanhiều, nảy sinh sâu bệnh hại cây trồng, việc thay đổi các mùa trong năm nảysinh bệnh dịch hại vật nuôi, thiên tai, bão lũ xảy ra khó lường

1.2 Đặc điểm xã hội:

1.1.1Nguồn gốc dân số và phân bố dân cư:

Từ những ngày đầu tiên có vùng đất này, cư dân từ nhiều nơi đã tụ họp

về đây để cùng nhau xây dựng nên làng xóm, liên kết với nhau để cùng chungsống, cùng hoạt động sản xuất Cộng đồng dân cư xã Trực Đạo bao gồm ngườicủa các dòng họ như: Bùi, Cao, Đỗ, Đoàn, Đồng, Đặng, Lục, Lê, Lường, Lại,

Lã, Mai, Ninh, Ngô, Nguyễn, Nghiêm, Ngụy, Hoàng, Phạm, Trần, Tăng, và Vũ

Trang 23

Trong đó đến định cư, lập nghiệp đầu tiên ở đây là người của các dòng họ Cao,Lường, Vũ, Lã đến Ngọc GiảGỉa và họ Lê, họ Đồng đến làng Hạ Đồng Họ Ngô

và họ Nguyễn có số nhân khẩu đông nhất trong xã Riêng nhân dân Ngọc Đôngtrước đây thuộc làng Ngọc Giảỉa, từ khi lập làng, người dân đã cùng nhau chungsống và dùng chung một cánh đồng từ nước sông Rộc, sông Sẻ Tuy bây giờthôn Ngọc Đông đã nhập về Trực Thanh nhưng tình cảm gắn bó keo sơn củanhân dân hai xã vẫn không phai nhạt

Nhân dân trong xã cư trú ở các thôn, xóm ( Xxã Trực Đạo bao gồm

22 cơ sở thôn đội,) tập trung trong sự bao bọc của lũy tre xanh, xung quanh làđồng ruộng Đây có lẽ cũng là biểu tượng yên bình từ ngàn đời nay của mọimiền thôn quê và làng cảnh Việt Nam nói chung Năm 1740, ánh một số nôngdân nghèo từ xa đến cùng một số nhân dân trong xã đã lập ra các trang trại rảirác ở trên các cánh đồng Nội Đông, Nội Tây, Đồng Phụ, Mạ Đỏ, Ngoại Tây,Ngoại Đông, Trại GiáGía, Ghềnh Đầm,Trại Đông Lạc … tất cả trên 60 trại lớnnhỏ, ở trại đồng, bà con đã mưu sinh bằng cách làm rụông, đánh bắt cá tôm đểkiếm sống Chính các trại ở ngoài đồng, hẻo lánh, xa làng như thế này, vào thời

kì chống Pháp khi địch tạm chiếm (2 năm 4 tháng) nhiều trại đã trở thành cơ sởbảo vệ cán bộ cách mạng, bộ đội đồng thời là căn cứ xây dựng cơ sở cách mạngcho các thôn xã khác

Với 22 thôn đội, hiện nay dân số của xã Trực Đạo vào khoảng 8569người, 2360 hộ dân cư với 4253 nam và 4316 nữ (số liệu thống kê năm 2010)

Tỉ lệ phát triển dân số trung bình của xã hàng năm là 1,12%/năm Với tốc

độ tăng dân số như thế này hàng năm xã Trực Đạo có thêm hàng chục lao độngtrẻ tham gia vào hoạt động sản xuất kinh tế địa phương cũng như bổ sung thêmnguồn lao động cho xã hội nói chung

1.1.2 Hệ thống chính trị:

Việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương có được quan tâm haykhông, các đường lối phát triển của Đđảng có đem lại hiệu quả thiết thực vớingười dân hay không là phụ thuộc vào hệ thống chính trị từ cấp cơ sở

ĐốiĐối Đooais với xã Trực Đạo, là xãxã thuần nông thnênì cán bộ cũng xuất

Trang 24

thân từ nông dân mà ra, họ cũng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất, trên ruộngđồng ấy., Vchính vì thế hơn ai hết họ hiểu những vất vả và mong muốn củangười dân Nhận thức được vấn đề quan trọng ấy, các cán bộ địa phương củacủa xã Trực Đạo luôn tích cực học tập, rèn luyện nâng cao năng lực lãnh đạocũng như phẩm chất của người Đảng viên Đội ngũ cán bộ từ cấp cơ sở vữngmạnh là mộôt trong những điều kiện quan trọng để tăng cường niềm tin củaquần chúng nhân dân vào Đảng Đặc biệt trong cuộc vận động xây dựng, chỉnhđốn Đảng theo tinh thần Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 (khóa 8), Uỷ bannhân dân xã Trực Đạo đã từng bước cải cách lề lối làm việc, tránh gây phiềnnhiễu và phiền hà cho nhân dân Trong công tác “chuẩn hóa đội ngũ cán bộ viênchức”, các cán bộ trong xã được cử đi học tập lớp bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ,phát triển đoàn viên, hội viên Đội ngũ cán bộ được nâng cao năng lực và trình

độ quản lí đã góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội côngbằng, dân chủ văn minh

1.1.3 Tình hình lao động và việc làm:

Tính đến năm 2012, tổng số lao động trong xã gồm 5285 người chiếm61,7% dân số, trong đó lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là 5020 người,chiếm 95% dân số trong xã Lao động của những ngành như tiểu thủ côngnghiệp, phi nông nghiệp chiếm 5% trong tổng số lao động, chính vì hoạt độngchủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp nên những ngày “ nông nhàn”, lực lượngthanh niên, lao động nam giới đều đi lao động ở những tỉnh xa, ở nhà chỉ còn lạingười già, phụ nữ và trẻ em Một số thôn đội sản xuất đã có một vài hộ gia đình,

cá nhân thực hiện sản xuất nhôm kính hoặc kinh doanh vật liệu xây dựng thu hútđược một số lao động sản xuất tại địa phương Tuy nhiên là một xã thuần nôngnên sự chênh lệch giữa lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp rấtlớn Ttrong tổng số lao động của xã, số lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 15%.Chất lượng lao động kém, hiệu quả lao động không cao chính vì thế mà xã TrựcĐạo vẫn còn là một xã nghèo, cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật chưa đáp ứng đượcnhu cầu của người dân trong xã

1.1.4 Công tác giáo dục, đào tạo và y tế:

Trang 25

- Về giáo dục:

Là một xã có truyền thống hiếu học của huyện Trực Ninh, từ mảnh đấtnày đã nuôi dưỡng biết bao mầm tài năng đi khắp mọi miền của Tổ quốc, gópphần vào công cuộc xây dựng Đất Nước và làm rạng rỡ truyền thống người TrựcĐạo Chính sách ưu tiên đào tạo con người của xã được thể hiện ở việc quan tâmxây dựng trường lớp khang trang, sạch đẹp, với đội ngũ giáo viên nhiệt tình,giàu kinh nghiệm để giáo dục thế hệ trẻ

Xã có 1 trường mầm non ở hai2 khu, khu A (đội 16- làng Ngọc Giỉảa), vàkhu B (đội 7- làng Hạ Đồng) Trường mầm non gồm 36 phòng học , 362 họcsinh, với trang thiết bị dạy học đầy đủ Trường tiểu học Trực Đạo đang đượcnâng cấp xây dựng thành khu nhà 2 tầng với sự đầu tư trang thiết bị hiện đại, 39thầy cô và 429 học sinh Trường trung học cơ sở của xã đã được quy hoạch vàxây dựng thành công trình nhà hai2 tầng nằm cạnh trường tiểu học với 19 phònghọc (6 phòng học chức năng) và đội ngũ giáo viên gồm 43 thầy, cô Chất lượnggiáo dục đạt khá và tốt Trong công tác giáo dục xã Trực Đạo luôn gương mẫutrong việc thực hiện các phong trào thi đua như ‘hai tốt”, “hai không”, “chốngtiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Chính vì chất lượng độingũ giáo viên tốt và chất lượng đào tạo không ngừng được nâng cao đã chứngminh bằng tỉ lệ học sinh thi đỗ vào các trường cấp 3 là 80% và tỉ lệ thi đỗ Đạihọc, cao đẳng là 69% Thành tích ấy góp phần đưa Nam Định trở thành tỉnh cókết quả giáo dục cao nhất trong cả nước

Về y tế :

Công tác y tế là một trong những vấn đề luôn được quan tâm của xã, xã

có một trạm y tế với 1 bác sĩ, 2 y sỹ, 3 y tá, 1 hộ lý Trang thiết bị của xã còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được hết nhu cầu khám chữa bệnh của người dân trongxã

Các hoạt động về chăm lo sức khỏe người dân luôn được quan tâm Đây

là nơi thực hiện sơ cứu, khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân tiếp nhận nhữngtrường hợp sự cố, tai nạn,… và chuyển bệnh nhân nên tuyến điều trị cao hơn.Hàng năm xã thường tích cực triển khai đồng bộ các chương trình quốc gia về

Trang 26

phòng chống dịch bệnh cho người dân Cán bộ y tế thường xuyên tuyên truyềngiáo dục người dân để thanh toán hoàn toàn các căn bệnh như phong, lao, mắthột, , tích cực và chủ động giáo dục người dân trong công tác phòng và chốngnhững căan bệnh có thể lây lan Xã cũng tổ chức tiêm phòng vacxin cho trẻ emdưới 6 tuổi và liên kết với những công ty dược phẩm có uy tín trong việc hỗ trợđiều trị cho người già, cấp phát thuốc miễn phí cho nhân dân…

Công tác vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm được quan tâm thỏađáng giúp người dân yên tâm lao động và sản xuất Tỉ lệ người dân tham gia cáchoạt động y tế chỉ chiếm 10%.! Đây là một tỉ lệ thấp, tuy nhiên nó cũng thểhiện sự cố gắng của các cán bộ y tế Cần nâng cao hơn nữa ý thức của người dântrong công tác tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe thông qua tuyêntruyền, giáo dục của y tế thôn, xã Tỉ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theotiêu chuẩn quốc gia đạt 76.8%

- Về an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội:

Trên địa bàn xã Trực Đạo công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hộiluôn được thực hiện nghiêm chỉnh Với đội ngũ công an xã đông đảo và công anviên của các xóm, và hệ thống dân quân tự vệ của từng thôn đội được trang bịđầy đủ công cụ để thực hiện tốt nhiệm vụ Hàng đêm đội ngũ này thường xuyênthực hiện những hoạt động tuần tra, kiểm soát các hoạt động của nhân dân, ngănchặn ngay những mầm mống của tình trạng trộm cắp hay cướp, đánh nhau, Đội ngũ này hoạt động với tần suất nhiều hơn vào các dịp cao điểm như lễ hộihay Tết Chính vì thế an ninh trật tự trong từng thôn xóm luôn được tăng cường

và giữ vững

Trong công tác quốc phòng toàn dân,: xã Trực Đạo luôn ý thức sâu sắchai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Ttổ quốc., Tthực hiện thượng sách giữ nướcmuôn đời của cha ông ta từ ngàn xưa, hàng năm xã Trực Đạo thường tổ chứccác buổi tập luyện, huấn luyện quân sự tại địa bàn xã và mời các chuyên giaquân sự của huyện ủy về tham gia công tác này Thực hiện Xã đã nghiêm túc

trong công tác việc gọi thanh niên nhập ngũ, hàng năm trên hệ thống loa truyềnthanh của xã ban chỉ huy quân sự xã đều thông báo danh sách thanh niên từ 18

Trang 27

tuổi đến 23 tuổi thực hiện nghĩa vụ của mình Xã thực hiện cCông tác gọi thanhniên nhập ngũ được tiến hành một cách công bằng, dân chủ, xử lí nghiêm nhữngtrường hợp cố tình trốn tránh Chính vì thế thanh niên từ các thôn đội luôn chấphành nghiêm túc nghĩa vụ quân sự của mình Trạm y tế xã Trực Đạo đã kết hợpvới ban chỉ huy quân sự xã trong công tác khám tuyển gọi thanh niên nhập ngũ.Hình ảnh “lên đường nhập ngũ” của các “tân binh” chính là nét đẹp văn hóa của

xã Trực Đạo nói riêng và cũng là phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc ta

và ổn định, đường lối đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt cũng tạo điều kiện cho sựphát triển kinh tế địa phương Nằm trong vùng Đồng bằng sông Hồng đất chật,người đông, tuy nhiên xã Trực Đạo đã biết tận dụng những lợi thế của mình đểphát triển kinh tế xã hội

Với vị trí địa lí thuận lợi nguồn lực người cũng như điều kiện tự nhiênphát triển ngành nông nghiệp trồng lúa đa dạng và phong phú, xã Trực Đạo đãtận dụng và phát huy tối đa hiệu quả của các điều kiện tự nhiên và đặc biệt lànguồn tài nguyên đất để phát triển kinh tế địa phương

Trang 28

ChươngHƯƠNG 2:

VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ TRỰC ĐẠO, HUYỆN TRỰC

NINH, TỈNH NAM ĐỊNH (1986- 2012)

2.1 Vài nét vềCác chính sách đất đai ở Việt Nam thời kì Đđổi mới:

2.1.1 Giới thiệu về công cuộc Đổi mới ở Việt Nam năm 1986

- Nguyên nhân khách quan:

Vào nửa sau những năm 80 thế kỉ XX , tình hình thế giới có nhiều biến chuyểnsâu sắc và diễn biến phức tạp Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ thứthư

hai đã tạo ra một năng suất lao động cao với việc ứng dụng khoa học kĩ thuậtvào cuộc sống làm cho cuộc sống của nhân loại thay đổi đến chóng mặt Trong

Trang 29

bối cảnh cơ hội nhiều và thách thức cũng không nhỏ thì các nước tư bản đã biếtlợi dụng những thành quả ấy vào thực tiễn và nhanh chóng vượt qua khủnghoảng để đi lên Trong khi đó các nước xã hội chủ nghĩa chậm thích ứng vớinhững biến đổi, ngày càng gặp nhiều khó khăn trong mọi vấn đề kinh tế, xã hội,chính trị và lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Trước yêu cầu của lịch

sử các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã nhận thức lại con đường xâydựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành những cuộc cải cách để thay đổi Điển hình

là công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc (năm 1978) và công cuộc cải tổ ởLiên Xô (năm 19885) Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng thành côngtrong con đường đổi mới đi lên Bằng chứng rõ ràng nhất đó là sự sụp đổ của hệthống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào năm1991

Ở Việt Nam, - Nguyên nhân chủ quan:

Chiến tranh kết thúc, non sông thu về một dải, trước những khó khăn của thờihậu chiến, Đảng và nhà nước ta vẫn kiên trì đi theo con đường xây dựng đấtnước theo chế độ xã hội chủ nghĩa Bước vào công cuộc xây dựng đất nước sauchiến tranh, Đảng và nhân dân ta đã dành được nhiều thành tựu to lớn trongcông cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, cải biến được phần nào cơ cấu kinh tế xãhội Ttuy nhiên, quá trình xây dựng đất nước khôi phục và hàn gắn vết thươngchiến tranh chúng ta cũngđã gặp không ít những khó khăn do sự sai lầm, yếukém trong đường lối lãnh đạo và quản lí đất nước Giai đoạn 1981- 1985 chúng

ta không những không đạt được mục tiêu ổn định tình hình kinh tế xã hội, ổnđịnh đời sống nhân dân mà còn làm cho giá cả, lạm phát tăng vọt Theo tổng cụcthống kê thì lạm phát lúc này đã ở mức 3 con số (mức phi mã) Giai đoạn nàynước ta đã lâm vào khủng hoảng toàn diện

- Yêu cầu của đất nước trước tình hình mới:

Trước những khó khăn đặt ra đồng thời rút kinh nghiệm từ những thànhcông cũng như thất bại của các nước trong cùng khối xã hội chủ nghĩa đòi hỏi,yêu cầu Đảng và Nnhà nước phải có một quyết sách đúng đắn, phù hợp, đưa đấtnước thoát khỏi khủng hoảng phát triển đi lên Xuất phát từ thực tiễn ấy, Đại hội

Trang 30

Đảng lần thứ VI họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18 tháng 12 năm 1986 đã đề rađường lối đổi mới với quan điểm: “Đổi mới đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xãhội không phải là thay đổi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà làm cho mục tiêu

ấy được thực hiện có hiệu quả hơn”- Vvăn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI Thực hiện quan điểm ấy, chúng ta đã thực hiện đổi mới toàn diện từ kinh tếchính trị, văn hóa nhưng trọng tâm vẫn là đổi mới kinh tế Xuất phát từ đườnglối chỉ đạo chung ấy, đại hội đảng lần VI đã đề ra những mục tiêu cụ thể về kinh

tế cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:

1 sản xuất phải đủ tiêu dùng và có tích lũy Hướng mọi cố gắng vào việcđáp ứng nhu cầu cấp bách và thiết yếu của xã hội, dần dần tiến lên cảithiện một bước đời sông văn hóa vật chất và văn hóa của người dân, ổnđịnh đời sống của nhân dân phải đi đôi với việc đảm bảo yêu cầu có tíchlũy từ nội bộ nên kinh tế quốc đân để đủ sức tiếp nhận và đưa vào tái sảnxuất, mở rộng vốn vay và viện trợ của nước ngoài

2 bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lí nhằm phát triển sản xuất

3 xây dựng và hoàn thiện mọi bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với ínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất củng cố thành hần kinh tế xã hộichủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cáchtoàn diện, cả về chế độ sở hữu và chế độ quản lí, chế độ phân phối làmcho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốcdân, thể hiện tính ưu việt về năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thunhập của người lao động và tích lũy cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiệnđại hóa đất nước (Lịch sử Việt Nam từ 1945-2000, Nguyễn Xuân Minh,trang 389-390)

Theo mục tiêu trên, trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 Trung ương Đảng và Bộchính trị đã yêu cầu toàn dân tập trung sức người, sức của vào công cuộc thựchiện ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng vàhàng xuất khẩu Để giải quyết vấn đề lương thực, phải tổ chức sản xuất đảmbảo nhu cầu lương thực cho toàn xã hội và có dự trữ Mức tiêu dùng lương thựcthực phẩm phải đảm bảo tải sản xuất sức lao động Về hàng tiêu dùng, sản xuất

Trang 31

hàng tiêu dùng phải đáp ứng đựơc nhu cầu bình thường của dân thành thị và dânnông thôn về những sản phẩm công nghiệp thiết yếu đối với hàng xuất khẩu,phải tạo ra một số mặt hàng chủ lực, kim ngạch xuất khẩu đáp ứng nhu cầu nhậpkhẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết.

Yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm về nguyên liệu sản xuất hàng tiêudùng, hàng xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp Mục tiêu đề ra

là phải đưa nông nghiệp tiến lên một bước theo sản xuất lớn nhằm tăng nhanhkhối lượng và tỉ suất hàng nông sản để thục hiện những mục tiêu trên đây nôngnghiệp cần được ưu tiên phát triển đặc biệt là về vốn, cơ sở hạ tầng, vật chất kĩthuật đặc biệt là lao động có tay nghề

Đại hội Đảng toàn quốc lần VI được xem như mốc son lớn chấm dứt của sựkhủng hoảng kinh tế ở Việt Nam, mở đầu cho một thời kì đổi mới toàn diện củađất nước, tạo ra bước ngoặt lịch sử trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam Việc xây dựng được chương trình và mục tiêu kinh tế của đất nướctrong giai đoạn mới cũng là cơ sở để tạo ra những khung pháp lí về đất đai đểgóp phần thực hiện tốt hơn những mục tiêu, kế hoạch đã đề ra

2.2.2 Những chính sách về đất đai trong thời kì đổi mới ở Việt Nam.

Xuất phát từ thực tiễn đặt ra đối với vấn đề phát triển kinh triển kinh tếnông nghiệp nông thôn, bộ chính trị, ban bí thư trung ương Đảng đã ghi nhậnnhững thành quả của việc thực hiện khoán sản phẩm tới người lao động trongnông nghiệp.ngày 13 tháng năm 1981 Ban bí thư trung ương đã ban hành chỉ thị100-CT-TW chính thức thông qua cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhómngười lao động Chỉ thị 100 của Ban bí thư dược bam hành với mục đích thựchiện cơ chế khoán mới trong nông nghiệp để: “đảm bảo phát triển sản xuất, nângcao hiệu quả kinh tế, trên cơ sở lôi cuốn mọi người hăng hái tham gia lao độngkíh thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai, tư liệu sản xuất hiện có,

áp dụng tiến bộ kĩ thuật, tiết kiệm chi phí sản xuất, củng cố, tăng cường quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn không ngừng nâng cao thu nhập và đờisống của người xã viên, tăng tích lũy hợp tác xã, làm tròn nghĩa vụ và không

Trang 32

ngừng tăng khối lượng nông sản cung ứng cho nhà nước.”- Chỉ thị 100, ban bíthư Trung ương.

Thực chất của khoán 100 đó là việc cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sảnphẩm tới nhóm lao động và người lao động

Luật đất đai năm 1988:

Để người dân gắn bó hơn với đất đai và làm cho đất đai được sử dụng theođúng mục đích, nâng cao tính hiệu quả và hữu ích của đất đai, ngày 29 tháng 12năm 1987 Qquốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kí thông quaLuật đất đai Luật này có hiệu lực từ ngày 8 tháng 1 năm 1988

Luật đất đai năm 1988 ra đời đã khẳng định quyền sở hữu đất đai tối caothuộc về Nnhà nước, Nnhà nước giao đất lâu dài và ổn định cho các tập thể và

cá nhân để phát triển sản xuất Luật cho phép người sử dụng đất được bán nhữngthành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất, nâng mức đất giao cho các hộ giađình từ 5 lên 10% Luật cũng quy định về việc giải quyết những tranh chấp vềđất đai Để thúc đẩy sự gắn bó của người dân với đất đai, cũng trong, tuy nhiênkhi luật đất đai ra đời năm 1987 và có hiệu lực vào năm 1988 thì đồng thời Bbộ

Cchính trị đã hoàn thiện và thông qua cơ chế khoán 10 Đây là một giải pháp tối

ưu nhằm đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển Ngày 5 tháng 4 năm 1988 bộchính trị đã đưa ra Nnghị quyết số 10 về đổi mới cơ chế quản lí kinh tế nôngnghiệp (gọi tắt là khoán 10) với những nội dung cơ bản:

1 Ssắp xếp và tổ chức lại sản xuất theo hướng chuyên môn hóa kết hợp vớikinh doanh tổng hợp

2 Củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắăncác thành phần kinh tế Đây là nội dung trọng tâm trong quá trình đổi mới quản

lí kinh tế trong nông nghiệp nông thôn

Nghị quyết 10 của Bộ chính trị đã làm thay đổi căn bản cơ chế quản línông nghiệp trên cả ba mặt:

- Quan hệ tư liệu sản xuất: nghị quyết 10 đã làm được một nhiệm vụquan trọng khiến nó tiến bộ hơn so với luật đất đai năm 1988 đó là: giao khoánruộng ổn định cho nông dân trong thời gian từ 10 đến 15 năm Chuyển nhượng,

Trang 33

báan, hóa giá trâu bò và những tài sản cố định của hợp tác xã sử dụng kém hiệuquả cho xã viên.

- Quan hệ trong quản lí: với nghị quyết 10 chủ trương hoàn thiện cơchế khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ xã viên và nhóm các hộ xã viên vẫnđược tiếp tục thực hiện Trong ngành trồng trọt, chủ trương giao khoán đếnnhóm và hộ xã viên dưới sự hoạch định đơn giá, định mức của hợp tác xã Trên

cơ sở kinh doanh tổng hợp và không ngừng mở rộng việc tái sản xuất các hợọptác xã, các tập đoàn sản xuất cần phân công lại lao động theo hướng chuyên mônhóa Để kích thích sản xuất phát triển, ở những nơi nào có điều kiện trong việcthực hiện những hoạt động kinh tế khác thì khuyến khích người dân giao lạiruộng đất cho hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất để các tổ chức này giao thêemđất cho người nông dân đồng thời những người lao động này có điều kiệnchuyển sang các ngành nghề khác

- Trong quan hệ phân phối: nếu trước đây là việc hạch toán và phânphối sản phẩm theo công điểm thì nay chuyển sang hình thức người nông dânnộp thuế cho nhà nước và đóng góp xây dựng quỹ cho hợp tác xã Về cơ bản, h

Hộ xã viên được tự chủ về kinh tế và được hưởng khoảng 40% sản lượngkhoán Ngoài thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nhà nước đãcông nhận sự tồn tại của nền kinh tế cá thể và tư nhân trong nông, lâm, ngưnghiệp

Với Nnghị quyết 10, tư duy lí luận của Đảng đã tiến một bước dài so vớinghị quyết 100 Quan hệ sản xuất đã được điều chỉnh trên cả 3 phương diện đểphù hợp hơn với sự phát triển của lực lượng sản xuất Cơ chế khoán 10 thực sựgắn bó với nông nghiệp nông thôn, người nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tựchủ Mô hình hợp tác hóa- tập thể hóa cùng cơ chế “thống trị” của nó bị phá vỡ.Hợp tác xã đã có nhiều hình thức mới về sở hữu tư liệu sản xuất tạo điều kiệnhình thành nên một mô hình hợp tác mới hoạt động năng động và hiệu quả hơn

Như vậy trong khi nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đang sôi động với khoán 10 thì luật đất đai năm 1988 đã bị lỡ một nhịp và khô cứng trên giấy tờ bởi “cuộc sống được phát động bởi những chủ trương hợp lòng dân thì chính cuộc sống lại phát triển nhanh, mạnh hơn những gì mà chủ trương đã định

Trang 34

hướng” (Vấn đề sở hữu đất đai trong nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam, trang 43)

Luật đất đai năm 1993:

Trên cơ sở sửa đổi và bổ sung luật đất đai năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộchính trị chính là tiền đề cho việc sửa đổi luật đất đai năm 1993 lLuật đất đai

năm 1993 được ban hành Đây là sự thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợpvới yêu cầu kinh tế xã hội thực tiễn của đất nước Luật này khẳng định đất đaithuộc sở hữu toàn dân và đề cập vấn đề giao đất và sử dụng đất lâu dài, ổn địnhcho các tổ chức gia đình và hộ cá nhân Việc giao quyền sử dụng đất cũng đồngthời là giao các quyền như chuyển đổi, chuyển nhượng, mua bán, thế chấp, chothuê, thừa kế để tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế, đảm bảo về mặt pháp

lí cho người sử dụng đất Luật đất đai sửa đổi cũng đồng thời nên ra nghĩa vụ củangười sử dụng đất đó là: “mọi cá nhân và tổ chức sử dụng đất đều phải nộp thuế,những người giao đất nông nghiệp mà không sử dụng đất vẫn phải nội thuế” [9, tr23Tài liệu số mấy, trang bao nhiêu cho vào](luật thuế sử dụng đất 1993) Cùngvới luật đất đai năm 1993, Cchính phủ đã ban hành Nnghị định 64/CP về việc

“ban hành quy định giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình cá nhân sử dụng ổnđịnh lâu dài trong sản xuất nông nghiệp” Với quy định này Nnhà nước đã gắnngười sản xuất với ruộng đất, tránh tình trạng bỏ hoang hóa đất đai, nhằm pháthuy tối đa hiệu quả của đất đai trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn

Luật đất đai năm 2003:

Luật đất đai năm 1993 ra đời đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu của nhândân về quyền sở hữu đất đai Tuy nhiên nó vẫn tồn tại nhiều bất cập cần giảiquyết Chính vì thế đã có hai lần quốc hội thực hiện sửa đổi và bổ sung luật vàonhững năm 1995, 2001 Để đáp ứng những nhu cầu về quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước góp phần thúc đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế- xãhội, ngày 26 tháng 11 năm 2003, bộ luật đất đai mới được Qquốc hội chính thứcthông qua Đây là bộ luật đựơc soạn thảo tỉ mỉ và công phu Luật đất đai ra đời

năm 2003 đã cơ bảm đáp ứng được nhu cầu mà thực tiễn đặt ra, tháo bỏ nhữngách tắc ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, ổn định chính trị và quy định

Trang 35

những nội dung mới phù hợp với nền kinh tế thị trường như các vấn đề kinh tếđất, giá đất, thị trường bất động sản, về quyền của người sử dụng đất vào cácmục đích tôn giáo, cộng đồng dân cư Đồng thời Luật đất đai năm 2003 cũng

đồng thời quy định những nguyên tắc về “quyền và trách nhiệm của Nnhà nướcđại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lí về đất đai, chế độquản lí và sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” (điều 1) [10,tr.15] Có thể nói luật đất đai năm 2003 là bộ luật hoàn chỉnh nhất và phù hợpvới những tình hình kinh tế xã hội của Việt Namy Chính vì thế nó vẫn còn hiệulực pháp lí cho tới ngày nay

Như vậy từ khi Nnhà nước Việt Nam ban hành các văn bản pháp luật vềluật đất đaivà khẳảng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nnhà nước đại diện

sở hữu và thống nhất quản lí đã làm cho người dân tin tưởng vào chính sách củaĐảng và và gắn bó với mảnh đất của mình Nếu việc đa dạng hóa và tư nhân hóa

sở hữu đất đai có thể gây ra những bất cập trong chính trị xã hội thì việc lựachọn con đường phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

là đường lối đúng đắn và phù hợp với sự pháứt triển của xu thế khách quan Đâycũng là bước đi sáng tạo để rút ngắn khoảng cách giữa các nước phát triển vàđang phát triển, là bước đà trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hộinhập và phát triển Pháp luật về đất đai chính là khung pháp lí góp phần chocông tác quản lí của chính quyền đồng thời cũng được nhân dân ủng hộ

2.2 Những chính sách mới về đất đai trong thời kì đổi mới đã gắn bó nhân dân với đất đai và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Hòa chung vào không khí phấn khởi của những chính sách đất đai mới, Đảng bộ và nhân dân xã Trực Đạo cũng đưa những chính sách mới vào góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn Việt Nam mới.

Xxã Trực Đạo trong việc thực hiện chỉ thị 100CT-TWluật đất đai

Phấn khởi đón nhận những thay đổi tích cực trong công tác giao đất, giao việc tới tận tay từng hộ gia đình của ban bí thư trung ương Đảng, Đại hội Đảng bộ xã Trực Đạo lần thứ 13(12/1980) đã gắn nội dung, nhiệm

vụ công tác khoán mới theo chỉ thị 100, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cho sản

Trang 36

xuất nông nghiệp giai đoạn 1981-1985 tháng 2 năm 1981, huyện Trực Ninh

đã mở hội nghị sơ kết làm điểm tổ chức khoán mới theo chỉ thị 100 Đảng

bộ và nhân dân xã Trực Đạo thấy đã có đủ điều kiện đi vào công cuộc thực hiện khoán mới từ giữa vụ chiêm năm 1981 theo nội dung hướng dẫn của thông tri số 10 Bộ nông nghiệp Đảng bộ xã đã chỉ đạo hợp tác xã nông nghiệp xây dựng nội dung cụ thể để đi vào công tác khoán, phân chia lại ruộng đất, bình xét lại loại ruộng để căn cứ khoán sản lượng.

Đảng bộ đã thảo luận đề ra phương hướng nhiệm vụ và các xã viên phối hợp cùng các cơ sở thôn đội bàn bạc cụ thể theo hướng công khai dân chủ để định mức khoán và giao nhận ruộng khoán Đội sản xuất có 2 hình thức khoán đó là khoán sảm phẩm đến người lao động và nhóm người lao động Đây là hình thức trả công và quản lí sản xuất gắn xới trách nhiệm và quyền lợi của người lao động với sản phẩm cuối cùng một cách trực tiếp Hình thức thứ 2 đó là đội sản xuất khoán việc cho nhóm lao động hay người lao động Hình thức này gắn trách nhiệm của xã viên với việc được giao một cách trực tiếp và gían tiếp liên quan tới sản phẩm cuối cùng Thực hiện phương hướng đề ra vụ chiêm năm 1981 hợp tác xã Trực Đạo đã giao khoán chi xã viên 2 khâu chăm sóc và thu hoạch Hợp tác xã đảm nhận 6 khâu: cấy, làm đất, phân bón, giống, thủy lợi, bảo vệ thực vật Bắt đầu từ

vụ mùa năm 1981 xã viên đã nhận khoán 3 khâu: cấy chăm sóc và thu hoạch, hợp tác xã đảm nhiệm 5 khâu còn lại Ngoài công tấc khoán trong nông nghiệp, hợp tác xã cón thực hiện việc khoán chăn nuôi lợn tập thể, đàn trâu, nuôi vịt, sản xuất gạch ngói nghiệm thu bằng sản phẩm cuối cùng Kết quả của việc thực hiên công tác khoán theo chỉ thị 100 đó là năng suất lúa tăng ổn định từ năm 1981-1985 là 80 tạ/ha/năm Xã trực Đạo trở thành một trong những thành viên tiêu biểu của câu lạc bộ xã huyện từ

8 đến 10 tấn trong cả nước “trong đó hợp tác xã Trực Đông đạt 90.05 tạ, Trực Trung đạt 90 tạ, Trực Đạo đạt 80.01 tạ”_Lịch sử đảng bộ huyện Trực Ninh(trang 242-243) Việc thực hiện chỉ thị khoán 100 đã dem lại sự mới mẻ

và đột phá trong nông nghiệp, tạo niềm tin, sự phấn khỏi cho người lao

Trang 37

động, cải tiến và đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng hợp lí phân bón, tận dụng đất đai, tiết kiệm chi phí sản xuất đã đem lại lợi nhuận cao trong nông nghiệp và chấm dứt đựơc tình trạng rong công, phóng điểm Việc khoán mới theo chỉ thị 100 là hình thức trả công lao động gắn với quyền lợi của người lao động với sản phảm cuối cùng một cách trực tiếp từ một hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả thu nhập của hợp tác xã Trực Đạo đã tăng lên đáng kể, đại bộ phận xã viên nhận khoán vượt từ 100-500 kg thóc/ vụ Đảng bộ và hợp tác xã đã phát động phong trào toàn dân và các đoàn thể quần chúng tham gia phong trào tiết kiệm, phát triến sản xuất Đoàn thanh niên và hội phụ nữ là những tổ chức đi đầu trong phong trào nhận ruộng tăng cao sản, nuôi lợn và gia cầm, nhận sản xuất lúa giống Năm 1981 phòng nông nghiệp huyện tổ chức hội nghị “đầu bờ” gồm các xã và các cơ quan trong huyện thăm quan hội thảo

về công tác phát triển và sản xuất lúa giống của xã Trực Đạo Hợp tác xã

và xã viên đã cung cấp và bán được 20 tấn lúa giống Hội thảo khoa học nông nghiệp toàn quốc tổ chức tại đại học Huế xã Trực Đạo đã được vinh

dự cử đại diện đi báo cáo về đề tài khoa học thực hiện thâm canh lúa bằng phân bón vi lượng.

Việc đưa nghị quyết khoán 100 vào trong công tác xây dựng nông thôn và nền nông nghiệp mới xã Trực Đạo đã tạo ra bước chuyển căn bản trong bộ mặt kinh tế cũng như đời sống nhân trong xã tập thể có tích lũy,

xã viên có thu nhập lương thực dồi dào Nhân dân đã có điều kiện sắm sửa mua sắm tiện nghi ttrong gia đình và chăm lo việc học hành cho con cái Công tác quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm đúng mức, xã đã đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng bao gồm các công trình như: trường học, trạm xá, cấu cống, lắp đặt hệ thống loa truyền thanh và mua máy biến thế điện

Công tác quốc phòng an ninh dược giữ vững, những hiện tượng gây rối trộm cắp mê tín dị đoan được kịp thời ngăn chặn, an ninh xã họi và trật tự

an toàn giao thông được đảm bảo.

Trang 38

Chỉ thị 100 đã tạo ra một bước ngoặt trong công tác xây dựng nông nghiệp, nông thôn mới Tuy nhiên việc vận dụng những đường lối Đổi mới của Đảng trong đại hội lần VI vẫn chưa được cụ thể hóa bằng những chủ chương chính sách có lợi chi nhân dân Về cơ bản nông nghiệp Việt Nam vẫn lạc hậu và được quản lí theo hướng tập trung, quan liêu, bao cấp Nhà nước vẫn quản lí việc mua bán lương thực, thực phẩm và vật tư nông nghiệp mặc dù giao ruộng đất cho nông dân nhưng lại không để họ tự do canh tác không để họ tự do phát triển sản xuất vì thế người nông dân thấy mình càng làm ra nhiều của cải thì lại càng phải nộp thuế cho nhà nước nhiều Sản xuất bắt đầu ngưng trệ lại, nhiều hộ xã viên đã bắt đầu nợ đọng sản phẩm Không ít hộ nông dân đã trả lại ruộng khoán và tìm đi nơi khác

để kiếm sống.

Xã Trực Đạo trong công tác thực hiện chính sách khoán 10:

Xuất phát từ cầu thực tế, phát huy những thành tựu bước đầu đạt được củachỉ thị 100 và tình trạng nông nghiệp của đất nước chỉ thị khoán 10 đã ra đờilamh thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn Việt Nam Nghị quyết 10 đã thực sựđưa nông nghiệp Việt Nam “cất cánh” Hòa trong khong khí đi lên ấy, Đảng bộ

và nhân dân xã Trực Đạo đã vận dụng chính sách và đường lối của Bộ chính trịvào trong nông nghiệp góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển Ngày 15 tháng

10 năm 1988, Đại hội Đảng bộ xã Trực Đạo lần thứ 16 đã họp và đón nhận Chỉthị số 67 của Ban Bbí thư Ttrung ương Đảng và Nnghị quyết 10 của Bbộ C

chính trị về đổi mới quản lí kinh tế trong nông nghiệp Thực hiện tinh thần củaĐại hội, trong xã các thôn đội đã đón nhận nghị quyết 10 với một tinh thần phấnkhởi và hi vọng Tuy vậy trong nghị quyết 10 lại không đưa ra thời hạn và diệntích giao khoán cụ thể do đó việc giao đất còn nhiều bất cập Xuất phát từ thực

tế ấy ngày 15/12/1992 Ủy ban nhân dânUBND tỉnh Hà Nam Ninh đã ra qQuyếtđịnh số 115/QĐUB “về việc ban hành quy định những nộọi dung đổi mnới quản

lí hợp tác xã nông nghiệp nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao việc thực hiệnnghị quyết khoán 10 của Bbộ Cchính ttrị và thựcvafthuwcj hiện nghị Nghị quyết

Trang 39

Đđại hội Đảng lần VII” Nội dung cơ bản của Nnghị quyết 115 về đất đai đượcquy định:

- Thông qua hợp tác xã nông nghiệp thực hiện giao quyền sử dụng đất ổnđịnh, dài hạn cho các hộ nông dân, thời gian giao ruộng là 10 năm, giaoruộng đất cho các hộ sản xuất theo khẩu để sản xuất nông nghiệp

- Dành khoảng 10-15% đất nông nghiệp để làm đất công ích, diện tích nàychủ yếu để chia cho các nhân khẩu mới sinh trong kế hoạch Diện tích nàychủ yếu do hợp tác xã quản lí, giao khoán và cho thuê

Quyết định 115 đã tháo gỡ những vướng mắc và hạn chế của nghị quyếtkhoán 10 Ngay sau khi nghị quyết ra đời và có hiệu lực xã và hợp tác xã đã chiaruộng đất làm 6 loại và giao thẳng cho người dân Song song với hoạt động chiaruộng, từng hộ gia đình được nhận ruộng thực hiện phương châm giao đất theophương thức có gần có xa, có tốt, có xấu, có cao, có thấp Mỗi một nhân khẩu trong

xã được giao 1 sào 3 (tương đương với 370.8 m2 đất) Người nông dân phấn khởinhận ruộng đất được chia sau bao nhiêu năm lao động theo hướng tập thể gò bó vàkhông hiệu quả Không có một hộ gia đình nào thắc mắc về cách chia ruộng nhưthế này nên công tác chia ruộng đất cho nhân dân được thực hiện một cách côngbằng, dân chủ và nhanh chóng Với việc chia ruộng đất cho nông dân, nhân dânđược quay về làm chủ ruộng đất, được tự do “suy nghĩ trên luống cày của họ” nênmọi hộ gia đình đã tích cực tham gia lao động, sản xuất tạo ra động lực lớn thúcđẩy nông nghiệp phát triển Với sự hăng say ấy thời kì “dậm chân tại chỗ của nềnnông nghiệp đã kết thúc, lịch sử nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệpTrực Đạo nói riêng đã bước sang một trang mới huy hoàng.” !

Với việc thực hiện đường lối đúng đắn của Đảng và sự lãnh đạo chỉđạo của Đảng bộ xã, nền kinh tế xã Trực Đạo đã phát triển tương đối đồng đều.Nghị quyết đại hội đảng đã đi vào cuộc sốông của nhân dân bằng việc áp dụngnhững thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến vào trong sản xuất, điển hình làtrong công tác thay đổi cơ cấu giống lúa Bên cạnh những giống lúa truyềnthống ngon nổi tiếng như tám thơm, nếp hoa vàng vẫn được bà con sử dụng, xã

đã hướng dẫn các hộ nông dân bỏ những giống lúa sâu bệnh kém năng suất nhưquy năm, VN10, và đưa vào trong sản xuất giống lúa mới như tạp giao, bắc ưu

Trang 40

với ưu điểm vượt trội là những giống lúa ngắn ngày, năng suất cao (2.5- 3tạ/sào), khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Đồng thời bà con nông dân đã khaithác mọi tiềm năng đất đai, cấy 100% diện tích chân mạ, các loại cây vụ đôngnhư ngô và rau màu được đưa vào trong sản xuất trên diện tích đất hai lúa.

Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển , xã đã triệt để khai thác những côngtrình thủy lợi sẵn có đồng thời cũng tu bổ và xây mới một số công trình phục vụcho công tác tưới tiêu Về phân bón, xã luôn chuẩn bị đầy đủ lượng phân bón đểcung cấp cho người dân, trước mỗi vụ cấy xã đều có kế hoạc hướng dẫn tuyêntruyền cho các hộ xã viên về công tác bón lót cho lúa Nhờ sự quan tâm và chỉđạo sát sao của Đđảng ủy, và hợp tác xã nông nghiệp, trên tổng diện tích gieotrồng là 403,3 ha năng suất lúa đã đạt 78,02 tạ/ha năm 1988 tới năm 1990 năngsuất là 83,4 tạ/ha

Đó là những thắng lợi lớn củua Đảng bộ và nhân dân xã Trực Đạo trongcông tác thực hiện những chủ trương của Đảng góp phần thay đdổi toàn diện bộmặt nông nghiệp trong xã nói riêng và toàn bộ nền nông nghiệp Việt Nam nóichung Đóng góp nhỏ bé của xã Trực Đạo đã góp phần đưa nền nông nghiệpViệt Nam hội nhập thế giới Đánh dấu cho sự thắng lợi chung ấy là sự kiệntháng 6 năm 1989, 1,2 triệu tấn gạo của Việt Nam đã rời cảng Sài Gòn xuất khẩu

ra thế giới Sự kiện ấy như một mốc son chói lọi thể hiện đường lối đúng đắncủa Đảng, sự đồng lòng của nhân dân đồng thời chính thức mở ra một trang sửmới cho nông nghiệp Việt Nam Xã Trực Đạo thực hiện luật đất đai năm 1993:NChính sách đất đai năm 1993, chính là kết quả thực tiễn của công tác triểnkhai nghị quyết 10 của trung ương Đảng vào vấn đề nông nghiệp nông thôn.Thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của tỉnh ủy, huyện ủy, Đảng ủy xã đã bổ sungthêm trong công tác giao đất cho các hộ nông dân đó là nghĩa vụ nộp thế đối vớinhà nước Đón nhận luật đất đai năm 1993 xã Trực Đạo theo sự chỉ đạo của

Ttỉnh ủy và phòng nông nghiệp huyện đã kịp thời triển khai công tác trong thihành luật đất đai mới Xã đã chính thức thông qua định mức đóng góp của xãviên trong công tác thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Theo đó nhân dânphải nộp hai loại thuế bao gồm thuế nhà đất và thuế nông nghiệp Trong đó thuế

Ngày đăng: 13/06/2016, 21:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban bí thư Trung Ương Đảng, Chỉ thị 100-CT/TW 31/8/1988 về cải tiến công tác khoán mở rộng đến nhóm người lao động và hợp tác xã nông nghiệp.Chỉ thị 100-CT/TW 31/8/1988 về cải tiến công tác khoán mở rộng sản phẩm đến nhóm người lao động và hợp tác xã nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 100-CT/TW 31/8/1988 về cải tiến côngtác khoán mở rộng đến nhóm người lao động và hợp tác xã nông nghiệp
2. Bộ chính trị, Nghị quyết 10- NQ/TW 5/4/1998 về đổi mới và quản lí kinh tế nông nghiệp. Nghị quyết 10- NQ/TW 5/4/1988 về đổi mới và quản lí kinh tế nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 10- NQ/TW 5/4/1998 về đổi mới và quản lí kinh tếnông nghiệp
3. Bộ chính trị, Nghị quyết 10-NQ/TW về thực hiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp. Nghị quyết 03- NQ/TW về thực hiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 10-NQ/TW về thực hiện khoán sản phẩm trongnông nghiệp
4. Đỗ Phú Thọ, Khắc phục tình trạng đất manh múnKhắc phục tình trạng đất manh mún, Báo Quân đội nhân dân (trang 4-5), số ra ngày 9-6-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khắc phục tình trạng đất manh mún
5. Hoàng Việt (1999), Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế nhiều thànhphần ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
6. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Địnhh ,(2005),, Địa chí Nam ĐịnhĐịa chí Nam Định, Nhà xuất bảnNxb Chính trị quốc gia.,2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí NamĐịnh
Tác giả: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Địnhh
Nhà XB: Nhà xuất bảnNxb Chính trị quốc gia.
Năm: 2005
7. Kiều Thắng ( , 2010 ) , Nam Định triển khai xây dựng nông thôn mới Nam Định triển khai xây dựng nông thôn mới , Báo Nam Định . , 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Định triển khai xây dựng nông thôn mới "NamĐịnh triển khai xây dựng nông thôn mới , Báo Nam Định
11. Ngọc Thắngg, (2003),, Trực Ninh đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, Báo Nam Định, số 858, trang 3., 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trực Ninh đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Tác giả: Ngọc Thắngg
Năm: 2003
124. Nguyễn Xuân Minh, Lịch sử Việt Nam (1945-2000), Nxb Giáo dục, 1993.Thành Trung, Trực Ninh phát triển kinh tế trang trại, gia trại, báo Nam Định, (trang 3) số ra ngày 13-9- 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trực Ninh phát triển kinh tế trang trại, gia trại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
13.Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định, (2002),, Kế hoạch triển khai thực hiện dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp ở Nam Địnhxuất nông nghiệp ở Nam Định, số 124/VP3., 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch triể"n "khai thực hiện dồnđiền đổi thửa tron"g "sản xuất nông nghiệp ở Nam Định
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định
Năm: 2002
14. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định, (2011), Báo cáo công tác dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định, số 79/BC- UBNDNĐ., 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác dồn điền đổithửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định
Năm: 2011
15. Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, Báo cáo công tác dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh, số 88/ BC-UBND 16. Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, (2011), Niên giám thống kê huyện TrựcNinh từ năm 1987-2011, Công ty cổ phần in Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác dồn điền đổi thửatrong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh", số 88/ BC-UBND16. Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, (2011), "Niên giám thống kê huyện Trực"Ninh từ năm 1987-2011
Tác giả: Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, Báo cáo công tác dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Trực Ninh, số 88/ BC-UBND 16. Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh
Năm: 2011
17.Uỷ ban nhân dân xã Trực Đạo, (2010), Thuyết minh xây dựng và quy hoạch nông thôn mới ở xã Trực Đạo., 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết minh xây dựng và quy hoạchnông thôn mới ở xã Trực Đạo
Tác giả: Uỷ ban nhân dân xã Trực Đạo
Năm: 2010
18. Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh, (2007), Lịch sử Đảng bộ huyện Trực Ninh (1945-2005), Công ty cổ phần in Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện TrựcNinh (1945-2005)
Tác giả: Uỷ ban nhân dân huyện Trực Ninh
Năm: 2007
19. Uỷ ban nhân dân xã Trực Đạo ,( 2007), Lịch sử Đảng bộ xã Trực Đạo (1945-2005), Công ty cổ phần in Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ xã Trực Đạo(1945-2005)
20. Vương Xuân Tình, Bùi Minh Đạo (, 2000),, Sở hữu và sử dụng đất đai truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam, (chương trình cải cách hành chính Việt Nam- Thụy Điển, Hà Nội., 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở hữu và sử dụng đất đaitruyền thống của các dân tộc ở Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. luợc đồ xã Trực Đạo - Vấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)
Hình 1.1. luợc đồ xã Trực Đạo (Trang 13)
BẢNG HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT - Vấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)
BẢNG HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT (Trang 67)
Hình 1: Đất sản xuất nông nghiệp - Vấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)
Hình 1 Đất sản xuất nông nghiệp (Trang 102)
Hình 3: Đất tôn giáo (chùa Ngọc Giả) - Vấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)
Hình 3 Đất tôn giáo (chùa Ngọc Giả) (Trang 103)
Hình 6: Đất chuyên dùng (trạm y tế xã Trực Đạo) Nguồn ảnh: Lịch sử Đảng bộ xã Trực Đạo - Vấn đề sử dụng đất ở xã trực đạo, huyện trực ninh, tỉnh nam định (1986 2012)
Hình 6 Đất chuyên dùng (trạm y tế xã Trực Đạo) Nguồn ảnh: Lịch sử Đảng bộ xã Trực Đạo (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w