1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thị trường chứng khoáng việt nam

33 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cổ phiếu đã phát hành: là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó, nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với

Trang 1

Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán

là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểumua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh.Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC là nơimua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ haythủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán

b Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành

và thị trường giao dịch

Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoánđược phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầutư

c Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trườngtương lai

Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngàygiao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếptheo sau đó vài ngày theo qui định

Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợpđồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việcthanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạnnhất định trong tương lai

d Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá trên thị trường chứng khoán có thịtrường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường phát sinh

* Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu

* Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu

* Thị trường phát sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứngkhoán

Trang 2

3 Vai trò của thị trường chứng khoán.

a Đối với chính phủ.

Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sửdụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Chínhphủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vàocác dự án cần thiết của mình

Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá.Chính thị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiếtcủa thị trường chứng khoán một cách tốt nhất Từ đó khuyến khích việc cổphần hoá nhanh lên các doanh nghiệp quốc doanh

Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ Lãi suấtthị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bántrái phiếu.Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu

tư gián tiếp từ nước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán

b Đối với các doanh nghiệp.

Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay không cóchi phí tiền vay cao ở các ngân hàng Các doanh nghiệp có thể phát hành cổphiếu hoặc trái phiếu Hoặc chính thị trường chứng khoán tạo ra tính thanhkhoản để cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền Nhưvậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hìnhthức huy động vốn và đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cảnền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vôhình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường Từ đó tạo ra một môitrường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kíchthích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng Thịtrường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanhnghiệp

c Đối với nhà đầu tư.

Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếmcác cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư

4 Nhược điểm của thị trường chứng khoán.

a Yếu tố đầu cơ

Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro Họ có thể mua cổphiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi đượclợi nhuận trong từng thương vụ Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làmcho giá cổ phiếu có thể tăng giả tạo Tuy nhiên thị trường không cấm yếu tốnày

Trang 3

b Mua bán nội gián.Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng

vị trí công việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị pháthành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thườngnhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường.Đây là hành vi phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước

c Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc

Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hìnhnội bộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng haygiảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân

d Mua bán cổ phiếu ngầm

Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứngkhoán Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việckhống chế hay thay thế lãnh đạo.Việc phao tin đồn không chính xác và muabán cổ phiếu ngầm đều bị cấm ở các nước

5 Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán.

a Nguyên tắc trung gian

Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thôngqua tổ chức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán Trên thịtrường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà pháthành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp,thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán muachứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tưnày để mua và bán cho các nhà đầu tư khác

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch làchứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợicủa các nhà đầu tư

b Nguyên tắc định giá

Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhàtrung gian môi giới Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoántại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán

có trên thị trường Việc định giá chứng khoán được thực hiện thông quacuộc thương lượng giữa những người trung gian môi giới cần mua và cầnbán Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất Tất cả các thành viên

có liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sựtác động qua lạicủa số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền địnhgiá chứng khoán một cách độc đoán Vì thế thị trường chứng khoán được coi

là thị trường tự do nhất trong các thị trường

c Nguyên tắc công khai hoá

Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá

về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình

Trang 4

hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượngchứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trongcác báo cáo Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán đượcmua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay Nguyên tắc nàynhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị

hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọnloại chứng khoán theo sở thích của mình

II CHỨNG KHOÁN.

1 Khái niệm.

Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư

và nó xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm nhữngđiều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năngchuyển nhượng

b Căn cứ theo tính chất thu nhập có chứng khoán có thu nhập ổn định,

chứng khoán có thu nhập không ổn định và chứng khoán hỗn hợp

Chứng khoán có thu nhập ổn định là các trái phiếu thu nhập của nó khôngphụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

Chứng khoán có thu nhập không ổn định là các cổ phiếu thường, thu nhậpcủa nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty và chính sáchtrả cổ tức

Chứng khoán hỗn hợp là cổ phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không phụthuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.c Căn cứ theo chủ thểphát hành có chứng khoán Chính phủ và chứng

khoán công ty

Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính phủtrung ương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho bạc,trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước

Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ phầnphát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứngkhoán

3 Trái phiếu.

a Đặc điểm

Trang 5

Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền đòi nợbao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và

có khả năng chuyển nhượng

Từ khái niệm trên ta thấy trái phiếu có đặc điểm là có thu nhập ổn định, cókhả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn Đồng thời trái chủ không cóquyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị Nhưng trái phiếu đemlại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh

lý tài sản khi công ty phá sản

b.Một vài loại trái phiếu

Trái phiếu có lãi suất cố định là trái phiếu cho lãi suất cố định ngay tại thờiđiểm phát hành

Trái phiếu có lãi suất thả nổi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh theotừng thời kỳ

Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó đượcmua với giá thấp so với mệnh giá Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm sẽbằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn.Trái phiếu thu nhập là trái phiếuđược phát hành bởi các công ty đang trong thời kỳ tổ chức lại Công ty pháthành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công

ty có đủ thu nhập

Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thể mua lại tráiphiếu vào một thời gian nào đó Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi mộtvài năm sau khi chúng được phát hành

Trái phiếu có thể chuyển đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó đượcchuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu nhất định với giá xác định

Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó cóquyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ởmột giá xác định (một giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cổ phiếu).Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát hànhtại một nước khác Trái phiếu Dollar làtrái phiếu phát hành bằng đồng Đôla

Mỹ ở các nước ngoài nước Mỹ

Trái phiếu Yankee là trái phiếu của các công ty và Chính phủ nước ngoàiphát hành bằng Đôla Mỹ và được giao dịch ở thị trường Mỹ

4 Cổ phiếu.

a Khái niệm

Cổ phiếu là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhậnquyền sở hữu về tài sản và những điều kiện về thu nhập trong một khoảngthời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng Có hai loại cổ phiếu là cổphiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

b Các loại cổ phiếu

Trang 6

Khi xem xét Cổ phiếu của Công ty cổ phần, thường có sự phân biệt cổ phiếuđược phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đanglưu hành.

Cổ phiếu được phép phát hành: Khi công ty cổ phần được thành lập, thìđược phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn Nhưng luật pháp các nướcquy định công ty phải đăng ký tổng số cổ phiếu của công ty và phải ghi trongđiều lệ công ty và được gọi là cổ phiếu được phép phát hành' hay cổ phiếuđăng ký Cổ phiếu được phép phát hành là số lượng cổ phiếu tối đa của mộtcông ty có thể phát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quátrình hoạt động Khi cần có sự thay đổi số lượng cổ phiếu được phép pháthành thì phải được đa số cổ đông bỏ phiếu tán thành và phải sửa đổi điều lệcông ty

Cổ phiếu đã phát hành: là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu

tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó,

nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành

Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính tổchức phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình Số cổ phiếu này có thểđược công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra; luật pháp một sốnước quy định số cổ phiếu này không được bán ra mà phải hủy bỏ Cổ phiếuquỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó; do đókhông được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền thamgia bỏ phiếu

Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trênthị trường và do các cổ đông đang nắm giữ Số cổ phiếu đang lưu hành đượcxác định như sau:

Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành - Số cổ phiếuquỹ

Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi,người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một.Số cổ phiếu thường đang lưuhành là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty

Dựa vào hình thức cổ phiếu, có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu

vô danh

 Cổ phiếu ghi danh: là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổphiếu Cổ phiếu này có nhược điểm là việc chuyển nhượng phức tạp, phảiđăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng Quản trị của công

ty cho phép

 Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu Cổ phiếunày được tự do chuyển nhượng mà không cần thủ tục pháp lý

Trang 7

Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể phânbiệt cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi - Đây là cáchphân loại phổ biến nhất Khi nói đến cổ phiếu của một công ty, người tathường nói đến cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi.[1]

 Là loại cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh củacông ty Người sở hữu cổ phiếu phổ thông được tham gia họp Đại hộiđồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng nhấtcủa công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng Quản trị củacông ty

 Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả, vì đây không phải làkhoản nợ đối với công ty

 Cổ đông được chia phần giá trị tài sản còn lại khi thanh lý công ty saukhi công ty đã thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho các cổ đông ưuđãi

 Người góp vốn vào công ty không được quyền trực tiếp rút vốn ra khỏicông ty, nhưng được quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phần dưới hìnhthức bán lại cổ phiếu hay dưới hình thức quà tặng hay để lại cho ngườithừa kế Chính điều này đã tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu công ty,đồng thời cũng hấp dẫn nhà đầu tư

 Được quyền ưu tiên mua cổ phiếu khi công ty phát hành cổ phiếu mới

để tăng vốn

 Được quyền triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường theo luật định

 Cổ đông thường cũng phải gánh chịu những rủi ro mà công ty gặpphải, tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trongphạm vi số lượng vốn góp vào công ty.[2]

III CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

Thị trường chứng khoán phát triển gắn liền với nhu cầu và khả năng của nềnkinh tế và cơ chế kinh tế Thị trường chứng khoán sẽ đáp ứng nhu cầu vềvốn đầu tư cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt nam hiệnnay, một vấn đề được xem là cần thiết hơn bao giờ hết Nhưng hiện nay nềnkinh tế và cơ chế kinh tế tài chính Việt nam còn cần phải giải quyết nhiều vấn

đề để tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả

Một thị trường chứng khoán có thể được tổ chức dễ dàng, tuy nhiên duy trìđược nó hoạt động đều đặn, lành mạnh, có hiệu quả và ngày càng phát triểnthì rất khó khăn Một thị trường chứng khoán chỉ có thể phát huy hiệu quả khi

nó được hoạt động trong một môi trường kinh tế, tài chính lành mạnh Nghĩa

là phải có một hệ thống hạ tầng cơ sở phù hợp từ những nội dung thuộc vềyếu tố chủ quan và khách quan của thị trường chứng khoán

Trang 8

1 Cơ chế kinh tế tài chính:

Đây là yếu tố nền tảng, bảo đảm cho khả năng có chứng khoán lưu thôngtrên thị trường Yếu tố kinh tế- tài chính được hình thành bởi các chính sáchkinh tế- tài chính của Nhà nước

a Về kinh tế:

Với đường lối đổi mới của Việt nam là phát triển kinh tế nhiều thành phần vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, 10 năm qua Việtnam đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu thành phần kinh tế và loại hình

tổ chức kinh doanh

- Khu vực kinh tế nhà nước, các công ty được giao vốn, trao quyền tự chủsản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm bảo toàn vốn và kinh doanh có lãi.Các doanh nghiệp nhà nước, qua một giai đoạn tổ chức sắp xếp lại, đã bị giảitán hoặc sáp nhập những doanh nghiệp thua lỗ không có khả năng phát triển,đồng thời thực hiện chương trình cổ phần hoá Để có sự hỗ trợ về kỹ thuậtđiều hoà vốn và phân bố hợp lý thị trường (kể cả thị trường trong nước vàxuất khẩu), Chính phủ đã thành lập một số tổng công ty (tổng công ty lươngthực, Tổng công ty xi măng, Tổng công ty thép, Tổng công ty xây dựng, tổngcông ty than )Trực thuộc Tổng công ty là các công ty hạch toán kinh tế độclập Tổ chức nội bộ tổng công ty có cơ cấu và mục đích tương tự như các tậpđoàn kinh tế ngành Kết quả của các chính sách kinh tế trong khu vực kinh tếnhà nước trong thời gian qua đã khắc phục được một phần tình trạng bù lỗcủa ngân sách Ngân sách không còn bù lỗ tràn lan cho các doanh nghiệpnhà nước Nhiều doanh nghiệp từ chỗ thua lỗ hoặc hoà vốn đã chuyển sang

có lãi, có tích luỹ nội bộ và nộp ngân sách nhà nước

- Khu vực kinh tế tư nhân, có ba hình thức tổ chức: doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần

Doanh nghiệp tư nhân, còn gọi là doanh nghiệp cá thể, do một người làmchủ, đồng thời là người điều hành công ty Doanh nghiệp tư nhân là loại công

ty trách nhiệm vô hạn Nghĩa là người chủ được hưởng toàn bộ lợi nhuận khidoanh nghiệp có lãi, đồng thời người chủ cũng phải chịu hết mọi rủi ro khikinh doanh thất bại, khi thua lỗ tài sản phải thanh lý để trả nợ không phải chỉ

là số tài sản của người chủ đã đưa vào kinh doanh, mà cả tài sản của giađình

Công ty trách nhiệm hữu hạn, là loại doanh nghiệp hợp doanh, tức là loạicông ty có hai hay nhiều người cùng hùn vốn cùng làm chủ và quản trị công

ty Trong trường hợp có một thành viên muốn rời bỏ công ty, họ phải tìm mộtngười khác thay thế và phải được các thành viên khác chấp thuận Việcchuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do Lợi

Trang 9

nhuận được phân bổ cho các thành viên theo tỷ lệ chung vốn Trong trườnghợp thua lỗ cũng được xử lý tương tự.

Công ty cổ phần là một pháp nhân tồn tại độc lập với những sở hữu chủ Cơcấu vốn của công ty cổ phần được thực hiện theo phương thức chia nhỏ vốnthành những phần bằng nhau gọi là vốn cổ phần Người đầu tư thực hiệnviệc đầu tư bằng hình thức mua cổ phần Người có cổ phần gọi là cổ đông.Mỗi cổ đông có thể mua ít hoặc nhiều cổ phần theo khả năng Cổ đông thựchiện quyền quản trị và kiểm soát công ty thông qua việc hoạch định các chínhsách, bầu cử và ứng cử vào cơ quan quản lý, kiểm soát và điều hành công ty.Quyền kiểm soát và quản trị công ty của cổ đông được phân chia theo mức

độ góp vốn Cổ đông chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong giớihạn số vốn cổ phần của mình Họ không bị đụng chạm đến tài sản của giađình khi công ty thua lỗ Sự rủi ro của sở hữu chủ chỉ là giới hạn

Cơ cấu công ty cổ phần có Đại hội cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhấtthực hiện quyền hoạch định chính sách, ban hành điều lệ, bầu Hội đồng quảntrị, bầu chủ tịch,Phó chủ tịch hội đồng quản trị, và cử ban điều hành

So với khu vực kinh tế nhà nước, vốn bình quân một đơn vị trong khu vựckinh tế tư nhân thấp, đặc biệt công ty cổ phần vốn bình quân chỉ có 10 tỷđồng, trong khi với công cụ cổ phiếu khả năng tăng vốn là rất lớn Lịch sửphát triển kinh tế thế giới đã chứng minh kinh tế tư nhân tổ chức dưới hìnhthức công ty cổ phần là động lực chính thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và

xã hội hoá hoạt động kinh tế

- Trong khu vực kinh tế của người nước ngoài, hoặc có sự tham gia củangười nước ngoài Theo luật đầu tư hiện hành Việt Nam có ba hình thức: hợpđồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nướcngoài

Hợp đồng hợp tác kinh doanh, được thực hiện dưới dạng một hợp đồngđược ký bởi một hay nhiều bên của Việt Nam với một hay nhiều bên nướcngoài nhằm mục đích cùng tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh tạiViệt Nam trên cơ sở phân chia trách nhiệm và lợi nhuận giữa hai bên Hìnhthức này không tạo ra một pháp nhân kinh doanh độc lập Nó được áp dụngphổ biến trong lĩnh vực thăm dò dầu khí giữa Petrol Việt Nam với các công tydầu khí nước ngoài

Xí nghiệp liên doanh, đó là một pháp nhân độc lập, được thành lập theo luậtViệt Nam và chịu sự điều chỉnh của luật Việt Nam Là một liên doanh đượcthiết lập dưới dạng một công ty trách nhiệm hữu hạn Tức là bên này chỉ chịutrách nhiệm với bên kia hoặc bên thứ ba hoặc trước pháp luật trong phạm vi

số vốn đóng góp

Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, là xí nghiệp thuộc quyền sở hữu của

tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách

Trang 10

nhiệm về kết quả kinh doanh Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là mộtpháp nhân Việt Nam và là công ty trách nhiệm hữu hạn Xí nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài nghĩa là toàn bộ vốn điều lệ (vốn ban đầu) là của ngườinước ngoài đưa vào Trong quá trình hoạt động nhu cầu vốn tăng lên xínghiệp có thể huy động vốn vay, nhưng vốn điều lệ không dưới 30% vốn hoạtđộng.

Tuy vẫn là một cơ quan của Chính phủ, nhưng đến nay, tính độc lập củaNgân hàng Nhà nước đã được củng cố một cách có ý nghĩa Thống đốcNgân hàng Nhà nước là người quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc thựchiện chính sách tiền tệ và vai trò kiểm soát, quản lý Nhà nước của Ngân hàngNhà nước Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành chính sách và ấn định

tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ấn định mức khống chế lãi suất tín dụng, hạn mức tíndụng cho các ngân hàng thương mại, ấn định tỷ giá hối đoái chính thức, lãisuất chiết khấu

- Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển, quỹ tín dụng và công

ty tài chính, là những tổ chức kinh doanh tiền tệ hoạt động chủ yếu và thườngxuyên, nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay tín dụng, thực hiện nghiệp

vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

Về hoạt động đang từng bước được mở rộng và đa năng hoá, đa dạng hoánghiệp vụ: tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá, đầu tư qua hùn vốn liên doanhhoặc mua cổ phiếu, dịch vụ cầm đồ, tài trợ bán hàng trả góp, tín dụng thuêmua

Về cơ cấu vốn cho vay đã có sự thay đổi tích cực Tỷ trọng vốn cho vay trung

và dài hạn, và cho vay khu vực kinh tế tư nhân tuy còn rất nhỏ nhưng xuhướng ngày càng gia tăng Hiệu quả tín dụng đã được nâng lên rõ rệt, tìnhtrạng nợ quá hạn đã giảm đáng kể Tuy nhiên hoạt động của các ngân hàng

và công ty tài chính Việt Nam hiện vẫn còn những tồn tại khá lớn, đã ảnhhưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển một thị trường tài chính nóichung, thị trường vốn nói riêng

2 Hệ thống pháp lý

Nếu như yếu tố kinh tế là nền tảng của thị trường chứng khoán, thì yếu tốpháp lý sẽ là công cụ duy trì cho thị trường chứng khoán hoạt động đều đặn,lành mạnh, có hiệu quả và ngày càng phát triển

Trang 11

Không phải bất cứ doanh nghiệp nào khi có nhu cầu về vốn đầu tư cũng cóthể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu, và đưa các loại chứng khoán đó vàogiao dịch trong một thị trường chứng khoán tập trung (Sở giao dịch chứngkhoán) Muốn được phát hành chứng khoán ra công chúng, và đưa chứngkhoán đó vào giao dịch tại một Sở giao dịch chứng khoán, đơn vị phải hội đủnhững điều kiện tiêu chuẩn theo luật định, và phải được một cơ quan chuyênmôn có thẩm quyền của Nhà nước cho phép.

Hoạt động giao dịch, thương lượng, đấu giá chứng khoán trên thị trườngchứng khoán phải đặt trên căn bản lòng tin Sở hữu chủ chứng khoán đượcxác nhận trên các căn cứ giấy tờ của các tổ chức môi giới chứng khoán Dovậy, thị trường chứng khoán đòi hỏi phải có hệ thống luật pháp đầy đủ

Quan hệ mua bán chứng khoán là quan hệ vật chất giữa các chủ thể là cánhân hoặc pháp nhân, do đó đòi hỏi phải có luật dân sự và luật thương mại.Xét về tính chất kinh tế, mua bán chứng khoán là hành động đầu tư, do đóphải có luật đầu tư Chủ thể phát hành chứng khoán trên thị trường chứngkhoán là các doanh nghiệp và kho bạc Nhà nước, Chính phủ và chính quyềnđịa phương Do đó phải có luật doanh nghiệp Nhà nước, luật doanh nghiệp

tư nhân, luật công ty cổ phần, Ngoài ra là hệ thống pháp luật về quản lýphát hành, kinh doanh và giao dịch của thị trường chứng khoán

Hệ thống luật kinh tế của Việt Nam tuy còn bị đánh giá là non yếu, song trongmấy năm gần đây Quốc hội Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề này Mộttrong những điều kiện pháp lý tiên quyết, quan trọng nhất đối với một thịtrường chứng khoán thành công là phải có luật công ty phù hợp với yêu cầucủa thị trường chứng khoán Khi giao dịch chứng khoán trên thị trường thứcấp, chỉ là giao dịch các giấy chứng nhận cổ phần do các cơ sở quản lý lưu

ký chứng khoán cấp Luật nhiều nước quy định cấp giấy chứng nhận cổ phầnkhi đã đăng ký tên cổ đông Ở Việt Nam, vai trò kiểm soát hoạt động kinh tếcủa Nhà nước đang được chú trọng Vì vậy rất cần phát hành loại cổ phiếu

có ghi tên

3 Yếu tố tâm lý:

Tổ chức thị trường chứng khoán trước hết là để động viên mọi nguồn vốn tiếtkiệm, để dành trong công chúng, và để thu hút những nguồn vốn to lớn từnước ngoài vào công cuộc đầu tư Yếu tố tâm lý đòi hỏi thị trường chứngkhoán phải có tính động viên và khả năng thu hút

Động viên nguồn vốn trong nước: với cơ chế hiện tại Việt Nam có hệ thốngngân hàng và kho bạc Nhà nước huy động vốn với lãi suất từ 0,9 -1,2%/tháng, tức là từ 10,8 - 14%/năm Như vậy có 3 vấn đề lớn đặt ra: bỏ tiềnvào thị trường chứng khoán có an toàn không? Đầu tư qua chứng khoán cólãi suất cao hơn gửi tiết kiệm hoặc mua tín phiếu kho bạc không? Và khi cần

Trang 12

người có chứng khoán có thể bán nó đi một cách dễ dáng mà vẫn có lãikhông?

Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải căn cứ trên những điều kiện

và thủ tục cần thiết, việc kinh doanh chứng khoán phải đặt dưới sự giám sátcủa Nhà nước Bất cứ nước nào cũng vậy, luật pháp về phát hành và kinhdoanh chứng khoán trước hết là nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư Do

đó, có thể nói những hành vi lừa đảo trong thị trường chứng khoán sẽ đượchạn chế đến mức tối đa, khi có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, và luật pháp

đó được thi hành nghiêm minh

Quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán phụ thuộc vàonhiều yếu tố: Tình hình ổn định chính trị, an ninh, tình hình phát triển của cảnền kinh tế Nhưng trong đó ảnh hưởng trực tiếp nhất là uy tín trong kinhdoanh của công ty phát hành chứng khoán Nếu công ty phát hành tốt, có lãicao, thì chắc chắn loại chứng khoán đó sẽ có người mua, sở hữu chủ có thểbán chứng khoán của mình đi một cách dễ dàng mà vẫn có lãi Chứng khoán,

cổ phiếu cũng như trái phiếu có nhiều loại Để phù hợp với tâm lý dân chúng,đơn vị phát hành phải biết lựa chọn để phát hành những loại chứng khoánphù hợp ở thời điểm phát hành ra công chúng Trong tình trạng nền tiền tệcòn lạm phát, người dân chưa yên tâm đầu tư dài hạn với loại cổ phiếu thôngthường hoặc trái phiếu có lãi suất cố định, thì cần phải phát hành loại cổphiếu ưu đãi và trái phiếu có lãi suất thả nổi Về nguyên tắc, thị trường chứngkhoán là một định chế tài chính thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài

Vì lý do này, hoạt động của thị trường chứng khoán phải được giám sát bởimột cơ quan quản lý mạnh để đảm bảo sự chính xác, công bằng và đầy đủtrong công khai thông tin về đơn vị phát hành và trong giao dịch Qua đó, đảmbảo nhà đầu tư có được một thị trường lành mạnh, bình đẳng Để có thịtrường chứng khoán có khả năng thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, thịtrường chứng khoán đó phải đặt trong một môi trường có chế độ chính trị,kinh tế, tiền tệ ổn định và hệ thống luật pháp hoàn chỉnh Do đó, vấn đề chính

là phải kiểm soát được lạm phát, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và xác định

rõ ràng hệ thống chính sách về thị trường chứng khoán, đặc biệt là các chínhsách đối với nhà đầu tư nước ngoài để họ thấy được quyền lợi và sự đảmbảo an toàn khi đầu tư vào chứng khoán Việc này có thể thực hiện bằngcách cho phép các công ty chứng khoán nước ngoài tham gia vào thị trườngchứng khoán và có một chính sách thuế thu nhập, thuế đầu tư hợp lý, kiểmsoát số lượng một loại chứng khoán cụ thể được nắm giữ bởi một nhà đầu tưnước ngoài một cách tối đa

IV CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lại xuất hiện một trào lưu, một chiến thuật đầu tưmới, mỗi lần như vậy nhà đầu tư Việt Nam lại có những hành động để phù

Trang 13

hợp với hoàn cảnh mới Liệu sắp tới nhà đầu tư Việt Nam có thay đổi quanđiểm đầu tư, khi thị trường đã lình xình khá lâu và quan điểm đầu tư cũ đãkhông còn phù hợp.

Bắt đầu từ năm 2006, khi mà thị trường chứng khoán Việt Nam bùng nổ, nhànhà chơi chứng khoán, từ chuyên gia chứng khoán tới bà “bán rau” cũng cóthể chơi chứng khoán và đã chơi là thắng, khi đó người ta chỉ tính tới việcnên chọn mã chứng khoán nào để tăng giá nhanh nhất, luồng tiền từ các ngảđều đổ vào chứng khoán, từ các tập đoàn, tổng công ty, các doanhnghiệp,ngân hàng, các quỹ đầu tư, việt kiều, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu

tư trong nước

Với một số lượng không nhiều các công ty niêm yết trên sàn, lượng tiền đổvào chứng khoán lại rất lớn, cùng với các tin tức vĩ mô tốt, đặc biệt là ViệtNam gia nhập WTO, VNI đã tăng điểm ngoạn mục tới đính điểm hơn 1.000điểm, các công ty tìm mọi cách để cổ phần hóa, phát hành thêm vốn nhanhchóng Thời kỳ này, nhiều nhà đầu tư Việt Nam bắt đầu làm quen với cáckhái niệm về thị trường chứng khoán, cách đọc báo cáo tài chính, họp cổđông…

Năm 2007, các nhà đầu tư đã học được bài học thất bại đầu tiên khi thịtrường giảm điểm mạnh bởi sự ra đời chỉ thị 03 của NHNN quy định hạn chế

tỷ lệ ngân hàng cho vay và đầu tư trên thị trường chứng khoán

Việc này đã chấm dứt thời kỳ cứ đầu tư chứng khoán là thắng và chuyểnsang giai đoạn mới, giai đoạn đầu tư theo chân nhà đầu tư nước ngoài Thời

kỳ mới này, nhà đầu tư nước ngoài thường làm mưa làm gió trên thị trườngchứng khoán Việt Nam, các nhà đầu tư trong nước rất hay mua theo cáckhuyến nghị và phân tích của các chuyên gia, các tổ chức nước ngoài, đồngthời theo dõi chặt chẽ các động thái mua bán của họ

Số lượng các nhà đầu tư trong nước có khả năng tự đánh giá và phân tíchđộc lập để có cách chơi riêng của mình không nhiều, họ lắng nghe phân tíchcủa các chuyên gia nước ngoài để đầu tư, trong giai đoạn này nhiều nhà đầu

tư trong nước cũng mới bắt đầu tập nghe và hiểu dần cách phân tích, lậpluận của các chuyên gia

Năm 2008, các nhà đầu tư đã hiểu thế nào là khủng hoảng tài chính và thếnào là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Cũng giống như thị trườngchứng khoán các nước trên thế giới, thị trường chưng khoán Việt Nam sụpgiảm thảm hại, nhiều quan điểm của các chuyên gia và giới đầu tư kêu gọibảo vệ, cứu nguy thị trường chứng khoán, nhưng cũng không thể cứu nổi,nhiều nhà đầu tư đã trắng tay và trở thành con nợ, nhiều công ty, tổng công

ty bị thua lỗ nặng vì đầu tư tài chính

Trang 14

Các phân tich của mọi chuyên gia đều không có nhiều giá trị Nhiều nhà đầu

tư rời bỏ thị trường Nhà đầu tư trong nước đã học được những bài học lớnnhất và cay đắng nhất trong đầu tư vào thị trường chứng khoán,

Năm 2009, cùng với sự hồi sinh của kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam, giá

cổ phiếu trở nên quá rẻ, mua cổ phiếu để hưởng cổ tức còn cao hơn cả tiềnlãi gửi tiết kiệm, các nhà đầu tư bắt đầu chuyển từ trạng thái sợ hãi dần dần

tự tin trở lại, sự tăng điểm của thị trường chứng khoán đã làm cho lòng thamtiếp tục gia tăng và lại bắt đầu một chu kỳ đầu tư là thắng, tuy nhiên lần nàythì sự tham gia của ngân hàng, các tổng công ty đã bị hạn chế, chỉ còn chủyếu các quỹ, các công ty chứng khoán, và nhà đầu tư trong và ngoài nướctham gia vào thị trường là chủ yếu

Năm 2009 là năm các nhà đầu tư học được bài học về sử dụng đòn bẩy tàichính, thị trường tăng điểm đã kiến các nhà đầu tư mờ mắt, liên tục yêu cầumức đòn bẩy cao hơn và đổ tiền vào thị trường Khi mức đòn bảy đã quá cao,thị trường chứng khoán điều chỉnh trở lại thì nhiều nhà đầu tư đã nếm mùi

“cháy“ tài khoản, đòn bẩy tài chính đã làm cho các nhà đầu tư thua lỗ nhanhhơn, mọi công sức kiếm tiền trong vài tháng chỉ cần một tuần giảm điểm làhết sạch

Năm 2010, các nhà đầu tư Việt Nam đã trở nên dè dặt hơn khi đầu tư vào thịtrường chứng khoán, các nguồn tiền từ ngân hàng, các tổng công ty, ViệtKiều và cả nước ngoài đổ vào chứng khoán Việt Nam không còn mạnh mẽnhư trước, số lượng các công ty niêm yết trên sàn và số lượng cổ phiếu pháthành cũng tương đối lớn

Với một sự hạn chế về dòng tiền và số lượng lớn cổ phiếu niêm yết như vậy,một chiến lược đầu tư mới ra đời, đầu tư vào các penny chip, giá trị vốn hóanhỏ Các nhà đầu tư Việt Nam lại đầu tư theo trào lưu mới, đầu tư theo “độilái”, không cần phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản, chủ yếu tìm kiếm độngthái của các đội lái để đầu tư theo

Nhưng rồi, cái gì phải đến thì cũng đã tới, nếu coi đầu tư trên thị trườngchứng theo quan điểm chơi bạc thì chắc chắn phải có người thua và kẻthắng, những người đầu tư thiếu kinh nghiệm, không làm chủ được tình hình

dễ bị thua, và phần thắng thuộc về các “đội lái”,

Hiện nay, thị trường có không nhiều các nhà đầu tư mới, những người khôngchuyên nghiệp mà muốn giàu nhanh từ thị trường chứng khoán phần lớn bịthua lỗ và đã rời bỏ thị trường, những người còn bám trụ thị trường thì một là

Trang 15

đầu tư theo trường phái giá trị, hoặc là những người khá chuyên nghiệp, nênviệc đầu tư theo quan điểm cũ, không hiểu sâu sắc về doanh nghiệp có thể

sẽ thay thế dần bắng quan điểm đầu tư giá trị, liệu từ giờ tới năm 2011trường phái đầu tư giá trị sẽ thắng thế?

Ở thời điểm lúc bấy giờ, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE

và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật,loại trừ cơn sốt vào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau

6 tháng đầu năm nhưng chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị, chỉ

số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng

200 điểm vào tháng 10/2001

2 Trong 4 tháng “hoảng loạn” này, trongkhi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thịtrường với lời nguyền không bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫnbình tĩnh bám trụ, âm thầm mua bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận.thì trong 5 năm chỉ số VN-Index lúc cao nhất chỉ có 300 điểm, mức thấpnhất xuống đến 130 điểm Lý do chính là ít hàng hoá, cácdoanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng,không hấp dẫn nhà đầu

tư trong nước, trong khi "room" cũng hết

3 Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN)chính thức đi vào hoạt động Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng

từ 30% lên49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)

4 Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được

sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thịtrường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vậnhành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân

Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đếnhết năm 2005, tổng giá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000

tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thu nhập quốc nội (GDP) Thị trường chứng khoánViệt Nam hiện có 4.500 tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu

tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa

Trang 16

phương, thu hút 28.300 tài khoản giao dịch Trong năm 2005, tốc độ tăngtrưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%.

2 Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam

Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển

“đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàntoàn mới với hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.HồChí Minh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC

Với mức tăng trưởng đạt tới 60% từ đầu đến giữa năm 2006 thị trườngchứng khoán Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độ tăng trưởng nhanhthứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-buê Và sự bừng dậy của thị trường non trẻnày đang ngày càng "hút hồn" các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Không thể phủ nhận năm 2006 vừa qua thị trường chứng khoán ViệtNam non trẻ này đã có “màn trình diễn” tuyệt vời và có thể sẽ không baogiờ có lại được với khối lượng vốn hoá tăng gấp 15 lần trong vòng 1 năm Năm 2006 , TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tạisàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (HASTC) tăng 144% năm 2006, tại sàn giaodịch Hà Nội (Hastc) tăng 152,4% VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầunăm

Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉUSD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường

Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch, đây là những cổphiếu được phát hành theo Luật Doanh nghiệp là chính Trên thị trườngphi tập trung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượnggiao dịch trên Hastc

Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới

193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và

30 lần so với 6 năm trước Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn

500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006 Trong khoảng

từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta

mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả nhữngngười mua, bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng

“nóng”, hiện tượng “bong bóng” là có thật

Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng12-2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhàđầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng12- 2006,

Ngày đăng: 13/06/2016, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w