1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp

38 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 592,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đánh giá, kiểm tra, trả bài, giáo viên GV hướng dẫn HS nhận biết những lỗi mình mắc, đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong cách viết văn, hạn chếnhững lỗi viết văn, những khuyết điểm

Trang 3

1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI Những năm gần đây, ngành giáo dục đã đưa ra chủ trương đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) và kiểm tra đánh giá (KTĐG) kết quả học tập của học sinh (HS) nhằm thay đổicách dạy, cách học, cách kiểm tra góp phần nâng cao chất lượng học tập (CLHT) Đánhgiá đúng thực trạng, Bộ đã chủ trương: để nâng cao CLHT, góp phần thúc đẩy đổi mới

PPDH bộ môn phải: “ Nâng cao chất lượng thi cử, kiểm tra đánh giá để đảm bảo đây là khâu quan trọng, tác động tích cực, mạnh mẽ trong quá trình dạy và học; phải đồng thời vừa đổi mới kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì” Coi trọng việc đổi mới KTĐG đã

tạo ra một bước ngoặt mới thúc đẩy quá trình dạy học (QTDH) và mang lại hiệu quả chất

lượng thực, xoá bỏ “cái kiểu” cho điểm vô tội vạ, “đánh giá cào bằng”, đánh giá theo tỉ

lệ thành tích phần nào đã được hạn chế Đổi mới PPDH gắn với việc chú trọng đổi mớikiểm tra, đánh giá đã có tác dụng tích cực trong việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, tư duy sáng tạo của HS “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập”.( Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung 2009- Chương I,

Điều 5 khoản 2 )

Trong QTDH, KTĐG là một khâu rất quan trọng Kiểm tra, đánh giá nhằm thu được, đánhgiá đúng thông tin về trình độ khả năng học tập của HS Mục đích chính là hướng tới điềuchỉnh hoạt động dạy và học bộ môn Qua đánh giá, kiểm tra, trả bài, giáo viên (GV) hướng dẫn

HS nhận biết những lỗi mình mắc, đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong cách viết văn, hạn chếnhững lỗi viết văn, những khuyết điểm thường vi phạm, hình thành kĩ năng viết đúng, viết hay

Từ đó phát huy tính tích cực, tư duy độc lập, chủ động sáng tạo của HS trong việc học bộ môn,góp phần nâng cao chất lượng viết văn

Những năm qua, thực tế chấm các bài viết làm văn kiểm tra thường xuyên của HS Trường

Võ Thị Sáu, (và có theo dõi bài làm của HS ở các kì thi tốt nghiệp) bản thân thấy rằng, HSthường vi phạm những lỗi viết văn cơ bản như: lỗi chính tả; lỗi dùng từ không chính xác, lỗilặp từ, thừa từ; diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa; không biết cách viết đoạn mở bài; khôngbiết tách ý thành đoạn; viết thiếu ý, thiếu sáng tạo, không biết cách lập luận

Trang 4

Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu thuộc về GV TrongQTDH bộ môn, chấm bài, trả bài, chữa lỗi bài viết là khâu vô cùng quan trọng, nhưng không ít

GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của quá trình này GV chưa chú trọng đổi mới khâuchấm bài, cách cho điểm và chưa đầu tư vào tiết trả bài, GV chưa hướng dẫn HS nhận biếtnhững lỗi sai, nguyên nhân và cách sửa chữa Về phía HS, phần lớn các em học tập và sinhhoạt ở môi trường không mấy thuận lợi, thiếu thốn phương tiện học tập nhu cầu chọn ngànhnghề sau khi ra trường Vì thế số HS yêu thích môn Ngữ Văn ngày càng thu hẹp dần, tỷ lệ họcsinh khá giỏi càng ngày càng ít Khả năng cảm thụ tác phẩm văn chương, kỹ năng viết văn vàquy trình làm một bài văn của học sinh còn nhiều hạn chế

Để giúp HS có niềm đam mê hứng thú học tập bộ môn, sự tự tin, chủ động và sáng tạo trongcách viết một bài văn nghị luận (VNL), người GV cần thực hiện đúng quy trình trả bài vàhướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai, nắm được nguyên nhân và cách sửa chữa Từ đó, hướngdẫn HS quy trình, phương pháp, kĩ năng viết đúng và viết hay một bài văn

Vì thế, nghiên cứu thực trạng “Những lỗi viết văn thường gặp của HS và đưa ra các giải pháp” cho vấn đề này là việc hết sức cần thiết Giải pháp của bản thân là làm thế nào để góp

phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn cho HS THPT, bản thân đã chú trọngviệc hướng dẫn HS phương pháp (PP), kĩ năng viết đúng, viết hay một bài văn GV cần hướngdẫn HS nhận biết và cách tránh những lỗi hành văn thường mắc phải

Thấy được tầm quan trọng này, trong giảng dạy, bản thân đảm nhiệm chuyên môn một lớp

12 ban Cơ bản, do đó, tôi đã thực hiện tiến hành khảo sát nghiên cứu thực trạng đó ở hai nhómđối tượng HS khối 12 tương đương của Trường PT cấp 2-3 Võ Thị Sáu Trong tiến trình giảngdạy, tôi khảo sát 2 nhóm HS thuộc lớp 12A và lớp 12G Mỗi nhóm chọn 29 em HS làm đốitượng khảo sát Chọn nhóm HS lớp 12G làm lớp thực nghiệm (TN); Lớp 12A làm lớp đốichứng (ĐC) Thời gian khảo sát, nghiên cứu là một năm tính theo năm học: từ tháng 9 năm

2011 đến tháng 12 năm 2012 Lớp TN được tổ chức dạy và học với sự đầu tư, chú trọng đúngtheo quy trình trả bài, hướng dẫn HS nhận biết những lỗi mắc phải của mình Hướng dẫn các

em tự nhận xét ưu điểm và hạn chế bài làm văn của bản thân GV định hướng cho HS tự sửachữa Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS qua các bài

Trang 5

kiểm tra thường xuyên và cuối kì HS tự tin hơn trước mỗi đề bài kiểm tra Qua từng bài viếtvăn, HS đã nắm bắt được qui trình viết bài, cách dùng từ, viết câu, dựng đoạn, tách ý… Kết quảlớp TN thông qua bài KTĐG đạt kết quả cao hơn lớp ĐC Điểm trung bình (giá trị trung bình)thang đo bài kiểm tra sau tác động của lớp TN là 6,20; điểm kiểm tra đầu ra của lớp ĐC có giátrị trung bình (GTTB) là: 5,31 Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy p = 0.0002<0,05 có nghĩa là

có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp TN và lớp ĐC Qua phân tích dữ liệu, kết quảcho thấy việc tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của HS Điều đó chứng minhrằng việc hướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai cơ bản thường gặp khi viết văn, hướng dẫn các

em PP trình bày, ý thức chọn lựa từ ngữ, cách sắp xếp ý, kết cấu hợp lí, kĩ năng diễn đạt câuđúng và hay, tạo lập văn bản văn học và xã hội hoàn chỉnh…đã tạo niềm hứng thú cho HS khi

học tập bộ môn Ngữ Văn HS sẽ tự tin hơn khi viết văn, HS không còn tâm lí: “ngại”, “chán”

và “sợ” khi viết một bài VNL Hiệu quả HS học tập bộ môn ngày càng có kết quả tốt hơn.

Xuất phát từ những vấn đề trên, trong phạm vi giới hạn bài nghiên cứu khoa học sư phạm

ứng dụng, tôi mạnh dạn “trao đổi kinh nghiệm cá nhân” được ứng dụng vào thực tiễn trong những năm qua Tôi chọn vấn đề: “Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu và khảo sát Đó là lí do vì sao tôi chọn đề tài này.

2 GIỚI THIỆU

2.1 Hiện trạng.

Trong hệ thống chương trình giáo dục, môn Ngữ văn có một vị trí, đặt thù riêng vô cùng

quan trọng.“ Văn học là nhân học”, học văn học góp phần bồi đắp phẩm chất, tư tưởng tình cảm cao đẹp của con người, hướng con người đến cái chân, thiện, mĩ Là một môn học thuộc

nhóm khoa học xã hội (KHXH), môn Văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tưtưởng, tình cảm cho người học Đồng thời cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, thể hiện rõ ở

vị trí, đặc trưng riêng của bộ môn trong mối quan hệ với các môn học khác

Là môn học công cụ, học văn sẽ góp phần hình thành, nâng cao kĩ năng nói- đọc-viết-cảm thụ một văn bản Trong nhà trường môn Ngữ văn có một đặc thù riêng không giống với những

bộ môn khoa học khác Dưới sự định hướng của người thầy, HS sẽ được cảm thụ những tácphẩm tinh hoa của mọi thời đại, của mọi nền văn học trên thế giới với bao vấn đề đặt ra củacuộc sống, của nhân loại Trên cơ sở khám phá, cảm nhận tác phẩm, HS sẽ tập viết văn như

Trang 6

những chủ thể sáng tạo độc lập Kết quả của những bài viết “tập làm văn” , “tập viết văn”, thái

độ với cuộc sống là sản phẩm của một quá trình giảng dạy và học tập bộ môn của thầy và trò.Đồng thời, thông qua môn học sẽ hình thành năng lực thực hành và sử dụng Tiếng Việt nhưmột công cụ để tư duy giao tiếp Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các bộ môn khoa họckhác và ngược lại

Những năm qua, kết quả CLHT bộ môn của nhà trường đạt trên 60%, tỉ lệ tốt nghiệp bộmôn khối 12 ngày càng nâng cao, tổ văn chúng tôi gặt hái được những thành công đáng kểtrong dạy -học Song đáng tiếc, số HS đạt điểm dưới 5 vẫn còn chiếm một tỉ lệ không nhỏ.Nhiều HS tỏ ra chán học môn Văn, thiếu tự tin khi viết một bài văn hoàn chỉnh Thực tiễn trongquá trình học văn, qua các bài viết văn, HS thường vi phạm những lỗi viết văn cơ bản như: lỗichính tả; lỗi dùng từ không chính xác, lỗi lặp từ, thừa từ; diễn đạt lủng củng, không rõ nghĩa;chưa biết cách viết đoạn mở bài, kết bài; không biết tách ý thành đoạn; viết thiếu ý, thiếu sángtạo, không biết cách lập luận kết cấu bài văn chưa hoàn chỉnh

Là một GV hơn 20 năm tuổi nghề - không còn gọi là trẻ, chúng tôi thấy rằng việc dạy học

bộ môn Ngữ văn, ngoài việc hướng dẫn, cung cấp kiến thức cho HS, ra đề kiểm tra, chấm vàtrả bài, sửa lỗi, hướng dẫn HS cách viết văn là một khâu rất quan trọng trong QTDH bộ môn.Với lòng đam mê, cùng việc tìm tòi học hỏi đúc kết kinh nghiệm, sự đồng thuận của tập thể tổ

bộ môn, trong các năm qua, bản thân cùng tập thể đã mang lại những kết quá đáng khích lệtrong dạy và học tập bộ môn Tỉ lệ tốt nghiệp bộ môn ngày càng cao, số lượng học sinh giỏivăn ngày càng nhiều, học sinh đỗ vào các trường đại học càng ngày càng tăng Để được nhữngkết quả ấy, bản thân thấy rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả trên chính là việchình thành cho các em một PP học tập, trong đó có PP viết một bài văn, nhận biết những lỗi sai

để tránh Trên thực tế, các em đã rút ra nhiều kinh nghiệm viết văn bổ ích từ các tiết hướng dẫntrả bài của giáo viên

Trang 7

chấm cho xong Không ít GV, khi chấm chỉ chú ý mặt nội dung tư tưởng, mà không chú ý đếnkhâu diễn đạt của HS Hoặc một số GV trong quá trình kiểm tra, đánh giá cho điểm theo kiểu

bình quân “cào bằng”: 5-6-7 điểm, chỉ nêu khuyết điểm, xem nhẹ khâu sửa lỗi, không hướng

dẫn HS nhận biết những lỗi vi phạm, chưa chỉ cho HS nhận biết nguyên nhân, quy trình viếtvăn… Việc cho điểm của nhiều GV chưa có sự phân hoá, không mạnh dạn đánh giá điểm tối

đa với bài làm sáng tạo trong cách viết Vẫn còn hiện tượng GV ngại cho điểm kém đối vớinhững trường hợp chay lười, những bài mắc nhiều lỗi…vì thế không khích thích được lòngđam mê học văn và hứng thú viết văn của HS Ở một bộ phận GV vẫn còn hiện tượng chạy

theo thành tích kiểm tra, đánh giá cho điểm một cách chủ quan dễ dãi theo “tỉ lệ khoán” do cá

nhân, tổ, nhà trường đề ra… Chấm bài, trả bài, chữa lỗi bài viết là khâu vô cùng quan trọngtrong quá trình dạy và học văn học, nhưng thực tế không ít GV chưa nhận thức được tầm quantrọng của quá trình này

Về phía học sinh, khu vực địa bàn của trường tuyển sinh chủ yếu là HS ở nông thôn, bãingang, miền biển Môi trường học tập không mấy thuận lợi, thiếu tài liệu, sách tham khảo,phong trào học tập chưa cao, chất lượng tuyển HS đầu vào còn thấp so với các trường đóng

trên địa bàn tỉnh Tinh thần học tập và sự quan tâm của HS về môn văn chưa cao HS chưa thấy

được tầm quan trọng của một bộ môn công cụ Nhiều HS viết văn yếu, không biết cách trìnhbày một văn bản, diễn đạt lan man, chữ viết xấu, thiếu ngôn từ diễn đạt

Mặt khác, do nhu cầu nhân lực của nền kinh tế - xã hội, HS có tâm lí thực dụng trong việcchọn ngành, nghề Việc chọn khối thi của HS có phần thiên lệch nhiều ở khối A-B, các môn

(KHXH) dần dần trở thành môn thứ yếu (Theo số liệu thống kê của các phương tiện thông tin đại chúng, hàng năm, trong cả nước chỉ có 1,92% HS đăng kí vào ban KHXH) Vì thế số HS

yêu thích môn Ngữ Văn ngày càng thu hẹp dần, tỷ lệ HS khá giỏi càng ngày càng ít Khả năngcảm thụ tác phẩm văn chương, kỹ năng viết văn và quy trình làm một bài văn của HS còn nhiềuhạn chế

2.3 Giải pháp thay thế.

Xuất phát từ thực trạng và nhận thức được những nguyên nhân nói trên, làm thế nào để tácđộng đến niềm đam mê học và viết tốt một bài VNL nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy và

Trang 8

học môn ngữ văn, thực tiễn bản thân đã chọn lựa PP hướng dẫn HS nhận biết lỗi sai, nắm đượcnguyên nhân và biện pháp khắc phục để góp phần cải thiện thực trạng trên.

Muốn HS viết đúng và hay một văn bản, tránh những lỗi viết văn cơ bản, người GV cần chútrọng khâu chấm bài Khi chấm bài, GV không đơn thuần đánh giá nội dung kiến thức, cầnđánh giá, quan tâm đến kĩ năng làm bài của HS: như cách trình bày, chữ viết, viết đúng chính

tả, cách lựa chọn từ ngữ, cách viết câu, dựng đoạn, viết bài hoàn chỉnh Trên cơ sở đó, GVthực hiện đúng quy trình trả bài Từ những bài làm văn cụ thể của HS, GV hướng dẫn các emnhận biết những lỗi sai, cách sửa chữa Định hướng HS kĩ năng viết đúng và viết hay một vănbản Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình dạy học được Sở GD-ĐT Phú Yên

nhấn mạnh là: “cần đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Thực hiện phân hóa theo chuẩn kiến thức kĩ năng, nâng cao chất lượng dạy” (Công văn số 895/SGDDT-TrH ngày 31-8-2011,về việc hướng dẫn thực hiện

nhiệm vụ GDtrH năm học 2011- 2012)

Quá trình khảo sát, nghiên cứu, và hướng dẫn HS cách thức nhận biết những lỗi viết văn

thường mắc và hướng dẫn PP, “mẹo” để viết đúng viết hay một văn bản hoàn chỉnh, chúng tôi

nhận thấy có nhiều tác giả với một số bài viết, công trình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề

tài: Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp, như:

- Công trình: Thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh phổ thông cơ sở hiện nay-nhóm tác

giả: Lê Thị Bích Ngọc- Hoàng Thị Hải.( ĐHSP Thái Nguyên 9/2012)

- Công trình: Mẹo luật viết văn hay và những bài văn hay mới nhất- 1990, Vũ Quốc Anh-Hà

Bình Trị- Nguyễn Quang Cương, NXB Trường ĐHSP Qui Nhơn

- Công trình: Luyện viết bài văn hay-2002, Trần Đình Sử; NXB Giáo dục.

- Sáng kiến kinh nghiệm: Cách khắc phục những lỗi phổ biến về chính tả của Nguyễn Hà Trung ( 2006).

- Sáng kiến kinh nghiệm: Kinh nghiệm về việc chấm bài và trả bài tập làm văn – Nguyễn

Thị Nhàn ( 2006)

Trang 9

- Sáng kiến kinh nghiệm: Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho HS lớp

cụ thể, cách hướng dẫn để HS nhận biết lỗi sai thường gặp, cách sửa lỗi, cách diễn đạt để mộtbài văn đúng và hay Vì thế, nghiên cứu thực trạng những lỗi viết văn thường gặp của HS vàđưa ra các giải pháp cho vấn đề này là việc hết sức cần thiết Làm thế nào để nâng cao chấtlượng dạy và học bộ môn, thông qua việc hướng dẫn HS phương pháp, kĩ năng viết đúng mộtbài văn và hình thành lối viết văn trở thành nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong QTDH

2.4 Vấn đề nghiên cứu.

Đề tài tập trung đi sâu làm rõ vấn đề: chấm bài và trả bài, những lỗi viết văn cơ bản họcsinh thường mắc phải, nguyên nhân, cách sửa bài, kinh nghiệm, kĩ năng viết đúng và viết haymột bài văn hoàn chỉnh Việc trả bài, hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp,hướng dẫn HS tự sửa bài, định hướng HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn bản có nângcao hiệu quả học tập, thúc đẩy quá trình say mê hứng thú học tập của HS đối với bộ môn Ngữvăn hay không?

2.5 Giả thuyết nghiên cứu.

- Ha: từ việc trả bài, hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp, hướng dẫn HS

tự sửa bài, định hướng HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn bản sẽ mang lại hiệu quả học

Trang 10

tập, thúc đẩy quá trình say mê hứng thú học tập bộ môn, giúp HS sẽ tự tin và viết đúng một vănbản hoàn chỉnh.

3 PHƯƠNG PHÁP

3.1 Khách thể nghiên cứu.

Chúng tôi lựa chọn HS ở hai lớp 12 (12A, 12G) của Trường PT cấp 2-3 Võ Thị Sáu làm đối

tượng để thực hiện nghiên cứu, khảo sát đề tài Mỗi lớp chỉ chọn 29 HS có những điểm tươngđồng cả về phía GV và HS trên các phương diện: kinh nghiệm giảng dạy, trình độ học tập, điềukiện học tập, lứa tuổi, môi trường học tập…Chọn hai lớp trên sẽ có nhiều thuận lợi trong việcnghiên cứu đề tài

- Về phía GV:

+ Cô Bùi Thị Mỹ Dung- một cô giáo trẻ, tuổi nghề gần 15 năm Năng lực trình độ chuyênmôn khá giỏi, có kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡng HS giỏi khối 12, nhiệt tình yêu nghề,đảm nhận giảng dạy lớp 12A, ( lớp đối chứng)

+ Bản thân là người yêu nghề, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong giảng dạy, luôn học hỏinâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đọc tham khảo nhiều tài liệu, các sách nghiên cứu lýluận phê bình văn học, các tài liệu tham khảo về cách viết văn hay…các chuyên đề bồi dưỡng

HS giỏi các cấp… Tiếp cận và tích lũy, sưu tầm nhiều dạng đề thi tốt nghiệp phổ thông trunghọc, đề thi HS giỏi tỉnh, HS giỏi quốc gia, các đề HS giỏi ở các tỉnh khác.v.v Là người trựctiếp đảm nhận giảng dạy lớp 12G (Lớp thực nghiệm) có điều kiện theo dõi quá trình học tập,rèn luyện của HS Trực tiếp hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết văn thường gặp, hướng dẫncác em cách tự sửa chữa qua từng bài viết

- Về phía HS: Hai nhóm HS được chọn để tham gia nghiên cứu, mỗi nhóm gồm 29 em thuộclớp 12A và 12G có nhiều điểm tương đồng về điều kiện, môi trường học tập, trình độ, ý thức tựgiác học tập Bên cạnh đó ở mỗi lớp vẫn còn có những HS xếp loại học lực yếu, năng lực cảmthụ, viết văn còn yếu

3.2 Thiết kế nghiên cứu.

Trang 11

Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương:

Chọn hai nhóm của 2 lớp: gồm 29 học sinh lớp 12G là nhóm TN và nhóm gồm 29 học sinhlớp 12A là nhóm ĐC Tôi dùng bài kiểm tra chất lượng đầu năm để kiểm tra khả năng nhậnbiết, vận dụng thực hành của học sinh trước tác động Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trungbình của hai nhóm có sự khác nhau Dùng phép kiểm chứng T-Test độc lập cho kiểm tra trướctác động để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm TN và ĐC trước tácđộng

* Kết quả: Bảng 1 Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương

có ý nghĩa Kết luận được kết quả học tập 2 lớp trước tác động là tương đương nhau

Cuối học kì (HK), Giáo viên tiến hành kiểm tra HKI, lấy kết quả bài thi HKI làm bài kiểm tra sau tác động

- Bài kiểm tra trước tác động, đề cho hai lớp cùng làm là đề chung toàn khối ( Kiểm tra chấtlượng đầu năm học)

- Bài kiểm tra sau tác động: GV sử dụng đề kiểm tra chung toàn khối

- Bài kiểm tra được chấm tập trung, dự trên đáp án chung của tổ

Bảng 2 Thiết kế nghiên cứu:

O3

nhận xét bài, không hướng dẫn

O4

Trang 12

HS tự sửa chữa, không hướng dẫn

kĩ năng viết đúng, viết hay một văn bản

Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập cho kiểm tra sau tác động của hainhóm TN và ĐC; mức độ ảnh hưởng SMD

Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thêm phép kiểm chứng t-Test theo cặp, hệ số tương đươngPearson r

3.3 Quy trình nghiên cứu.

3.3.1 Chuẩn bị của giáo viên

GV dạy lớp 12A: (Lớp ĐC) thực hiện thiết kế bài học ở các tiết trả bài theo tiến trình lên lớpbình thường GV thực hiện đúng quy trình một tiết trả bài, nhận xét, nêu khuyết điểm, chỉ ramột vài lỗi cơ bản GV không hướng dẫn HS tự sửa chữa, không phân tích nguyên nhân của lỗi

vi phạm, GV không hướng dẫn HS kĩ năng viết đúng, viết hay một văn bản

GV dạy lớp 12G: (Lớp TN): thiết kế bài học đối với các tiết trả bài (Tiết 17-Trả bài viết số 1;Tiết 41- Trả bài viết số 2; Tiết 64-Trả bài viết số 3) ( theo phân phối chương trình của Trường

PT cấp 2-3 Võ Thị Sáu được Sở Giáo dục- Đào tạo Phú Yên duyệt) theo đúng quy trình tiết trảbài viết GV chuẩn bị bảng thống kê những lỗi về dùng từ, viết câu, lỗi diễn đạt, dựng đoạn, mởbài, kết đoạn…GV chú trọng, dành thời gian hướng dẫn HS nhận biết những lỗi viết vănthường gặp, hướng dẫn các em nắm được nguyên nhân, hướng dẫn cách sửa chữa, cách diễnđạt GV chú trọng hướng dẫn HS kĩ năng viết đúng và viết hay một văn bản

3.3.2 Tiến hành dạy thực nghiệm.

Để nâng cao hiệu quả chất lượng viết văn của HS, trong qua trình chấm bài, cách đánh giáqua lời phê rất quan trọng, có những lời phê sẽ khuyến khích tinh thần, tạo sự hưng phấn yêu

thích học tập của các em, những lời phê chỉ trích, phê “không khéo”, thiếu cẩn trọng sẽ làm HS mặc cảm thậm chí xa lánh“ hoảng sợ” bộ môn Đối với trường hợp những HS học yếu bộ

môn, khi chấm bài GV cố gắng phát hiện những điểm tiến bộ qua từng bài viết, khuyến khích

động viên các em bằng những lời phê và bằng điểm “thưởng” phù hợp

Trang 13

Lời nhận xét của GV về bài viết sẽ tác động đến tinh thần, ý thức học tập của HS Chấm bài

nhất thiết phải có nhận xét, tránh lời nhận xét chung chung chỉ bằng một vài từ ngữ: “được”,

“chưa được”, “bài yếu”, “bài viết sơ sài”, “không hiểu đề”, “xa đề”, “lạc đề”…Lời nhận xét

của GV thể hiện qua hai phương diện: đạt yêu cầu và chưa đạt về nội dung lẫn hình thức Lờinhận xét phải nêu được mặt đạt được của bài viết, vừa chỉ ra thiếu sót cơ bản của từng bài Cónhư vậy mới mang lại hiệu quả tác động lớn đối với HS Qua lời phê, HS sẽ nhận thấy khiếmkhuyết của bản thân để khắc phục, phát huy những mặt đạt được Muốn có lời nhận xét đúngđắn với từng bài viết, đòi hỏi GV phải thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm cao trong việcchấm bài Bởi chấm bài là một khâu rất quan trọng trong chu trình chấm -trả bài tác độngmạnh mẽ, tích cực đến quá trình dạy và học bộ môn

Người GV cần xác định yêu cầu cơ bản của tiết trả bài: kiến thức, kĩ năng, phương pháp…Giờ trả bài được tiến hành như sau:

Bước 1: GV yêu cầu học sinh nhắc lại đề bài dựa theo trí nhớ Cho HS xác định lại yêu cầu

về nội dung, thể loại, phạm vi tư liệu

Bước 2: Dựa vào kết quả bài làm, GV tổng kết tình hình làm bài của HS trên mọi mặt: ưu

-khuyết điểm chính, về nội dung kiến thức, hình thức bài làm, kết quả đạt được, tinh thần thái

độ làm bài của HS những bài viết sáng tạo của cá nhân được tuyên dương, những hiện tượng,những lỗi cơ bản đáng chú ý

Bước 3: Dựa trên yêu cầu của đề, GV hướng dẫn HS xây dựng dàn bài hoàn chỉnh HS sẽ

đối chiếu với dàn bài để tự nhận xét về những thiếu sót trong bài viết của mình

Bước 4: Vấn đề cốt lỗi quan trọng ở tiết trả bài là GV dành nhiều thời gian hướng dẫn HS

tự sửa chữa những lỗi sai phạm, thiếu sót về dùng từ, viết câu, dựng đoạn, hành văn, thậm chí

cả hình thức chữ viết…

Bước 5: đây là bước cuối, GV chọn những bài văn hay tiêu biểu đọc trước lớp, hoặc những

đoạn văn viết tốt cho cả lớp nghe để học tập rút kinh nghiệm GV cần tạo một không khí thânmật, dân chủ để HS có thể yêu cầu GV giải đáp những thắc mắc về điểm số và cả nội dung bàiviết…Có như thế, GV mới tạo điều kiện tốt để HS hoàn thiện hơn về những bài viết văn tiếptheo của mình

Trang 14

* GV hướng dẫn HS nhận biết những lỗi sai thường gặp khi viết văn.

a Từ bảng thống kê những lỗi cơ bản về viết văn của học sinh, ( xem phần phụ lục 4- tr37 )chúng tôi thấy: khi hành văn, HS thường mắc lỗi viết không đúng chính tả, dùng từ sai chuẩnmực, sử dụng từ không đúng nghĩa, không hợp phong cách, hiện tượng lặp từ, thừa từ, sử dụng

từ mang màu sắc địa phương nhiều Viết câu sai ngữ pháp, diễn đạt lủng củng thiếu lô gic, ý tứlộn xộn, chưa biết cách mở bài, bài viết thiếu cân đối Chẳng hạn một số lỗi tiêu biểu HS mắcphải như sau:

- Nhà thơ Tố Hữu đã làm nên bài thơ chữ tình Việt Bắc sau khi cuộc kháng chiến Điện Biên

Phủ thắng lợi…( Bài làm của học sinh-Bài viết số 4) (1)

- Sau khi rời chiến trường Hà Nội nhà thơ trở về chiến khu Việt Bắc nhà thơ đã sáng tác bài thơ Việt Bắc ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 4) (2).

- Hồ Chí Minh là nhà thơ vĩ đại to lớn của nền văn học Việt Nam …( Bài làm của học

sinh-Bài viết số 1) (3)

- Tình yêu quê hương đất nước của Nguyễn Khoa Điềm được miêu tả ở ~ (những) phương diện khác nhau: từ cái gốc nhìn địa lí, lịch sử, và chiều sau văn hóa phong tục tập quán ….(Bài

làm của học sinh-Bài viết số 3) (4)

- Tô Hoài đã thành công trong viêc xây dựng hình ảnh điển hình về người phụ nữ Việt Nam bị

đẩy vào bước đường cùng bởi chế độ phong kiến miền núi…(Bài viết số 5) (5)

- Lời đánh giá, nhận định ấy có đúng không ? Đúng quá đi chứ! Nào chúng ta hãy cùng nhau

đi phân tích nhé để làm rõ vấn đề ! ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 2) (6)

- Tnú - người cách mạng 0 sợ gió bão mưa phùng ( Bài viết số 5) (7)

- Lòng yêu mến thiên nhiên say đắm của Hồ Chí Minh đã làm cho người quên đi nổi vấc vả

trên hành trình giải tù ( Bài làm của học sinh-Bài viết số 1) (8)

- Cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch rất quảng đại (Bài viết số 1).(9)

Trang 15

- Bài thơ Đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ tiểu biểu của Nguyễn Khoa Điềm Bài thơ nói về hình ảnh đất nước được nhà thơ cảm nhận trên nhiều phương diện khác nhau Nguyễn Khoa Điềm đã thành công khi viết về bài thơ này…( Bài làm của học sinh-

Bài viết số 3) (10)

- Nói đến Đất nước thì có rất nhiều nhà thơ đã chọn làm đề tài sáng tác và đã có muôn vàn định nghĩa Đối với Nguyễn Khoa Điềm thì nói đến Đất nước là những gì quen thuộc, gần gũi

đã đi vào đời sống con người.…( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3) (11)…

Từ những ví dụ trên, GV hướng dẫn HS nhận biết dạng những lỗi sai phạm và xác địnhnguyên nhân:

* Lỗi viết sai chính tả: viết tắt trong bài văn: ~ (những), 0 (không) do tính chất cẩu thả; lỗi

chính tả như viết trữ tình HS viết thành chữ tình, góc nhìn thành gốc nhìn, chiều sâu thành chiều sau, tập quán thành tập quáng, nỗi vất vả viết thành nổi vấc vả Người ( viết hoa) viết không viết hoa (người) xuất phát từ việc HS không hiểu nghĩa của từ, không ý thức khi viết.

* Lỗi sử dụng từ không hợp phong cách: HS mắc lỗi viết như văn nói, không phù hợp với thể văn nghị luận: có đúng không ? Đúng quá đi chứ! Nào chúng ta hãy cùng nhau đi phân tích nhé …cách viết đúng là: đúng đắn = có đúng không , đúng vậy = đúng quá đi chứ, chúng ta thử tìm hiểu = Nào chúng ta hãy cùng nhau đi phân tích nhé Nguyên nhân: HS không nắm

phong cách ngôn ngữ nghị luận, chưa biết lựa chọn từ ngữ để diễn đạt phù hợp

* Lỗi lặp từ, thừa từ: lặp từ nhà thơ (2) từ yêu mến (8); ở (10) ngoài việc diễn đạt lan man, dài dòng, HS mắc phải lỗi lặp từ khá nhiều Chỉ có ba câu văn, HS lặp lại từ nhà thơ (2lần), từ Nguyễn Khoa Điềm (3lần), từ bài thơ (4lần) Trường hợp (11), HS viết thừa nhiều phụ từ: thì, đã…đây cũng là hiện tượng phổ biến ở bài viết của HS.

* Lỗi sử dụng từ không đúng nghĩa, sai chuẩn mực: HS dùng từ nhà thơ vĩ đại to lớn vừa không chính xác vừa vi phạm lỗi thừa từ, từ cần thay phù hợp là nhà thơ tiêu biểu ( hoặc nhà thơ xuất sắc) (3) Từ làm nên sử dụng chưa chính xác thay từ sáng tác (1) cuộc kháng chiến=chiến dịch (1); chiến trường =thủ đô (2) trở về thay bằng từ lên (2); ở (4) dùng từ miêu

tả chưa chuẩn phải dùng từ thể hiện; ở (5) sử dụng từ hình ảnh điển hình chưa chuẩn mực nên dùng hình tượng điển hình; học sinh dùng từ gió bão mưa phùng (7) nên thay bằng từ mưa sa

Trang 16

bão táp, ở (8) từ say đắm nên thay từ tha thiết; từ quảng đại (9) không chuẩn, chưa đúng nghĩa, phải là từ vĩ đại…

b Lỗi viết câu không đúng ngữ pháp, thiếu các thành phần chính, thiếu vế trong một câughép, viết câu không rõ nghĩa Đây cũng là lỗi phổ biến HS thường mắc phải Qua thống kê,chúng tôi thấy hiện tượng HS viết câu “cụt”, câu “què”, câu thiếu thành phần, thiếu vế và viếtsai quan hệ giữa các bộ phận câu

* Lỗi viết câu sai ngữ pháp, viết thiếu cả thành phần chủ ngữ lẫn vị ngữ:

- Chẳng hạn: Sau những năm tháng chìm nổi khổ đau, bằng sự nổ lực của bản thân, vượt qua những thủ đoạn ác độc của nhà Thống Lí Pá Tra, với sự đồng cảm và tình yêu thương đã đưa Mị thoát khỏi ách thống trị phong kiến miền núi…(Bài viết số 5) Cách sửa lại là hướng

dẫn HS thêm vào thành phần chủ ngữ và vị ngữ để câu hoàn chỉnh

* Lỗi viết thiếu thành phần chủngữ:

- Là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà văn nhà thơ Đất nước vẫn là đề tài quán xuyến của văn học Việt Nam……( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3) Cách sửa là thêm vào đối

tượng, chủ thể làm chủ ngữ

- Qua bài thơ Đất nước cho ta thấy cho thấy niềm tự hào của con người Việt Nam về đất nước ( Bài viết số 3) ( HS nhầm thành phần trạng ngữ là chủ ngữ - cách sửa bỏ từ qua)

* Lỗi viết thiếu thành phần vị ngữ

- Hồ Chí Minh, Người cha già của dân tộc, của non sông đất nước, với một tấm lòng yêu nước thiết tha (Bài viết số 1) Học sinh nhầm các thành phần chú thích, bổ sung, thành phần

định ngữ là vị ngữ Cách sửa là thêm vào nội dung hoạt động của đối tượng chủ ngữ

* Lỗi viết thiếu một vế của câu ghép.

- Mặc dù bị bọn phong kiến, cường hào miền núi mà cha con Thống Lý Pá tra là tiêu biểu áp bức, bốc lột, mặc dù phải chịu nhiều khổ đau cùng cực về thể xác và tinh thần Nhưng Mị vẫn tiềm tàng một sức sống …(Bài làm của học sinh-Bài viết số 5) HS không xác định được các

Trang 17

mối quan hệ giữa các vế trong một câu ghép, dẫn đến việc sử dụng không đúng cặp quan hệ từ.Cách sửa bỏ dấu chấm (·), hoặc thêm một vế thứ hai.

c Lỗi diễn đạt thiếu chặt chẽ, viết câu dài lê thê, lủng củng, phát triển thành nhiều thànhphần phụ, mở rộng thành phần trọng tâm thông báo làm câu văn lan man, thiếu mạch lạc

- Đất nước là đề tài muôn thuở, là nguồn cảm hứng sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam, cũng là nguồn xúc cảm để Nguyễn Khoa Điềm tạo nên một thi phẩm tiêu biểu nói về đất nước của những con người bình dị nhưng vĩ đại.( Bài làm của học sinh-Bài viết số 3)

- Đối với Nguyễn Khoa Điềm, đất nước có phải là những gì to lớn, bề thế không Không, không phải vậy Đất nước qua cảm nhận của ông là những gì gần gũi, thân thương, gắn bó với nhân dân, được ông cảm nhận ở trên nhiều phương diện: lịch sử, địa lý, văn hóa, qua lời kể của mẹ, trong những miếng trầu của bà…rất bình dị, nhỏ nhoi, khắng khít ( Bài làm của học

sinh-Bài viết số 3)

- Qua bài thơ thì tác giả đã biểu lộ tình cảm trong thơ Tố Hữu đã sử dụng thành công hai đại từ là “mình”-“ta”, hai đại “từ mình” và “ta” lặp đi lặp lại nhiều lần, ngoài ra tác giả còn

sử dụng những địa danh của núi rừng Việt Bắc để diễn tả sự nồng thắm, yêu thương…(Bài làm

của học sinh-Bài viết số 4) …Nhận xét: chọn ba dẫn chứng tiêu biểu/183 trường hợp của babài viết, chúng tôi thấy rằng HS thường mắc lỗi diễn đạt nhiều, diễn đạt thiếu mạch lạc rõ ràng,

ý này lồng vào ý khác HS không làm chủ được kiến thức khi thể hiện, điều ấy thể hiện tư duychưa rõ ràng, chưa nắm vững ngữ pháp câu Hiện tượng viết câu dài lan man trong HS chiếmmột tỉ lệ lớn

d Các lỗi khác trong diễn đạt, hành văn, bố cục bài viết

Hiện tượng HS khi viết văn còn phạm nhiều lỗi cơ bản khác như sử dụng từ ngữ khuôn sáokhoa trương vì không chịu suy nghĩ để tìm từ thích hợp và chỉ dựa vào một công thức kết hợp

từ cho sẵn, hoặc viết theo lối bắt chước theo những bài văn mẫu Nhiều khi các em sa vào lốiviết khoe chữ, dùng chữ sáo mòn bất kể có phù hợp với nội dung diễn đạt hay không Thậmchí nhiều HS không hiểu đúng từ mà vẫn dùng bừa, dùng ẩu Ngoài ra có HS khi viết còn nhậnđịnh một cách cực đoan, dùng từ cảm thán tràn lan

Trang 18

Có thể thấy một lỗi phổ biến nữa ở bài viết của HS là các em chưa biết cách mở bài, kết bài,chưa biết tách đoạn để diễn đạt ý Nhiều HS viết bài văn một đoạn, thân bài một đoan, hoặc haiđoạn Bố cục bài viết chưa hài hòa cân xứng, phân bố các ý không đều, không xác định luậnđiểm chính, luận điểm phụ…

* GV hướng dẫn HS kĩ năng yêu cầu về diễn đạt và một số cách diễn đạt hay trong văn nghị luận

VNL là loại văn của tư duy lô gíc, mang tính thuyết phục cao Để diễn đạt tốt, đạt yêu cầumột bài văn hay, thuyết phục người đọc, ngoài yêu cầu xác định và sắp xếp các ý, diễn đạt ýthành lời bằng những từ ngữ, câu văn đoạn văn chính xác sinh động, truyền cảm, GV cần cungcấp cho HS những yêu cầu về tính chính xác, chặt chẽ, tính biểu cảm tránh viết văn với cáchdùng từ khuôn sáo, khoa trương khoe chữ khi diễn đạt

Thực tiễn trong quá trình dạy học, chúng tôi đúc rút một số yêu cầu về diễn đạt và cáchdiễn dạt hay khi viết một bài văn nhằm mang lại hiệu quả cao Với bài kiểm tra, GV nhận xét tỉ

mỉ chu đáo từng vấn đề: về kiến thức, kĩ năng, khuyến khích bằng những lời nhận xét độngviên khích lệ, biểu dương mặt tốt, sáng tạo, độc đáo Qua chấm bài, GV phát hiện sở trường,giọng văn, lối văn, sự độc đáo để uốn nắn mặt hạn chế, hướng đi lệch trong cách triển khai vấn

đề của các em

GV hướng dẫn HS những kĩ năng làm văn như kĩ năng tìm hiểu đề; kĩ năng phân tích, bình

giảng; các thao tác nghị luận; Những điều cần lưu ý khi viết một bài văn hay; Kĩ năng vàphương pháp viết đoạn-luyện mở bài, kết bài; yêu cầu về diễn đạt để có lời văn hay: về giọngvăn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết, cách dùng từ độc đáo, kỉ năng viết câu linh hoạt, kỉnăng mở rộng, nâng cao, so sánh vấn đề, kỉ năng lập luận sắc sảo chặt chẽ, cách lựa chọn dẫnchứng và trình bày dẫn chứng…những lỗi thường gặp cần tránh Chúng tôi dành nhiều thờigian để học sinh thực hành bằng việc tự sửa lỗi dùng từ, viết câu, viết đoạn

a.Cách dùng từ chính xác độc đáo

Một bài văn hay hấp dẫn phải là bài văn có vốn từ phong phú, được sử dụng chính xác, linhhoạt Dùng từ chính xác, độc đáo, đúng chỗ là một trong những yếu tố quyết định để có cáchdiễn đạt hay Một bài viết không hấp dẫn người đọc, người đọc sẽ chán khi đọc một bài văn mà

Trang 19

người viết sử dụng hệ thống từ ngữ không phù hợp, không “trúng”, không dùng từ ngữ nào

hay, độc đáo Muốn vậy, người viết cần tích lũy vốn từ phong phú, khi viết phải có ý thức lựachọn từ ngữ phù hợp: dùng đúng lúc, đúng chỗ, lột tả được thần thái của sự vật sự việc sẽ đem

đến cho người đoc sự khoái chá, cảm phục Nhà văn Ban-Zắc đã viết: “Thiên tài là ở chỗ dùng

từ xác đáng để nêu cá tính nhân vật ở những hoàn cảnh khác nhau” Việc dùng từ chuẩn mực

là tối cần thiết đối với mỗi bài viết Người viết không bao giờ tự cho phép mình tự tiện, dễ dãivới chữ nghĩa Trong bài văn, sử dụng từ ngữ chính xác, bài viết sẽ khái quát được vấn đề nghịluận mà luận đề nêu ra Cần lưu ý: HS không nắm chắc nghĩa của từ, tốt nhất không nên dùng Chẳng hạn đoạn văn sau, người viết đã sử dụng hàng loạt hệ thống từ ngữ rất độc đáo: “ Anh

( Nam Cao) quăng lên, đánh bài ngửa cái thằng tôi nhàu nát một cách không khoan nhượng, không né tránh vào con chữ Viết hết, viết cạn kiệt Viết xong, lại “đọc, nghiền ngẫm, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng” rồi lại tẩy xóa, thêm bớt…cứ như thế, các trang văn quằn quại ra đời.

Có tiếng nấc, tiếng khóc, tiếng vặn mình, tiếng chửi thầm thiên hạ và chửi cả chính mình…Tất

cả cứ ngổn ngang bời bời trên trang viết…”

b Viết câu linh hoạt và viết văn có hình ảnh.

Để tạo giọng điệu cho bài VNL, người viết cần biết vận dụng tất cả các loại câu một cáchlinh hoạt Một bài văn hay là bài văn vận dụng linh hoạt tất cả các kiểu câu-dĩ nhiên trước tiênphải viết câu đúng Người viết có thể dùng khi là câu cảm thán để diễn đạt thái độ của mình Ví

dụ “Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút mà nước bọt mép của mụ văng ra mãi tới ngàn năm”; Có thể viết câu nghi vấn để gây chú ý người đọc Sử dụng câu nghi vấn nhằm đặt ra vấn

đề, để rồi tự trả lời, tự làm sáng tỏ Chẳng hạn: “Thương thì đã vậy, còn oán? Thực ra Nguyễn

Du không biết oán ai…bởi vì theo Nguyễn Du thì bao nhiêu đau thương khác đâu có phải đều

do những kẻ “bài binh bố trận” mà ngay cả những kẻ ấy, Nguyễn Du cũng thấy họ đáng

thương” ( Hoài Thanh-Văn chiêu hồn) HS có thể dùng câu đơn, câu đặc biệt, câu tỉnh lượt để

làm cho bài văn đa dạng, không nhàm chán người đọc, vừa thể hiện nội dung diễn đạt đầy đủ,hấp dẫn Trong nhiều trường hợp để khẳng định vấn đề, học sinh có thể viết câu phủ định củaphủ định nhằm nhấn mạnh vấn đề

Ngày đăng: 13/06/2016, 16:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT - Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 2)
Bảng 2.  Thiết kế nghiên cứu: - Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp
Bảng 2. Thiết kế nghiên cứu: (Trang 11)
Bảng 5. Mô tả dữ liệu của nhóm đối chứng - Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp
Bảng 5. Mô tả dữ liệu của nhóm đối chứng (Trang 23)
Hình tượng nghệ thuật. 0,5 đ - Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp
Hình t ượng nghệ thuật. 0,5 đ (Trang 29)
Phụ lục 3. BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA CỦA NHÓM TN VÀ NHÓM ĐC. - Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp
h ụ lục 3. BẢNG ĐIỂM KIỂM TRA CỦA NHÓM TN VÀ NHÓM ĐC (Trang 33)
Phụ lục 4. Bảng THỐNG KÊ NHỮNG LỖI VIẾT VĂN THƯỜNG GẶP CỦA HỌC SINH - Những lỗi viết văn thường gặp của học sinh, thực trạng và giải pháp
h ụ lục 4. Bảng THỐNG KÊ NHỮNG LỖI VIẾT VĂN THƯỜNG GẶP CỦA HỌC SINH (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w