Cấu trúc cơ bản gồm ba bộ phận : Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân CẤU TRÚC VÀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY : VAI TRÒ THÀNH TỐ CẤU TẠO Đảng
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG
KHOA ĐIỆN ĐIỆN TỬ
…….&&&&…….
LỚP : 12 CĐ – ĐT 3
BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN : ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CĐCS VIỆT NAM GIAO VIÊN HƯƠNG DẪN : CÔ HUYÊN
I HÀ TRỌNG XÁ
II NGUYỄN CHÍ CÔNG
III DƯƠNG ANH THI
IV NGUYỄN VĂN CHUNG
V NGUYỄN VĂN PHỤNG
Trang 2 KHÁI NIỆN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ CẤU TRÚC:
Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ
chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị.
Cấu trúc cơ bản gồm ba bộ phận : Đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội của nhân dân
CẤU TRÚC VÀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY :
VAI TRÒ THÀNH TỐ CẤU TẠO
Đảng Cộng sản Việt Nam:Là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, vừa là lực lượng hợp thành, vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN, bảo đảm cho hệ thống chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân và bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa: Là tổ chức trung tâm và là trụ cột
của hệ thống chính trị, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống Xã hội và thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các tổ chức chính trị-xã hội và đoàn thể nhân dân: Đây là những tổ
chức đại diện cho lợi ích của các cộng đồng xã hội khác nhau tham gia vào hệ thống chính trị theo tôn chỉ, mục đích, tính chất của từng tổ chức Ở Việt Nam hiện có 5 tổ chức chính trị-xã hội gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Ngoài ra còn có nhiều tổ chức xã hội và các đoàn thể nhân dân khác.
Trang 3 Nhân dân trong hệ thống chính trị:Với tư cách là người sáng tạo lịch sử,
nhân dân là lực lượng quyết định trong quá trình biến đổi xã hội, hình thành nên hệ thống chính trị hiện nay ở Việt Nam Mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân và họ thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông qua Nhà nước.
Ghi chú Trật tự hình thành
Chỉ quan hệ lảnh đạo và bị lảnh đạo
VIỆN TRƯỞNG VKSND HUYỆN
TAND HUYỆN
HĐND XÃ
UBND
TỈNH
HĐND TỈNH
VIỆN TRƯỞNG VKSND TỈNH
TAND TỈNH
CHÍNH
PHỦ
QUẤC HỘI UBTVQH
CHỦ TỊCH NƯỚC
TAND TỐI CAO
VIỆN TRƯỞNG VKSND TỐI CAO
NHÀ NƯỚC
Trang 4 Chứng minh hệ thống chính trị nước ta từ những năm 1930 cho đến nay :
Hệ thống chính trị nói chung là “một cơ cấu bao gồm nhà nước, các đảng phái, các đoàn thể, các tổ chức chính trị tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành, được chế định theo tư tưởng giai cấp cầm quyền, nhằm tác động vào các quá trình kinh tế – xã hội với mục đích duy trì và phát triển chế độ đó” Xuất phát từ bản chất của chế độ chính trị và những điều kiện lịch sử cụ thể, hệ thống chính trị của mỗi nước cũng có những đặc thù riêng Hệ thống chính trị của nước ta hình thành
và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng, chính thức ra đời từ cách mạng tháng Tám và ngày càng hoàn thiện
Đảng cộng sản là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nhưng Đảng là hạt nhân của hệ thống đó Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vị trí hạt nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị lại càng thể hiện một cách rõ nét và đầy đủ Đương nhiên để giữ được vị trí và vai trò của mình, Đảng “phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo” (trích trang 22 – “Đảng cộng sản Việt Nam – Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội “ NXB Sự thật – 1991) Trong lịch sử Hiến pháp Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị luôn được thể hiện trong các bản Hiến pháp Tuy nhiên, cách thể hiện có khác nhau
Hiến pháp năm 1959 đã thể hiện quyền lãnh đạo của Đảng một cách công khai mặc dù chỉ trong Lời nói đầu: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chủ tịch
Hồ Chí Minh… Nhân dân ta nhất định xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”
Trang 5 Hiến pháp năm 1980 đã thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng một cách
cụ thể và mạnh mẽ hơn (cả trong lời nói đầu và Điều 4 Hiến pháp) Lần đầu tiên, thuật ngữ mới “Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng “ được sử dụng.
Hiến pháp năm 1992 đã có cách thể hiện ngắn gọn hơn, chặt chẽ hơn đồng thời cũng đúng mức hơn vai trò lãnh đạo của Đảng Điều 4 ghi rõ:
“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội Mọi tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật “.
Về thực chất, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước và các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị có cơ sở để chủ động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động bằng những công cụ, phương pháp và biện pháp cụ thể cuả mình Phương pháp để thực hiện nhữngquyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là những phương pháp dân chủ, giáo dục, thuyết phục và dựa vào uy tín, năng lực của các Đảng viên và tổ chức cơ
cụ để thực hiện quyền lực nhân dân, giữ gìn trật tự kỷ cương và bảo đảm công bằng xã hội.
Trang 6+So với các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị, Nhà nước có
những đặc điểm (cũng có thể gọi là ưu thế) sau đây:
+ Nhà nước là đại diện chính thức của toàn bộ dân cư, là tổ chức rộng lớn nhất trong xã hội; Nhà nước quản lý tất cả mọi công dân và cư dân trong phạm vi lãnh thổ của mình.
+ Nhà nước có chủ quyền tối cao trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại, có
bộ máy quyền lực và có sức mạnh để bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị và bảo vệ chế độ chính trị của nhà nước.
+ Nhà nước có pháp luật, công cụ có hiệu lực nhất để thiết lập trật tự kỷ cương, quản lý mọi mặt đời sống xã hội.
+ Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội, có đủ điều kiện và sức mạnh vật chất để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị, quản lý đất nước và xã hội; đồng thời Nhà nước còn có thể bảo trợ cho các tổ chức khác trong hệ thống chính trị để thực hiện các hoạt động của mình.
- Qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà nước ta luôn giữ vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, phát huy vai trò lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, là công cụ chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” đã được ghi nhận trong tất cả bốn bản Hiến pháp, là cơ sở để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh:” Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… quyền hành và lực lượng đều ở nhân dân”.
- Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và những thành tựu đã đạt được, Nhà nước ta còn bộc lộ nhiều khuyết điểm và yếu kém như: Tổ chức bộ máy cồng kềnh; nạn quan liêu, lãng phí, tham nhũng còn nghiêm trọng; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ còn yếu; đội ngũ và trình độ cán bộ, công chức nhìn chung chưa ngang tầm với nhiệm vụ… hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa tạo đủ khuôn khổ pháp lý cần thiết; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm,
kỷ luật, kỷ cương còn lỏng lẻo Để củng cố và kiện toàn bộ máy nhà nước ta cần phải thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng sau đây:
Trang 7+ Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trên hai bình diện căn bản là: Đẩy mạnh hoạt động lập pháp của Quốc hội và tăng cường công tác giám sát của Quốc hội.
+ Thực hiện việc cải cách nền hành chiïnh nhà nước trên ba hướng là: Cải cách thể chế hành chính; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và qui chế hoạt động của
bộ máy hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ngang tầm với nhiệm vụ.
+ Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.
+ Phát huy quyền làm chủ nhà nước của nhân dân.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
* Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
- Những tổ chức chính trị – xã hội hay đoàn thể quần chúng lớn, có ảnh hưởng sâu rộng như Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam… là các bộ phận hợp thành hệ thống chính trị.
- Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên
có vai trò quan trọng Điều 9 Hiến pháp ta qui định: Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của nó là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ đất nước, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.
- Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt nam, cùng với các cơ quan nhà nước, công đoàn chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân viên chức.
- Hội nông dân Việt nam là tổ chức đoàn kết, giáo dục nâng cao ý thức
và năng lực làm chủ của nông dân nhằm hướng dẫn những người sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội Hội nông dân Việt nam kiến nghị với nhà nước
Trang 8những vấn đề cần thiết trong chính sách nông nghiệp, giúp đỡ nhà nước trong việc xây dựng pháp luật quản lý nông nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân.
-Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức giáo dục và rèn
luyện thế hệ trẻ, là đội hậu bị, là cánh tay đắc lực của Đảng, đồng thời cũng là nguồn cung cấp cán bộ trẻ cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức quần chúng.
- Hội liên hiệp phụ nữ là tổ chức đoàn kết rộng rãi, động viên giáo dục các tầng lớp phụ nữ, thực hiện sự bình đẳng của mình với nam giới đồng thời nhận thức rõ vai trò đặc biệt của phụ nữ trong việc làm mẹ và giáo dục các thế hệ thanh thiếu niên.
- Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên Mặt
trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân có những nhiệm vụ quan trọng sau đây:
+ Tham gia thành lập các cơ quan nhà nước
Điều 30 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 26 Luật bầu cử Hội đồng nhân dân đều qui định: Mặt trận tổ quốc Việt Nam chủ trì việc hiệp thương với các tổ chức xã hội khác để giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác trong Mặt trận là những thành viên trong các tổ chức bầu cử như Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử…
+ Tham gia xây dựng pháp luật
- Hiến pháp nước ta qui định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình các dự án luật trước Quốc hội và trình các dự
án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ Tham gia quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước
- Hiến pháp qui định các tổ chức xã hội có quyền tham gia vào các công việc nhà nước, tham gia quản lý nhà nước Luật tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án, Luật tổ chức
Trang 9Viện kiểm sát, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng nhiều luật khác đều có qui định về vấn đề này.
+ Tham gia tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục công dân ý thức chấp hành pháp luật, đấu tranh bào vệ pháp luật, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân.
- Trong đời sống chính trị đất nước ta, Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận có vai trò rất quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo
vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa
Cơ cấu nhà nước và đảng cộng sản nước ta hiện nay.
- Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Vai trò của chủ tịch nước :
Công bố hiến pháp, luật, pháp lệnh
Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh
Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương
Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91
Trang 10trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất
Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc
tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định
Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam
Quyết định đặc xá
- Vai trò của tổng bí thư.
Bí thư đã trở thành một dạng người đứng đầu đặc biệt - tư cách đứng đầu không được xác lập cả trong luật pháp và Điều lệ Đảng, có quyền hạn rộng nhưng lại không chịu trách nhiệm về pháp lý.
Tổng Bí thư đứng đầu Ban Chấp hành trung ương, chủ trì công việc của Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, ban bí thư và các quyền hạn khác theo quy định của Đảng Hiện nay, Tổng Bí thư cũng kiêm nhiệm bí thư trung ủy trung ương
Theo thủ tục chính thức thì đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng bầu
ra ban chấp hành trung ương Ban Chấp hành Trung ương bầu ra bộ chính trị, bầu Tổng bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị.
- Vai trò của thủ tướng
Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
Trang 11 Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;
Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng,
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định đại xá;
Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;