Để đạt được mục tiêu tái cơ cấu kinh tế, không thể thiếu các giải pháp đột phá về quản lý và sử dụng một trong những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, đặc biệt là những vấn đềtăng h
Trang 1GIẢI QUYẾT TRIỆT ĐỂ VẤN ĐỀ ĐẤT ĐAI:
MỘT TRONG NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA QUÁ TRÌNH
TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
TS Đặng Kim Sơn
Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT
ĐỊNH HƯỚNG TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
I
Trong vòng 25 năm kể từ khi áp dụng chính sách Đổi mới theo định hướng thị trường, trong lĩnh vực nông nghiệp, chính sách giao đất cho hộ nông dân cùng với tự do hoá thương mại, cải cách chính sách vĩ mô đã tạo ra động lực lớn cho nông nghiệp tăng trưởng ở mức 3-4%/năm Từ một nước thiếu ăn thường xuyên, Việt Nam đã đảm bảo được an ninh lương thực, cung cấp nguyên liệu và lao động hỗ trợ công nghiệp hóa và trở thành nước xuất khẩu đứng thứ hạng cao trên thế giới
về các mặt hàng như gạo, cà phê, cao su, chè, tiêu, điều, thủy sản và đồ
gỗ v.v… Tăng trưởng kinh tế cũng đã tạo ra tác động tích cực đối với xóa đói giảm nghèo với tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ mức 51% năm 1992 xuống còn 14% năm 2010 Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, biến đất đai thành tài sản để đầu tư và tư liệu tạo sinh kế cho người nghèo, tạo cơ chế bình đẳng đối với quyền sử dụng đất của nông dân là giải pháp quan trọng để giảm nghèo, đảm bảo công bằng và ổn định xã hội
Sau một thời gian phát triển thuận lợi, đã có nhiều cảnh báo rằng Việt Nam đã đạt đến ngưỡng của tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên mức đầu tư cao về lao động và vật tư, tăng khai thác tài nguyên tự nhiên Nếu không có bước đột phá mới về đầu tư, khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất để sử dụng đất nông nghiệp một cách hiệu quả và bền vững, nông nghiệp Việt Nam khó có thể tiếp tục là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới Trên bình diện xã hội, bất bình đẳng đang có xu hướng gia tăng giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi
và miền xuôi, giữa nhóm dân tộc thiểu số và nhóm Kinh, giữa các nhóm
Trang 2giàu nhất và nghèo nhất tại khu vực nông thôn Đặc biệt, trong bối cảnh suy thoái kinh tế gần đây tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại
Để tiếp tục duy trì tăng trưởng trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới và khó khăn kinh tế vĩ mô trong nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra một trong những mục tiêu chủ yếu của nước ta trong giai đoạn 2011-2015 là: “Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; huy động và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Theo chủ trương trên, ngành nông nghiệp sẽ tái cơ cấu, đổi mới sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, phát huy lợi thế so sánh, ưu tiên phát triển các ngành hiệu quả và có khả năng lan tỏa cao
Để đạt được mục tiêu tái cơ cấu kinh tế, không thể thiếu các giải pháp đột phá về quản lý và sử dụng một trong những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, đặc biệt là những vấn đềtăng hiệu quả, đảm bảo tính bền vững trong sử dụng đất, đảm bảo công bằng về quyền lợi đối với đất đai và vấn đề sở hữu đất Dưới đây là một số vấn đề bất cập liên quan tới đất đai đang là cản trở đối với quá trình tái cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp nông thôn và những quan điểm mới nhằm khắc phục chúng, tạo tiền đề cho quá trình tái cơ cấu kinh tế đất nước
II NHỮNG VẤN ĐỀ TRỞ NGẠI CHÍNH VỀ ĐẤT ĐAI HIỆN NAY
Đất đai sử dụng lãng phí
1
Nguồn tài nguyên đất đai của đất nước chưa thực sự được huy động hiệu quả nhất để trở thành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội Trong phát triển công nghiệp và đô thị, nhiều dự án phát triển các khu
dự án mới được mở ra ở hầu hết các địa phương trong cả nước nhưng
tỷ lệ lấp đầy thấp, hiệu quả sử dụng lãng phí Tình trạng đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư nhưng chậm sử dụng hoặc không đưa vào sử dụng vẫn còn diễn ra khá phổ biến
Trang 3Hiệu quả sử dụng đất trong lĩnh vực nông lâm thủy sản còn thấp Tốc độ tăng hệ số sử dụng đất lúa giảm từ 2,15% giai đoạn 1990-2000 xuống còn -0,03% giai đoạn 2000-2009, do đó tỉ lệ đóng góp cho tăng trưởng của hệ số sử dụng đất giảm từ 40,4% giai đoạn 1990-2000 xuống còn -1,5% giai đoạn 2000-2009 Ngành lâm nghiệp với diện tích lớn, chiếm gần 14 triệu ha, nhưng có đóng góp rất nhỏ cho nền kinh tế quốc dân GDP (tính giá trị kinh tế đơn thuần chỉ khoảng 1%; nếu tính cả giá trị kinh tế và giá trị môi trườngkhoảng 3-4%)
Một diện tích lớn đất giao cho các nông, lâm trường quản lý, sử dụng kém hiệu quả Trước khi sắp xếp, nông lâm trường quản lý 4,6 triệu ha trong đó các nông trường quốc doanh quản lý gần 524.000 ha (402.000 ha đất nông nghiệp); lâm trường quốc doanh quản lý gần 4,1 triệu ha (3,9 triệu ha đất lâm nghiệp) Sau khi sắp xếp, diện tích nông lâm trường quản lý giảm xuống chỉ còn lại khoảng 4 triệu ha31.Theo tính toán của nhóm nghiên cứu Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT, dựa trên định mức giá của các địa phương năm 2010, tổng số đất mà các nông lâm trường quốc doanh đang nắm giữ có giá trị ít nhất khoảng 47
tỷ đô la, nhưng được sử dụng rất kém hiệu quả làm lãng phí tài nguyên của đất nước Bình quân tỷ lệ doanh thu/vốn là 0,61; lợi nhuận/vốn của nông lâm trường là 0,07 So với doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong cùng lĩnh vực là 1,5 và 0,1432
Tuy nhiên, đây chỉ là các số liệu theo báo cáo, thực tế diện tích
do các nông lâm trường quốc doanh quản lý có thể thấp hơn rất nhiều Trong quá trình sắp xếp, đổi mới, đa số nông lâm trường quốc doanh chỉ rà soát đất đai theo số liệu trên sổ sách, rất ít đơn vị thực hiện đo đạc, cắm mốc thực địa Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, một diện tích lớn đất đai được tính vào sổ sách của
31 Giai đoạn 2003 - 2010, NTQD đã bàn giao trả địa phương 48 nghìn ha, chiếm 15,80% diện tích được giao Diện tích đất doanh nghiệp nông nghiệp đang quản lý đến năm 2010 là 355 nghìn ha, chiếm 93,14% diện tích được giao quản lý năm 2003; bình quân một doanh nghiệp quản lý khoảng 2.075 ha Bên cạnh đó, LTQD cũng đã bàn giao trả địa phương 32,02% diện tích được giao, chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp thuộc diện tranh chấp hoặc bị lấn chiếm Diện tích đất doanh nghiệp lâm nghiệp đang quản lý đến năm 2010 là 1.790 nghìn ha, chiếm 71,76% diện tích được giao quản lý năm 2003; bình quân một doanh nghiệp quản lý khoảng 11.685 ha.
32 Tổng cục Thống kê.
Trang 4nông lâm trường thực tế chưa thu hồi được từ những đối tượng mà nông lâm trường đã giao đất dưới hình thức cho thuê, cho mượn, liên doanh liên kết33
Đất trống đồi núi trọc vẫn còn chưa đưa vào khai thác phổ biến tại các vùng trên cả nước Theo số liệu của Viện Quy hoạch rừng thì đến năm 2005 nước ta vẫn còn gần 6,5 triệu héc ta đất trống đồi núi trọc, tập trung chủ yếu ở hai khu vực là Đông Bắc (1,3 triệu ha) và Tây Bắc (1,7 triệu ha) trong khi trữ lượng rừng tại khu vực này thấp Đây không những là lãng phí về đất đai mà còn gây mối quan ngại cho hiểm họa
về môi trường
Ruộng đất manh mún, người sử dụng hiệu quả không có
2
điều kiện tích tụ đất
Ước tính đến năm 2007 cả nước có 9,4 triệu ha đất nông nghiệp34, trung bình diện tích đất nông nghiệp trên đầu người là 0,16 héc ta, chưa bằng 1/3 so với Thái Lan và Campuchia35 Điều tra nông thôn của dự án Danida năm 2010 tại 12 tỉnh cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nông dân là 0,85 ha, trung bình một hộ có 5,7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ dân là khoảng 4,7
km Ruộng đất phân tán cản trở sản xuất quy mô lớn, áp dụng cơ giới hóa và tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất Số liệu điều tra cho thấy hộ nông dân càng có nhiều mảnh đất thì lại nhuận trung bình thu được từ mảnh đất đó càng giảm và chi phí càng tăng
Tuy nhiên, khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân hiện nay rất thấp Kinh tế trang trại phát triển chậm, chỉ chiếm 1% số nông hộ Quy mô đất trung bình của một trang trại cũng chỉ đạt 6 ha Trong khi đó, hoạt động của thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp rất yếu ớt Theo kết quả điều tra, chỉ có 2,5% hộ nông thôn bán quyền
sử dụng đất trong 5 năm từ 2001-2005 Hoạt động thị trường thuê đất ở nông thôn cũng rất hạn chế Trong khi đó, với nguồn tích lũy hạn chế và thiếu hỗ trợ tín dụng nên rất khó cho các nông dân giỏi có đủ khả năng
33 Tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh theo Nghị định số 170/2004/NĐ-CP và Nghị định số 200/2004/NĐ-CP (2011).
34 Niên giám Thống kê 2007.
35 World Bank 2009.
Trang 5mua hoặc thuê lại đất của các nông dân khác Kết quả là rất nhiều đất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô được các nhà đầu tư thành thị mua hoặc thuê để đầu cơ, nhiều đất công bị sử dụng kém hiệu quả hoặc
bị giao hợp đồng lại
Hệ số quay vòng đất giảm
3
Hiện nay, ngày càng nhiều lao động nông thôn di cư ra làm việc tại
đô thị, rất nhiều lao động nông thôn thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi nông nghiệp, phi chính thức nhưng do không có hệ thống an sinh
xã hội chính thức tại nông thôn nên vẫn phải giữ đất để đề phòng rủi ro, đất nông nghiệp ở quê không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho những người ở lại nên không tăng được hiệu quả sử dụng đất Đất
bị bỏ hoang hóa hoặc không chăm sóc, đất nhận khoán bị nông dân trả lại, tạo ra sự lãng phí rất lớn Hệ số quay vòng đất lúa từ năm 2000 đến nay có xu hướng giảm Trong khi hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,33 năm 1985 lên 1,82 năm 2000, năm 2006 hệ số này giảm xuống còn 1,74 và năm 2009 là 1,81
Luật lệ, chính sách, quy hoạch, chồng chéo, ngắn hạn, không
4
được tuân thủ nghiêm ngặt
Chất lượng quy hoạch sử dụng đất còn thấp, quy hoạch ngành không gắn kết, trình tự quy hoạch không đi từ tổng thể đến chi tiết, và nhiều kế hoạch không phù hợp quy hoạch mà vẫn thực hiện Ví dụ chồng chéo trong quy hoạch đất rừng là một trong những nguyên nhân làm giảm chất lượng rừng, đe dọa môi trường bền vững Quy hoạch ngắn hạn, kém hiệu quả dẫn tới sự lãng phí về tài nguyên đất Sự phát triển ồ ạt của các sân golf, sân bay, cảng biển v.v… không tính đúng hiệu quả, mức độ cần thiết của từng dự án Việc công bố thông tin quy hoạch nhiều trường hợp chưa minh bạch, việc giám sát thực hiện không nghiêm minh
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật và chính sách đất đai hiện nay được ban hành quá nhiều, thay đổi thường xuyên, thiếu tính thống nhất, chồng chéo làm cho việc quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn; hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý đất đai thiếu tính thống nhất; các luật và văn bản chính sách mâu thuẫn, không thống nhất khi thực hiện gây thiệt hại cho nhà đầu tư, khiến nhiều nhà đầu tư không yên tâm đầu
tư sản xuất lâu dài
Trang 6Bất bình đẳng trong việc đảm bảo các quyền về đất
5
Đối với hầu hết nông dân Việt Nam, đất đai là tư liệu sản xuất và cũng là tài sản cơ bản Luật Đất đai hiện tại cho phép nông dân quyền
sử dụng, chuyển giao, cho thuê, thừa kế, thế chấp, cho/tặng, và góp vốn Theo đúng Luật, nông dân phải được chính quyền cho phép để chuyển
từ mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích nông nghiệp khác Thời hạn giao đất bị hạn chế (đối với hộ gia đình và cá nhân canh tác cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản, thời gian giao đất là 20 năm và đối với cây lâu năm, đất rừng là 50 năm) Luật cũng đặt mức hạn điền cho mỗi hộ theo từng loại đất (hạn mức giao đất nông nghiệpở miền Bắc và miền Trung là 4 ha và ở miền Nam là 6 ha36, đối với cây lâu năm, mức hạn điền là 20 ha ở vùng đồng bằng và 50 ha ở vùng trung du
và miền núi) Quyền sử dụng đất của nông dân bị hạn chế, và bị giám sát sao, chi phí giao dịch cao và thời gian tiến hành dài
Trong khi đó, người sử dụng đất ở đô thị được hưởng lợi nhiều hơn
từ cơ chế chính sách: không bị giới hạn về thời gian, quy mô, thủ tục giao dịch thuận lợi hơn, mức độ bồi hoàn cao hơn khi bị thu hồi, quy hoạch rõ ràng hơn, giá trị đất đai cao hơn, thế chấp vay vốn dễ hơn rất nhiều so với đất nông nghiệp
Các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, thiệt thòi trong tiếp cận và sử dụng đất để đảm bảo sinh kế, đồng thời cũng là nhóm dễ bị tổn thương trước các tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu Đối với đối tượng này, vai trò của cộng đồng thôn bản là rất quan trọng, có nhiều dân tộc có tập quán quản lý đất đai theo cộng đồng (đất sản xuất hoặc đất rừng, sông suối, mặt nước v.v…) Mặc dù Luật Đất đai 2003 công nhận quyền quản lý và sử dụng đất của một số cộng đồng, nhưng cộng đồng lại không có quyền ngang bằng với cá nhân hay tổ chức trong chuyển đổi mục đích sử dụng, không được phép chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, cho tặng và thế chấp Chính sách phát triển các nông lâm trường quốc doanh đã lấy đi rất nhiều diện tích đất của đồng bào một cách tùy tiện không tính đến lịch sử về quyền sở hữu đất đai của họ
36 Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 về Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp.
Trang 7Đất chưa trở thành tài sản đem lại lợi ích cho toàn dân và
6
hài hòa giữa các đối tượng
Khi tiến hành thu hồi đất để xây dựng các dự án phát triển phần địa
tô tăng lên do chuyển đổi mục đích sử dụng chủ yếu rơi làm lợi cho nhà đầu tư, chưa đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất
và nhà đầu tư Hiệu quả của việc giao đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án sử dụng đất còn hạn chế Nhiều quỹ đất có địa tô rất cao về vị trí, đầu tư kết cấu hạ tầng, độ phì nhiêu v.v… nhưng Nhà nước chưa thực hiện tốt vai trò điều tiết chênh lệch địa tô từ đất hình thành nhờ quy hoạch, đầu tư
Ở Việt Nam, các loại thuế đất đai và bất động sản vẫn đang trong giai đoạn phát triển Thị trường đất và bất động sản thành thị có giá trị giao dịch khổng lồ nhưng Bộ Tài chính báo cáo thuế đất tại Việt Nam không phải là nguồn thu thuế đáng kể, đặc biệt cho ngân sách địa phương37 So với các quốc gia khác, khoản thu từ thuế đất đai của Việt Nam khá thấp Trong hai thập kỷ trở lại đây, mức độ đóng góp trung bình trong GDP từ thuế đất và nhà ở tại các nước có nền kinh tế phát triển (OECD) là 2% Các nước đang phát triển khác cũng đạt 0,5% và các nước chuyển đổi đạt mức 0,6%38 Nếu tính riêng tiền thu từ thuế đất đai và nhà cửa của Việt Nam chỉ chiếm 0,07% GDP năm 201039 Theo Tổng cục Thống kê, tổng các nguồn thu từ đất của Việt Nam chiếm khoảng 5-8% tổng thu ngân sách nhà nước, trong đó chủ yếu là thu tiền sử dụng đất
Thất thu thuế đất làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng ở Việt Nam Những người có khả năng tiếp cận với đất và bất động sản đang gia tăng tích lũy của cải mà không phải đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước Trong khi nông dân nông thôn lại chịu thiệt thòi vì không được đầu tư bù đắp
37 Thuế đất mang lại nguồn thu cho các cấp chính quyền để trang trải cho việc xây dựng và duy
tu cơ sở hạ tầng, nâng cao khả năng sản xuất của đất Chất lượng của dịch vụ hạ tầng được vốn hóa trong giá trị của đất, đánh thuế đất sẽ khiến cho người sử dụng đất chia sẻ phần nào lợi ích với Chính phủ Nếu không, người sử dụng đất được hưởng trợ cấp của những người đóng thuế khác Khi chính quyền địa phương có nguồn thu từ thuế đất hàng năm sẽ ít bị phụ thuộc vào cấp phát của trung ương, thúc đẩy khuyến khích các hình thức sử dụng đất hiệu quả hơn tại địa phương
38 Rosengard và Đỗ Ngọc Huỳnh, 2008.
39 Tổng cục Thống kê, 2010.
Trang 8Đời sống của nông dân bị thu hồi đất bấp bênh
7
Chính sách thu hồi đền bù chưa thực sự thỏa đáng, hầu hết các dự
án thu hồi đền bù chưa tính đến sinh kế lâu dài cho người nông dân mất đất Thời gian qua, mặc dù Nhà nước và các doanh nghiệp đã có nhiều
cố gắng đền bù, hỗ trợ giải quyết việc làm nhưng 53% thu nhập của số
hộ bị thu hồi đất bị giảm và có tới 34,5% số hộ có điều kiện sống thấp hơn so với trước khi bị thu hồi đất Nông dân bị thu hồi đất mất đi tư liệu sản xuất nhưng thường chỉ được bồi thường bằng tiền Đặc biệt, các
dự án tái định cư thủy điện còn nhiều bất cập, tác động tiêu cực đến sinh
kế một bộ phận lớn người dân tộc thiểu số Ở nhiều nơi, việc đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư chưa quan tâm đúng mức đến phong tục, tập quán của người dân tộc, thiếu sự gắn bó với truyền thống văn hoá lâu đời của người dân bản địa
Nhìn chung, trong thu hồi và bồi thường đất nông nghiệp,tình trạng bồi thường không công bằng, thiếu cơ chế phản ánh khiếu nại và xử lý tranh chấp, tiếng nói của người dân ít được coi trọng đang tạo nguy cơ lạm dụng, tham nhũng cao, gây nên tình trạng khiếu kiện, bất ổn xã hội
ở nhiều nơi
8 Khai thác tài nguyên tự nhiên quá mức cho phép
Chương trình trồng 5 triệu ha rừng đến năm 2010 mới đạt kế hoạch 63,4% (tái sinh rừng khoảng 1 triệu ha, trồng mới 2,17 triệu ha rừng) Chất lượng rừng suy giảm rất nhiều, rừng giàu, nguyên sinh chỉ còn khoảng 10% Rừng ngập mặn vẫn bị thu hẹp dần Tổng diện tích rừng ngập mặn hiện nay so với năm 1990 chỉ còn khoảng 60%, so với năm
1943 chỉ còn 37% Tình trạng chiếm đất, phá rừng trái phép còn xảy ra trầm trọng Nhiều loại khoáng sản chủ yếu đã khai thác quá mức, đang dần cạn kiệt Trữ lượng than trong bờ và dầu ngoài khơi ở các mỏ hiện đang khai thác chỉ còn được khoảng vài ba chục năm nữa Cấp phép khai thác khoáng sản còn chồng chéo, tùy tiện và nhiều sơ hở, đặc biệt
là việc cấp phép khai thác khoáng sản thuộc quyền quản lý của các địa phương Hậu quả khai thác kinh doanh bừa bãi khoáng sản đang gây tác hại khôn lường cả về kinh tế, xã hội và môi trường ở nhiều nơi Đất canh tác mầu mỡ bị khai thác làm gạch, đá, cát bị khai thác bừa bãi làm
Trang 9vật liệu xây dựng, nước mặt và nước ngầm nhiều nơi bị sử dụng lãng phí cho sản xuất nông nghiệp
9 Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Quá trình đầu tư phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị đã mang lại tỷ lệ tăng trưởng khá cao của kinh tế Việt Nam, nhưng gây ô nhiễm khá cao cho khu vực nông thôn, đặc biệt tại đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh tình trạng ô nhiễm môi trường do nước thải từ các khu công nghiệp, khu đô thị gây ra, chất thải rắn cũng đang tạo nên những nguy cơ lớn cho bền vững môi trường Nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, ô nhiễm môi trường nước ngày càng tăng, nhiều dòng sông trước đây có chất lượng nước thuộc loại A, nay đã suy thoái trở thành nước loại B, một số đoạn sông đã trở thành sông “chết”, úng ngập đô thị ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là ở các đô thị lớn Việc sử dụng, lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp là nguồn gây ô nhiễm to lớn làm bẩn môi trường đất, nước Lượng phân bón sử dụng trong nông nghiệp ngày càng tăng, cả
về số lượng lẫn chủng loại, mặc dù ở nhiều nơi mức sử dụng đã vượt quá giới hạn cần thiết Các khu sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tập trung cũng là nguồn xả chất thải quan trọng không những làm hại cho môi trường mà còn làm phát sinh dịch bệnh gây hại trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp Tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề, khu dân cư nông thôn cũng đáng báo động
III QUAN ĐIỂM ĐỀ XUẤT GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐẤT ĐAI LÀM TIỀN ĐỀ CHO TÁI CƠ CẤU KINH TẾ
Từ những vấn đề vướng mắc đang đạt ra cho công tác xây dựng luật lệ, chính sách đất đai nêu trên, từ kinh nghiệm sử lý thành công của các nước khác và thực tiễn đổi mới thời gian qua ở Việt Nam có thể đề
ra một số quan điểm chính cần tham khảo trong quá trình giải quyết triệt
để vấn đề đất đai làm tiền đề cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nước
ta như sau:
- Đất là tài sản đặc biệt chỉ có thể sử dụng và khai thác có hiệu quả nhờ vào sự quản lý và đầu tư ổn định, lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ
Trang 10khác Vì vậy, phải xác định rõ chủ thể sở hữu (hướng tới đa sở hữu Nhà nước, cộng đồng và tư nhân), xác lập quy hoạch, ước tính được giá trị mới đảm bảo an toàn dài hạn cho quản lý và sử dụng đất đai, tạo ra động lực để các chủ thể khai thác đất một cách hiệu quả
- Cơ chế thị trường là giải pháp điều chuyển sử dụng đất một cách linh động nhất để đảm bảo hiệu quả kinh tế Vì vậy, phải hình thành nên thị trường giao dịch, chuyển nhượng, cho thuê với điều kiện vận hành thuận lợi nhất, chi phí giao dịch thấp nhất Dựa trên các động lực thị trường, giao đất cho nông dân trực canh, tháo gỡ giới hạn về không gian
và thời gian để khuyến khích họ tích tụ ruộng đất phát triển sản xuất lớn hàng hóa, áp dụng khoa học công nghệ và cơ giới hóa để tăng hiệu quả
sử dụng đất.Để thị trường vận hành hiệu quả, công tác cấp giấy chứng nhận, đo đạc bản đồ, cắm mốc thực địa, quản lý cơ sở dữ liệu phải được làm minh bạch, cung cấp rẻ và nhanh, thuận tiện cho toàn dân
- Vai trò của Nhà nước nên tập trung vào việc hỗ trợ và tạo động lực cho các thành phần kinh tế khác đầu tư vào các loại đất chưa đem lại hiệu quả kinh tế như đất trống đồi núi trọc, đất rừng đặc dụng, v.v… Đất công (đặc biệt là đất nông lâm trường quốc doanh) là thành quả của cách mạng cần phải bảo vệ, phát huy giá trị, khả năng sử dụng và quản lý đất công bằng một cơ quan quản lý quỹ đất thống nhất (như một nguồn giá trị tài chính) có đủ năng lực đại diện của nhân dân để dùng quĩ đất đó đầu tư, cho thuê, bán, bồi hoàn v.v… phục vụ cho mục đích công ích
- Nông nghiệp là lợi thế quan trọng của Việt Nam, phải cương quyết điều chỉnh các chính sách “coi nhẹ nông nghiệp nông thôn” Thay vào đó, cần phát triển cân đối giữa các ngành/vùng, dựa trên lợi thế so sánh, phát huy tối đa khả năng liên kết của các ngành để tăng năng lực cạnh tranh quốc gia, định hướng giãn phát triển công nghiệp, đô thị về địa bàn nông thôn, chỉ dùng đất đai sử dụng cho mục đích nông nghiệp kém hiệu quả để xây dựng các dự án công nghiệp và đô thị, tăng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn
- Công bằng và ổn định xã hội phải được đảm bảo thông qua các cân đối chính giữa các ngành, các vùng, và sự tham gia của mọi đối