1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP QUY MÔ NHỎ TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH

22 755 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Mục lục 2.2 Diện tích rừng phân theo rừng tự nhiện, rừng trồng và đất trống ở Hương Sơn 7 2.8 Tầm quan trọng về mặt kinh tế của lâm nghiệp quy mô nhỏ đối với các gia đình 12 2.10 Đánh

Trang 1

1

DỰ ÁN THÊM CÂY - DDS TẠI VIỆT NAM – HỘI NÔNG DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BÁO CÁO KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÂM NGHIỆP QUY MÔ NHỎ TẠI HƯƠNG SƠN – HÀ TĨNH

Thực hiện:

- Đỗ Xuân Hạnh

- Đoàn khảo sát của Hội nông dân tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh, ngày 20 – 5 – 2012

Trang 2

2

Mục lục

2.2 Diện tích rừng phân theo rừng tự nhiện, rừng trồng và đất trống ở Hương Sơn 7

2.8 Tầm quan trọng về mặt kinh tế của lâm nghiệp quy mô nhỏ đối với các gia đình 12

2.10 Đánh giá của nông dân về những trở ngại và những lĩnh vực phát triển trong

Trang 3

3

Phần 1: Tổng quan về khảo sát tình hình sản xuất lâm nghiệp quy mô nhỏ (LNQMN) 1.1 Cơ sở và mục đích

1.1.1 Cơ sở của khảo sát LNQMN

Huyện Hương Sơn – Hà Tĩnh là huyện miền núi nằm ở phía tây của tỉnh Hà Tĩnh, có diện tích tự nhiên là 110.414,7 ha, dân số xấp xỉ 120 nghìn người Diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 84.416,9 ha chiếm 76,5% diện tích tự nhiên, độ che phủ rừng là 70%

Sản xuất lâm nghiệp quy mô nhỏ là nguồn thu nhập ngày càng quan trọng với các hộ gia đình, với mỗi gia đình thì nguồn thu nhập này không thường xuyên mà theo chu kỳ nhất định nhưng lại là nguồn thu lớn, có ý nghĩa và thời gian đầu tư cho chu kỳ sản xuất lâm nghiệp người dân có thể làm thêm các công việc khác có giá trị gia tăng

Tuy nhiên, hiện nay việc tổ chức sản xuất lâm nghiệp quy mô nhỏ của các gia đình còn nhiều điểm hạn chế như: tổ chức liên kết sản xuất, ứng dụng kỹ thuật phù hợp, kỹ thuật chăm sóc

và khai thác, chủ động các nguồn lực để sản xuất bảo đảm lợi ích kinh tế hộ, ý nghĩa xã hội

và bảo vệ môi trường – giảm thiểu biến đổi khí hậu, và các vấn đề thị trường (trao đổi thông tin thị trường, khả năng bảo vệ lợi ích ở thị trường …)

Những hạn chế trên cần có được các thông tin, mô tả một cách cụ thể để có giải pháp tác động nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế của các hộ nông dân một cách bền vững

Khảo sát này để hiện thực hóa các vấn đề trên, được thực hiện bởi Hội nông dân tỉnh Hà Tĩnh với sự hỗ trợ của Văn phòng DDS tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án “Thêm cây” tại Hương Sơn

1.1.2 Mục đích

Mục đích: Nhằm xác định được thực trạng sản xuất LNQMN và các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp kết hợp của các hộ gia đình ở Hương Sơn – Hà Tĩnh

Kết quả mong đợi:

+ Số liệu thống kê diện tích rừng ở các huyện dự án – được chia theo các loại rừng, các loại hình chủ sử dụng và phân theo địa giới hành chính các xã

+ Số liệu thống kê diện tích rừng quy mô nhỏ theo loại rừng, kích cỡ rừng đối với các hộ gia đình, loài cây và các độ tuổi

+ Định hướng phát triển lâm nghiệp: chính sách của nhà nước, kế hoạch phát triển lâm nghiệp của địa phương và sự hỗ trợ của nhà nước đối với lâm nghiệp quy mô nhỏ (LNQMN) trong dự án Thêm cây được hiểu là lâm nghiệp hộ gia đình hay lâm nghiệp trang trại)

+ Mục tiêu và mong đợi đối với LNQMN của các hộ gia đình

+ Hoạt động quản lý rừng đối với LNQMN

Trang 4

4

+ Tình hình sản xuất nông lâm kết hợp của người dân

+ Tình hình canh tác du canh của người dân địa phương

1.2 Phương pháp khảo sát

1.2.1 Tiến trình khảo sát:

Cuộc khảo sát với sự tham gia của tư vấn và các cán bộ dự án của Hội nông dân tỉnh

Hà Tĩnh, thực hiện dựa theo phương pháp có sự tham gia nên tiến trình được thực hiện theo các bước cơ bản như sau:

+ Xác định yêu cầu của khảo sát

+ Tìm hiểu thông tin, nghiên cứu các tài liệu thứ cấp có liên quan

+ Xây dựng nội dung nghiên cứu, phương pháp và công cụ thu thập thông tin

+ Tập huấn cho các thành viên nhóm: trao đổi, điều chỉnh, bổ sung và thống nhất về nội dung, phương pháp, công cụ

+ Tham vấn các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở cấp tỉnh, huyện, xã

+ Phỏng vấn nông dân sản xuất rừng

+ Tổng hợp thông tin, viết báo cáo, kiểm tra thông tin

Các thành phần liên quan: nhận thức, thái độ, hành động và ý kiến của họ

Mô tả kết quả và kết luận thực

trạng

Trang 5

5

1.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

+ Thu thập tài liệu thứ cấp (tài liệu của các cơ quan, số liệu thống kê, báo cáo quy hoạch, tổng hợp của địa phương)

+ Phỏng vấn cấu trúc (sử dụng bảng hỏi cấu trúc) và bán cấu trúc (sử dụng bảng hỏi tham vấn)

+ Tọa đàm về các vấn đề liên quan

+ Quan sát/ghi chép hình ảnh

+ Thống kê số liệu và phân tích

1.2.4 Chọn mẫu/địa điểm khảo sát

Mẫu khảo sát được lựa chọn trên cơ sở phối hợp với hoạt động khảo sát thị trường, tuy nhiên

sẽ tập trung nhiều về khía cạnh người sản xuất

Cấp tỉnh (Hà Tĩnh): Chi cục phát triển lâm nghiệp, Sở thương mại, Chi cục kiểm lâm, Sở TN

& MT

Cấp huyện (Hương Sơn): Phòng NN & PTNT, Hội nông dân, Phỏng TN & MT

Cấp xã: các hộ sản xuất lâm nghiệp ở các xã là Sơn Lĩnh, Sơn Kim, Sơn Quang, Sơn Trường, Sơn Lễ, Sơn Hàm

Chọn đại diện các hộ nông dân sản xuất rừng có điều kiện kinh tế khác nhau: hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo, chọn các hộ có điều kiện sản xuất khác nhau về: diện tích sản xuất rừng, thời điểm sản xuất, địa hình sản xuất …

UBND xã, Ban nông lâm xã, Cán bộ địa chính xã, Cán bộ HND

Trang 6

6

Phần 2: Kết quả khảo sát LNQMN

2.1 Tổng quan về diện tích tự nhiên và diện tích rừng của các xã ở Hương Sơn

Huyện Hương Sơn có 30 xã và 02 thị trấn, trong đó có 28 xã có đất lâm nghiệp và được

phân chia các loại rừng theo bảng sau:

STT Tên Xã Diện tích đất lâm nghiệp (ha) Theo ba loại rừng ( ha) diện tích đất Cơ cấu %

LN Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất

Tổng cộng 84.416,90 9.266,10 34.155,20 40.995,60 100,00

1 Sơn Bình 153,70 125,10 28,60 0,20

2 Sơn Châu 92,70 56,80 35,90 0,10

3 Sơn Đệm 1.044,50 1.044,50 1,20

4 Sơn Giang 643,90 487,40 156,50 0,80

5 Sơn Hàm 1.374,80 630,90 743,90 1,60

6 Sơn Hồng 17.585.60 6.513.90 11.071.70 20.80

7 Sơn Hòa 27,40 27,40

8 Sơn Kim I 21.244,60 10,786.50 10.458,10 25,20

9 Sơn Kim II 19.110,10 7.534,80 8.142,20 3.433,10 22,60

10 Sơn Lâm 3.142,50 1.404,20 1.738,30 3,70

11 Sơn Lễ 1.563,50 970,80 592,70 1,90

12 Sơn Long 48,10 48,10 0,10

13 Sơn Lĩnh 1.177,20 223,60 953,60 1,40

14 Sơn Mai 1.085,80 1.085,80 1,30

15 Sơn Ninh 97,00 87,00 10,00 0,10

16 Sơn Phú 32,90 32,90

17 Sơn Phúc 97,40 97,40 0,10

18 Sơn Quang 872,70 872,70 1,00

19 Sơn Tân 218,80 218,80 0,30

20 Sơn Tây 10.516,70 1.731,30 2.689,10 6.096,30 12,50

21 Sơn Tiến 1.717,50 1.177,20 540,30 2,00

22 Sơn Thịnh 140,60 140,60 0,20

Trang 7

7

23 Sơn Thủy 937,40 215,90 721,50 1,10

24 Sơn Hà 213,10 191,90 21,20 0,30

25 Sơn Trường 839,10 839,10 1,00

26 Sơn Trung 189,40 65,90 123,50 0,20

27 TT Phố Châu 24,20 24.20

28 TT Tây Sơn 225,70 225,70 0,30

29 Sơn Bằng -

30 Sơn An -

31 Sơn Tân -

32 Sơn Mỹ -

2.2 Diện tích rừng phân theo rừng tự nhiện, rừng trồng và đất trống ở Hương Sơn

Tổng diện tích đất lâm nghiệp của Hương Sơn là 84.416,9 ha, trong đó đất lâm nghiệp có

rừng là 76.229,8 ha (chiếm 90,3%)

Cơ cấu

%

Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất

Trang 8

8

 Phân loại rừng trồng (rừng sản xuất) theo loại cây trồng tại các xã khảo sát

Keo Thông Hỗn giao keo và thông Cây bản địa

Đất LN có thể trồng rừng (ha)

Diện tích đất LN giao cho các hộ

Hộ có dưới 1

Trang 9

Về tổ chức quản lý, sản xuất và kinh doanh rừng ở Hương Sơn được phân giao cho 10 nhóm chủ quản lý (theo bảng tổng hợp)

Cơ cấu

% Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất

+ Ban quản lý rừng đặc dụng: Hương Sơn có 9.266,1 ha rừng thuộc địa giới hành chính 2 xã

là Sơn Kim II và Sơn Tây do Vườn Quốc Gia Vũ Quang quản lý, nhiệm vụ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học các nguồn gen động thực vật rừng

Trang 10

10

+ Các đơn vị kinh doanh rừng tự nhiên: Công ty TNHH LN & DV Hương Sơn có nhiệm vụ quản lý khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng phòng hộ, khai thác gỗ rừng tự nhiên kết hợp trồng và kinh doanh rừng trồng trên đất rừng sản xuất

+ Các đơn vị tham gia sản xuất kinh doanh nghề rừng gồm có 4 đơn vị là Công ty hợp tác kinh tế Quân khu 4, Xí nghiệp Tây Sơn, Tổng đội thanh niên xung phong và Sinh thái nhân vân vùng cao, các doanh nghiệp có nhiệm vụ chính là bảo vệ diện tích đất rừng hiện có, đầu

tư và phát triển rừng trồng và trồng chè

+ Cho đến thời điểm này, toàn huyện có 5.442 hộ sử dụng đất lâm nghiệp, diện tích rừng và đất lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình quản lý là 13.190,3 ha trong đó rừng sản xuất là 13.043,2 ha, rừng phòng hộ 147,1 ha, hiện chỉ có khoảng 10.000 ha đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp

+ Diện tích rừng và đất lâm nghiệp do các UBND xã quản lý là 11.360,2 ha trong đó rừng sản xuất la 8.703,3 ha, rừng phòng hộ là 2.656,9 ha

2.4 Chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển LNQMN tại Hương Sơn

Từ năm 1996, trên cơ sở chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ gia đình quản lý và phát triển, từ đó đến nay, trên địa bàn huyện Hương Sơn có các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển lâm nghiệp như:

+ Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, tiếp sau đó là chương trình 327, 661 đây là chương trình,

dự án có ý lớn trong việc phát động phong trào phát triển và bảo vệ rừng Dự án đã cung cấp

kỹ thuật, hộ trợ giống và phân bón cho các gia đình được giao đất lâm nghiệp để trồng và chăm sóc, quản lý rừng, trồng rừng sản xuất

+ Dự án trồng rừng Việt Đức hỗ trợ nông dân kỹ thuật trồng rừng, trồng rừng hỗn giao, hỗ trợ giống, vật tư để trồng rừng

+ Dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở dãy núi Bắc Trường Sơn do chính phủ Đan Mạch tài trợ,

dự án đã cung cấp kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi hỗ trợ các hộ gia đình phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, nhằm giảm áp lực của người dân lên các khu rừng tự nhiên

+ Dự án đầu tư Vườn Quốc gia Vũ Quang giai đoạn 2006 – 2010, trong đó có phần diện tích đất rừng của Hương Sơn, dự án tập trung nâng cao năng lực cho cộng đồng trong việc bảo

vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Hiện tại, có một số dự án chương trình đang triển khai ở Hương Sơn như:

+ Dự án mô hình trồng thâm canh keo tai tượng tuyển chọn, Trung tâm nghiên cứ lâm đặc sản phối hợp với huyện Hương Sơn thực hiện

+ Dự án hỗ trợ trồng cây lâm nghiệp quý hiếm như: lim, vạng, trám … của UBND tỉnh

Trang 11

11

+ Đề án trồng cao su tiểu điền: tổng diện tích quy hoạch trồng cao su 5.350 ha, giai đoạn

2010 – 2015 trồng 5.124 ha, trong đó Ban quản lý rừng trong 310 ha, doanh nghiệp nhà nước trồng 875 ha, UBND các xã trồng 1.127ha, hộ gia đình trồng 2.811 ha

2.5 Sự tham gia của các hộ gia đình trong sản xuất lâm nghiệp

Cho đến thời điểm này, các gia đình sản xuất lâm nghiệp ở Hương Sơn đều theo quy mô hộ gia đình độc lập, không có tổ chức nghề nghiệp riêng của họ, hoạt động về tập huấn kỹ thuật được hỗ trợ thông qua đơn vị hành chính địa phương như thôn (xóm) hoặc xã Người trưởng thôn đóng vai trò chủ trì trong việc tổ chức các sự kiện chuyển giao kỹ thuật từ các dự án, từ các cơ quan chuyên môn của địa phương, và tất cả cũng chỉ dừng lại ở công đoạn kỹ thuật trồng và chăm sóc

Việc mua cây giống và bán gỗ cũng thực hiện theo hướng riêng lẻ, thuận mua vừa bán với các cá nhân kinh doanh bên ngoài thị trường

Công việc khai thác tập thể (gọi là đổi công cho nhau) cũng khó thực hiện bởi không thể huy động được lao động từ những gia đình hàng xóm, bên cạnh đó việc bán đứng cho các chủ thu gom cũng là hình thức ưa chuộng và tiện ích khi nhận tiền

2.6 Mục đích của các gia đình khi thiết lập trang trại rừng:

Đề cập đến việc giao đất, giao rừng từ năm 1996 của huyện, một số hộ rất tích cực nhận khoán, không ít hộ đã không mạnh dạn nhận đất, nhận rừng nhưng càng về sau này thì các gia đình có phong trào mạnh hơn để nhận quản lý, chăm sóc và phát triển rừng hoặc nhận khoán từ các lâm trường, ban quản lý rừng Tuy nhiên, đến thời điểm gần đây việc nhận đất rừng, đất lâm nghiệp ở các xã không chỉ đơn thuần là nhu cầu của các mà còn phụ thuộc vào các quy định chủa Nhà nước, nhu cầu nhiều nhưng quỹ đất của xã quản lý ít, việc phân chia đều cho các hộ là không thể được, bởi vì tối thiểu cấp bìa cho quản lý đất lâm nghiệp là 01

ha

Nhận thức và hành động của các gia đình trong việc quản lý và phát triển trang trại rừng là rất cụ thể và rõ ràng:

+ Có đất lâm nghiệp, có rừng là một tài sản lớn của gia đình

+ Sản xuất và phát triển rừng là tạo việc làm cho các thành viên trong gia đình cho hiện tại

và tương lai sau này

+ Nâng cao thu nhập cải thiện đời sống từ việc bán các sản phẩm từ rừng

Như vậy, có thể thấy nhu cầu phát triển kinh tế gia đình và sở hữu một phần diện tích rừng là rất chính đáng của các hộ dân, các ý kiến cho rằng: đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp (trồng

Trang 12

12

rừng) là lâu cho nhập, có khi là 7 đến 10 năm, tuy nhiện việc đầu tư chỉ là một lần, sau đó là việc quản lý, chăm sóc, thời gian còn lại tập trung làm công việc khác có thu nhập bổ sung Bên cạnh đó, nhiều ý kiến của các gia đình có tính sâu sắc hơn ngoài mong đợi về kinh tế gia đình mà tính xã hội và cộng đồng cao hơn như: việc trồng rừng nhằm phòng chống sự sạt lở

và xói mòn đất, chắn sự phá hoại của gió, bão làm ảnh hưởng đến con người vật nuôi và cây trồng, mở rộng diện tích phủ xanh đất chống đồi trọc nhằm giảm thiểu sự biến đổi của khí hậu và ô nhiễm môi trường

2.7 Nguồn thu nhập chính của nông dân

Theo số liệu thống kê, tổng số lao động toàn huyện xấp xỉ 50 nghìn người, có cấu lao động phân bố theo các ngành nghề như sau:

+ Lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm gần 90%

+ Lao động công nghiệp, xây dựng chiếm 4%

+ Lao động cho dịch vụ chiếm gần 8%

+ Các ngành nghề khác chiếm xấp xỉ 7%

Từ đó cho thấy các nguồn thu nhập cho các gia đình ở Hương Sơn cũng rất đa dạng và phong phú, ngoại trừ 3 trung tâm thương mại – dịch vụ lớn của Hương Sơn thì hầu như số lao động ở các xã nông thôn – miền núi tập trung cho sản xuất nông lâm nghiệp và có nguồn thu nhập chính từ đó

Cuộc khảo sát đã tập trung chính ở 06 xã nơi mà nông dân có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp và có một số thu nhập khác như:

+ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp (trồng trọt): lúa, ngô, sắn, lạc

+ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi): lợn, hươu, trâu – bò

+ Thu nhập từ nghề rừng: trồng, khai thác và bán gỗ keo

+ Thu nhập từ lao động phổ thông: thợ xây, làm công cho các chủ thu gom keo + Thu nhập từ lương, phụ cấp do lao động đi làm bên ngoài mang về

2.8 Tầm quan trọng về mặt kinh tế của lâm nghiệp quy mô nhỏ đối với các gia đình Xét riêng về góc độ kinh tế, thu nhập từ sản xuất LNQMN đã thực sự cải thiện điều kiện sống của nhiều hộ dân Mặc dù chu kỳ khai thác dài trung bình 5 – 7 năm cho thu hoạch nhưng mỗi lần cho thu hoạch có giá trị kinh tế cao và ở giai đoạn trồng mới gần như đều có

sự hỗ trợ của Nhà nước, của các dự án, việc quản lý và chăm sóc vườn rừng không yêu cầu

Ngày đăng: 13/06/2016, 16:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w