Các chủ trại lợn cho rằng thiếu năng lực xử lý, thiếu năng lực vận chuyển, không có thông tin về cải tiến quản lý phân, thiếu quan tâm đến việc quản lý chất thải, và thiếu tiếp cận với c
Trang 1KẾT QUẢ ĐIỀU TRA QUẢN LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI HEO
TẠI XÃ GIA KIỆM, THỐNG NHẤT, ĐỒNG NAI
Lã Văn Kính, Nguyễn Thanh Vân, Lê Phan Dũng,
Đậu Văn Hải, Lê Đình Phùng, Jaap Schröder và Theun Vellinga
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm xác định hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi lợn tại xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Thông tin thu thập trên 30 trại nuôi lợn bằng bảng câu hỏi chuẩn Chất thải của lợn gồm hai loại khác nhau: (i) chất thải rắn (phân lợn) và (ii) hỗn hợp chất thải lỏng, gồm hỗn hợp của phân, nước tiểu và nước rửa chuồng Có trên 67% số trại lợn trữ hỗn hợp chất thải lỏng; trong số đó
65% được sử dụng để sản xuất khí sinh học thông qua lên men yếm khí (biogas) Sản phẩm sau lên men
yếm khí được bón cho cây trồng hoặc thải trực tiếp ra môi trường Có 35% số trại lợn trữ hỗn hợp chất thải lỏng trong các hố chứa gần chuồng Người chăn nuôi chủ động thu gom chất thải rắn với số lượng bình quân 609 kg phân tươi/trại/ngày Có 87% lượng phâ n giao dịch thông qua lái và vận chuyển đến bán cho chủ vườn cây ở địa phương khác Các chủ trại lợn cho rằng thiếu năng lực xử lý), thiếu năng lực vận chuyển, không có thông tin về cải tiến quản lý phân, thiếu quan tâm đến việc quản lý chất thải, và thiếu tiếp cận với các khoản vay là những yếu tố quan trọng nhất ngăn cản việc sử dụng chất thải chăn nuôi lợn làm phân bón Các khó khăn về kinh tế -xã hội không thực sự cản trở quyết định sử dụng chất thải chăn nuôi lợn làm phân bón Các lý do chính để cải thi ện quản lý chất thải chăn nuôi lợn là do chúng
đang ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và vật nuôi, chất lượng nước và phát thải mùi đến khu dân cư
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), mỗi năm, ngành chăn nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75 - 85 triệu tấn chất thải Các chất thải này thường xuyên
không được xử lý ổn định; nước thải không qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm
nghiêm trọng Hiện cả nước có trên 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và gần 20 nghìn trang trại chăn nuôi tập trung, nhưng mới chỉ có 8,7% số hộ xây dựng công trình khí sinh học (hầm biogas) Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm 10% Vẫn còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải bằng bất kỳ phương pháp nào mà
xả thẳng ra môi trường bên ngoài Tình trạng trên đã gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường khí, môi trường đất và các sản phẩm nông nghiệp Theo các chuyên gia
môi trường thì trong hoạt động chăn nuôi, chất thải rắn từ chăn nuôi heo gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hơn các loại chăn nuôi khác và cần được xử lý dứt điểm và vấn đề này
ngày càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết
Trang 2Hiện nay Đồng Nai là tỉnh phát triển mạnh về chăn nuôi và đứng đầu cả nước về phát triển chăn nuôi heo và gà theo phương thức nuôi công nghiệp Huyện Thống Nhất lại là huyện phát triển chăn nuôi nhất của tỉnh Đồng Nai, hầu hết các chỉ tiêu bình quân
về chăn nuôi theo đầu người đều vượt trội so với mức bình quân cả nước và của tỉnh Mật độ chăn nuôi ở đây rất cao, cụ thể về chỉ tiêu số heo nuôi/số người của Việt Nam là 0,28; của tỉnh Đồng Nai là 0,48; của huyện Thống Nhất là 1,02; riêng xã Gia Kiệm thuộc huyện Thống Nhất rất cao 2,32 Định hướng phát triển chăn nuôi của tỉnh Đồng Nai cũng đã xác định Thống Nhất là một trong những huyện trọng điểm của tỉnh về phát triển chăn nuôi tập trung Mật độ nuôi heo càng cao thì vấn đề ô nhiễm do chất thải chăn nuôi càng lớn và trở thành chủ đề nóng không những đối với người chăn nuôi mà còn cả cho chính quyền địa phương cũng như cộng đồng dân cư địa phương Do đó rất cần biết chính xác hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi heo ở đây để đề ra những giải pháp cần thiết nhằm cải thiện môi trường chăn nuôi, đó là lý do chúng tôi chọn xã Gia Kiệm để tiến hành điều tra này
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Điều tra chung
Điều tra bao gồm hai phần: (i) điều tra chung và (ii) điều tra chi tiết Điều tra chung thu
thập các số liệu về ngành nông nghiệp và ngành thống kê huyện Thống Nhất Điều tra được thực hiện từ tháng 10-12/2013
Điều tra chi tiết
Điều tra chi tiết được tiến hành trên các trại nuôi heo công nghiệp của hai thôn Võ Dõng
1 và Võ Dõng 3 thuộc xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Danh sách 265 trại nuôi heo của hai thôn được sắp xếp theo qui mô nuôi từ nhỏ đến lớn, sau đó chọn ngẫu nhiên 30 trại để điều tra chi tiết bắng cách cứ 9 trại chọn một trại, như vậy 30 trại heo chọn
điều tra chi tiết đảm bảo có đủ các qui mô nuôi từ nhỏ đến lớn Các thông tin về quản lý
chất thải được thiết kế dự a trên các câu trả lời của người chăn nuôi heo cho bảng câu hỏi chuẩn được thiết kế bởi trường Đại học Wageningen, Hà Lan Bản questionnaire dự thảo đã
được hỏi thực nghiệm trước trên 4 trại nuôi heo tại huyện Thống Nhất để loại bỏ các câu hỏi
mơ hồ và hạn chế các thiếu sót, sau đó xây dựng thành questionnaire chính thức Bảng câu
hỏi bao gồm các thông tin về các nguồn lực của hộ (lao động, đất đai, giáo dục của chủ trang trại), đặc tính của hệ thống canh tác và năng suất chăn nuôi, đặc điểm của các hệ thống chăn nuôi heo (thức ăn, chuồng trại, marketing), tình hình quản lý chất thải hiện nay,
các khó khăn và hạn chế trong việc quản lý và sử dụng chất thải chăn nuôi heo làm phân
bón cho cây trồng Bảng câu hỏi này được phỏng vấn trực tiếp chủ trại heo và ghi kết quả trả lời vào questionnaire
Trang 3Xử lí dữ liệu
Theo đề nghị của ĐH Wageningen, 30 trại heo chọn điều tra được chia theo qui mô nuôi
để xử lý data:
- Nhóm trại nhỏ gồm 6 trại: qui mô dưới 10 nái, dưới 60 heo thịt
- Nhóm trại trung bình gồm 18 trại: 10 -50 nái, 60-250 heo thịt
- Nhóm trại lớn gồm 6 trại: trên 50 nái, trên 250 heo thịt
Các dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Minitab phiên bản 14 Các giá trị trung bình
và độ lệch chuẩn được hiển thị chung cho cả 30 trại heo
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Các thông tin về huyện Thống Nhất
Bảng 1: Diện tích và dân số tại địa điểm điều tra
Chỉ tiêu
Việt Nam Đồng Nai Thống Nhất Gia Kiệm Võ Dõng 1&3
-Nguồn: thống kê huyện Thống Nhất và xã Gia Kiệm
Bảng 1 trình bày diện tích và dân số của huyện Thống Nhất, xã Gia Kiệm cũng như hai ấp
điều tra là Võ Dõng 1 và Võ Dõng 3 Diện tích và dân số huyện Thống Nhất chiếm rất nhỏ so
với toàn tỉnh cũng như Việt Nam, nên kết quả điều tra này không nên ngoại suy cho cả nước Việt Nam
Theo thống kê của huyện Thống Nhất, tổng số gia súc trong tháng 9/2013 lên tới 210.000 con heo, 950.000 con gà, 5.271 con vịt, khoảng 1,4 triệu chim cút thịt, 2.615 trâu bò và 2.390 con dê Tại huyện Thống Nhất, hệ thống sản xuất vật nuôi chủ yếu là chăn nuôi heo bao gồm
cả heo nái và heo thịt
Các thông tin về trại nuôi heo
Lao động và đất đai là hai yếu tố quan trọng quyết định sự lựa chọn cách thức quản lý
phân Những tài nguyên này thường cung cấp cơ sở cho các chủ trang trại để chọn chế độ phù hợp của sản xuất (Raquel 1985; Baker 1997; Nelson & Cramb 1998; Savadogo et al 1998)
Số lao động và đất đai của các trại heo được thể hiện trong Bảng 2
Trang 4Bảng 2: Lao động và đất đai của trại heo khảo sát
30 trại
Độ lệch chuẩn
30 trại
Trại nhỏ Trại TB Trại lớn
Bảng 2 cho thấy một hộ nuôi heo có trung bình 5,3 người Có một sự khác biệt nhỏ giữa trại nhỏ nhất, trung bình và lớn nhất về số lượng thành viên trong gia đình Tỷ lệ của mỗi giới
là khoảng 50% Số lượng lao động chiếm khoảng 50% của các thành viên trong gia đình Khoảng 70% người lao động có khả năng có sẵn tham gia sản xuất nông nghiệp và 30%
số lao động còn lại kiếm sống ở nơi khác Mỗi lao động làm việc trong trại heo có khoảng 5,3 giờ làm việc mỗi ngày
Đất đai có sẵn của trang trại không những giúp ngư ời nuôi heo có thêm chọn lựa sản xuất
cây thực phẩm và thức ăn gia súc, mà còn giúp xác định phương thức quản lý chất thải liên
quan đến việc bón phân cho cây trồng Với các hộ không có đất thì cách tốt nhất là bán phân
chuồng cho lái để họ vận chuyển và bán lại cho nông dân ở nơi khác Tuy nhiên, chất thải trong nhiều trường hợp thải trực tiếp ra môi trường hơn là được sử dụng cho sản xuất cây trồng Điều tra cho thấy rằng mỗi trang trại có trung bình khoảng 1,5 ha đất cho sản xuất nông nghiệp, trong đó 87% được sử dụng làm vườn Điều này cho thấy rằng đất của trại heo không dành cho tự sản xuất thức ăn gia súc nuôi heo Lưu ý rằng, có sự thay đổi lớn trong diện tích
đất nông nghiệp giữa các trang trại (với hệ số biến dị = 174%) Có năm hộ trong số 30 hộ điều tra không có đất nông nghiệp Các trang trại nhỏ nhất có khoảng 0,2 ha trong khi các trang
trại lớn nhất có 2,5 ha
Khoảng cách từ các hộ/trang trại đến thị trấn gần nhất có ý nghĩa về mặt nhu cầu của
người tiêu dùng với các sản phẩm chăn nuôi, về sự cạ nh tranh với các loại công việc làm khác
ở các thị trấn, cũng như về giải pháp quản lý chất thải phù hợp sẵn có Các khảo sát cho thấy
rằng hầu hết các trang trại nuôi heo chỉ cách thị trấn gần nhất khoảng 1,8 km Các trang trại lớn thì xa hơn một chút, cá ch thị trấn gần nhất 2,2 km
Giáo dục là một trong những chỉ số về chất lượng của lao động Khi có trình độ văn hóa mức độ cao hơn, chủ trang trại có xu hướng dễ dàng chấp nhận và áp dụng các công nghệ tiên tiến hơn (Feder & Umali, 1993; Feder et al, 1985 ) Kết quả điều tra cho thấy rằng 90% chủ trang trại có trình độ từ trung học trở lên, 10% còn lại ở mức tiểu học
Trang 5Đặc điểm của các hệ thống chăn nuôi heo
Các loại hệ thống chăn nuôi heo (kích thước, cấu trúc đàn, năng suất, thức ăn, chuồng trại) cũng là một yếu tố quyết định quan trọng của quản lý phân và do đó ảnh hưởng đến mức
độ ô nhiễm môi trường
Bảng 3: Cơ cấu đàn heo các hộ được điều tra
30 trại
Độ lệch chuẩn
Kết quả điều tra cho thấy các trang trại điều tra là các trang trại chuyên hóa chăn nuôi heo, bình quân mỗi trang trại nuôi khoảng 279 con heo Có sự khác biệt rất lớn về tổng số heo mỗi trang trại: con số tương ứng là 62, 186 và 777 con cho 6 trại nhỏ nhất, 18 trại trung bình
và 6 trang trại lớn nhất, trong đó số heo nuôi thịt (có khối lượng >20 kg) chiếm khoảng 62%,
số heo con (<20 kg) chiếm khoảng 27% và số heo nái chiếm 12% Không có trang trại nào
nuôi heo đực giống do các trang trại đều áp dụng thụ tinh nhân tạo và nguồn tinh được mua từ
các trung tâm hoặc trang trại chuyên nuôi đực giống
Bảng 4: Năng suất chăn nuôi heo năm 2012
30 trại
Độ lệch chuẩn
30 trại Trại nhỏ Trại TB Trại lớn
Số heo thịt xuất chuồng/hộ/năm (con) 539,5 573,6 135,0 377,2 1.430,8
Năng suất chăn nuôi heo năm 2012 được thể hiện ở bảng 4 Kết quả điều tra cho thấy mỗi
trang trại bình quân xuất chuồng khoảng 540 con/năm, tương ứng với 1,93 lứa nuôi/năm Có
sự biến động lớn về số lượng heo thịt xuất chuồng giữa các trang trại, tương ứng 135, 337 và
1431 heo ở các trang trại nhỏ, trung bình và lớn nhất Lưu ý rằng có vẻ có tương quan âm giữa qui mô trang trại và số lứa heo thịt nuôi hàng năm, dao động tính bình quân 2,17 ở các trang trại nhỏ nhất, 2,03 ở các trang trại trung bình và 1,84 ở các trang trại lớn nhất, mặc dù tuổi giết mổ tăng nhẹ ở các trang trại nhỏ nhất Heo được xuất chuồn g vào lúc khoảng 6 tháng tuổi với khối lượng trung bình 100 kg Ngoài heo thịt, mỗi hộ/trang trại sản xuất 618 heo con cai sữa/năm, mỗi nái bình quân sản xuất 19 con cai sữa/năm, với khối lượng cai sữa 7,2
Trang 6kg/con Có sự khác biệt lớn về số lượng heo vỗ béo cũng như số lượng heo cai sữa giữa các trang trại, điều này phản ánh qua độ lớn của độ lệch chuẩn
Heo thịt và heo con là hai sản phẩm chính của các trang trại chăn nuôi Kết quả điều tra cho thấy các trang trại điều tra nuôi heo nái để sản xuất heo con để nuôi thịt sau đó bán heo thịt ra thị trường Đây là đặc điểm hiển nhiên và phổ biến đối với các trang trại chuyên chăn nuôi heo ở Việt Nam Có 77% số trang trại sử dụng toàn bộ heo con cai sữa mình sản xuất ra
để nuôi thịt, 23% số trang trại còn lại bán khoảng 22% heo con cai sữa mình sản xuất ra cho
các hộ khác
Các trang trại chăn nuôi heo thịt theo phương thức công nghiệp do vậy tất cả đều sử dụng thức ăn hỗn hợp cho heo nái, heo thịt và heo con Việc lựa chọn loại thức ăn HH phụ thuộc
vào giai đoạn tăng trưởng và phát dục cụ thể của heo Thức ăn hỗn hợp được mua từ các công
ty sản xuất thức ăn như CP, Proconco, Greenfeed Một số trang trại tự trộn thức ăn hỗn hợp
từ những nguyên liệu địa phương để tiết kiệm chi phí Bình quân một con heo thịt (trọng
lượng> 20 kg/con) tiêu thụ trung bình 2,4 (2,34 -2,49) kg thức ăn mỗi ngày Heo con (trọng lượng <20 kg/con) tiêu thụ 0,36 (0,31 -0,39) kg và heo nái 2,9 (2,8-2,95) kg thức ăn mỗi ngày
Hệ thống chuồng trại có ảnh hưởng quan trọng đến phương thức quản lý chấ t thải Tất cả các trang trại điều tra đều có chuồng trại kiên cố, được xi măng hóa, có hệ thống chuồng trại
riêng cho các đối tượng nuôi: heo nái, heo thịt và heo con Tất cả các trang trại lấy nước uống
và nước rửa chuồng từ các giếng nước ngầm có độ sâu 30-40 m Phần rắn của phân tươi (phân
và một số thức ăn rơi vãi) được thu trực tiếp hàng ngày và cho vào bao TĂHH cũ có đặc tính chống thấm nước Sau khi dọn phân thì xịt rửa nền chuồng hàng ngày một lần vào mùa khô,
vào mùa mưa thì ít hơn khoảng vài ngày một lần Hỗn hợp chất lỏng của nước rửa chuồng, nước tiểu, phân vụn và thức ăn rơi vãi được dẫn theo các mương/ống xi măng ra hố biogas
hoặc hồ chứa nằm cạnh chuồng trại hoặc trực tiếp thải ra môi trường Đây là cách xử lý chất thải phổ biến khi chăn nuôi công nghiệp mặc dù không thật thân thiện với môi trường
Bảng 5: Diện tích các trại heo điều tra
30 trại
Độ lệch chuẩn
30 trại Trại nhỏ Trại TB Trại lớn
Diện tích khu heo thịt (m2) 30 1,564.4 2,097.8 740.3 1419.9 2821.7
Chuồng trại heo có diện tích trung bình 1.750 mét vuông Tuy nhiên, có sự biến động lớn giữa các trang trại (hệ số biến dị khoảng 130%) vì có sự khác biệt đáng kể về qui mô giữa các trang trại (Bảng 4) Có đến 89% diện tích chuồng trại dành để nuôi heo thịt với diện tích trung bình 9 m2/con (Bảng 5), con số này rất cao do nhiều chuồng trại bị bỏ trống do ảnh hưởng của giá heo thấp trong năm 2012 Cần lưu ý rằng diện tích chuồng trung bình cho 1 heo thịt có xu
hướng nhỏ hơn ở các trang trại lớn so với nông hộ nhỏ, có thể cho thấy t rại lớn ít bỏ trống
chuồng nuôi hơn do có tiềm lực kinh tế tốt hơn để chống chọi với biến động giá heo hơi
Trang 7Hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi heo trang trại
Dạng chất thải
Tùy theo hệ thống thu gom, xử lý chất thải, hệ thống chuồng trại, mục đích sử dụng chất thải mà chất thải có thể gồm 3 dạng khác nhau (i) chất thải rắn (feces) (ii) hỗn hợp nước tiểu
và nước rửa chuồng (iii) hỗn hợp giữa nước tiểu, nước rửa chuồng và chất thải rắn (slurry)
Kết quả điều tra cho thấy 100% các trang trại chủ động thu chất thải rắn (phân tươi) Hầu hết nông dân bán phân này cho lái phân với giá 5.000 đồng cho mỗi bao khoảng 30 kg Nhu cầu mua phân cho cây trồng cao vào mùa khô nhưng khá giới hạn trong mùa mưa Hầu hết phân
được vận chuyển thẳng đến tỉnh Lâm Đồng để được sử dụng làm phân bón cho cây trồng như
cà phê và chè
Việc thu thập riêng biệt các chất rắn và các phần lỏng của chất thải có thể có một ý nghĩa lớn về môi trường Kết quả nghiên cứu từ một số tác giả cho thấy việc này có thể giúp giảm phát thải khí NH3và các loại khí có mùi khác (Aarnink và Ogink, 2008) Do đó, theo quan
điểm môi trường, đây là một hình thức quản lý chất thải nên áp dụng Tuy nhiên, nếu việc thu
thập tách riêng này ngụ ý rằng chỉ một trong hai phần (tức chất rắn) được quan tâm về khía cạnh kinh tế và môi trường, còn phần kia có giá trị thấp hơn (chất lỏng) bị loại bỏ, thì việc quản lý chất thải kiểu này cần suy nghĩ lại
Có 100% các trang trại điều tra không thu gom, lưu trữ riêng biệt nước tiểu hay hỗn hợp giữa nước tiểu và nước rửa chuồ ng Có đến 67% trại heo lưu trữ hỗn hợp giữa nước tiểu, nước rửa chuồng và chất thải rắn (slurry); trong số này có 65% trại heo lưu trữ hỗn hợp này trong các hệ thống biogas và 35% trại heo lưu trữ hỗn hợp này trong các hồ chứa nằm cạnh khu chuồng trại Phần nước tràn ra khỏi các hồ chứa này chảy tự nhiên ra các kênh rạch, sông suối Thể tích trung bình của 1 hệ thống lên men yếm khí (biogas) là 9,7 m3mỗi trang trại (tối thiểu 4,5 m3và tối đa 14 m3), và khối lượng trung bình của hố lên tới 28,1 m3/trại heo (tối thiểu 10 m3và tối đa 50 m3) Như vậy, chất thải ở các trại chăn nuôi heo có 2 dạng chính (i)
chất thải rắn và (ii) hổn hợp giữa phân, nước tiểu và nước rửa chuồng
Ở các nước nhiệt đới, nước rửa chuồng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng chất thải từ chăn
nuôi heo Kết quả điều tra cho thấy 100% các trang trại sử dụng nước ngầm để vệ sinh chuồng trại Bình quân mỗi ngày mỗi trang trại sử dụng 6.975 lít nước (hay gần 7m3/ngày), tuy nhiên
có sự biến động lớn giữa các trang trại về chỉ tiêu này (hệ số biến dị 106%) Bình quân mỗi trang trại sử dụng 35 lít nước/mỗi heo thịt và heo nái/ngày Tất cả các trại heo đều không sử dụng chất độn chuồng, như vậy chất thải chăn nuôi heo chỉ bao gồm phân, nước tiểu, nước rửa chuồng và thức ăn rơi vãi
Dòng chu chuyển slurry và chất thải rắn
Dòng chu chuyển slurry và chất thải rắn của các hộ điều tra đều khá giống nhau Dạng chất thải và dòng chu chuyển chất thải được mô phỏng ở sơ đồ 1 Có 13/20 trang trại lưu trữ slurry chủ động và sử dụng 100% hỗn hợp slurry này cho l ên men yếm khí tạo khí gas Trong
Trang 8số 7 trang trại còn lại, có 1 hộ sử dụng slurry bón trực tiếp cho cây, 6 hộ khác trữ trong hồ chứa cạnh chuồng nhưng chất lỏng của nó dần dần tràn ra môi trường một cách thụ động Sản phẩm sau lên men yếm khí biogas được s ử dụng làm phân bón cho cây trồng (10/13 hộ), 3 hộ còn lại xả thải trực tiếp ra môi trường
Sơ đồ 1: dạng chất thải và dòng chu chuyển chất thải rắn, lỏng
Chất thải rắn (phân) được tích cực thu thập trực tiếp Trung bình mỗi trang trại thu 609 kg
phân tươi/ngày (222 tấn/năm, tính ra giá bán được khoảng 37 triệu đồng/năm) Tuy nhiên, có
sự biến động lớn về lượng chất rắn thu được (hệ số biến dị 117%), điều này khá hợp lý vì có
sự khác biệt lớn về số lượng heo mỗi trang trại ở Bảng 4 Sau khi thu thập, 17% phân chuồng rắn được sử dụng trực tiếp làm phân bón cho cây trồng tại chỗ ở địa phương; phần lớn trong
số đó (83%) được bán cho các nông trại ở Tây Nguyên để bón cho cây trồng
Khoảng 30% số trại heo xả thải trực tiếp chất thải lỏng (slurry) ra môi trường, các trại heo
này có qui mô tương đối lớn (trung bình 509 heo/trại) Kết quả là phần lớn (55%) lượng chất
thải lỏng sản xuất ra chảy trực tiếp ra môi trường Tính riêng về lượng N và P, phần chất thải lỏng lãng phí này chiếm khoảng 38% tổng lượng N bài tiế t ra và 6% tổng lượng P bài tiết ra Ngoài ra với dung tích hệ thống biogas bình quân 9,7 m3/trại và hồ chứa bình quân 28,1
m3/trại nhưng lượng nước rửa chuồng lên đến gần 7 m3/trại/ngày thì cả hai hệ thống này nhanh chóng bị tràn phần nước trong chất thải lỏng ra môi trường Như vậy không đảm bảo rằng tất cả chất thải đã được sử dụng như một loại phân bón Về tổng thể, chúng tôi ước tính rằng tỉ lệ được sử dụng làm phân bón dưới 50% đối với số N bài tiết ra (giả định rằng không
có N thể khí thất thoát cho đơn giản) và khoảng 90% đối với số P bài tiết ra Các giả định và kết quả kèm theo hàm ý rằng với mật độ nuôi trung bình 22,3 con heo/ha (55.722 heo/25 km2
đất nông nghiệp) tại xã Gia Kiệm sẽ phát thải ra ít nhất 120 kg N/ha đi vào môi trường không
khí và nước, và ít nhất 7 kg P2O5/ha đi vào môi trường nước
Trang 9Trở ngại và thuận lợi trong việc quản lý chất thải chăn nuôi heo
Như đã đề cập, quản lý chất thải không chỉ là để giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ chất
thải mà còn sử dụng chất thải như một nguồn dinh d ưỡng (N, P, K, C) Việc quản lý chất thải
có thể bị cản trở bởi do những trở ngại về mặt kỹ thuật (như thu thập, lưu trữ, xử lý và vận chuyển chất thải), trở ngại về mặt kinh tế-xã hội và về mặt thể chế
Để có thể sử dụng phân heo làm phân bón cây trồng, các trại cần thu thập, lưu trữ, xử lý,
vận chuyển chất thải và có thiết bị phù hợp Kết quả điều tra ở Bảng 6 cho thấy có hai trở ngại chính gây khó việc sử dụng phân heo làm phân bón Một là thiếu năng lực xử lý phân (với 93% trang trại xếp hạng trở ngại này từ quan trọng đến tối quan trọng), hai là thiếu năng lực vận chuyển phân (với 97% trang trại xếp hạng trở ngại này từ quan trọng đến tối quan trọng)
Bảng 6: Các trở ngại về mặt kỹ thuật hạn chế sử dụng chất thải CN heo làm phân bón
Chỉ tiêu
Mức đánh giá(%) của 30 hộ điều tra Tối quan
trọng
Rất quan trọng Quan trọng
Không quá quan trọng
Không liên quan
Xử lý phân bao gồm ủ compost, cho lên men kỵ khí, tách riêng chất thải lỏng và chất thải rắn Việc thiếu năng lực xử lý phân theo cảm nhận của nông dân liên quan đến việc thiếu cơ sở vật chất hạ tầng và nguồn vốn để xây dựng hệ thống biogas Hầu hết các hệ thống khí sinh học tại địa bàn đã được xây dựng với sự hỗ trợ từ Chính phủ Tuy nhiên, nhiều hệ thống khí này đã
bị bỏ bê và hiện tại hư hỏng do thiếu bảo trì Ngoài ra, Chính phủ cũng chưa có những quy định nghiêm ngặt về giám sát và xử phạt các trang trại xả thải phân heo trực tiếp vào môi trường
Năng lực thu gom, dung lượng lưu trữ của các trang trại và thiếu thiết bị phù hợp để bón
phân cho cây trồng không được nông dân xem là trở ngại chính cản trở việc sử d ụng phân heo
làm phân bón Theo quan điểm của nông dân để sử dụng phân heo như nguồn có giá trị dinh dưỡng cho cây trồng, cần cải tiến việc xử lý phân heo (chuyển đổi phân heo thành các dạng
phân bón hữu cơ khác bằng cách trộn với phụ phẩm nông nghiệp, ủ p hân, đóng gói và sẵn sàng vận chuyển ra thị trường) và mở rộng năng lực vận chuyển
Bảng 7: Các trở ngại về mặt KTXH hạn chế việc sử dụng chất thải CN heo làm phân bón
Chỉ tiêu
Mức đánh giá (%) của 30 hộ điều tra Tối quan
trọng
Rất quan trọng
Quan trọng
Ko quá quan trọng
Ko liên quan
Chi phí lao động quá cao so với sử
Chi phí đất quá cao, cho việc đưa chất thải đến những khu đất
Lợi nhuận quá thấp khi SD làm phân bón so với việc SD nuôi
Lợi nhuận quá thấp khi SD làm phân bón so với việc SD làm
Trang 10Theo ý kiến các chủ trại được phỏng vấn, các yếu tố KTXH không thực sự ảnh hưởng đến quyết định của họ trong việc sử dụng phân heo làm phân bón Theo kết quả điều tra (bảng 8), chi phí vận chuyển cũng như chi phí lao động không được xem là yếu tố hạn chế để sử dụng làm phân chuồng thay vì dùng phân vô cơ Theo 63% chủ trang trại chi phí thu ê đất cao không ảnh hưởng đến việc trữ phân ở các khu đất trước khi bón Theo 93% chủ trang trại họ cũng không bị ảnh hưởng do sử dụng phân cho thủy sản hoặc sử dụng làm chất đốt
Thiếu thông tin về những tiến bộ trong quản lý phân, thiếu tiếp cận với các thông tin hiện hữu do không biết chữ, thiếu quan tâm đến quản lý phân, và thiếu tiếp cận với các khoản vay cho các khoản đầu tư cần thiết trong lưu trữ, xử lý và vận chuyển phân được coi là quan trọng thậm chí rất quan trọng, tương ứng với 47%, 40%, 90%, v à 73% số hộ điều tra (Bảng 8) Điều này có nghĩa rằng cần cung cấp thông tin về quản lý phân, nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về quản lý phân, và đầu tư các hệ thống xử lý phân
Bảng 8: Các trở ngại về thể chế hạn chế việc sử dụng chất thải CN heo làm phân bón
Chỉ tiêu
Mức đánh giá (%) của 30 hộ điều tra Tối quan
trọng
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quá quan trọng
Không liên quan
Không có thông tin về những tiến bộ trong quản lý phân 23 23 47 7
Thiếu tiếp cận khoản cho vay cần thiết để đầu tư vào nơi tồn
Thiếu tiếp cận thiết bị và máy móc cần thiết để tồn trữ, xử lí
Thiếu qui định tạo ra một sân chơi công bằng cho nông dân 27 60 13
Sự tách biệt không gian của trại chăn nuôi và trồng trọt do
Như đã nói, hệ thống sản xuất các tran g trại khá giống nhau vì tập trung chủ yếu vào chăn
nuôi heo mà không có mối liên kết rõ ràng giữa mảng chăn nuôi và sản xuất cây thức ăn gia
súc và bón phân cho đất Đặc điểm này của hệ thống chăn nuôi heo trong khu vực điều tra là
một trong những trở ngại chính cho việc sử dụng phân heo làm phân bón cho cây trồng Có 22/30 chủ trang trại (73%) đồng ý rằng đây là một trở ngại quan trọng
Cải thiện quản lý phân bón
Việc quản lý chất thải chăn nuôi heo không chỉ liên quan đến sử dụng phân chuồng như một nguồn phân bón mà còn nhằm hạn chế tác động tiêu cực cho môi trường Cải thiện việc quản lý phân chuồng rất cần thiết để hạn chế các tác động tiêu cực Tất cả 100% chủ trại được phỏng vấn đồng ý việc quản lý chất thải là quan trọng hoặc rất quan trọng, thậm ch í tối quan trọng do ảnh hưởng trực tiếp của nó đến sức khỏe con người và vật nuôi, đến chất lượng nước