Hầu hết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai bám sát nhiệm vụ chính trị, kinh tế của địa phương, nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng đã tạo động lực cho phát triển kinh tế -
Trang 1KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TỈNH BẮC KẠN (1997-2014)
TS Đỗ Tuấn Khiêm - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ
rong những năm qua, mặc dù gặp nhiều
khó khăn nhưng tốc độ tăng trưởng
kinh tế bình quân hằng năm của tỉnh đạt khá,
bình quân 11-12%, lương thực bình quân đầu
người năm 1998: 279 kg/người/năm; năm
2005: 424 kg/người/năm năm 2010: 530
kg/người/năm; năm 2013 đạt 570 k/người/năm
Đạt được kết quả đó, một phần có sự đóng
góp quan trọng của khoa học và công nghệ
Hầu hết các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ được triển khai bám sát nhiệm vụ
chính trị, kinh tế của địa phương, nhiều kết
quả nghiên cứu ứng dụng đã tạo động lực
cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng
thời là cơ sở cho việc định hướng phát triển
kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nhất là việc
khai thác tiềm năng, lợi thế về khí hậu, đất
đai, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện
đời sống cho nhân dân
Trên cơ sở khai thác các tiềm năng,
thế mạnh của địa phương trên các lĩnh vực:
tài nguyên đất đai, khí hậu, khoáng sản, các
loại cây con đặc sản, bản địa, khoa học và
công nghệ đã từng bước đưa các tiềm năng
này vào khai thác trong thực tế phục vụ đời
sống nhân dân
Từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn triển khai: 201 đề tài, dự án
trong đó: lĩnh vực nông lâm nghiệp: 114 đề
tài, dự án chiếm: 56,7% về số lượng và
68,7% về kinh phí, khoa học xã hội và nhân
văn 34 đề tài, dự án chiếm 16,9% về số
lượng và 9,9% về kinh phí, điều tra cơ bản
và môi trường 20 đề tài, dự án chiếm 9,9%
về số lượng và 9,3% về kinh phí, công nghệ
thông tin 10 dự án chiếm 5,0% về số lượng
và 7,1% về kinh phí; Y dược 15 đề tài, dự án
chiếm: 7,5% về số lượng và 3,5% về kinh
phí, khoa học và công nghệ khác: 8 dự án
chiếm 4,0% về số lượng và 1,6% về kinh phí
Trong tổng số 201 đề tài, dự án triển khai trong giai đoạn 1997-2013 đã có 170 đề tài,
dự án đã nghiệm thu, trong đó có 30 đề tài,
dự án đạt xuất sắc chiếm: 18%, 103 đề tài,
dự án đạt khá chiếm: chiếm 60,6%, 34 đề tài, dự án đạt yêu cầu chiếm 20%, có 3 đề tài, dự án đề nghị dừng triển khai chiếm 1,7% Một số kết quả cụ thể như sau:
1 Lĩnh vực nông, lâm nghiệp
Giai đoạn 1997-2005: Nông, lâm
nghiệp được tỉnh chú trọng quan tâm đầu tư với 51 đề tài, dự án Giai đoạn này các đề tài, dự án tập trung nghiên cứu nhằm tăng
vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất; đưa giống cây trồng mới, mô hình mới vào thực tiễn sản xuất, xây dựng các mô hình đạt giá trị trên 30 triệu đồng/ha Nhờ có áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất mà năng suất
và sản lượng cây trồng không ngừng được tăng lên, đã xây dựng thành công các mô hình thâm canh lúa tại huyện Chợ Đồn, Bạch Thông, đã áp dụng các tiến bộ mới như kỹ thuật gieo xạ, bón phân hợp lý, phòng dịch bệnh tổng hợp nên giảm chi phí công lao động và giống, tăng hiệu quả kinh tế, hiện nay đã được nhân rộng ở hầu hết ở các huyện trong tỉnh
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Bạch Thông với mô hình trồng cà chua, ớt ngọt
T
Mô hình trồng Khoai môn nuôi cấy mô tại Bản Mún xã Dương Phong - Bạch Thông Ảnh TL
Trang 2Mùa quýt tại Bắc Kạn Ảnh TL
cho thu nhập 40-90 triệu đồng/ha; mô hình
đậu tương, lúa cạn tại Pác Nặm đã xác định
được giống lúa cạn LC9-31 có năng suất
39-41 tạ/ha; mô hình thâm canh khoai môn Bắc
Kạn ở Bạch Thông và Thị xã Bắc Kạn cho
năng suất từ 14-15 tấn/ha; đối với lúa: năng
suất năm 1998 là 34,61tạ/ha, năm 2005 đạt
42,53tạ/ha (Tăng 22,9% so với 1998) Nâng
hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,4 năm 1998
lên 1,84 năm 2005
Bên cạnh đó, việc khai thác tiềm năng
lợi thế của địa phương bước đầu được quan
tâm, đó là phát triển vùng sản xuất cây ăn
quả đặc sản của địa phương như các dự án:
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình
thâm canh cam, quýt tại Quang Thuận,
huyện Bạch Thông (2000-2002) Quy hoạch
và xây dựng vùng sản xuất tập trung cam,
quýt, đào, lê tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn
2005-2010, đã tuyển chọn một số cây đầu dòng
phục vụ cho công tác nhân giống cung cấp
cho người dân, là cơ sở để tỉnh đề ra định
hướng phát triển cây ăn quả theo hướng tập
trung, sản xuất hàng hóa
Giai đoạn 2006-2010: có: 39 đề tài, dự
án thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp Nông
nghiệp tiếp tục là lĩnh vực được tỉnh quan
tâm nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng
lợi thế về đất đai, khí hậu, cây con đặc sản
để tạo vùng sản xuất hàng hóa tập trung,
nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản
xuất Tỉnh tập trung các đề tài, dự án phát
triển cây trồng, vật nuôi bản địa như: cam,
quýt, Hồng không hạt, chè Shan tuyết, khoai
môn, lợn địa phương bước đầu đã tạo
vùng sản xuất hàng hóa: cam, quýt ở Bạch
Thông, Chợ Đồn với diện tích trên 1000ha năm 2010; hồng không hạt Chợ Đồn, Ba Bể:
350 ha; vùng chăn nuôi lợn địa phương ở Pác Nặm, Ba Bể
Xây dựng mô hình sản xuất mới: nhập
nội giống cây ăn quả, giống hoa chất lượng cao để bổ sung vào cơ cấu cây trồng nông nghiệp của tỉnh, bước đầu đã xác định được
01 giống hoa (hoa lily), 2 giống đào chính sớm có khả năng phát triển tốt tại địa phương; ứng dụng các biện pháp nhân giống mới như nhân giống khoai môn bằng nuôi cấy mô tế bào, đã nâng cao hệ số nhân giống 4-6 lần, tạo nguồn giống chủ động có chất lượng tốt tại địa phương Kết quả của
kỹ thuật này đã được tặng giải Sáng tạo khoa học kỹ thuật Việt Nam (VIFOTECH) năm 2013
Giai đoạn 2011-2014: Nông nghiệp tiếp tục được coi là mũi nhọn trong đầu tư của khoa học và công nghệ phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, với 24 đề tài, dự án chiếm
57,1% về số lượng và 76% về kinh phí Giai đoạn này khoa học và công nghệ tiếp tục ưu tiên phát triển vùng cây ăn quả, cây đặc sản, vật nuôi bản địa; giới thiệu và quảng bá các sản phẩm đặc sản của địa phương; phục tráng giống cây trồng bản địa, nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúa thuần có năng suất cao, chất lượng tốt bổ sung vào cơ cấu cây trồng của tỉnh
Cho tới nay, cùng với ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ đã xây dựng thành công và mở rộng các mô hình trồng cây ăn quả cam quýt, hồng không hạt Bắc Kạn nhân giống phục vụ mở rộng diện tích tại các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể, Ngân Sơn, nên diện tích cam, quýt đã đạt 1441ha, sản lượng gần 4.500 tấn; Hồng không hạt Bắc Kạn diện tích 560 ha, với sản lượng hơn 200 tấn Về chăn nuôi đã hình thành được vùng chăn nuôi lợn địa phương tại Ba Bể, Pác Nặm và Thị xã Bắc Kạn, vùng chăn nuôi gà của đồng bào Mông tại Ba Bể
Trang 3Tiết mục hát Quan làng - Pả mẻ
(Thơ lẩu) Ảnh TL
và Pác Nặm nhiều hộ có thu nhập hàng trăm
triệu đồng từ cam, quýt, hồng không hạt tại
các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể,
Ngân Sơn
Khoa học và công nghệ tập trung xây
dựng và phát triển thương hiệu cho một số
sản phẩm nông nghiệp của tỉnh: tính tới nay
có 4 sản phẩm được bảo hộ, trong đó 02 sản
phẩm được Cục sở hữu trí tuệ cấp giấy
chứng nhận Chỉ dẫn địa lý là Hồng không hạt
Bắc Kạn và Quýt Bắc Kạn, 2 sản phẩm được
chứng nhận Nhãn hiệu tập thể là: Gạo Bao
Thai Chợ Đồn và Miến dong Bắc Kạn, nhờ
đó mà sản phẩm nổi tiếng của địa phương
đã được quảng bá rộng rãi, được người tiêu
dùng trong và ngoài tỉnh đánh giá cao Năm
2013 Hồng không hạt Bắc Kạn vinh dự được
cấp Chứng thư đạt TOP 100 thương hiệu,
nhãn hiệu nổi tiếng; Miến dong Bắc Kạn đạt
TOP 100 sản phẩm dịch vụ uy tín chất lượng
do Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu
dùng Việt Nam bình chọn Qua đó đã góp
phần nâng cao giá trị của sản phẩm, tăng thu
nhập, cải thiện đời sống cho người dân
2 Khoa học xã hội và nhân văn:
Giai đoạn 1997-2005, triển khai 13 đề
tài, tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận cho
việc xây dựng các giải pháp phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương, một số đề tài
nghiên cứu, như: Cải tiến tổ chức bộ máy
Đảng trong các ngành khối khoa giáo tỉnh
Bắc Kạn; Điều tra thực trạng đội ngũ cán bộ
quản lý - cán bộ khoa học kỹ thuật, trong các
cơ quan nhà nước và cơ sở xã, phường
nhằm tìm biện pháp kiện toàn cán bộ phục
vụ công cuộc đổi mới của tỉnh Bắc Kạn; Sưu
tầm, nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn
hóa truyền thống các dân tộc huyện Na Rì
tỉnh Bắc Kạn; Biên soạn địa lý địa phương;
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của đồng bào
Mông, Dao
Giai đoạn 2006-2010: triển khai 11 đề
tài, tiếp tục nghiên cứu nhằm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của địa phương; nghiên cứu phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, tôn giáo, di cư tự do, nghiên cứu việc thực hiện chủ trương đường lối của Đảng vào thực tiễn đời sống của địa phương Nhìn chung các đề tài khoa học xã hội và nhân văn đã có những đóng góp tích cực trong đời sống, kinh tế - xã hội của địa phương,
cụ thể là:
Đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hoạt động tôn giáo và di dịch cư tự do ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn, nhằm đánh
giá thực trạng tình hình tôn giáo và di cư tự
do của đồng bào dân tộc trong tỉnh, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế di cư tự do và làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo trên địa
bàn Đề tài Xây dựng đề án nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm thành trường Cao đẳng Cộng đồng nhằm xây dựng cơ sở khoa học
và thực tiễn cho việc chuyển đổi, nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm của tỉnh sang đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực bổ sung nguồn nhân lực được đào tạo cho địa phương; Đề
tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, đã đề
xuất các giải pháp thực hiện quy chế có hiệu
quả; Đề tài: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chi bộ đảng đã đánh giá điểm mạnh,
điểm yếu, nguyên nhân của những yếu kém trong hoạt động chi bộ đảng từ đó kiến nghị
Trang 4Kiểm tra hiện trạng trượt nở tại khu vực Đèo Gió thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn
Ảnh TL
các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của
chi bộ đảng cơ sở; Đề tài Nghiên cứu, bảo
tồn các làn điệu dân ca Tày đã góp phần gìn
giữ, bảo tồn, phát triển các làn điệu dân ca
của đồng bào Tày
Giai đoạn 2011-2014 triển khai: 10 đề
tài Nhằm tăng cường nhận thức đầy đủ hơn
về vai trò, vị trí của khoa học xã hội trong
việc nghiên cứu, vận dụng các đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước vào thực tiễn đời sống, tỉnh
đã triển khai một số đề tài mang lại hiệu quả
thiết thực, phục vụ đắc lực cho hoạch định
chính sách phát triển kinh tế - xã hội ổn định,
bền vững ở địa phương Một số đề tài như:
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động làng, tổ phố văn hóa;
Thực trạng đội ngũ cán bộ xã, phường;
Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của địa phương; Xây dựng từ điển
Việt - Tày; Xây dựng tuyến, điểm du lịch;
Đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu
quả giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp;
Nghiên cứu tuyên truyền pháp luật cho đồng
bào theo đạo ở vùng cao huyện Pác Nặm;
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ
cấp xã; Nâng cao chất lượng giáo dục phổ
thông tại Bắc Kạn
3 Lĩnh vực Điều tra cơ bản và môi
trường:
Giai đoạn 1997-2005: Triển khai 16 đề
tài Tỉnh tập trung nghiên cứu tiềm năng
khoáng sản; xây dựng cơ sở dữ liệu môi
trường, nghiên cứu trượt lở; nghiên cứu
nguồn đá ốp lát, nguyên liệu đá vôi, sét xi
măng từ đó đề xuất các giải pháp phát
triển kinh tế - xã hội phù hợp cho địa
phương Kết quả đã xác định được vùng có
nguy cơ trượt lở cao ở thị trấn Chợ Rã,
huyện Ba Bể; xác định được một số vùng có
nguồn khoáng sản có khả năng đưa vào sản
xuất: làm đá vôi và bột đá trắng tại Chợ Đồn
và Ba Bể; đá ốp lát ở Chợ Đồn, Bạch Thông
và Ngân Sơn; vùng nguyên liệu xi măng (đá vôi, sét xi măng tại Chợ Mới)
Giai đoạn 2006-2010: Triển khai 4 đề
tài Với những diễn biến phức tạp của khí hậu thời tiết, thiên tai xảy ra, nhiều nhất là lũ lụt, trượt lở đất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng và đời sống của người dân, nhằm góp phần ổn định đời sống cho nhân dân và các khu vực có nguy cơ trượt lở, sụt lún đất, tỉnh đã triển khai một số đề tài:
Nghiên cứu đánh giá trượt lở khu vực Đèo Gió, thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn, kết
quả đã khảo sát được 22 khối trượt lở, 8 đới vùi lấp Đề tài đã đề xuất cho tỉnh xây dựng phương án di dân tới vùng an toàn, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội khu vực
có nguy cơ trượt lở, trong đó cần phải di chuyển 66 hộ dân ở vùng nguy hiểm đến nơi
tái định cư an toàn; Đề tài: Điều tra, đánh giá hiện tượng trượt lở, sụt lún các khu vực trọng điểm thuộc huyện Pác Nặm và Chợ Đồn, đã
xác định dược 25 điểm nằm trong vùng nguy
cơ trượt lở tại huyện Pác Nặm, 22 khối trượt
có nguy cơ cao tại huyện Chợ Đồn và 43 hộ dân nằm trong vùng nguy cơ cao về trượt lở, sụt lún
Giai đoạn 2011-2014: Tập trung nghiên
cứu các giải pháp bảo vệ môi trường Thời
Trang 5Mổ nội soi tại Bệnh viện Đa khoa
Bắc Kạn Ảnh TL
gian qua đã triển khai dự án xử lý bã thải
Dong riềng: Dong riềng là cây trồng có hiệu
quả kinh tế khá cao, trong những năm qua,
việc phát triển dong riềng, chế biến tinh bột
dong riềng đã tạo nhiều công ăn việc làm,
tăng thu nhập cho nhiều hộ dân trên địa bàn
tỉnh Tuy nhiên, quá trình sản xuất tinh bột
Dong riềng cũng gây nguy cơ ô nhiễm môi
trường Do đó, tỉnh đã triển khai dự án xử lý
chất thải từ chế biến tinh bột Dong riềng tại
Bắc Kạn, bước đầu đã xác định được quy
trình xử lý nước thải đạt các chỉ tiêu quy định
theo QCVN 40:2011/BTNMT của Bộ Tài
nguyên và Môi trường; xây dựng thành công
mô hình xử lý bã Dong riềng làm thức ăn chăn
nuôi lợn và làm phân bón cho cây trồng
4 Lĩnh vực Y- Dược:
Giai đoạn 1997-2005: Triển khai 6 đề
tài, dự án Giai đoạn mới tái lập tỉnh, cơ sở
vật chất, nhận thức của người dân còn hạn
chế, để bảo đảm chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe của nhân dân, tỉnh triển khai nghiên
cứu các vấn đề: vệ sinh an toàn thực phẩm,
nghiên cứu hoạt động của y tế thôn bản,
nghiên cứu một số bài thuốc y học cổ truyền,
nghiên cứu bệnh phổi si lích của công nhân,
nghiên cứu chất khử khuẩn tại bệnh viện
Giai đoạn 2006-2010: Triển khai 5 đề
tài, dự án: Tập trung nghiên cứu chuyên sâu
về một số mô hình bệnh tật trên địa bàn,
nhằm đề xuất các biện pháp phòng chữa
bệnh hiệu quả góp phần chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe cho người dân được tốt, như các
Đề tài, dự án: Tật khúc xạ học sinh phổ
thông; Suy dinh dưỡng trẻ em; Bệnh răng
miệng trẻ em; bệnh đái tháo đường tuýp 2;
Ứng dụng kỹ thuật mổ nội soi trong chẩn
đoán và điều trị bệnh Kết quả của các đề tài
đã giúp tỉnh đưa ra một số giải pháp nâng
cao hiệu quả trong việc khám, điều trị một số
bệnh cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn
Cụ thể như đề tài Mổ nội soi đã giúp cho cán
bộ Bệnh viện đa khoa tỉnh chủ động kỹ thuật
mổ nội soi ruột thừa, cắt túi mật, cắt nang; nội soi chẩn đoán một số bệnh ở ổ bụng Đề tài Nghiên cứu bệnh đái tháo đường tuýp 2
đã lập sổ theo dõi tại bệnh viện đa khoa khoảng 800 bệnh nhân giúp cho người bệnh điều trị tại tỉnh không phải hàng tháng về các Bệnh viện ở Hà Nội, nên đã tiết kiệm chi phí khám, chữa bệnh
Giai đoạn 20011-2014: Triển khai 4 đề
tài, tiếp tục nghiên cứu triển khai các đề tài nhằm góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh Một số
đề tài, dự án có hiệu quả tốt như đề tài: Điều tra nấm độc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 10
loài nấm độc, trong đó xác định được 1 loài nấm độc gây chết người tại Bắc Kạn là Nấm độc trắng hình nón; xây dựng được các biện pháp dự phòng, chẩn đoán, cấp cứu và điều trị ngộ độc nấm, tập huấn cho 80 cán bộ y tế; sản xuất 100 hộp test phát hiện nhanh độc tố nấm cung cấp cho các trạm y tế xã, thị trấn
Các đề tài: Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý và điều trị bệnh tăng huyết áp; Nghiên cứu ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 30-60 tuổi Kết quả của các đề tài là cơ sở
góp phần đề xuất những biện pháp xử lý kịp thời đối với người bệnh
Trang 65 Lĩnh vực công nghệ thông tin:
Trong thời gian qua, do điều kiện kinh
tế khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn
chế, các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực công
nghệ thông tin triển khai chưa nhiều, từ năm
1997 tới nay, tỉnh đã triển khai 10 dự án
thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin là một lĩnh vực có
ý nghĩa hết sức quan trọng và việc ứng
dụng, phát triển công nghệ thông tin có tác
dụng làm thay đổi lề lối làm việc, thúc đẩy cải
cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động tại các cơ quan, đơn vị, góp
phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương Các dự án công
nghệ thông tin như: Xây dựng trang web
khoa học công nghệ môi trường, Xây sở dữ
liệu về khoa học và công nghệ lĩnh vực nông
lâm nghiệp phục vụ sản xuất, đã góp phần
đưa nhanh thông tin khoa học và công nghệ
tới người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân tra cứu, học tập những kỹ thuật
mới, kỹ thuật tiên tiến để ứng dụng vào thực
tiễn sản xuất một cách hiệu quả;
Các dự án: Ứng dụng công nghệ thông
tin trong đến bù giải phóng mặt bằng, ứng
dụng công nghệ thông tin trong quy hoạch,
Xây dựng trang web thương mại; Xây dựng
phần mềm quản lý đất lâm nghiệp; Xây dựng
phần mềm từ điển học tiếng Tày ; Dự án Xây
dựng Truyền hình trực tuyến đã giúp cho
công tác quản lý nhà nước các lĩnh vực đạt
hiệu quả, chính xác
Hiện nay, có 100% các sở, ban, ngành
và các huyện, thị có mạng LAN và kết nối
Internet, tỷ lệ máy tính được kết nối Internet
đạt 86,5% 122/122 xã, phường, thị trấn
được đầu tư máy tính hỗ trợ công việc, trong
đó có 80/122 xã, phường, thị trấn có kết nối
Internet Một số ban, ngành đã ứng dụng
công nghệ thông tin vào công tác quản lý hồ
sơ, giải quyết các thủ tục hành chính, triển
khai các phần mềm quản lý chuyên ngành
như y tế, giáo dục
Như vậy, có thể nói trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ đã triển khai khá toàn diện trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương
và đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận; nhiều kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển bền vững, phù hợp điều kiện thực tiễn của tỉnh, qua đó đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Có được thành tựu đó là nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh; Bộ Khoa học và Công nghệ Sự ủng hộ và phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước Phát huy kết quả đạt được, trong thời gian tới khoa học và công nghệ Bắc Kạn tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới cơ chế hoạt động; nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ; tăng cường đầu tư cơ sở vật kỹ thuật; đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cải thiện đời sống của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về "Phát triển khoa học và công nghệ phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" và thực hiện thắng lợi Chương trình hành động số 11-CTr/TU ngày 20/02/2013 của Tỉnh uỷ Bắc Kạn về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để khoa học và công nghệ thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương./
Trang 7KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT
CỦA CÂY DONG RIỀNG TỈNH BẮC KẠN
Đặng Văn Sơn, Nguyễn Đình Điệp - Sở NN&PTNT Bắc Kạn
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Dong riềng là cây thân thảo, họ dong
riềng (Cannaceae) có nhiều tên địa phương
khác nhau tại Việt Nam như khoai chuối,
khoai lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ
đót, chuối nước
Cây Dong riềng ở tỉnh Bắc Kạn đã
được người dân trồng từ nhiều năm, nhưng
việc sản xuất Dong riềng hiện nay chủ yếu
vẫn là dựa theo kinh nghiệm và canh tác
theo phương thức truyền thống trồng trên
đất nương rẫy, không sử dựng biện pháp
bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra
ngày càng nhiều, việc áp dụng những biện
pháp kỹ thuật thâm canh còn hạn chế đặc
biệt là không sử dụng phân bón, giống mới
và trồng không đảm bảo mật độ dẫn tới năng
suất và chất lượng sản phẩm Dong riềng
chưa cao
Xuất phát từ thực tế và nhu cầu sản
xuất hiện này của nhân dân, Sở Nông
nghiệp và phát triển nông thôn đã đề xuất và
triển khai dự án nghiên cứu “Ảnh hưởng của
một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và
năng suất của cây dong riềng trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn”
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Vật liệu nghiên cứu:
Vật liệu nghiên cứu sử dụng giống
dong lai (giống Dong Hà Tây) hiện nay đang
được nhiều người dân trồng ở địa phương
2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu xác định mật độ gieo
trồng thích hợp cho giống Dong riềng đang
được người dân trồng đại trà trong sản xuất,
gồm 5 công thức: 1,5 cây/m2; 2 cây/m2; 2,5
cây /m2; 3 cây/m2 và 3,5 cây/m2
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón
đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
giống Dong riềng đang được người dân
trồng đại trà trong sản xuất, gồm 5 công thức với liều lượng phân bón:
+ Công thức 1: 5 tấn phân hữu cơ + 70KgN + 80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5 tấn phân hữu cơ + 174kg Urea + 500
kg lân + 200kg Kali)
+ Công thức 2: 5tấn phân hữu cơ + 90KgN+80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5 tấn phân hữu cơ + 200kg Urea + 500
kg lân + 200kg Kali)
+ Công thức 3: 5 tấn phân hữu cơ + 110KgN + 80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5tấn phân hữu cơ + 260kg Urea +
500 kg lân + 200kg Kali)
+ Công thức 4: 5tấn phân hữu cơ + 130KgN+80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5 tấn phân hữu cơ + 320kg Urea + 500
kg lân + 200kg Kali)
+ Công thức 5: Bón theo nông dân (đối chứng) Tương ứng với 25KgN + 50kgP205 + 15K20; (Tương đương với 55kg Urea + 310
kg lân + 30 kg Kali)
- Cách bón thống nhất như nhau: + Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và lân
và 1/3 lượng đạm
+ Bón thúc lần 1: sau khi cây mọc 1 tháng nhằm giúp cây đẻ nhánh nhanh, nhiều: bón 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali
+ Bón thúc lần 2: sau trồng khoảng 4 -
5 tháng: 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại, để cây sinh trưởng phát triển tốt và tích lũy đường bột nhiều
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được
bố trí trên đất nương rẫy, đất vàn cao không chủ động nước tưới Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích 100m2 x 3 lần nhắc lại tại huyện Na Rì và Ba Bể tỉnh Bắc Kạn
- Giống thí nghiệm là giống Dong lai (giống Dong Hà Tây) hiện nay đang được nhiều người dân trồng ở địa phương
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Xác định mật độ trồng
Trang 8Biểu 1: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng
trên đất nương rẫy tại huyện Ba Bể
CT Chỉ tiêu
Tỷ lệ mọc
(%)
Độ đồng đều (1-9) Cao cây
(cm)
Số thân/k hóm
(thân)
Số lá/thân Sâu hại
(%)
Bệnh hại (%)
Khối lượng
củ tươi/
khóm
(kg)
Năng suất củ
Từ bảng kết quả phân tích thống kê
trên cho thấy: Không có sự khác biệt nhiều
về tỷ lệ nảy mầm ở các mật độ trồng khác
nhau Ở các mật độ trồng khác nhau cây
dong riềng sinh trưởng khác nhau; công thức
3 với mật độ trồng 2,5 cây/m2, cao nhất là
195cm, thấp nhất là ở công thức 5 với mật
độ trồng 3,5 cây/m2 có chiều cao là 183,6cm
Về số lá trên thân có sự sai khác, cụ thể ở
công thức 3 với mật độ trồng 2,5 khóm/m2,
số lá trên thân cao nhất là 12,6 lá, thấp nhất
là ở công thức 5 với mật độ trồng 3,5 cây/m2
có số lá trên thân là 11,2 lá
- Khả năng chống chịu sâu bệnh hại ở các công thức 1 và 2 là không có, ở các công thức 3 và công thức 4 mức độ sâu bệnh hại không đáng kể, ở công thức 5 sâu bệnh hại ở mức trung bình
- Về chỉ tiêu khối lượng củ/khóm: Công thức 1 có khối lượng củ lớn nhất (3,9kg/ khóm); công thức 5 có khối lượng củ thấp nhất (2,1kg/ khóm)
- Về chỉ tiêu năng suất: Công thức 4
có năng suất cao nhất là 87tấn/ha; công thức 1 có năng suất thấp nhất là 62,4 tấn/ha
Biểu 2: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng trên
đất soi bãi tại huyện Ba Bể
TT Chỉ tiêu Tỷ lệ mọc
(%)
Độ đồng đều
(1-9)
Cao cây
(cm)
Số thân/
khóm
(thân)
Số lá/thân
Sâu hại (%)
Bệnh hại
(%)
Khối lượng
củ tươi/
khóm
(kg)
Năng suất củ
Trang 9Kết quả nghiên cứu trên đất soi bãi
trong bảng 02 cho thấy:
- Không có sự khác biệt nhiều về tỷ lệ
nảy mầm ở các mật độ trồng khác nhau
Chiều cao cây, ở công thức 3 với mật độ
trồng 2,5 cây/m2 chiều cao cây là 235cm, ở
công thức 5 với mật độ trồng 3,5 cây/m2 có
chiều cao là 200cm
- Về số lá trên thân, công thức 1 với
mật độ trồng 1,6 khóm/m2 số lá trên thân là
12,5 lá, ở công thức 5 với mật độ trồng 3,5
cây/m2 có số lá trên thân là 11,5 lá
- Số thân/khóm: Ở công thức 1 với mật
độ trồng 1,6 khóm/m2, cây sinh trưởng đẻ nhánh nhiều, số thân trung bình 12 thân/khóm và thấp nhất là công thức 5 ở mật
độ 3,5cây/m2 trung bình 9,3 thân/khóm
- Về chỉ tiêu khối lượng củ/khóm: Công thức 1 có khối lượng củ lớn nhất (5,1kg/khóm); công thức 5 có khối lượng củ thấp nhất (2,8kg/khóm)
- Về chỉ tiêu năng suất: Công thức 4
có năng suất cao nhất là 111tấn/ha; công thức 1 có năng suất thấp nhất là 82,6 tấn/ha
Biểu 3: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng
trên đất soi bãi bạc mầu tại huyện Na Rì
TT Chỉ tiêu
Tỷ lệ mọc
(%)
Độ đồng đều
(1-9)
Cao cây
(cm)
Số thân/
khóm (thân)
Số lá/thân Sâu hại
(%)
Bệnh hại (%)
Khối lượng
củ tươi/
khóm (kg)
Năng suất củ (tấn/ha)
Kết quả nghiên cứu trên đất soi bãi
bạc mầu tại huyện Na Rì trong bảng 03
cho thấy:
- Tỷ lệ nảy mầm cơ bản không phụ
thuộc vào mật độ trồng
- Chiều cao cây, Công thức 1 thấp hơn
đối chứng, các công thức còn lại đều cao
hơn đối chứng
- Về số lá trên thân, có sự khác nhau
giữa các công thức, nhưng dao động từ 11,5
đến 12,5 lá/cây
- Số thân/khóm: Công thức 1 cao hơn
đối chứng, các công thức còn lại trong thí
nghiệm đều thấp hơn đối chứng
- Về chỉ tiêu khối lượng củ/khóm:
Công thức 1 có khối lượng củ lớn nhất
(3,5kg/gốc), hơn đối chứng; các công thức
còn lại đều thấp hơn đối chứng, trong đó thấp nhất là công thức 5 có khối lượng củ thấp nhất (2,3kg/gốc)
- Về chỉ tiêu năng suất: Công thức 5
có năng suất cao nhất là 80,5 tấn/ha, công thức 1 có năng suất thấp nhất là 56 tấn/ha
2 Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây Dong riềng
Dong riềng rất cần các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng, phát triển bình thường Tuy nhiên, nhiều vùng trồng Dong riềng người dân không chú trọng bón phân đầy đủ Các kết quả nghiên cứu dưới đây cho thấy phân bón có ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng được thể hiện ở bảng số liệu dưới đây:
Trang 10Biểu 4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến đến năng suất của cây dong riềng
(%)
Năng suất
củ (tấn/ha)
Năng suất củ
(tấn/ha)
Năng suất
so với đất soi bãi
Kết quả bảng 4 cho thấy trên các nền
đất khác nhau cho năng suất khác nhau, với
công thức phân bón khác nhau có năng suất
khác nhau: Năng suất của các công thức
trên đất nương rẫy thấp hơn trên nền đất soi
bãi từ 19,1 đến 32,3% Năng suất của các
công thức trên đất soi bãi bạc mầu thấp hơn
trên nền đất soi bãi từ 12,8 đến 38,3%
cây/m2, cây sinh trưởng phát triển khá đồng
đều, khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh,
khả năng đẻ nhánh khá, cây sinh trưởng cân
đối, năng suất trồng trên đất nương rẫy đạt
85tấn/ha (tăng 118,1% so với đối chứng),
trên đất soi bãi đạt 107,5 tấn/ha (tăng
Trồng ở mật độ 3 cây/m2, cây sinh trưởng
phát triển khá đồng đều, khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh, khả năng đẻ nhánh trung bình, cây sinh trưởng đều, năng suất đạt
78 tấn/ha (tăng 121,9% so với đối chứng)
kg Kali Ở mức bón này, cây sinh trưởng
phát triển khá đồng đều, khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh, khả năng đẻ nhánh khỏe, cây sinh trưởng cân đối, năng suất củ tươi cao đạt 80 tấn/ha (tăng so vơi đối chứng 190,5%) đối với đất nương rẫy và đạt 106 tấn/ha (tăng 170,9%) đối với đất soi bãi
- Trên đất soi bãi bạc mầu, công thức phân bón phù hợp là công thức 4, với mức
bón trên/1ha là: 320 kg Urea + 500 kg lân +
200 kg Kal Năng suất đạt 82 tấn/ha (tăng
178,3% so với đối chứng)
2 Đề nghị:
Kết quả nghiên cứu trên làm cơ sở hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cây Dong riềng phù hợp với sản xuất tại tỉnh Bắc Kạn sớm đưa vào khuyến cáo chỉ đạo trong sản xuất./
Trang 11KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ TRONG NHỮNG NĂM QUA
Hoàng Chinh - Phó Trưởng phòng TTTL - SHTT Sở Khoa học và Công nghệ
Giao diện thư viện số sản xuất nông lâm nghiệprong những năm qua cùng với hoạt
động nghiên cứu, ứng dụng khoa học
công nghệ, công tác thông tin khoa học và
công nghệ đã được Sở Khoa học và Công
nghệ chú trọng, quan tâm đầu tư Chính vì
vậy hoạt động này đã góp phần chuyển tải
các chủ trương, chính sách, pháp luật của
Đảng và Nhà nước đến với người dân,
đưa nhanh những tiến bộ khoa học và
công nghệ về giống cây trồng, vật nuôi có
năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần
chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Từ khi thành lập đến nay, Sở Khoa
học và Công nghệ đã xuất bản 160 số Bản
tin kinh tế - khoa học và công nghệ với gần
60,000 bản in được phát hành, phục vụ
công tác lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất của
các cấp lãnh đạo trong tỉnh và nhân dân
các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Xuất bản 60 số Thông tin khoa học
và công nghệ, gần 30.000 bản in, đăng tải
các chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực
khoa học và công nghệ, trao đổi kinh
nghiệm trong công tác khoa học và công nghệ; kết quả nghiên cứu, mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã ứng dụng thành công trong sản xuất và đời sống ở trong và ngoài nước; kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án triển khai trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; các tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong nhiều lĩnh vực như chăn nuôi, trồng trọt, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, y tế, giáo dục, lao động việc làm, công nghệ thông tin, hoạt động của các ngành, địa phương Năm 2009 cuốn Thông tin khoa học và công nghệ đã được cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 - 2783
Từ năm 2000 đến nay, Sở đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị xuất bản Nông lịch Bắc Kạn với số lượng hơn 70.000 bản in phục vụ cho công tác chỉ đạo sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống của bà con nông dân; cung cấp các thông tin về khí tượng thuỷ văn, về nông nghiệp,
về y tế, như: dự báo thời tiết, thời vụ gieo trồng, thu hoạch…các nông, lâm sản; cách phòng chống một số bệnh thông thường ở người và gia súc, gia cầm
T
Trang 12Sở Khoa học và công nghệ chủ động
và tích cực phối hợp với Đài Phát thanh -
Truyền hình tỉnh xây dựng và phát sóng 70
chuyên đề khoa học và công nghệ, hơn
300 tin, bài, phóng sự phát trên sóng phát
thanh - truyền hình tỉnh Phối hợp với Báo
Bắc Kạn xây dựng chuyên trang khoa học
và công nghệ 24 số/năm Do sự phối hợp
nhịp nhàng giữa các cơ quan nên chất
lượng và số lượng các chuyên đề, chuyên
trang khoa học và công nghệ ngày càng
được nâng lên đã góp phần tuyên truyền
hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học
và công nghệ trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế - xã hội của tỉnh
Năm 2007, Sở đã xây dựng và đưa
vào sử dụng Trang thông tin điện tử
khoa học và công nghệ Bắc Kạn và kết
nối với mạng Internet tại địa chỉ:
http://www.khcnbackan.gov.vn với mục
đích là: Phổ biến thông tin về khoa học và
công nghệ trong nước và thế giới; phục vụ
công tác quản lý nhà nước: xây dựng các
chương trình, kế hoạch hoạt động khoa
học công nghệ hàng năm; Hướng dẫn các
thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
Website khoa học và công nghệ Bắc Kạn
đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài
nước quan tâm và truy cập đều đặn và
được độc giả đánh giá có chất lượng tốt
Đặc biệt từ năm 2013 từ kết quả của
dự án Xây dựng thư viện số về kỹ thuật
sản xuất nông - lâm nghiệp và cung cấp
thông tin cho các xã trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn Sở đã đưa vào sử dụng Trang thông
tin điện tử Thư viện số nông, lâm nghiệp
được kết nối với Internet tại địa chỉ
http://www.thuvienso.khcnbackan.gov.vn
Trang thông tin được xây dựng với hơn
1.000 kỹ thuật, 200 phim khoa học và công
nghệ bao gồm các hướng dẫn, quy trình kỹ
thuật, cách phòng trừ dịch bệnh hại các
loại cây trồng, vật nuôi; các kỹ thuật bảo quản, chế biến các loại nông lâm sản, chăn nuôi… Và được cập nhật mới các
kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp đều đặn Trang thông tin được độc giả và bà con nông dân đánh giá rất cao, từ khi đi vào hoạt động đến nay đã có 385.984 lượt người truy cập, khai thác thông tin để ứng dụng vào sản xuất và đời sống
Có thể nói trong những năm qua hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, công tác thông tin khoa học và công nghệ nói riêng đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, phát luật của Nhà nước và áp dụng các thành tựu
về khoa học và công nghệ để ứng dụng trong sản xuất và đời sống, trong văn hoá, giáo dục, y tế Đạt được kết quả như vậy, ngoài sự nỗ lực của ngành khoa học
và công nghệ đó là được sự quan tâm, chỉ đạo của ,Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Bắc Kạn, Bộ Khoa học và Công nghệ, sự phối hợp của các cấp, các ngành, các cơ quan thông tin đại chúng của địa phương và trung ương
Trong những năm tiếp theo hoạt động thông tin khoa học và công nghệ Bắc Kạn sẽ tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập tri thức khoa học và công nghệ đối với nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc ít người Đẩy mạnh thông tin khoa học
và công nghệ phục vụ lãnh đạo - quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp Tăng cường xây dựng đội ngũ cộng tác viên ngày càng đông đảo hơn, phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan thông tin đại chúng để thực hiện tuyên truyền, phổ biến hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả cao nhất./
Trang 13Tổn thương thành mạch do tăng huyết áp
ĂN NHẠT VÀ DINH DƯỠNG HỢP LÝ ĐỂ PHÒNG CHỐNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP
BS: Nguyễn Thái Hồng - Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bắc Kạn
n mặn là một một thói quen khó bỏ, bởi
vì nó làm hài lòng khẩu vị trong bữa
ăn Do vậy nếu ai bị tăng huyết áp (THA),
không ăn nhạt được thì điều trị đưa huyết
áp về bình thường là rất khó khăn, mặc dù
đã uống đầy đủ thuốc điều trị THA
Tại sao ăn nhiều muối lại bị THA?
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên
quan giữa muối ăn và bệnh THA Những
quần thể dân cư có tập quán ăn mặn luôn
có tỷ lệ người THA lớn hơn so với các
quần thể có tập quán ăn nhạt Ở Việt Nam
năm 2003, Viện Dinh dưỡng đã điều tra về
lượng muối mà một người tiêu thụ mỗi
ngày, kết quả là: người Nghệ An
14gam/ngày, người Thừa Thiên Huế
13g/ngày; tỷ lệ THA ở 2 địa phương này là
18% Ở Hà Nội, người dân ăn mỗi ngày
9gam muối, tỷ lệ THA là 11%
Trong phác đồ điều trị bệnh THA,
ngoài thuốc điều trị THA thì ăn nhạt là một
biện pháp quan trọng để làm hạ huyết áp
Nên những người bị THA thường dùng
thuốc lợi tiểu thải muối để điều trị THA
Muối ăn gây tăng THA vì nó làm tăng
tính thấm của màng tế bào đối với natri,
ion natri sẽ chuyển nhiều vào tế bào cơ
trơn của thành mạch máu, gây tăng lượng
nước trong tế bào, từ đó làm tăng trương
lực của thành mạch, gây co mạch, tăng
sức cản ngoại vi, dẫn đến THA Ăn nhiều
muối cộng thêm các yếu tố stress trong
cuộc sống sẽ làm tăng hoạt động của hệ
thần kinh giao cảm, tăng hoạt động của hệ
renin- angiotensin, dẫn đến tăng tái hấp
thu natri ở ống thận
Nếu ăn mặn kéo dài còn có nguy cơ
gây xơ cứng động mạch, ngoài ra nếu ăn
nhiều mỡ, phủ tạng động vật sẽ gây xơ
mỡ động mạch Xơ cứng cộng với xơ mỡ
động mạch sẽ là nguy cơ cao nhất làm tổn
thương động mạch
Khi bị THA, tức là áp lực cao của dòng máu tăng làm lớp nội mô của mạch máu bị xơ mỡ và xơ cứng sẽ dễ bị tổn thương, nguy hiểm nhất là động mạch tại chỗ đó bị vỡ, đe dọa ngay tính mạng của bệnh nhân Nếu động mạch không bị vỡ thì tại vị trí động mạch bị tổn thương đó, các tiểu cầu sẽ đến kết tập, tạo nên cục máu đông Nếu cục máu đông di chuyển đến não dễ dẫn tới nguy cơ đột quỵ Nếu tổn thương động mạch vành sẽ gây nhồi máu cơ tim
Giảm muối trong bữa ăn là biện pháp quan trọng để phòng chống bệnh THA
Thành phần chính của muối ăn là natri và clo, có vai trò hết sức quan trọng trong cân bằng thể dịch trong cơ thể, sự tồn tại và hoạt động bình thường của tất cả các tế bào, hoạt động chức năng của tất
cả các cơ quan và bộ phận trong cơ thể Mặc dù muối ăn có vai trò như vậy đối với
cơ thể, nhưng theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đối với người lớn, mỗi ngày không được dùng vượt quá
4 gam muối natri, đây là giới hạn hợp lý để phòng ngừa bệnh tăng huyết áp
Ă
Trang 14Đối với những người bị THA phải rèn
luyện cho mình thành một thói quen ăn
nhạt, chỉ dùng 2-3 gam muối/ngày và ăn
hạn chế các loại thực phẩm chứa nhiều
muối Tốt nhất là bỏ thói quen hàng ngày
dùng thêm bát nước mắm trong bữa ăn,
để chấm thức ăn
Điều chỉnh chế độ ăn để điều trị bệnh
THA hiện nay đang là một vấn đề đặc biệt
quan trọng, nhưng lại ít được thầy thuốc
và người bệnh quan tâm Trong chế độ ăn
thì ăn nhạt cần phải được ưu tiên số một,
tiếp theo là giảm các loại thực phẩm có
các yếu tố bất lợi cho bệnh THA và tăng
cường các thực phẩm có nhiều yếu tố bảo
vệ để làm ổn định và hạ huyết áp Mặt
khác trong bữa ăn hằng ngày, không nên
dùng quá nhiều thực phẩm chứa nhiều
muối như: dưa cà muối mặn, mắm tôm, cá
mắm, thịt cá đóng hộp, thịt hun khói, thịt
sấy khô, thịt muối, các loại thức ăn chế biến
sẵn, mỳ tôm, các loại rau quả đóng hộp
Bên cạnh việc giảm ăn muối thì
người bị THA cần giảm các loại thực
phẩm có các yếu tố bất lợi cho bệnh
THA, đó là:
Không uống hoặc hạn chế tối đa
uống rượu, bia, vì rượu bia làm cho tim
đập nhanh, mạch máu co lại, huyết áp tăng
và làm cho muối canxi đọng lại ở thành
mạch, gây xơ cứng động mạch
Nếu nghiện thuốc lá, thuốc lào thì
hãy bỏ ngay, vì hút thuốc làm tăng nhịp
tim, THA và làm giảm lượng oxy cần thiết
đến các tế bào và các cơ quan đồng thời
làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch
Người THA nên hạn chế uống cà
phê đặc, vì trong cà phê có chất gọi là
cafein, uống nhiều sẽ kích thích nhịp đập
của tim, làm THA
Người THA không nên uống trà búp
đặc, vì trà đặc có nhiều chất kiềm, có thể
làm cho não hưng phấn, mất ngủ, huyết áp
tăng cao Trái lại, uống chè xanh lại có lợi
cho việc điều trị bệnh THA
Bên cạnh việc giảm ăn muối thì
người bị THA cần tăng cường các thực phẩm có nhiều yếu tố bảo vệ để làm ổn định và hạ huyết áp
Thực phẩm giàu kaly (cà chua, khoai lang, nho, các loại đậu, chuối, khoai tây,
bơ, nước ép cà chua, nước bưởi, dưa leo, nho, táo…), giúp làm giảm huyết áp và duy
trì huyết áp ở mức độ ổn định
Những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ như: cần tây, rau cải, cà chua, hành tây, bầu bí, mía, cam, khoai lang, khoai tây, khoai môn, đậu xanh, đậu đen (500g - 600g rau trái, 30 - 40g đậu đỗ/ngày) sẽ làm hạ huyết áp
Ngoài ra, ăn vài tép tỏi trong mỗi bữa
ăn có tác dụng kiện tỳ, giải độc, tăng cường
lưu thông khí huyết, hỗ trợ hạ huyết áp
Ăn canh mộc nhĩ cũng có tác dụng rất tốt để giải độc, cải thiện mỡ máu và hạ
huyết áp
Sữa đậu nành là đồ uống lý tưởng cho người bị THA, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và hạ huyết áp
Một điều quan trọng nữa là cần phải
đi khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh THA để điều trị ngay Khi khám định kỳ nếu huyết áp bình thường thì không có nghĩa là mình sẽ không bị THA, khi đó lại ăn mặn, ăn uống các loại thực phẩm làm tăng nguy cơ THA thì sớm muộn cũng sẽ bị THA
Trong gia đình có người bị THA thì người thân có vai trò rất quan trọng để động viên, nhắc nhở người THA uống thuốc hạ huyết áp hàng ngày, ăn nhạt, dùng các loại thực phẩm có tác dụng làm
hạ huyết áp Có thể chế biến thức ăn riêng, nếu được tốt nhất là chế biến chung
để cùng ăn nhạt Ngoài ra một điều rất quan trọng nữa là luôn tạo một không khí
ấm cúng vui vẻ trong gia đình, mọi người thương yêu nhau, đó là những liều thuốc hữu ích để giúp người THA khoẻ mạnh, luôn đạt được huyết áp mục tiêu (dưới 140/90mmHg), chỉ định kỳ đi khám, tư vấn
để kê đơn thuốc điều trị THA ngoại trú mà không phải vào viện điều trị nội trú./