1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA học và CÔNG NGHỆ TỈNH bắc kạn (1997 2014)

28 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 909,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu hết các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai bám sát nhiệm vụ chính trị, kinh tế của địa phương, nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng đã tạo động lực cho phát triển kinh tế -

Trang 1

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

TỈNH BẮC KẠN (1997-2014)

TS Đỗ Tuấn Khiêm - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ

rong những năm qua, mặc dù gặp nhiều

khó khăn nhưng tốc độ tăng trưởng

kinh tế bình quân hằng năm của tỉnh đạt khá,

bình quân 11-12%, lương thực bình quân đầu

người năm 1998: 279 kg/người/năm; năm

2005: 424 kg/người/năm năm 2010: 530

kg/người/năm; năm 2013 đạt 570 k/người/năm

Đạt được kết quả đó, một phần có sự đóng

góp quan trọng của khoa học và công nghệ

Hầu hết các nhiệm vụ khoa học và

công nghệ được triển khai bám sát nhiệm vụ

chính trị, kinh tế của địa phương, nhiều kết

quả nghiên cứu ứng dụng đã tạo động lực

cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng

thời là cơ sở cho việc định hướng phát triển

kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nhất là việc

khai thác tiềm năng, lợi thế về khí hậu, đất

đai, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện

đời sống cho nhân dân

Trên cơ sở khai thác các tiềm năng,

thế mạnh của địa phương trên các lĩnh vực:

tài nguyên đất đai, khí hậu, khoáng sản, các

loại cây con đặc sản, bản địa, khoa học và

công nghệ đã từng bước đưa các tiềm năng

này vào khai thác trong thực tế phục vụ đời

sống nhân dân

Từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn

tỉnh Bắc Kạn triển khai: 201 đề tài, dự án

trong đó: lĩnh vực nông lâm nghiệp: 114 đề

tài, dự án chiếm: 56,7% về số lượng và

68,7% về kinh phí, khoa học xã hội và nhân

văn 34 đề tài, dự án chiếm 16,9% về số

lượng và 9,9% về kinh phí, điều tra cơ bản

và môi trường 20 đề tài, dự án chiếm 9,9%

về số lượng và 9,3% về kinh phí, công nghệ

thông tin 10 dự án chiếm 5,0% về số lượng

và 7,1% về kinh phí; Y dược 15 đề tài, dự án

chiếm: 7,5% về số lượng và 3,5% về kinh

phí, khoa học và công nghệ khác: 8 dự án

chiếm 4,0% về số lượng và 1,6% về kinh phí

Trong tổng số 201 đề tài, dự án triển khai trong giai đoạn 1997-2013 đã có 170 đề tài,

dự án đã nghiệm thu, trong đó có 30 đề tài,

dự án đạt xuất sắc chiếm: 18%, 103 đề tài,

dự án đạt khá chiếm: chiếm 60,6%, 34 đề tài, dự án đạt yêu cầu chiếm 20%, có 3 đề tài, dự án đề nghị dừng triển khai chiếm 1,7% Một số kết quả cụ thể như sau:

1 Lĩnh vực nông, lâm nghiệp

Giai đoạn 1997-2005: Nông, lâm

nghiệp được tỉnh chú trọng quan tâm đầu tư với 51 đề tài, dự án Giai đoạn này các đề tài, dự án tập trung nghiên cứu nhằm tăng

vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất; đưa giống cây trồng mới, mô hình mới vào thực tiễn sản xuất, xây dựng các mô hình đạt giá trị trên 30 triệu đồng/ha Nhờ có áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất mà năng suất

và sản lượng cây trồng không ngừng được tăng lên, đã xây dựng thành công các mô hình thâm canh lúa tại huyện Chợ Đồn, Bạch Thông, đã áp dụng các tiến bộ mới như kỹ thuật gieo xạ, bón phân hợp lý, phòng dịch bệnh tổng hợp nên giảm chi phí công lao động và giống, tăng hiệu quả kinh tế, hiện nay đã được nhân rộng ở hầu hết ở các huyện trong tỉnh

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Bạch Thông với mô hình trồng cà chua, ớt ngọt

T

Mô hình trồng Khoai môn nuôi cấy mô tại Bản Mún xã Dương Phong - Bạch Thông Ảnh TL

Trang 2

Mùa quýt tại Bắc Kạn Ảnh TL

cho thu nhập 40-90 triệu đồng/ha; mô hình

đậu tương, lúa cạn tại Pác Nặm đã xác định

được giống lúa cạn LC9-31 có năng suất

39-41 tạ/ha; mô hình thâm canh khoai môn Bắc

Kạn ở Bạch Thông và Thị xã Bắc Kạn cho

năng suất từ 14-15 tấn/ha; đối với lúa: năng

suất năm 1998 là 34,61tạ/ha, năm 2005 đạt

42,53tạ/ha (Tăng 22,9% so với 1998) Nâng

hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,4 năm 1998

lên 1,84 năm 2005

Bên cạnh đó, việc khai thác tiềm năng

lợi thế của địa phương bước đầu được quan

tâm, đó là phát triển vùng sản xuất cây ăn

quả đặc sản của địa phương như các dự án:

ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình

thâm canh cam, quýt tại Quang Thuận,

huyện Bạch Thông (2000-2002) Quy hoạch

và xây dựng vùng sản xuất tập trung cam,

quýt, đào, lê tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn

2005-2010, đã tuyển chọn một số cây đầu dòng

phục vụ cho công tác nhân giống cung cấp

cho người dân, là cơ sở để tỉnh đề ra định

hướng phát triển cây ăn quả theo hướng tập

trung, sản xuất hàng hóa

Giai đoạn 2006-2010: có: 39 đề tài, dự

án thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp Nông

nghiệp tiếp tục là lĩnh vực được tỉnh quan

tâm nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng

lợi thế về đất đai, khí hậu, cây con đặc sản

để tạo vùng sản xuất hàng hóa tập trung,

nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản

xuất Tỉnh tập trung các đề tài, dự án phát

triển cây trồng, vật nuôi bản địa như: cam,

quýt, Hồng không hạt, chè Shan tuyết, khoai

môn, lợn địa phương bước đầu đã tạo

vùng sản xuất hàng hóa: cam, quýt ở Bạch

Thông, Chợ Đồn với diện tích trên 1000ha năm 2010; hồng không hạt Chợ Đồn, Ba Bể:

350 ha; vùng chăn nuôi lợn địa phương ở Pác Nặm, Ba Bể

Xây dựng mô hình sản xuất mới: nhập

nội giống cây ăn quả, giống hoa chất lượng cao để bổ sung vào cơ cấu cây trồng nông nghiệp của tỉnh, bước đầu đã xác định được

01 giống hoa (hoa lily), 2 giống đào chính sớm có khả năng phát triển tốt tại địa phương; ứng dụng các biện pháp nhân giống mới như nhân giống khoai môn bằng nuôi cấy mô tế bào, đã nâng cao hệ số nhân giống 4-6 lần, tạo nguồn giống chủ động có chất lượng tốt tại địa phương Kết quả của

kỹ thuật này đã được tặng giải Sáng tạo khoa học kỹ thuật Việt Nam (VIFOTECH) năm 2013

Giai đoạn 2011-2014: Nông nghiệp tiếp tục được coi là mũi nhọn trong đầu tư của khoa học và công nghệ phục vụ thiết thực mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, với 24 đề tài, dự án chiếm

57,1% về số lượng và 76% về kinh phí Giai đoạn này khoa học và công nghệ tiếp tục ưu tiên phát triển vùng cây ăn quả, cây đặc sản, vật nuôi bản địa; giới thiệu và quảng bá các sản phẩm đặc sản của địa phương; phục tráng giống cây trồng bản địa, nghiên cứu khảo nghiệm các giống lúa thuần có năng suất cao, chất lượng tốt bổ sung vào cơ cấu cây trồng của tỉnh

Cho tới nay, cùng với ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ đã xây dựng thành công và mở rộng các mô hình trồng cây ăn quả cam quýt, hồng không hạt Bắc Kạn nhân giống phục vụ mở rộng diện tích tại các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể, Ngân Sơn, nên diện tích cam, quýt đã đạt 1441ha, sản lượng gần 4.500 tấn; Hồng không hạt Bắc Kạn diện tích 560 ha, với sản lượng hơn 200 tấn Về chăn nuôi đã hình thành được vùng chăn nuôi lợn địa phương tại Ba Bể, Pác Nặm và Thị xã Bắc Kạn, vùng chăn nuôi gà của đồng bào Mông tại Ba Bể

Trang 3

Tiết mục hát Quan làng - Pả mẻ

(Thơ lẩu) Ảnh TL

và Pác Nặm nhiều hộ có thu nhập hàng trăm

triệu đồng từ cam, quýt, hồng không hạt tại

các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể,

Ngân Sơn

Khoa học và công nghệ tập trung xây

dựng và phát triển thương hiệu cho một số

sản phẩm nông nghiệp của tỉnh: tính tới nay

có 4 sản phẩm được bảo hộ, trong đó 02 sản

phẩm được Cục sở hữu trí tuệ cấp giấy

chứng nhận Chỉ dẫn địa lý là Hồng không hạt

Bắc Kạn và Quýt Bắc Kạn, 2 sản phẩm được

chứng nhận Nhãn hiệu tập thể là: Gạo Bao

Thai Chợ Đồn và Miến dong Bắc Kạn, nhờ

đó mà sản phẩm nổi tiếng của địa phương

đã được quảng bá rộng rãi, được người tiêu

dùng trong và ngoài tỉnh đánh giá cao Năm

2013 Hồng không hạt Bắc Kạn vinh dự được

cấp Chứng thư đạt TOP 100 thương hiệu,

nhãn hiệu nổi tiếng; Miến dong Bắc Kạn đạt

TOP 100 sản phẩm dịch vụ uy tín chất lượng

do Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu

dùng Việt Nam bình chọn Qua đó đã góp

phần nâng cao giá trị của sản phẩm, tăng thu

nhập, cải thiện đời sống cho người dân

2 Khoa học xã hội và nhân văn:

Giai đoạn 1997-2005, triển khai 13 đề

tài, tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận cho

việc xây dựng các giải pháp phát triển kinh tế

- xã hội của địa phương, một số đề tài

nghiên cứu, như: Cải tiến tổ chức bộ máy

Đảng trong các ngành khối khoa giáo tỉnh

Bắc Kạn; Điều tra thực trạng đội ngũ cán bộ

quản lý - cán bộ khoa học kỹ thuật, trong các

cơ quan nhà nước và cơ sở xã, phường

nhằm tìm biện pháp kiện toàn cán bộ phục

vụ công cuộc đổi mới của tỉnh Bắc Kạn; Sưu

tầm, nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn

hóa truyền thống các dân tộc huyện Na Rì

tỉnh Bắc Kạn; Biên soạn địa lý địa phương;

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của đồng bào

Mông, Dao

Giai đoạn 2006-2010: triển khai 11 đề

tài, tiếp tục nghiên cứu nhằm chuyển dịch cơ

cấu kinh tế của địa phương; nghiên cứu phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, tôn giáo, di cư tự do, nghiên cứu việc thực hiện chủ trương đường lối của Đảng vào thực tiễn đời sống của địa phương Nhìn chung các đề tài khoa học xã hội và nhân văn đã có những đóng góp tích cực trong đời sống, kinh tế - xã hội của địa phương,

cụ thể là:

Đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hoạt động tôn giáo và di dịch cư tự do ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn, nhằm đánh

giá thực trạng tình hình tôn giáo và di cư tự

do của đồng bào dân tộc trong tỉnh, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế di cư tự do và làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo trên địa

bàn Đề tài Xây dựng đề án nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm thành trường Cao đẳng Cộng đồng nhằm xây dựng cơ sở khoa học

và thực tiễn cho việc chuyển đổi, nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm của tỉnh sang đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực bổ sung nguồn nhân lực được đào tạo cho địa phương; Đề

tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, đã đề

xuất các giải pháp thực hiện quy chế có hiệu

quả; Đề tài: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chi bộ đảng đã đánh giá điểm mạnh,

điểm yếu, nguyên nhân của những yếu kém trong hoạt động chi bộ đảng từ đó kiến nghị

Trang 4

Kiểm tra hiện trạng trượt nở tại khu vực Đèo Gió thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn

Ảnh TL

các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của

chi bộ đảng cơ sở; Đề tài Nghiên cứu, bảo

tồn các làn điệu dân ca Tày đã góp phần gìn

giữ, bảo tồn, phát triển các làn điệu dân ca

của đồng bào Tày

Giai đoạn 2011-2014 triển khai: 10 đề

tài Nhằm tăng cường nhận thức đầy đủ hơn

về vai trò, vị trí của khoa học xã hội trong

việc nghiên cứu, vận dụng các đường lối,

chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật

của Nhà nước vào thực tiễn đời sống, tỉnh

đã triển khai một số đề tài mang lại hiệu quả

thiết thực, phục vụ đắc lực cho hoạch định

chính sách phát triển kinh tế - xã hội ổn định,

bền vững ở địa phương Một số đề tài như:

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao

hiệu quả hoạt động làng, tổ phố văn hóa;

Thực trạng đội ngũ cán bộ xã, phường;

Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp của địa phương; Xây dựng từ điển

Việt - Tày; Xây dựng tuyến, điểm du lịch;

Đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu

quả giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp;

Nghiên cứu tuyên truyền pháp luật cho đồng

bào theo đạo ở vùng cao huyện Pác Nặm;

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp đào tạo, bồi

dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ

cấp xã; Nâng cao chất lượng giáo dục phổ

thông tại Bắc Kạn

3 Lĩnh vực Điều tra cơ bản và môi

trường:

Giai đoạn 1997-2005: Triển khai 16 đề

tài Tỉnh tập trung nghiên cứu tiềm năng

khoáng sản; xây dựng cơ sở dữ liệu môi

trường, nghiên cứu trượt lở; nghiên cứu

nguồn đá ốp lát, nguyên liệu đá vôi, sét xi

măng từ đó đề xuất các giải pháp phát

triển kinh tế - xã hội phù hợp cho địa

phương Kết quả đã xác định được vùng có

nguy cơ trượt lở cao ở thị trấn Chợ Rã,

huyện Ba Bể; xác định được một số vùng có

nguồn khoáng sản có khả năng đưa vào sản

xuất: làm đá vôi và bột đá trắng tại Chợ Đồn

và Ba Bể; đá ốp lát ở Chợ Đồn, Bạch Thông

và Ngân Sơn; vùng nguyên liệu xi măng (đá vôi, sét xi măng tại Chợ Mới)

Giai đoạn 2006-2010: Triển khai 4 đề

tài Với những diễn biến phức tạp của khí hậu thời tiết, thiên tai xảy ra, nhiều nhất là lũ lụt, trượt lở đất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng và đời sống của người dân, nhằm góp phần ổn định đời sống cho nhân dân và các khu vực có nguy cơ trượt lở, sụt lún đất, tỉnh đã triển khai một số đề tài:

Nghiên cứu đánh giá trượt lở khu vực Đèo Gió, thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn, kết

quả đã khảo sát được 22 khối trượt lở, 8 đới vùi lấp Đề tài đã đề xuất cho tỉnh xây dựng phương án di dân tới vùng an toàn, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội khu vực

có nguy cơ trượt lở, trong đó cần phải di chuyển 66 hộ dân ở vùng nguy hiểm đến nơi

tái định cư an toàn; Đề tài: Điều tra, đánh giá hiện tượng trượt lở, sụt lún các khu vực trọng điểm thuộc huyện Pác Nặm và Chợ Đồn, đã

xác định dược 25 điểm nằm trong vùng nguy

cơ trượt lở tại huyện Pác Nặm, 22 khối trượt

có nguy cơ cao tại huyện Chợ Đồn và 43 hộ dân nằm trong vùng nguy cơ cao về trượt lở, sụt lún

Giai đoạn 2011-2014: Tập trung nghiên

cứu các giải pháp bảo vệ môi trường Thời

Trang 5

Mổ nội soi tại Bệnh viện Đa khoa

Bắc Kạn Ảnh TL

gian qua đã triển khai dự án xử lý bã thải

Dong riềng: Dong riềng là cây trồng có hiệu

quả kinh tế khá cao, trong những năm qua,

việc phát triển dong riềng, chế biến tinh bột

dong riềng đã tạo nhiều công ăn việc làm,

tăng thu nhập cho nhiều hộ dân trên địa bàn

tỉnh Tuy nhiên, quá trình sản xuất tinh bột

Dong riềng cũng gây nguy cơ ô nhiễm môi

trường Do đó, tỉnh đã triển khai dự án xử lý

chất thải từ chế biến tinh bột Dong riềng tại

Bắc Kạn, bước đầu đã xác định được quy

trình xử lý nước thải đạt các chỉ tiêu quy định

theo QCVN 40:2011/BTNMT của Bộ Tài

nguyên và Môi trường; xây dựng thành công

mô hình xử lý bã Dong riềng làm thức ăn chăn

nuôi lợn và làm phân bón cho cây trồng

4 Lĩnh vực Y- Dược:

Giai đoạn 1997-2005: Triển khai 6 đề

tài, dự án Giai đoạn mới tái lập tỉnh, cơ sở

vật chất, nhận thức của người dân còn hạn

chế, để bảo đảm chăm sóc và bảo vệ sức

khỏe của nhân dân, tỉnh triển khai nghiên

cứu các vấn đề: vệ sinh an toàn thực phẩm,

nghiên cứu hoạt động của y tế thôn bản,

nghiên cứu một số bài thuốc y học cổ truyền,

nghiên cứu bệnh phổi si lích của công nhân,

nghiên cứu chất khử khuẩn tại bệnh viện

Giai đoạn 2006-2010: Triển khai 5 đề

tài, dự án: Tập trung nghiên cứu chuyên sâu

về một số mô hình bệnh tật trên địa bàn,

nhằm đề xuất các biện pháp phòng chữa

bệnh hiệu quả góp phần chăm sóc và bảo vệ

sức khỏe cho người dân được tốt, như các

Đề tài, dự án: Tật khúc xạ học sinh phổ

thông; Suy dinh dưỡng trẻ em; Bệnh răng

miệng trẻ em; bệnh đái tháo đường tuýp 2;

Ứng dụng kỹ thuật mổ nội soi trong chẩn

đoán và điều trị bệnh Kết quả của các đề tài

đã giúp tỉnh đưa ra một số giải pháp nâng

cao hiệu quả trong việc khám, điều trị một số

bệnh cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn

Cụ thể như đề tài Mổ nội soi đã giúp cho cán

bộ Bệnh viện đa khoa tỉnh chủ động kỹ thuật

mổ nội soi ruột thừa, cắt túi mật, cắt nang; nội soi chẩn đoán một số bệnh ở ổ bụng Đề tài Nghiên cứu bệnh đái tháo đường tuýp 2

đã lập sổ theo dõi tại bệnh viện đa khoa khoảng 800 bệnh nhân giúp cho người bệnh điều trị tại tỉnh không phải hàng tháng về các Bệnh viện ở Hà Nội, nên đã tiết kiệm chi phí khám, chữa bệnh

Giai đoạn 20011-2014: Triển khai 4 đề

tài, tiếp tục nghiên cứu triển khai các đề tài nhằm góp phần chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh Một số

đề tài, dự án có hiệu quả tốt như đề tài: Điều tra nấm độc trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 10

loài nấm độc, trong đó xác định được 1 loài nấm độc gây chết người tại Bắc Kạn là Nấm độc trắng hình nón; xây dựng được các biện pháp dự phòng, chẩn đoán, cấp cứu và điều trị ngộ độc nấm, tập huấn cho 80 cán bộ y tế; sản xuất 100 hộp test phát hiện nhanh độc tố nấm cung cấp cho các trạm y tế xã, thị trấn

Các đề tài: Nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý và điều trị bệnh tăng huyết áp; Nghiên cứu ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 30-60 tuổi Kết quả của các đề tài là cơ sở

góp phần đề xuất những biện pháp xử lý kịp thời đối với người bệnh

Trang 6

5 Lĩnh vực công nghệ thông tin:

Trong thời gian qua, do điều kiện kinh

tế khó khăn, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn

chế, các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực công

nghệ thông tin triển khai chưa nhiều, từ năm

1997 tới nay, tỉnh đã triển khai 10 dự án

thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin là một lĩnh vực có

ý nghĩa hết sức quan trọng và việc ứng

dụng, phát triển công nghệ thông tin có tác

dụng làm thay đổi lề lối làm việc, thúc đẩy cải

cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu

quả hoạt động tại các cơ quan, đơn vị, góp

phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương Các dự án công

nghệ thông tin như: Xây dựng trang web

khoa học công nghệ môi trường, Xây sở dữ

liệu về khoa học và công nghệ lĩnh vực nông

lâm nghiệp phục vụ sản xuất, đã góp phần

đưa nhanh thông tin khoa học và công nghệ

tới người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho

người dân tra cứu, học tập những kỹ thuật

mới, kỹ thuật tiên tiến để ứng dụng vào thực

tiễn sản xuất một cách hiệu quả;

Các dự án: Ứng dụng công nghệ thông

tin trong đến bù giải phóng mặt bằng, ứng

dụng công nghệ thông tin trong quy hoạch,

Xây dựng trang web thương mại; Xây dựng

phần mềm quản lý đất lâm nghiệp; Xây dựng

phần mềm từ điển học tiếng Tày ; Dự án Xây

dựng Truyền hình trực tuyến đã giúp cho

công tác quản lý nhà nước các lĩnh vực đạt

hiệu quả, chính xác

Hiện nay, có 100% các sở, ban, ngành

và các huyện, thị có mạng LAN và kết nối

Internet, tỷ lệ máy tính được kết nối Internet

đạt 86,5% 122/122 xã, phường, thị trấn

được đầu tư máy tính hỗ trợ công việc, trong

đó có 80/122 xã, phường, thị trấn có kết nối

Internet Một số ban, ngành đã ứng dụng

công nghệ thông tin vào công tác quản lý hồ

sơ, giải quyết các thủ tục hành chính, triển

khai các phần mềm quản lý chuyên ngành

như y tế, giáo dục

Như vậy, có thể nói trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ đã triển khai khá toàn diện trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương

và đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận; nhiều kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển bền vững, phù hợp điều kiện thực tiễn của tỉnh, qua đó đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

Có được thành tựu đó là nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh; Bộ Khoa học và Công nghệ Sự ủng hộ và phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước Phát huy kết quả đạt được, trong thời gian tới khoa học và công nghệ Bắc Kạn tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới cơ chế hoạt động; nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ; tăng cường đầu tư cơ sở vật kỹ thuật; đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cải thiện đời sống của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI

về "Phát triển khoa học và công nghệ phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" và thực hiện thắng lợi Chương trình hành động số 11-CTr/TU ngày 20/02/2013 của Tỉnh uỷ Bắc Kạn về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để khoa học và công nghệ thực sự là động lực phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương./

Trang 7

KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT

CỦA CÂY DONG RIỀNG TỈNH BẮC KẠN

Đặng Văn Sơn, Nguyễn Đình Điệp - Sở NN&PTNT Bắc Kạn

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Dong riềng là cây thân thảo, họ dong

riềng (Cannaceae) có nhiều tên địa phương

khác nhau tại Việt Nam như khoai chuối,

khoai lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ

đót, chuối nước

Cây Dong riềng ở tỉnh Bắc Kạn đã

được người dân trồng từ nhiều năm, nhưng

việc sản xuất Dong riềng hiện nay chủ yếu

vẫn là dựa theo kinh nghiệm và canh tác

theo phương thức truyền thống trồng trên

đất nương rẫy, không sử dựng biện pháp

bảo vệ đất, nguy cơ thoái hoá đất xẩy ra

ngày càng nhiều, việc áp dụng những biện

pháp kỹ thuật thâm canh còn hạn chế đặc

biệt là không sử dụng phân bón, giống mới

và trồng không đảm bảo mật độ dẫn tới năng

suất và chất lượng sản phẩm Dong riềng

chưa cao

Xuất phát từ thực tế và nhu cầu sản

xuất hiện này của nhân dân, Sở Nông

nghiệp và phát triển nông thôn đã đề xuất và

triển khai dự án nghiên cứu “Ảnh hưởng của

một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và

năng suất của cây dong riềng trên địa bàn

tỉnh Bắc Kạn”

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu:

Vật liệu nghiên cứu sử dụng giống

dong lai (giống Dong Hà Tây) hiện nay đang

được nhiều người dân trồng ở địa phương

2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu xác định mật độ gieo

trồng thích hợp cho giống Dong riềng đang

được người dân trồng đại trà trong sản xuất,

gồm 5 công thức: 1,5 cây/m2; 2 cây/m2; 2,5

cây /m2; 3 cây/m2 và 3,5 cây/m2

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón

đến sinh trưởng, phát triển và năng suất

giống Dong riềng đang được người dân

trồng đại trà trong sản xuất, gồm 5 công thức với liều lượng phân bón:

+ Công thức 1: 5 tấn phân hữu cơ + 70KgN + 80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5 tấn phân hữu cơ + 174kg Urea + 500

kg lân + 200kg Kali)

+ Công thức 2: 5tấn phân hữu cơ + 90KgN+80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5 tấn phân hữu cơ + 200kg Urea + 500

kg lân + 200kg Kali)

+ Công thức 3: 5 tấn phân hữu cơ + 110KgN + 80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5tấn phân hữu cơ + 260kg Urea +

500 kg lân + 200kg Kali)

+ Công thức 4: 5tấn phân hữu cơ + 130KgN+80kgP205 + 100K20; (Tương đương với 5 tấn phân hữu cơ + 320kg Urea + 500

kg lân + 200kg Kali)

+ Công thức 5: Bón theo nông dân (đối chứng) Tương ứng với 25KgN + 50kgP205 + 15K20; (Tương đương với 55kg Urea + 310

kg lân + 30 kg Kali)

- Cách bón thống nhất như nhau: + Bón lót: Toàn bộ phân chuồng và lân

và 1/3 lượng đạm

+ Bón thúc lần 1: sau khi cây mọc 1 tháng nhằm giúp cây đẻ nhánh nhanh, nhiều: bón 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali

+ Bón thúc lần 2: sau trồng khoảng 4 -

5 tháng: 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại, để cây sinh trưởng phát triển tốt và tích lũy đường bột nhiều

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được

bố trí trên đất nương rẫy, đất vàn cao không chủ động nước tưới Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích 100m2 x 3 lần nhắc lại tại huyện Na Rì và Ba Bể tỉnh Bắc Kạn

- Giống thí nghiệm là giống Dong lai (giống Dong Hà Tây) hiện nay đang được nhiều người dân trồng ở địa phương

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Xác định mật độ trồng

Trang 8

Biểu 1: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng

trên đất nương rẫy tại huyện Ba Bể

CT Chỉ tiêu

Tỷ lệ mọc

(%)

Độ đồng đều (1-9) Cao cây

(cm)

Số thân/k hóm

(thân)

Số lá/thân Sâu hại

(%)

Bệnh hại (%)

Khối lượng

củ tươi/

khóm

(kg)

Năng suất củ

Từ bảng kết quả phân tích thống kê

trên cho thấy: Không có sự khác biệt nhiều

về tỷ lệ nảy mầm ở các mật độ trồng khác

nhau Ở các mật độ trồng khác nhau cây

dong riềng sinh trưởng khác nhau; công thức

3 với mật độ trồng 2,5 cây/m2, cao nhất là

195cm, thấp nhất là ở công thức 5 với mật

độ trồng 3,5 cây/m2 có chiều cao là 183,6cm

Về số lá trên thân có sự sai khác, cụ thể ở

công thức 3 với mật độ trồng 2,5 khóm/m2,

số lá trên thân cao nhất là 12,6 lá, thấp nhất

là ở công thức 5 với mật độ trồng 3,5 cây/m2

có số lá trên thân là 11,2 lá

- Khả năng chống chịu sâu bệnh hại ở các công thức 1 và 2 là không có, ở các công thức 3 và công thức 4 mức độ sâu bệnh hại không đáng kể, ở công thức 5 sâu bệnh hại ở mức trung bình

- Về chỉ tiêu khối lượng củ/khóm: Công thức 1 có khối lượng củ lớn nhất (3,9kg/ khóm); công thức 5 có khối lượng củ thấp nhất (2,1kg/ khóm)

- Về chỉ tiêu năng suất: Công thức 4

có năng suất cao nhất là 87tấn/ha; công thức 1 có năng suất thấp nhất là 62,4 tấn/ha

Biểu 2: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng trên

đất soi bãi tại huyện Ba Bể

TT Chỉ tiêu Tỷ lệ mọc

(%)

Độ đồng đều

(1-9)

Cao cây

(cm)

Số thân/

khóm

(thân)

Số lá/thân

Sâu hại (%)

Bệnh hại

(%)

Khối lượng

củ tươi/

khóm

(kg)

Năng suất củ

Trang 9

Kết quả nghiên cứu trên đất soi bãi

trong bảng 02 cho thấy:

- Không có sự khác biệt nhiều về tỷ lệ

nảy mầm ở các mật độ trồng khác nhau

Chiều cao cây, ở công thức 3 với mật độ

trồng 2,5 cây/m2 chiều cao cây là 235cm, ở

công thức 5 với mật độ trồng 3,5 cây/m2 có

chiều cao là 200cm

- Về số lá trên thân, công thức 1 với

mật độ trồng 1,6 khóm/m2 số lá trên thân là

12,5 lá, ở công thức 5 với mật độ trồng 3,5

cây/m2 có số lá trên thân là 11,5 lá

- Số thân/khóm: Ở công thức 1 với mật

độ trồng 1,6 khóm/m2, cây sinh trưởng đẻ nhánh nhiều, số thân trung bình 12 thân/khóm và thấp nhất là công thức 5 ở mật

độ 3,5cây/m2 trung bình 9,3 thân/khóm

- Về chỉ tiêu khối lượng củ/khóm: Công thức 1 có khối lượng củ lớn nhất (5,1kg/khóm); công thức 5 có khối lượng củ thấp nhất (2,8kg/khóm)

- Về chỉ tiêu năng suất: Công thức 4

có năng suất cao nhất là 111tấn/ha; công thức 1 có năng suất thấp nhất là 82,6 tấn/ha

Biểu 3: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng

trên đất soi bãi bạc mầu tại huyện Na Rì

TT Chỉ tiêu

Tỷ lệ mọc

(%)

Độ đồng đều

(1-9)

Cao cây

(cm)

Số thân/

khóm (thân)

Số lá/thân Sâu hại

(%)

Bệnh hại (%)

Khối lượng

củ tươi/

khóm (kg)

Năng suất củ (tấn/ha)

Kết quả nghiên cứu trên đất soi bãi

bạc mầu tại huyện Na Rì trong bảng 03

cho thấy:

- Tỷ lệ nảy mầm cơ bản không phụ

thuộc vào mật độ trồng

- Chiều cao cây, Công thức 1 thấp hơn

đối chứng, các công thức còn lại đều cao

hơn đối chứng

- Về số lá trên thân, có sự khác nhau

giữa các công thức, nhưng dao động từ 11,5

đến 12,5 lá/cây

- Số thân/khóm: Công thức 1 cao hơn

đối chứng, các công thức còn lại trong thí

nghiệm đều thấp hơn đối chứng

- Về chỉ tiêu khối lượng củ/khóm:

Công thức 1 có khối lượng củ lớn nhất

(3,5kg/gốc), hơn đối chứng; các công thức

còn lại đều thấp hơn đối chứng, trong đó thấp nhất là công thức 5 có khối lượng củ thấp nhất (2,3kg/gốc)

- Về chỉ tiêu năng suất: Công thức 5

có năng suất cao nhất là 80,5 tấn/ha, công thức 1 có năng suất thấp nhất là 56 tấn/ha

2 Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho cây Dong riềng

Dong riềng rất cần các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng, phát triển bình thường Tuy nhiên, nhiều vùng trồng Dong riềng người dân không chú trọng bón phân đầy đủ Các kết quả nghiên cứu dưới đây cho thấy phân bón có ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây Dong riềng được thể hiện ở bảng số liệu dưới đây:

Trang 10

Biểu 4: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến đến năng suất của cây dong riềng

(%)

Năng suất

củ (tấn/ha)

Năng suất củ

(tấn/ha)

Năng suất

so với đất soi bãi

Kết quả bảng 4 cho thấy trên các nền

đất khác nhau cho năng suất khác nhau, với

công thức phân bón khác nhau có năng suất

khác nhau: Năng suất của các công thức

trên đất nương rẫy thấp hơn trên nền đất soi

bãi từ 19,1 đến 32,3% Năng suất của các

công thức trên đất soi bãi bạc mầu thấp hơn

trên nền đất soi bãi từ 12,8 đến 38,3%

cây/m2, cây sinh trưởng phát triển khá đồng

đều, khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh,

khả năng đẻ nhánh khá, cây sinh trưởng cân

đối, năng suất trồng trên đất nương rẫy đạt

85tấn/ha (tăng 118,1% so với đối chứng),

trên đất soi bãi đạt 107,5 tấn/ha (tăng

Trồng ở mật độ 3 cây/m2, cây sinh trưởng

phát triển khá đồng đều, khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh, khả năng đẻ nhánh trung bình, cây sinh trưởng đều, năng suất đạt

78 tấn/ha (tăng 121,9% so với đối chứng)

kg Kali Ở mức bón này, cây sinh trưởng

phát triển khá đồng đều, khả năng chống chịu tốt, ít sâu bệnh, khả năng đẻ nhánh khỏe, cây sinh trưởng cân đối, năng suất củ tươi cao đạt 80 tấn/ha (tăng so vơi đối chứng 190,5%) đối với đất nương rẫy và đạt 106 tấn/ha (tăng 170,9%) đối với đất soi bãi

- Trên đất soi bãi bạc mầu, công thức phân bón phù hợp là công thức 4, với mức

bón trên/1ha là: 320 kg Urea + 500 kg lân +

200 kg Kal Năng suất đạt 82 tấn/ha (tăng

178,3% so với đối chứng)

2 Đề nghị:

Kết quả nghiên cứu trên làm cơ sở hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác cây Dong riềng phù hợp với sản xuất tại tỉnh Bắc Kạn sớm đưa vào khuyến cáo chỉ đạo trong sản xuất./

Trang 11

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ TRONG NHỮNG NĂM QUA

Hoàng Chinh - Phó Trưởng phòng TTTL - SHTT Sở Khoa học và Công nghệ

Giao diện thư viện số sản xuất nông lâm nghiệprong những năm qua cùng với hoạt

động nghiên cứu, ứng dụng khoa học

công nghệ, công tác thông tin khoa học và

công nghệ đã được Sở Khoa học và Công

nghệ chú trọng, quan tâm đầu tư Chính vì

vậy hoạt động này đã góp phần chuyển tải

các chủ trương, chính sách, pháp luật của

Đảng và Nhà nước đến với người dân,

đưa nhanh những tiến bộ khoa học và

công nghệ về giống cây trồng, vật nuôi có

năng suất cao, chất lượng tốt, góp phần

chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi,

phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Từ khi thành lập đến nay, Sở Khoa

học và Công nghệ đã xuất bản 160 số Bản

tin kinh tế - khoa học và công nghệ với gần

60,000 bản in được phát hành, phục vụ

công tác lãnh đạo, chỉ đạo sản xuất của

các cấp lãnh đạo trong tỉnh và nhân dân

các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Xuất bản 60 số Thông tin khoa học

và công nghệ, gần 30.000 bản in, đăng tải

các chủ trương, chính sách của Đảng,

pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực

khoa học và công nghệ, trao đổi kinh

nghiệm trong công tác khoa học và công nghệ; kết quả nghiên cứu, mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã ứng dụng thành công trong sản xuất và đời sống ở trong và ngoài nước; kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án triển khai trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; các tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong nhiều lĩnh vực như chăn nuôi, trồng trọt, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, y tế, giáo dục, lao động việc làm, công nghệ thông tin, hoạt động của các ngành, địa phương Năm 2009 cuốn Thông tin khoa học và công nghệ đã được cấp mã số chuẩn quốc tế ISSN 1859 - 2783

Từ năm 2000 đến nay, Sở đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị xuất bản Nông lịch Bắc Kạn với số lượng hơn 70.000 bản in phục vụ cho công tác chỉ đạo sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống của bà con nông dân; cung cấp các thông tin về khí tượng thuỷ văn, về nông nghiệp,

về y tế, như: dự báo thời tiết, thời vụ gieo trồng, thu hoạch…các nông, lâm sản; cách phòng chống một số bệnh thông thường ở người và gia súc, gia cầm

T

Trang 12

Sở Khoa học và công nghệ chủ động

và tích cực phối hợp với Đài Phát thanh -

Truyền hình tỉnh xây dựng và phát sóng 70

chuyên đề khoa học và công nghệ, hơn

300 tin, bài, phóng sự phát trên sóng phát

thanh - truyền hình tỉnh Phối hợp với Báo

Bắc Kạn xây dựng chuyên trang khoa học

và công nghệ 24 số/năm Do sự phối hợp

nhịp nhàng giữa các cơ quan nên chất

lượng và số lượng các chuyên đề, chuyên

trang khoa học và công nghệ ngày càng

được nâng lên đã góp phần tuyên truyền

hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học

và công nghệ trên tất cả các lĩnh vực kinh

tế - xã hội của tỉnh

Năm 2007, Sở đã xây dựng và đưa

vào sử dụng Trang thông tin điện tử

khoa học và công nghệ Bắc Kạn và kết

nối với mạng Internet tại địa chỉ:

http://www.khcnbackan.gov.vn với mục

đích là: Phổ biến thông tin về khoa học và

công nghệ trong nước và thế giới; phục vụ

công tác quản lý nhà nước: xây dựng các

chương trình, kế hoạch hoạt động khoa

học công nghệ hàng năm; Hướng dẫn các

thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa

Website khoa học và công nghệ Bắc Kạn

đã được đông đảo bạn đọc trong và ngoài

nước quan tâm và truy cập đều đặn và

được độc giả đánh giá có chất lượng tốt

Đặc biệt từ năm 2013 từ kết quả của

dự án Xây dựng thư viện số về kỹ thuật

sản xuất nông - lâm nghiệp và cung cấp

thông tin cho các xã trên địa bàn tỉnh Bắc

Kạn Sở đã đưa vào sử dụng Trang thông

tin điện tử Thư viện số nông, lâm nghiệp

được kết nối với Internet tại địa chỉ

http://www.thuvienso.khcnbackan.gov.vn

Trang thông tin được xây dựng với hơn

1.000 kỹ thuật, 200 phim khoa học và công

nghệ bao gồm các hướng dẫn, quy trình kỹ

thuật, cách phòng trừ dịch bệnh hại các

loại cây trồng, vật nuôi; các kỹ thuật bảo quản, chế biến các loại nông lâm sản, chăn nuôi… Và được cập nhật mới các

kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp đều đặn Trang thông tin được độc giả và bà con nông dân đánh giá rất cao, từ khi đi vào hoạt động đến nay đã có 385.984 lượt người truy cập, khai thác thông tin để ứng dụng vào sản xuất và đời sống

Có thể nói trong những năm qua hoạt động khoa học và công nghệ nói chung, công tác thông tin khoa học và công nghệ nói riêng đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, phát luật của Nhà nước và áp dụng các thành tựu

về khoa học và công nghệ để ứng dụng trong sản xuất và đời sống, trong văn hoá, giáo dục, y tế Đạt được kết quả như vậy, ngoài sự nỗ lực của ngành khoa học

và công nghệ đó là được sự quan tâm, chỉ đạo của ,Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Bắc Kạn, Bộ Khoa học và Công nghệ, sự phối hợp của các cấp, các ngành, các cơ quan thông tin đại chúng của địa phương và trung ương

Trong những năm tiếp theo hoạt động thông tin khoa học và công nghệ Bắc Kạn sẽ tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập tri thức khoa học và công nghệ đối với nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng núi, vùng dân tộc ít người Đẩy mạnh thông tin khoa học

và công nghệ phục vụ lãnh đạo - quản lý, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp Tăng cường xây dựng đội ngũ cộng tác viên ngày càng đông đảo hơn, phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan thông tin đại chúng để thực hiện tuyên truyền, phổ biến hoạt động khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả cao nhất./

Trang 13

Tổn thương thành mạch do tăng huyết áp

ĂN NHẠT VÀ DINH DƯỠNG HỢP LÝ ĐỂ PHÒNG CHỐNG

BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

BS: Nguyễn Thái Hồng - Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bắc Kạn

n mặn là một một thói quen khó bỏ, bởi

vì nó làm hài lòng khẩu vị trong bữa

ăn Do vậy nếu ai bị tăng huyết áp (THA),

không ăn nhạt được thì điều trị đưa huyết

áp về bình thường là rất khó khăn, mặc dù

đã uống đầy đủ thuốc điều trị THA

Tại sao ăn nhiều muối lại bị THA?

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên

quan giữa muối ăn và bệnh THA Những

quần thể dân cư có tập quán ăn mặn luôn

có tỷ lệ người THA lớn hơn so với các

quần thể có tập quán ăn nhạt Ở Việt Nam

năm 2003, Viện Dinh dưỡng đã điều tra về

lượng muối mà một người tiêu thụ mỗi

ngày, kết quả là: người Nghệ An

14gam/ngày, người Thừa Thiên Huế

13g/ngày; tỷ lệ THA ở 2 địa phương này là

18% Ở Hà Nội, người dân ăn mỗi ngày

9gam muối, tỷ lệ THA là 11%

Trong phác đồ điều trị bệnh THA,

ngoài thuốc điều trị THA thì ăn nhạt là một

biện pháp quan trọng để làm hạ huyết áp

Nên những người bị THA thường dùng

thuốc lợi tiểu thải muối để điều trị THA

Muối ăn gây tăng THA vì nó làm tăng

tính thấm của màng tế bào đối với natri,

ion natri sẽ chuyển nhiều vào tế bào cơ

trơn của thành mạch máu, gây tăng lượng

nước trong tế bào, từ đó làm tăng trương

lực của thành mạch, gây co mạch, tăng

sức cản ngoại vi, dẫn đến THA Ăn nhiều

muối cộng thêm các yếu tố stress trong

cuộc sống sẽ làm tăng hoạt động của hệ

thần kinh giao cảm, tăng hoạt động của hệ

renin- angiotensin, dẫn đến tăng tái hấp

thu natri ở ống thận

Nếu ăn mặn kéo dài còn có nguy cơ

gây xơ cứng động mạch, ngoài ra nếu ăn

nhiều mỡ, phủ tạng động vật sẽ gây xơ

mỡ động mạch Xơ cứng cộng với xơ mỡ

động mạch sẽ là nguy cơ cao nhất làm tổn

thương động mạch

Khi bị THA, tức là áp lực cao của dòng máu tăng làm lớp nội mô của mạch máu bị xơ mỡ và xơ cứng sẽ dễ bị tổn thương, nguy hiểm nhất là động mạch tại chỗ đó bị vỡ, đe dọa ngay tính mạng của bệnh nhân Nếu động mạch không bị vỡ thì tại vị trí động mạch bị tổn thương đó, các tiểu cầu sẽ đến kết tập, tạo nên cục máu đông Nếu cục máu đông di chuyển đến não dễ dẫn tới nguy cơ đột quỵ Nếu tổn thương động mạch vành sẽ gây nhồi máu cơ tim

Giảm muối trong bữa ăn là biện pháp quan trọng để phòng chống bệnh THA

Thành phần chính của muối ăn là natri và clo, có vai trò hết sức quan trọng trong cân bằng thể dịch trong cơ thể, sự tồn tại và hoạt động bình thường của tất cả các tế bào, hoạt động chức năng của tất

cả các cơ quan và bộ phận trong cơ thể Mặc dù muối ăn có vai trò như vậy đối với

cơ thể, nhưng theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đối với người lớn, mỗi ngày không được dùng vượt quá

4 gam muối natri, đây là giới hạn hợp lý để phòng ngừa bệnh tăng huyết áp

Ă

Trang 14

Đối với những người bị THA phải rèn

luyện cho mình thành một thói quen ăn

nhạt, chỉ dùng 2-3 gam muối/ngày và ăn

hạn chế các loại thực phẩm chứa nhiều

muối Tốt nhất là bỏ thói quen hàng ngày

dùng thêm bát nước mắm trong bữa ăn,

để chấm thức ăn

Điều chỉnh chế độ ăn để điều trị bệnh

THA hiện nay đang là một vấn đề đặc biệt

quan trọng, nhưng lại ít được thầy thuốc

và người bệnh quan tâm Trong chế độ ăn

thì ăn nhạt cần phải được ưu tiên số một,

tiếp theo là giảm các loại thực phẩm có

các yếu tố bất lợi cho bệnh THA và tăng

cường các thực phẩm có nhiều yếu tố bảo

vệ để làm ổn định và hạ huyết áp Mặt

khác trong bữa ăn hằng ngày, không nên

dùng quá nhiều thực phẩm chứa nhiều

muối như: dưa cà muối mặn, mắm tôm, cá

mắm, thịt cá đóng hộp, thịt hun khói, thịt

sấy khô, thịt muối, các loại thức ăn chế biến

sẵn, mỳ tôm, các loại rau quả đóng hộp

Bên cạnh việc giảm ăn muối thì

người bị THA cần giảm các loại thực

phẩm có các yếu tố bất lợi cho bệnh

THA, đó là:

Không uống hoặc hạn chế tối đa

uống rượu, bia, vì rượu bia làm cho tim

đập nhanh, mạch máu co lại, huyết áp tăng

và làm cho muối canxi đọng lại ở thành

mạch, gây xơ cứng động mạch

Nếu nghiện thuốc lá, thuốc lào thì

hãy bỏ ngay, vì hút thuốc làm tăng nhịp

tim, THA và làm giảm lượng oxy cần thiết

đến các tế bào và các cơ quan đồng thời

làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch

Người THA nên hạn chế uống cà

phê đặc, vì trong cà phê có chất gọi là

cafein, uống nhiều sẽ kích thích nhịp đập

của tim, làm THA

Người THA không nên uống trà búp

đặc, vì trà đặc có nhiều chất kiềm, có thể

làm cho não hưng phấn, mất ngủ, huyết áp

tăng cao Trái lại, uống chè xanh lại có lợi

cho việc điều trị bệnh THA

Bên cạnh việc giảm ăn muối thì

người bị THA cần tăng cường các thực phẩm có nhiều yếu tố bảo vệ để làm ổn định và hạ huyết áp

Thực phẩm giàu kaly (cà chua, khoai lang, nho, các loại đậu, chuối, khoai tây,

bơ, nước ép cà chua, nước bưởi, dưa leo, nho, táo…), giúp làm giảm huyết áp và duy

trì huyết áp ở mức độ ổn định

Những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ như: cần tây, rau cải, cà chua, hành tây, bầu bí, mía, cam, khoai lang, khoai tây, khoai môn, đậu xanh, đậu đen (500g - 600g rau trái, 30 - 40g đậu đỗ/ngày) sẽ làm hạ huyết áp

Ngoài ra, ăn vài tép tỏi trong mỗi bữa

ăn có tác dụng kiện tỳ, giải độc, tăng cường

lưu thông khí huyết, hỗ trợ hạ huyết áp

Ăn canh mộc nhĩ cũng có tác dụng rất tốt để giải độc, cải thiện mỡ máu và hạ

huyết áp

Sữa đậu nành là đồ uống lý tưởng cho người bị THA, có công dụng phòng chống xơ vữa động mạch, điều chỉnh rối loạn lipid máu và hạ huyết áp

Một điều quan trọng nữa là cần phải

đi khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh THA để điều trị ngay Khi khám định kỳ nếu huyết áp bình thường thì không có nghĩa là mình sẽ không bị THA, khi đó lại ăn mặn, ăn uống các loại thực phẩm làm tăng nguy cơ THA thì sớm muộn cũng sẽ bị THA

Trong gia đình có người bị THA thì người thân có vai trò rất quan trọng để động viên, nhắc nhở người THA uống thuốc hạ huyết áp hàng ngày, ăn nhạt, dùng các loại thực phẩm có tác dụng làm

hạ huyết áp Có thể chế biến thức ăn riêng, nếu được tốt nhất là chế biến chung

để cùng ăn nhạt Ngoài ra một điều rất quan trọng nữa là luôn tạo một không khí

ấm cúng vui vẻ trong gia đình, mọi người thương yêu nhau, đó là những liều thuốc hữu ích để giúp người THA khoẻ mạnh, luôn đạt được huyết áp mục tiêu (dưới 140/90mmHg), chỉ định kỳ đi khám, tư vấn

để kê đơn thuốc điều trị THA ngoại trú mà không phải vào viện điều trị nội trú./

Ngày đăng: 13/06/2016, 14:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w