TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN MÃ NGÀNH: 526203301 THỬ NGHIỆM BỔ SUNG RONG BÚN, RONG MỀN TRONG PHỐI THỨC ĂN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ NGÀNH: 526203301
THỬ NGHIỆM BỔ SUNG RONG BÚN, RONG MỀN TRONG PHỐI THỨC ĂN
CHO CÁ RÔ PHI GIAI ĐOẠN CÁ GIỐNG
Sinh viên thực hiện
Họ và tên: LÊ Ô KÊ MSSV: 1153040031 Lớp: Nuôi trồng thuỷ sản K6
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
MÃ NGÀNH: 526203301
THỬ NGHIỆM BỔ SUNG RONG BÚN, RONG MỀN TRONG PHỐI THỨC ĂN
CHO CÁ RÔ PHI GIAI ĐOẠN CÁ GIỐNG
Sinh viên thực hiện
Họ và tên: LÊ Ô KÊ MSSV: 1153040031 Lớp: Nuôi trồng thuỷ sản K6
Cán bộ hướng dẫn
PGS TS NGUYỄN VĂN BÁ
ThS TRẦN NGỌC HUYỀN
Trang 3XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Đề tài tốt nghiệp: Thử nghiệm bổ sung Rong Bún, Rong Mền trong phối thức ăn cho
cá Rô Phi giai đoạn cá giống
Sinh viên thực hiện: LÊ Ô KÊ
Lớp :Nuôi trồng thủy sản K6
Khóa luận đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo vệ
khóa luận tốt nghiệp đại học Khoa sinh học ứng dụng – Trường Đại học Tây Đô
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp đã giúp tôi có được những kinh nghiệm, kỹ năng bổ ích và thiết thực cho công việc sau này Để đạt được những kết quả trên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng đến gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cả về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành khóa học và xin chân thành gửi lời cảm ơn đến: Thầy Nguyễn Văn Bávà Cô Trần Ngọc Huyền đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Ban Chủ Nhiệm Khoa Sinh học ứng dụng, thầy Tạ Văn Phương và các thầy cô bộ môn
đã quan tâm và truyền đạt kiến thức cho tôi trong 4 năm đại học Tập thể lớp NTTS 6 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo điều kiện để tôi được học tập, trao dồi kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong thời gian qua
Chân thành cảm ơn!
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài “Thử nghiệm bổ sung rong Bún, rong Mền trong phối thức ăn cho cá Rô phi giai đoạn cá giống” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra tỉ lệ phối trộn hợp của rong Bún hoặc rong Mền với TACN sử dụng cho cá Rô phi Nghiên cứu gồm 2 TN và 1 NT đối chứng TN1: Bổ sung rong Bún vào TACN với tỷ lệ 10%; 20%; 30% và TN2: Bổ sung rong Mền vào TACN với tỷ lệ 10%; 20%; 30% Kết quả đạt được sau 8 tuần nuôi thì tỷ lệ sống của cá cao nhất ở nghiệm đối chứng 87,6% và thấp nhất ở nghiệm thức 10% rong Mền 75,5% và không có sự khác sự biệt giữa các nghiệm thức
Nghiệm thức sử dụng 20 % rong Bún phối trộn với TACN cá có tốc độ tăng trưởng tốt nhất (13,1g), DWG đạt (0,138/g/ngày) Thấp nhất là nghiệm thức bổ sung rong Mền (10 %) tốc độ tăng trưởng cá là 9,79g và DWG đạt (0,084/g/ngày)
Từ khóa: rong Bún, rong Mền, tỷ lệ sống, khối lượng, cá Rô phi
Trang 6CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết khóa luận này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ báo cáo cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2015
(Ký tên)
Lê Ô Kê
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 1
1.3 Nội dung đề tài 1
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm hình thái học của rong Bún 2
2.1.1 Đặc điểm 2
2.1.2 Phân loại 2
2.1.3 Đặc điểm môi trường sống 3
2.1.4 Phân bố 3
2.1.5 Sinh sản 3
2.1.6 Thành phần dinh dưỡng 3
2.2 Đặc điểm hình thái học của rong Mền 4
2.2.1 Đặc điểm 4
2.2.2 Phân loại 4
2.2.3 Đặc điểm môi trường sống 5
2.2.4 Phân bố 5
2.2.5 Sinh sản 5
2.2.6 Thành phần dinh dưỡng 6
2.4 Các nghiên cứu sử dụng rong Bún, rong Mền trong nuôi trồng thủy sản 6
2.5 Tổng quan về cá Rô phi 8
2.5.1 Phân loại 8
Trang 82.5.3 Đặc điểm phân bố và tập tính sống 9
2.5.4 Đặc điểm sinh trưởng 9
2.5.5 Đặc điểm dinh dưỡng 9
2.5.6 Đặc điểm sinh sản 9
2.5.7 Tình hình nuôi cá Rô phi trên thế giới 10
2.5.8 Tình hình nuôi cá Rô phi ở Việt Nam 10
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2 Vật liệu nghiên cứu 12
3.3 Phương pháp nghiên cứu 12
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 12
3.3.2 Thu thập số liệu 15
3.4 Xử lý số liệu 16
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Các yếu tố môi trường 17
4.1.1 Nhiệt độ 17
4.1.2 pH 18
4.2 Đánh giá khả năng bổ sung rong Bún, rong Mền trong phối chế thức ăn lên tỷ lệ sống và tăng trưởng cá Rô phi 18
4.2.1 Tỷ lệ sống 18
4.2.2 Tăng trưởng về khối lượng 20
4.3 Phân hóa sinh trưởng về khối lượng 22
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 24
5.1 Kết luận 24
5.2 Đề xuất 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC A 27
PHỤ LỤC B 30
PHỤ LỤC C 45
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Biến động nhiệt độ và pH của cá Rô phi trong thời gian thí nghiệm 17
Bảng 3.1 Tỉ lệ phối trộn rong với TACN 14
Bảng 4.2 Tăng trưởng về khối lượng của cá sau 8 tuần thí nghiệm 20
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Hình thái bên ngoài rong Bún 2
Hình 2.2 Hình thái bên ngoài rong Mền 4
Hình 2.3 Hình thái bên ngoài cá Rô phi 8
Hình 3.1 Hệ thống bố trí thí nghiệm 14
Hình 4.1 Tỷ lệ sống cá Rô phi của các NT qua thí nghiệm 18
Hình 4.2 Biều đồ tỷ lệ phân hóa về khối lượng của cá Rô phi 22
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DLG Tốc độ tăng trưởng về chiều dài theo ngày (Daily Length Growth) DWG Tốc độ tăng trưởng về khối lượng theo ngày (Daily Weight Gain)
ĐC Nghiệm thức đối chứng
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
L Chiều dài (Length)
LG Tăng trưởng về chiều dài (Length Growth)
TACN Thức ăn công nghiệp
W Khối lượng (Weight)
WG Tăng trưởng về khối lượng (Weight Gain)
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Ngành thủy sản nước ta nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng
có những bước phát triển đáng kể về số lượng và sản lượng thủy sản và trở thành nền kinh tế mũi nhọn trong cả nước Nó góp phần cho việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm cho người nông dân.Tuy nhiên cùng với sự phát triển của ngành nhiều vấn đề thách thức cũng đặt ra như vấn đề vệ sinh môi trường, vấn đề thức ăn, an toàn thực phẩm, Trong đó thức ăn giữ vai trò quan trọng quyết định đến năng suất, hiệu quả của người nuôi Bột cá là nguồn cung cấp protein tốt nhất cho thủy sản Tuy nghiên hiện nay giá thức ăn tăng cao, do giá bột cá và nguồn nguyên liệu phối chế thức
ăn viên tăng cao và biến động liên tục Trong khi đó, thức ăn chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí 50-80 % (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)
Và ở ĐBSCL rong Bún, rong Mền được tìm thấy ở các thủy vực nước lợ như ao tôm quảng canh, thâm canh, ao, mương,…các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Theo đó nhiều nghiên cứu cho rằng rong Bún, rong Mền có thể thay thế một phần đạm bột cá trong khẩu phần phối trộn thức ăn hoặc sử dụng làm thức ăn trực tiếp
cho tôm, cá (FAO, 2003; SUDA, 2009; Asino et all., 2010) Và trong các loài cá nước
ngọt thì cá Rô phi là loài cá có tiềm năng và có thể nuôi kết hợp với các loài cá khác cũng như có thể tận dụng các loài thức ăn từ tự nhiên, vì cá Rô phi là loài cá ăn tạp, thức ăn thiên về thực vật, trong tự nhiên cá ăn mùn bã hữu cơ, rong, rêu, thực vật lắng xuống đáy Tận dụng khả năng này của cá Rô phi có thể sử dụng thức ăn có sẵn trong
tự nhiên để làm giảm chi phí thức ăn, tăng lợi nhuận, góp phần cải thiện đời sống
người dân Xuất phát từ vấn đề trên đề tài ’’Thử nghiệm bổ sung rong Bún, rong Mền trong phối thức ăn cho cá Rô phi giai đoạn cá giống” được thực hiện
1.2 Mục tiêu đề tài
Xác định tỷ lệ phối trộn rong Bún và rong Mền kết hợp với TACN phù hợp cho sự phát triển cá Rô phi, nhằm đánh giá mức độ tăng trưởng của cá trong thời gian thí nghiệm
1.3 Nội dung đề tài
Thay thế TACN bằng thức ăn phối chế giữa TACN với rong Bún hoặc rong Mền ở các
tỷ lệ khác nhau trong nuôi cá Rô phi
Trang 13CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm hình thái học của rong Bún
Trên toàn thế giới có hơn 135 loài Enteromorpha được mô tả (Index
NominumAlgarum, 2002), việc phân loại hệ thống các chi như sau:
Hình 2.1 Hình thái bên ngoài rong Bún
(Nguồn: Tự chụp )
Trang 142.1.3 Đặc điểm môi trường sống
Trong điều kiện nước tĩnh rong Bún rời khỏi vật bám, sống trôi nổi tự do và quấn với
nhau thành từng đám Rong Bún sinh trưởng nhanh (0,15-0,25 cm/ngày) (Gibson et al,
2001)
Rong Bún thường xuất hiện vào mùa mưa khi mà độ mặn giảm thấp khoảng 2 – 25 ‰, vào mùa nắng nóng rong bún ít xuất hiện và có hiện tượng tàn lụi (Nguyễn Văn Luận, 2011)
Rong Bún sống tốt trong mùa mưa, nước lợ, nước trong và ở những nơi nước ít lưu thông Ngược lại rong Bún bị tàn lụi trong điều kiện môi trường có độ mặn cao và
nắng nóng
2.1.4 Phân bố
Rong Bún (Enteromorpha) phân bố chủ yếu ở các ao hồ nước tĩnh, nước trong, độ mặn
thấp, trong các ao quảng canh, tự nhiên và ao nước thải
Rong Bún là loài phân bố trên toàn thế giới, trong nhiều môi trường khác nhau, nó có thể chịu đựng ở các độ mặn khác nhau từ nước ngọt đến nước lợ Chúng cũng có thể phát triển trên bờ biển đại dương, trong vùng nước lợ và nội địa nước ngọt Rong Bún
(enteromorpha) có thể phát triển trên nhiều loại nền đáy: cát, bùn, đất đá bê tông hoặc
kim loại chúng cũng có thể sống tự do mà không cần giá bám
2.1.5 Sinh sản
Giống nhiều loài tảo khác, rong Bún có hai hình thức sinh sản: vô tính và hữu tính Rong Bún thể bào tử có 2 bộ nhiễm sắc thể, ký hiệu là 2n Trong khi đó thể giao tử chỉ
có 1 bộ nhiễm sắc thể 1n Thông qua nguyên phân, giao tử được sinh ra bởi thể giao tử
và phát triển thành 1 thể bào tử và giảm phân tạo ra hợp tử (tế bào sinh sản vô tính) và mỗi hợp tử phát triển thành 1 thể giao tử, thể giao tử này sau đó tạo ra nhiều giao tử hơn và tiếp tục chu kì
2.1.6 Thành phần dinh dưỡng
Hàm lượng dinh dưỡng của rong biển xanh rất cao, giá trị dinh dưỡng tùy thuộc vào từng loài, từng giai đoạn phát triển, mùa vụ sinh sản và yếu tố môi trường Theo kết
quả phân tích của Aguilersa- Morales, et al., 2005, hàm lượng protein rong bún dao
dộng trong khoảng 11,6- 22,5%; lipid 2,0- 3,6%; tro 32- 36%; giàu chất khoáng (iod
lượng acid béo n3 và n6 tương ứng là 10,4 và 10,9/ 100g trong tổng acid béo và đạm rong Bún có độ tiêu hóa cao (98%)
Enteromorpha chứa nhiều khoáng chất, protein, chất xơ, acid amin thiết yếu cần
thiết cho sự phát triển của con người ( Aguilera- Morales, et al., 2005 )
Trang 15Ngoài ra rong Bún còn dùng làmnguyên liệu để sản xuất phân bón hữu cơ, cung cấp
môi trường không những thế còn làm thức ăn cho gia súc, phụ gia cho các sản phẩm
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Luận, (2011) khảo sát sự phân bố và biến động
sinh lượng và thành phần sinh hóa của rong Bún Enteromorpha sp ở ĐBSCL gồm:
protein (7,28 26,6%); lipit (1,05 4,78%); tro (17,1 32,0%); cacbohydrate (36,6 59,8%)
-2.2 Đặc điểm hình thái học của rong Mền
Tên khoa học: Cladophoraceae
Hình 2.2 Hình thái bên ngoài rong Mền
(Nguồn: Tự chụp )
Trang 162.2.3 Đặc điểm môi trường sống
Rong Mền (Cladophoraceae) được tìm thấy ở hầu hết các thủy vực nước lợ mặn Các
loài rong Mền sống ở vùng triều là loài rộng muối và thích nghi ở độ mặn cao tốt hơn
so với rong Mền nước ngọt Cladophora glomerata Loài rong Mền Cladophora
rupestris được tìm thấy ở các vùng trung triều có độ mặn 5 – 30‰ ( Dodds and
Gudder, 1992) Cladophoraceae chủ yếu sống ở đáy các thủy vực nước tĩnh từ các ao
hồ tự nhiên cho đến các ao đầm quảng canh
Nghiên cứu sinh thái học rong Mền Cladophora spp của Dodds and Gudder (1992),
Cladophora cho rằng rong là nơi trú ẩn và là thức ăn cho nhiều loài sinh vật thủy sinh
2.2.4 Phân bố
Rong Mền Cladophoraceae xuất hiện phổ biến trong các thủy vực lợ mặn ở khu
vực châu Á Ở nước ta loài rong này thường sinh trưởng và phát triển mạnh trong các thủy vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Hoàng Duy, 2011) Nhiều nghiên cứu cho rằng độ mặn là nhân tố giới hạn sự phân bố của nhiều loài rong tảo
Rong Mền Cladophora là một giống của lớp Ulvophyceae Các loài Cladophora phổ
biến ở vùng biển ôn đới và nhiệt đới, chúng được tìm thấy trong nước ngọt, biển, cửa
sông và môi trường sống nước lợ (Hoek et al., 1995)
Ở Việt Nam rong Mền phân bố ở các thủy vực nước lợ của Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Bà Rịa- Vũng Tàu, Kiên Giang (Nguyễn Văn Tiến, 2007)
Ở đồng bằng sông Cửu Long, rong Mền xuất hiện quanh năm, thường phát triển đồng thời với rong Bún hoặc xen kẽ nối tiếp các thủy vực nước lợ, ao, đầm quảng canh
(Nguyễn Hoàng Duy, 2012)
2.2.5 Sinh sản
Dodds and Gudder (1992), rong Mền sinh sản vô tính bằng bào tử động 2- 4 roi hoặc bằng bào tử bất động vỏ dày Sinh sản hữu tính bằng giao phối giữa các giao tử đực và giao tử cái hai roi theo kiểu đẳng hình hoặc dị hình.Trong vòng đời có sự chuyển tiếp giữa giai đoạn cây bào tử và cây giao tử Sinh sản sinh dưỡng bằng cách từ một phần
cơ thể ( một đoạn sợi 4- 5 tế bào) đứt ra phát triển trực tiếp thành cá thể mới
Các bước phát triển vòng đời của rong Mền:
1.Bào tử động 4 roi (1n) hình thành tế bào dinh dưỡng từ cây bào tử (2n), phân cắt phần bên của tế bào và phóng thích vào môi trường nước
2 Bào tử bám vào giá thể và nảy mầm thành cây giao tử
3 Cây giao tử tạo ra giao tử đẳng giao có 2 roi (1n), phân cắt phần rỗng của túi giao
tử
Trang 174 Các giao tử kết hợp lại tạo thành hợp tử bốn roi (2n)
5 Hợp tử bám vào giá thể và nảy mầm thành cây bào tử (2n)
2.2.6 Thành phần dinh dưỡng
Rong Mền ở các thủy vực nước lợ ĐBSCL có thành phần sinh hóa gồm tỉ lệ tươi/ khô
là (11,7- 17,3%), hàm lượng protein (8,4- 18,7%), lipit (0,78- 2,91%), tro (18,1- 32,2%), xơ (4,9- 10,2%) và carbohydrat (34,5- 55,3%) tính theo trọng lượng khô Nhìn chung hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong rong Mền biến động theo mùa và ảnh hưởng bởi hàm lượng chất dinh dưỡng trong thủy vực Hàm lượng carbohyrat chiếm cao nhất trong tổng các thành phần khác Hàm lượng chất xơ tương đối cao dao động trong khoảng (9,49- 10,2%)
Theo Shanmugam và Palbandi (2008) được trích dẫn bởi Hồ Thị Huỳnh Mai (2011)
đánh giá giá trị rong lục Uvla reliculate thu hoạch từ cửa sông Vella ở Ấn Độ Kết quả
cho rằng, hàm lượng nước chiếm 75,3%; cacbohydrate 50,3%; protein là 19,9%; lipit
là 1,70% tính theo khối lượng khô
Kết quả phân tích một số loài rong lục, điển hình là loài Uvla ở bờ biển Nam Trung Bộ
gồm: protein (7,75-9,50%); lippit (0,54-0,72%); tro (20,7-24,7%) và cacbohydrate
(6,71-12,9%) (Trần Thị Thanh Vân el al , 2009)
2.4 Các nghiên cứu sử dụng rong Bún, rong Mền trong nuôi trồng thủy sản
Nhiều nghiên cứu nhận thấy khả năng sử dụng rong biển làm thức ăn cho thủy sản nuôi tùy vào từng loài, tập tính ăn của loài, giai đoạn phát triển và tùy sử dụng loài rong nào làm thức ăn Các loài cá ăn tạp có khả năng sử dụng hiệu quả các loài rong hơn các loài ăn động vật Do đó sử dụng rong biển làm thức ăn có ảnh hưởng tới tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn và thành phần sinh hóa của tôm cá nuôi (FAO,
2003; Yldirim et al, 2009 El-Tawil, 2010)
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của mức độ thay thế đạm bột cá bằng độ đạm của
rong Bún trong ương cá Nâu (Scatophagus argus) giống với 6 loại thức ăn thí nghiệm
có cùng hàm lượng đạm (30%); lipit (7%) được phối chế với nguồn thức ăn chính là bột cá, 5 nghiệm thức còn lại là hàm lượng đạm bột cá được thay thế bởi đạm của rong Bún từ 10-50% Kết quả cho thấy tỉ lệ sống của cá Nâu khi kết thúc thí nghiệm dao động trung bình 81,1- 84,4% không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức thức ăn Tăng trưởng của cá Nâu nghiệm thức 10% tương đương với nhóm cá ăn thức ăn đối chứng, sự tăng trưởng cá Nâu giảm dần theo mức tăng thay thế đạm rong Bún Tuy nhiên sự khác biệt trong thống kê chỉ tìm thấy ở 50% đạm rong Bún so với nghiệm
thức đối chứng (p<0,05) Hệ số thức ăn dao động 2,61- 2,83 và có khuynh hướng tăng
lên dần từ nghiệm thức 20-50% đạm rong Bún, khác biệt không có sự thống kê giữa các nghiệm thức (Đoàn Tuấn Lộc, 2012)
Trang 18Mô hình nuôi ghép cá Măng và rong đỏ trong ao nước lợ của Nguyễn Thị Ngoan và
ctv (2005) và được trích dẫn bởi Trần Kim Thiêu nghiên cứu về mô hình nuôi kết hợp
rong biển với các loài thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao
Nghiên cứu của Phạm Kim Ngân (2012), đánh giá khả năng thay thế đạm bột cá bằng
đạm rong Bún (Enterromopha sp) cho cá Kèo (Pseudapocrytes elongates) đã khẳng
định đạm bột rong Bún có thể thay thế 40% đạm của bột cá sử dụng làm thức ăn cho
cá trong ương nuôi cá Kèo ở độ mặn 10%, giúp tăng tỉ lệ sống tốc độ tăng trưởng, góp phần giảm chi phí và tăng thu nhập cho người nuôi
El-Tawil (2010) bổ sung bột rong Bún (Uvla sp) bổ sung 5- 25% khẩu phần ăn cho cá
Rô phi đỏ (Oreochromis sp) Kết quả cho thấy sau 9 tuần nuôi cho kết quả tương đối
của các nhóm cá bổ sung bột rong Bún 5; 10 và 15% tăng theo mức bột rong Bún so với nghiệm thức đối chứng Bên cạnh đó, nghiệm thức bổ sung 20% khác biệt không
có ý nghĩa thống kê
Theo Wahbeh, 1997 nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng rong biển làm thức ăn cho
cá Chủ yếu là rong lục (Cholorophyta) Uvla, rong đỏ (Rhodophyta) porphyra pteroc
ladia Rong có thể sử dụng dạng tươi hay dạng khô thay thế một phần hay toàn bộ
khẩu phần của cá
Theo Qing et al,.l (2006), rong Bún Enteromorpha linza chứa 18 loại acid amin và
khoáng chất, tỉ lệ giữa acid amin thiết yếu và không thiết yếu (EAA/ NEAA) là 0,62 Những acid amin thiết yếu như: Glutamic acid, Aspartic acid, Alanine, Leucine, Proline, Serine và Methionine chiếm khoảng 53 % trong hàm lượng acid amin của rong E.linza Ngoài ra, rong Bún rất giàu các acid béo mạch cao không no (PUFA) như
- Linolenoic (18: 3n-3), Linoleonic acid (18: 2n- 6), Octadectetraenoic (18: 4n- 3) và còn một số acid béo thiết yếu khác như AA (Arachidonic acid 20: 4n- 6), và EPA
(Eicosapentaenoic acid 20 :5n- 3) (Khotimchenko et al., 2002; Aguilera-Morales et
all., 2005) đây là loài rong có giá trị dinh dưỡng cao hơn các loài rong khác Hơn nữa
rong Bún E.linza rất giàu các vitamin và khoáng chất như Mg, Fe, Ca, K, Na, P, Zn, tỉ
lệ Ca/ P là 1,9 Theo Manivannan et al., (2008), rong Bún E.intestinalis có hàm lượng
Ca là 0,31 ppm, cao hơn so với các loài rong biển khác
Trang 192.5 Tổng quan về cá Rô phi
2.5.1 Phân loại
Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia loài cá Rô phi thành 3 giống (Nguyễn Chính
et al, 2003)
Tilapia: làm tổ đẻ trứng trong tổ và được bố mẹ bảo vệ
Sarotherodon: làm tổ đẻ trứng trong tổ, cá bố hay cá mẹ ấp trứng ngậm trứng trong miệng
Oreochromis: làm tổ đẻ trứng trong tổ, chỉ cá mẹ ấp trứng và ngậm trứng trong miệng Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), cá Rô phi thuộc hệ thống phân loại sau:
Bộ: PerciForms
Họ : Cichlidae
Giống :Oreochromis (Gunther, 1758)
Loài : Cá Rô phi vằn O.niloticus (Linaeus 1758)
Tên tiếng Anh: Nile tilapia Tên tiếng Việt: Cá Rô phi, cá Rô phi vằn
2.5.2 Đặc điểm hình thái
Cá Rô phi có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9- 12 sọc đậm song song nhau
từ lưng xuống bụng Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bố khắp vi đuôi Vi lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền
xám đen Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt (Dương Nhựt Long, 2004)
Hình 2.3 Hình thái bên ngoài cá Rô phi
(Nguồn: tepbac.com)
Trang 202.5.3 Đặc điểm phân bố và tập tính sống
Cá Rô phi phân bố chủ yếu ở châu Phi và các sông ven bờ của Israel, lưu vực sông Nile từ dưới Albret Nile đến vùng châu thổ sông Nile: Jebel Marra, lưu vực hồ Chard
đến các sông Niger, Benue, Volta và Gambia, (Nguyễn Chính et al., 2003)
Cá Rô phi được nuôi nhiều trên thế giới đặc biệt là vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Ở Việt Nam cá Rô phi được nuôi nhiều ở ĐBSCL và các tỉnh ở phía Bắc, do cá rô phi thích ứng với nhiều môi trường khác nhau: ao, hồ, sông, đầm, ruộng lúa,
Cá Rô phi sống được ở độ mặn từ 0- 30‰ thích hợp ở độ mặn 15‰ Nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là từ 20- 32 oC, thích hợp nhất là 25- 32 oC, môi trường có độ pH
từ 6,5- 8,5 thích hợp cho cá Rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước
có độ pH thấp bằng 4
2.5.4 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ lớn của cá Rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật độ thả và kỹ thuật chăm sóc Khi nuôi thâm canh cá lớn nhanh hơn khi nuôi bán thâm canh hay là nuôi ghép (Đoàn Khắc Độ, 2008)
Giai đoạn cá hương, trong ao nuôi cá từ hương lên giống, cá Rô phi vằn có tốc độ sinh trưởng khá nhanh từ 15- 20 g/tháng Từ tháng nuôi thứ 2 đến tháng nuôi thứ 6 tăng trưởng bình quân ngày có thể đạt 2,8- 3,2/g/con/ngày Cá Rô phi vằn có thể đạt khối
lượng bình quân trên 500/g/con sau 5- 6 tháng nuôi
2.5.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá ăn tạp, thức ăn gồm các tảo dạng sợi, các loài động thực vật phù du, mùn bã hữu
cơ, ấu trùng các loại côn trùng, động vật sống ở nước, cỏ, bèo, rau và cả phân hữu cơ Ngoài ra chúng có khả năng ăn thức ăn bổ sung như cám gạo, bột ngô, bánh khô đậu, các phế phụ phẩm khác và thức ăn viên Ở giai đoạn cá hươngchúng ăn sinh vật phù
du, chủ yếu là động vật phù du, một ít thực vật phù du Giai đoạn cá giống đến cátrưởng thành chúng chủ yếu ăn mùn bã hữu cơ và thực vật phù du Đặc biệt chúng có khả năng hấp phụ 70- 80% tảo lục, tảo lam mà một số loài cá khác khó có khả năng
tiêu hoá
2.5.6 Đặc điểm sinh sản
Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá phụ thuộc vào loài cá, môi trường, và chế
độ dinh dưỡng của cá Bình thường cá Rô phi thành thục sau 4 - 5 tháng nuôi khi kích
cỡ đạt 100 - 150g Cá Rô phi vằn oniloticus có thể đẻ 10 - 12 lần trong năm
Ðến thời kỳ thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của cá Rô phi rất rỡ Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở viền vây ngực, vây lưng và vây đuôi, khi đó
ở con cái có màu hơi vàng Ngoài ra con cái có xoang miệng hơi chễ xuống
Trang 21Phân biệt cá đực và cá cái rô phi:
Đến tuổi thành thục ở mép vây đuôi vây lưng và vây bụng ở cá đực có màu sắc rực rỡ
từ hồng đến xanh đen Trong khi đó cá cái màu sắc vây đuôi vây lưng và vây bụng ở
cá không thay đổi
Cá đực có 2 lỗ: trước là hậu môn, sau là lỗ huyệt
Cá cái có 3 lỗ: Trước là hậu môn, giữa là lỗ sinh dục và phía sau là lỗ niệu
2.5.7 Tình hình nuôi cá Rô phi trên thế giới
Cá Rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau những loài cá Chép (Fitzsimmons, và Gonznlez, 2005)
Theo công bố của Fao (1996), hiện nay có hơn 100 quốc gia trên thế giới nuôi cá Rô phi Sản lượng cá Rô phi nuôi đã tăng rất nhanh trong 10 năm gần đây: năm 1986 đạt
253 nghìn tấn, năm 1990 đạt 410 nghìn tấn, đến năm 1995 đã đạt 659 nghìn tấn (sau
10 năm tăng 269%)
Ba loài cá Rô phi nuôi quan trọng nhất trên thế giới hiện nay là Rô phi vằn O.niloticus,
Rô phi xanh O.aureus và Rô phi đen O.mossambicus sản lượng của chúng chiếm 90 %
tổng sản lượng có Rô phi nuôi riêng sản lượng cá Rô phi vằn đã tăng 430 % so với sản lượng loài này cách đây 10 năm
Cũng theo Fao (1996), nếu so sánh sản lượng Rô phi nuôi ở Châu Á với sản lượng của loài Rô phi đỏ trên thế giới (đơn vị: tấn) thì của cá Rô phi đen là 50.884/51.870; còn cá
Rô phi vằn là 384.976/426.773 Châu Á là nơi nuôi nhiều cá Rô phi nhất trên thế giới, trong đó vùng Đông Á và Đông Nam Á thực sự đã là quê hương thứ hai của cá Rô phi Trong tương lai cá Rô phi sẽ thay thế các loài thịt trắng đang ngày càng cạn kiệt (WFC 2003) Sản lượng cá Rô phi đã tăng lên 4 lần từ 1990- 2003 Hiện nay Trung Quốc là quốc gia có sản lượng cá Rô phi đứng đầu thế giới ( 710.000 tấn )
2.5.8 Tình hình nuôi cá Rô phi ở Việt Nam
Khác với các loài cá nước ngọt khác, cá Rô Phi ở nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc nói riêng và ở Châu Á nói chung có lịch sử canh tác lâu đời, nuôi cá Rô Phi ở nước ta
có lịch sử hơn 50 năm, khởi đầu từ khi nhập nội cá Rô phi đen vào nước ta vào đầu những năm 1950 Những thập niên 50 và 60 của thế kỉ trước cá Rô phi được nuôi chủ yếu ở hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến Tuy nhiên chất lượng giống của loài này rất thấp: trọng lượng cơ thể nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm, chu kỳ đẻ ngắn nên phong trào nuôi không được chú ý nuôi đặt biệt là các tỉnh phía Bắc
Năm 1973, cá Rô phi vằn (O niloticus) được nhập vào miền nam Việt Nam từ Đài Loan và được nuôi thử ở các tỉnh phía bắc từ năm 1977, (Nguyễn Công Dân và ctv,
1998)
Trang 22Theo thống kê năm 2005 diện tích nuôi cá Rô phi của cả nước là 22,340 ha chiếm 3% diện tích nuôi trồng thủy sản Trong đó nuôi nước lợ, mặn là 2,068 ha và nuôi nước ngọt là 20,272 ha Tổng sản lượng cá rô phi đạt 54.486,8 tấn chiếm 9,08% tổng sản lượng cá nuôi Cả nước có 16 tỉnh nuôi cá Rô phi trong lồng với tổng số 2,036 lồng, trong đó miền Bắc có 748 lồng, kích cỡ lồng nhỏ từ 12- 19 m2, miền Trung có 158 lồng, kích cỡ dao động 10- 36 m2, miền Nam có 1,130 lồng- bè với tổng diện tích 75.000 m2 , các lồng bè có kích thước lớn từ 5 - 1.250 m2 (Báo cáo quy hoạch phát triển cá Rô phi từ giai đoạn 2006 - 2015)
Hiện nay các tỉnh ĐBSCL và đồng bằng sông Hồng là hai vùng nuôi các Rô phi chủ yếu, lần lượt chiếm 58,4% và 17,6% tổng sản lượng cá Rô phi toàn quốc Các tỉnh vùng núi phía Bắc, miền Trung và Tây nguyên chỉ sản xuất một lượng nhỏ cá Rô phi, mỗi vùng hằng năm chỉ cung cấp 4,12% - 9,14% tổng sản lượng cá rô phi nuôi (miền núi phía Bắc 5,33%, miền Trung 9,14% và Tây nguyên 4,12%) (Phạm Anh Tuấn và
ctv, 2006)
Từ năm 2002, bộ Thuỷ sản đã phát động phong trào nuôi cá Rô phi xuất khẩu và đặt
kế hoạch đến năm 2010 đạt 300,000 tấn Hàng loạt đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ, các dự án nuôi cá Rô phi thí điểm đã được tiến hành ở miền Nam và miền Bắc
và đã đạt được một số thành tựu khả quan về sản xuất giống, nâng cao chất lượng giống, sản xuất thức ăn cho cá Rô phi và kỹ thuật nuôi cá Rô phi thương phẩm Tuy nhiên, sản lượng cá Rô phi nuôi của nước ta vẫn còn rất khiêm tốn (30,000 - 35,000 tấn/ năm ) và chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội địa
Trích dẫn theo báo doanh nhân sài gòn thì theo giáo sư Kevin M Fitzsimmons, trong vòng 20 năm qua, sản lượng cá Rô phi trên toàn thế giới đã tăng từ 500 ngàn tấn/ năm lên đến 4 triệu tấn/ năm vào năm 2011, trong đó phần tăng chủ yếu là cá nuôi Hiện nay ở Việt Nam nhiều ao đầm nuôi tôm đang bị bỏ hoang do dịch bệnh có thể cải tạo lại để nuôi cá rô phi một thời gian nhằm dứt mầm bệnh và tạo thêm giá trị mới Gần đây nghề nuôi cá Rô phi đang được phát triển mạnh ở nhiều địa phương
Hai tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh đã nuôi nhiều và thành công, năng suất đạt từ 10 -
12 tấn/ha/vụ, mức lãi ước tính khoảng 70- 80 triệu đồng/ha/vụ Trong chiến lược phát triển của thủy sản Việt Nam lâu nay, bên cạnh mặt hàng xuất khẩu chủ lực là tôm và cá Tra thì cá Rô phi vẫn được coi là một thế mạnh mũi nhọn cần tập trung phát triển phục
vụ xuất khẩu Mục tiêu của ngành là năm 2015 sẽ đưa cá rô phi trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực với giá trị đạt 200- 300 triệu USD Theo (Webtise Hội NDVN) anh Nguyễn Văn Xuân xóm Trung Hồng xã Diễn Hồng huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An đã thành công trong mô hình nuôi cá Rô phi Đài Loan với lợi nhuận hàng năm hàng tỉ đồng, với tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là 2,3 ha
Trang 23CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá Rô phi vằn O.niloticus
Rong Mền (Cladophora), rong Bún (Enterromorpha)
3.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ 01/2015 đến ngày 07/ 2014 Tại trại thực nghiệm thủy sản của Khoa sinh học ứng dụng trường Đại học Tây Đô
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Cá Rô phi được mua từ trại cá giống Minh Dũng (Cần Thơ) Cá dùng trong thí nghiệm
là cá ở giai đoạn cá giống, sau khi mua về được thuần dưỡng khoảng 1 tuần để thích nghi với môi trường trước khi bố trí thí nghiệm
Rong Bún được thu từ ao nuôi tôm công nghiệp ở Vĩnh Châu (Sóc Trăng), rong Mền
được thu từ ao nuôi tôm công nghiệp ở Trần Đề (Sóc Trăng)
Thùng nhựa 60L, test môi trường (test pH hiệu sera, nhiệt độ), thức ăn công nghiệp
GB 35 của hãng Grobest có độ đạm 35%
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Phương pháp thu rong
Rong Bún: Dùng vợt vớt rong theo quanh vuông tôm, vì rong bún tôm ăn được nên khi vớt theo bờ cần loại bỏ những rong già nổi trên mặt vì dinh dưỡng kém
Rong Mền: Dùng cây làm đòn vớt trực tiếp dưới ao tôm, do rong Mền phân bố dày nên chỉ lấy phần rong phía dưới cách mặt nước khoảng 20 - 30 cm, vì phần trên rong già ít dinh dưỡng
Phương pháp phơi rong: Rong Bún, rong Mền được thu từ ao nuôi tôm công nghiệp đem về rửa kỹ với nước ngọt, trải mỏng phơi ở bóng râm, tránh ánh sáng mặt trời Rong Bún, rong Mền phơi khô cho vào túi nilon buộc chặt trữ vào tủ lạnh
Phương pháp xử lí rong:
Sau khi được phơi khô đem từng loại rong cho vào tủ sấy ở nhiệt độ 60oC trong khoảng 9 - 12h lấy rong ra cho vào máy xay nhuyễn (sử dụng máy xay sinh tố), xay thành dạng bột Sau đó lấy để phối trộn với TACN
Phương pháp quản lí:
Trang 24Phương pháp phối chế thức ăn:
Phối trộn 1 kg thức ăn cho mỗi nghiệm thức Sau khi sử dụng hết tiếp tục phối trộn, đảm bảo đủ nhu cầu cho cá ăn
Nghiệm thức ĐC: 1 kg thức ăn công nghiệp
Nghiệm thức 1: 900 gam TACN + 100 gam rong Bún
Nghiệm thức 2: 800 gam TACN + 200 gam rong Bún
Nghiệm thức 3: 700 gam TACN + 300 gam rong Bún
Nghiệm thức 1: 900 gam TACN + 100 gam rong Mền
Nghiệm thức 2: 800 gam TACN + 200 gam rong Mền
Nghiệm thức 3: 700 gam TACN + 300 gam rong Mền
Phương pháp trộn thức ăn:
Cho nước vào làm ẩm TACN, khi viên thức ăn mềm cho bột kết dính vào (ít nhiều tùy vào phần trăm rong trong phối trộn thức ăn), trộn đều sau đó cho phần rong cần trộn vào trộn thật đều (rong cùng với thức ăn và chất kết dính sẽ thành một khối) sau đó tách nhẹ thức ăn nhỏ ra, đem phơi và cho vào lọ bảo quản ở nơi thoáng mát
Chăm sóc và quản lí:
Cho cá ăn theo nhu cầu, cho ăn ngày 3 lần 8h và 13h và 17h
Cách cho ăn: Rong Bún, rong Mền được phơi khô sấy nhuyễn và trộn vào thức ăn và được nén lại cùng với TACN vừa cở miệng cá
Thay nước 3 ngày/ lần, mỗi lần thay 30 - 50% lượng nước
Thí nghiệm được tiến hành trong 8 tuần
Bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm nuôi cá Rô phi (mật độ 2con/3lít) với thể tích bể 40L Thí nghiệm gồm 7 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức được bố trí 3 lần lặp lại trong đó nghiệm thức đối chứng sử dụng 100 % TACN, 6 nghiệm thức còn lại mỗi nghiệm thức được bố trí theo tỉ lệ phối trộn rong Bún + TACN và rong Mền + TACN
Trang 25Bảng 3.1 Tỉ lệ phối trộn rong với TACN
Trang 263.3.2 Thu thập số liệu
Các yếu tố môi trường
Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế 2 lần/ngày, pH nước 3 ngày đo 1 lần bằng bộ test sera
Đức (ngày 2 lần 6h và 14h hằng ngày)
Các chỉ tiêu đánh giá cá Rô phi
Chiều dài và khối lượng cá ban đầu được xác định bằng cách bắt ngẫu nhiên cân và đo
từng cá thể để tính giá trị trung bình (đo và cân 30 con)
Kết thúc thí nghiệm thu toàn bộ cá Rô phi sau đó cân và đo toàn bộ cá thể
Tỉ lệ sống của cá Rô phi sẽ được xác định khi kết thúc thí nghiệm
Tính toán số liệu:
Tỷ lệ sống (Survival rate, SR ): được tính bằng tổng số cá thể thu khi kết thúc thí
nghiệm chia cho tổng số cá thể lúc đầu
SR(%)= (3.1)
Theo Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn (2009), các công thức tính toán tốc
độ tăng trưởng được thể hiện như sau:
Tăng trưởng khối lượng (Weight Gain, WG)
Trang 27Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày về chiều dài (Daily Length Gain, DLG)
DLG (cm/ngày) = (3.6)
Trong đó:
Li: Cá thể có chiều dài thuộc nhóm i
nLi: Tổng số cá thể có chiều dài thuộc nhóm i
Wi: Cá thể có khối lượng thuộc nhóm i
nWi: Tổng số cá thể có khối lượng thuộc nhóm i
n: Tổng số cá thể thu được trên mỗi nghiệm thức
T: Thời gian thí nghiệm
Wđ: Khối lượng ban đầu của cá trước khi bố trí thí nghiệm
Lđ: Chiều dài ban đầu của cá trước khi bố trí thí nghiệm
Wc: Khối lượng của cá khi kết thúc thí nghiệm
Lc: Chiều dài của cá khi kết thúc thí nghiệm
3.4 Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích các chỉ tiêu thống kê mô tả như giá trị trung bình, độ lệch, sai số chuẩn, tỷ lệ sống và so sánh khác biệt giá trị trung bình của các chỉ tiêu theo dõi giữa các nghiệm thức bằng phép thử Ducan, với mức ý nghĩa 5 % (hay độ tin cậy 95%)
Lc – Lđ
T
Trang 28CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các yếu tố môi trường
4.1.1 Nhiệt độ
Kết quả bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ nước giữa các nghiệm thức không có sự chênh lệch lớn, dao động trong ngày từ 26,9 - 30oC Trong thời gian thí nghiệm có những ngày mưa làm nhiệt độ giảm xuống (26oC), nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động của
Ghi chú: DC: Đối chứng; RM: rong mền; RB: rong bún
Cá là động vật biến nhiệt nên sự thay đổi nhiệt độ môi trường ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao đổi chất của cá Mỗi loại cá sống ở khoảng nhiệt độ nhất định, ở khoảng nhiệt độ thích ứng cá trao đổi chất thuận lợi và có hiệu quả sinh trưởng tốt, ngược lại ngoài giới hạn nhiệt độ cho phép đều gây ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng của cá Theo Dương Nhựt Long và Nguyễn Thanh Phương (2012) thì cá Rô phi là loài cá đặc trưng vùng nhiệt đới, môi trường sống thích hợp cho cá là 24- 32 oC
Như vậy theo các tác giả trên thì sự dao động nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng của cá
Trang 294.1.2 pH
Sự biến động pH trong thời gian thí nghiệm cho thấy pH thấp nhất là 8,34 và cao nhất
là 8,66 pH nước buổi sáng dao động từ 8,34 – 8,47; buổi chiều pH nước dao động từ 8,56 đến 8,66
pH là một trong những yếu tố của môi trường có ảnh hưởng đến thủy sinh vật Mỗi loài cá có khả năng thích ứng với một khoảng pH khác nhau, sự thay đổi pH trong ao
có thể dẫn tới những thay đổi về thành phần các chất trong nước khi pH môi trường quá cao hay quá thấp đều bất lợi cho sự phát triển của thủy sinh vật Khi pH thấp làm tăng tiết dịch nhờn trên bề mặt da cá, giảm trao đổi khí và ion, giảm khả năng vận chuyển oxy, mất cân bằng acid- base, giảm NaCl trong máu, rối loạn điều hòa áp suất thẩm thấu, bên cạnh đó còn làm tăng tính độc H2S Ngược lại pH cao sẽ làm sưng phồng biểu bì phiến mang, tổn thương thủy tinh thủy, giác mạc và làm tăng tính độc của NH3.
Tóm lại giá trị pH nước của thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá Rô phi
4.2 Đánh giá thử nghiệm bổ sung rong Bún, rong Mền trong phối chế thức ăn lên
tỷ lệ sống và tăng trưởng cá Rô phi
4.2.1 Tỷ lệ sống
Trong thủy sản từ kỹ thuật sản xuất giống tới ương nuôi thương phẩm các loài thì tỷ lệ sống là một trong những chỉ tiêu quan trọng cần được quan tâm Nó góp phần đến hiệu quả sản xuất
0 20
RB (30%)
RM (10%)
RM (20%)
RM (30%)
Hình 4.1 Tỷ lệ sống của cá Rô phi ở các NT thí nghiệm
Trang 30Qua 8 tuần thí nghiệm cho thấy lệ sống của cá Rô phi khá cao, dao động từ 75,4% đến
87,6% và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa các nghiệm thức
Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng rong Bún làm thức ăn cho cá Nâu của các tác giả
(Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv) với nghiệm thức đối chứng được cho ăn thức ăn viên
mỗi ngày và ao nuôi không có rong Bún Hai nghiệm thức còn lại rong Bún được duy trì trong ao nuôi liên tục và được cho ăn thức ăn viên mỗi 2 ngày/lần và nghiệm thức còn lại cho ăn 3 ngày/lần Thì sau 6 tháng nuôi kết quả cá đạt tỉ lệ sống cao nhất ở NT
có rong Bún và cho cá ăn thức ăn viên mỗi 2 ngày (đạt 88,83%) cao hơn NT đối chứng cho cá ăn thức ăn viên không có rong Bún (87,5%)
Một nghiên cứu khác so sánh khả năng sử dụng rong Bún làm thức ăn trực tiếp thay thế thức ăn công nghiệp cho cá Rô phi của Siddik, (2012) và cá Nâu nuôi trong ao đất
của Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv, (2013 ) Theo hai tác giả này việc cho ăn rong Bún
hoàn toàn hoặc cho ăn kết hợp với thức ăn viên tỉ lệ sống của cá từ 80 - 85% khác biệt không có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng cho ăn hoàn toàn thức ăn viên Tuy
nhiên, Yousif et al, (2004), sử dụng rong Bún (Enteroorpha sp) khô bổ sung vào khẩu phần ăn cho cá Dìa (Siganus canaliculatus) thu được tỉ lệ sống 86% tốt hơn so với
nghiệm thức đối chứng (thức ăn chứa bột cá) là 78% Đặt biệt, khi cho cá ăn kết hợp bột cá với rong Bún tươi cá có tỉ lệ sống cao nhất 90%
Theo Phạm Kim Ngân, (2012) khẳng định đạm bột rong Bún có thể thay thế 40% đạm của bột cá sử dụng làm thức ăn cho cá trong ương nuôi cá Kèo ở độ mặn 10‰, giúp tăng tỉ lệ sống của cá đến 89% so với thức ăn công nghiệp tỷ lệ sống của cá chỉ đạt 80%, qua đó cho thấy việc sử dụng rong Bún làm thức ăn cho cá góp phần giảm chi phí thức ăn tăng thu nhập cho người nuôi
Theo Nguyễn Thị Ngọc Anh (2004), khi nuôi cá Nâu trong ao đất với các nghiệm thức: NT1 (cho cá ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp), NT2 (cho cá ăn hoàn toàn bằng rong tươi kết hợp bổ sung TACN 2 ngày/lần), NT3 (cho cá ăn hoàn toàn bằng rong tươi kết hợp bổ sung TACN 3 ngày/lần) Kết quả cho thấy tỉ lệ sống của cá cao nhất ở NT2 (88,8%) cao hơn so với NT1 (87,5%) và NT3 (87,7%)
Asino et al (2010), tiến hành thí nghiệm trên cá Đù vàng (Pseudosciaena crocea) trong thời gian 9 tuần với mức độ thay thế 0%, 5%, 10% rong Bún Enterromorpha prolifera
trong chế độ ăn của cá, kết quả cho thấy tỷ lệ sống của cá đạt 98,7%- 99,7%, khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức
Theo nghiên cứu của Trần Kim Thiêu, (2011) về ảnh hưởng các loài rong biển khác
nhau lên môi trường sống, tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm (Penaeus monodom) cho
thấy khi nuôi tôm sú kết hợp với rong Bún cho tỷ lệ sống cao (82,9% so với 75,3%)
Trần Chà Quyên, (2013) đánh giá khả năng sử dụng rong mền khô (Cladophoraceae) làm thức ăn trực tiếp cho cá tai tượng (Osphronemus goramy) Thí nghiệm gồm 4 NT:
1 sử dụng thức ăn viên (ĐC), nghiệm thức 2 và 3 cho ăn xen kẻ 1 ngày thức ăn viên_ 1