TÓM TẮT Chuyên đề thực hiện nhằm xác định sự biến động về mật số vi khuẩn Vibrio, Bacillus và ký sinh trùng trên hai nghiệm thức ương tôm càng xanh theo quy trình nước trong kín NT1 và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
o o oo o o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
MẬT SỐ VI KHUẨN VIBRIO sp., BACILLUS sp
VÀ KÝ SINH TRÙNG HIỆN DIỆN TRONG
ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH THEO QUY TRÌNH
NƯỚC TRONG KÍN VÀ NƯỚC XANH CẢI TIẾN
Sinh viên thực hiện:
Phạm Thị Huỳnh Như MSSV: 1153040052 Lớp: NTTS K6
Cần Thơ, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
o o oo o o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
MẬT SỐ VI KHUẨN VIBRIO sp., BACILLUS sp
VÀ KÝ SINH TRÙNG HIỆN DIỆN TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH THEO QUY TRÌNH
NƯỚC TRONG KÍN VÀ NƯỚC XANH CẢI TIẾN
Sinh viên thực hiện:
Phạm Thị Huỳnh Như MSSV: 1153040052 Lớp: NTTS K6 Cán bộ hướng dẫn
Ths Nguyễn Lê Hoàng Yến
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết khóa luận này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi
và các kết quả này chưa được công bố dùng trong bất cứ khóa luận nào cùng cấp
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2015
Sinh viên thực hiện
(Chữ ký)
Phạm Thị Huỳnh Như
Trang 4XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Đề tài nghiên cứu: “Mật số vi khuẩn Vibrio sp., Bacillus sp và ký sinh trùng hiện diện
trong ương ấu trùng tôm càng xanh quy trình nước trong kín và nước xanh cải tiến” Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Huỳnh Như
Lớp: Nuôi trồng thủy sản, khóa 6
Đề tài đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng bảo vệ khóa luận khoa Sinh học ứng dụng – Trường đại học Tây Đô ngày
14/09/2015
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, con xin bày tỏ lòng biết ơn thành kính nhất đối với cha mẹ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con học tập, dạy dỗ, lo lắng và là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất cho con vượt qua mọi khó khăn để con được như ngày hôm nay
Em xin bày tỏ lòng bết ơn sâu sắc đến cô - Ths Nguyễn Lê Hoàng Yến đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Cảm ơn thầy Tạ Văn Phương đã nhiệt tình hỗ trợ, theo dõi lớp trong suốt thời gian qua Với vai trò cố vấn học tập, thầy đã tạo điều kiện tốt nhất cho em cùng các bạn hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tiếp đến, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
Em xin cám ơn quý thầy cô Khoa Sinh học ứng dụng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt
cho em những kiến thức quý và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn trong tập thể lớp Nuôi trồng thủy sản K6 đã động viên và hỗ trợ để tôi có được thành công ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn với tấm lòng trân trọng!
Phạm Thị Huỳnh Như
Trang 6TÓM TẮT
Chuyên đề thực hiện nhằm xác định sự biến động về mật số vi khuẩn Vibrio, Bacillus và
ký sinh trùng trên hai nghiệm thức ương tôm càng xanh theo quy trình nước trong kín (NT1) và quy trình nước xanh cải tiến (NT2) Thí nghiệm được tiến hành trên 6 bể nhựa
có thể tích 60 lít/bể, ấu trùng được bố trí vào bể với mật độ 60 con/L
Các giá trị về thủy lý, thủy hóa ở hai nghiệm thức thực hiện đều phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
Trong mẫu nước ương, mật độ vi khuẩn tổng trung bình ở nghiệm thức NT1 cao hơn so với nghiệm thức NT2 Nhưng ngược lại với mật độ vi khuẩn tổng, mật độ vi khuẩn
Vibrio sp và Bacillus sp ở nghiệm thức NT2 cao hơn so với nghiệm thức NT1
Mật độ vi khuẩn tổng trong mẫu ấu trùng khá thấp chiếm 23% so mẫu nước ương Mật
độ vi khuẩn Bacillus sp., Vibrio sp trong mẫu ấu trùng lần lượt chiếm 27%, 12% so với
mật độ trong mẫu nước ương
Mật độ vi khuẩn trên mẫu vỏ Artemia khá cao so với mật độ vi khuẩn trên mẫu nước ương Mật độ vi khuẩn tổng trên mẫu vỏ Artemia cao hơn 6,4 lần so với mật độ vi khuẩn tổng trên mẫu nước ương Mật độ vi khuẩn Vibrio sp., Bacillus sp cao hơn 2,2 lần và 4,9
lần so với mật độ vi khuẩn trên mẫu nước ương
Trong quá trình ương, cả hai nghiệm thức đều nhiễm KST, tỷ lệ nhiễm trên vỏ Artemia
cao hơn so với trên ấu trùng và tỷ lệ nhiễm KST trên ấu trùng ở nghiệm thức nước trong kín luôn cao hơn so với nghiệm thức nước xanh cải tiến
Tỷ lệ sống của ấu trùng ở nghiệm thức ương TCX theo quy trình nước xanh cải tiến đạt 35,5% cao hơn và có ý nghĩa thống kê (α=0,5) so với tỷ lệ sống của ấu trùng ở nghiệm thức ương TCX theo quy trình nước trong kín là 18,5%
Cặn đáy bắt đầu được thu từ ngày ương thứ 10 sau khi cho ăn bổ sung thức ăn chế biến Mật độ vi sinh trên mẫu cặn đáy biến động khá lớn, mật độ vi khuẩn trong mẫu cặn đáy ở NT2 biến động ổn định và thấp hơn so với NT1
Từ khóa: Bacillus sp., ký sinh trùng, nước trong kín, nước xanh cải tiến, tôm càng xanh,
vi khuẩn tổng, Vibrio sp.,.
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT iii
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN iv
TÓM TẮT vi
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH viii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh 2
2.1.1 Phân loại và phân bố 2
2.1.2 Vòng đời tôm càng xanh 3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.4 Đặc điểm về sinh trưởng 3
2.2 Các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh hiện nay 4
2.2.1 Quy trình nước trong hở (Open – clear water systems) 4
2.2.2 Quy trình nước trong kín (Closed – clear water systems) 4
2.2.3 Quy trình nước xanh (Green water systems) 4
2.2.4 Quy trình nước xanh cải tiến (Modified static green water systems) 5
2.3 Tình hình sản xuất giống tôm càng xanh trong và ngoài nước 5
2.3.1 Trên thế giới 5
2.3.2 Trong nước 6
2.4 Sơ lược về vi khuẩn trong hệ thống ương 7
2.4.1 Vi khuẩn Bacillus sp 7
2.4.2 Vi khuẩn Vibrio sp 7
2.5 Sơ lược về ký sinh trùng (KST) trong hệ thống ương 8
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
Trang 83.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 10
3.2 Vật liệu nghiên cứu 10
3.3 Phương pháp nghiên cứu 10
3.3.1 Chuẩn bị thí nghiệm 10
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 11
3.3.3 Chăm sóc và quản lý thí nghiệm 11
3.3.4 Phương pháp thu mẫu 11
3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu 12
3.3.6 Xác định các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá của vi khuẩn Bacillus sp 14
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 14
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15
4.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường 15
4.1.1 Sự biến động của các yếu tố thủy lý 15
4.1.2 Sự biến động của các yếu tố thủy hóa 16
4.2 Sự biến động mật độ vi sinh trong mẫu nước ương 18
4.2.2 Mật độ của vi khuẩn Bacillus sp 21
4.2.3 Mật độ của vi khuẩn tổng 22
4.3 Sự biến động mật độ vi sinh trong mẫu ấu trùng 23
4.3.1 Vi khuẩn Vibrio sp 24
4.4.2 Mẫu cặn đáy 28
4.5 Ký sinh trùng 29
4.6 Tỷ lệ sống của ấu trùng 31
5.1 Kết luận 32
5.2 Đề xuất 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 Phụ lục 1: Sự biến động của các yếu tố thủy lý A Phụ lục 1.1: Biến động nhiệt độ sáng trong thí nghiệm A Phụ lục 1.2: Biến động nhiệt độ chiều trong thí nghiệm B Phụ lục 1.3: Biến động pH sáng trong thí nghiệm C Phụ lục 1.4: Biến động pH chiều trong thí nghiệm C Phụ lục 2: Sự biến động của các yếu tố thủy hóa D
Trang 9Phụ lục 2.2: Hàm lượng N–NO2– trong thí nghiệm D Phụ lục 3: Tỷ lệ biến thái và tỷ lệ sống của ấu trùng TCX F Phụ lục 3.1: Tỷ lệ biến thái của ấu trùng F Phụ lục 3.2: Tỷ lệ sống của ấu trùng TCX G Phụ lục 3.3 Kiểm định thống kê tỷ lệ sống với mức ý nghĩa 5% G Phụ lục 4: Kết quả kiểm tra các đặc điểm sinh hóa vi khuẩn H Phụ lục 5: Sự biến động mật độ vi sinh trên mẫu nước ương J
Phụ lục 5.1 Sự biến động mật độ của vi khuẩn Vibrio sp J Phụ lục 5.2 Tỷ lệ khuẩn lạc (xanh, vàng) của vi khuẩn Vibrio sp J Phụ lục 5.3: Sự biến động mật độ của vi khuẩn Bacillus sp K
Phụ lục 5.4: Sự biến động mật độ của vi khuẩn tổng L Phụ lục 6: Sự biến động mật độ của vi khuẩn trên mẫu ấu trùng TCX M
Phụ lục 6.1 Sự biến động mật độ của vi khuẩn Vibrio sp M Phụ lục 6.2 Tỷ lệ khuẩn lạc (xanh, vàng) của vi khuẩn Vibrio sp M Phụ lục 6.3: Sự biến động mật độ của vi khuẩn Bacillus sp N
Phụ lục 6.4: Sự biến động mật độ của vi khuẩn tổng O
Phụ lục 7: Sự biến động mật độ của vi khuẩn trên mẫu Artemia P Phụ lục 7.1 Sự biến động mật độ của vi khuẩn Vibrio sp P Phụ lục 7.2 Tỷ lệ khuẩn lạc (xanh, vàng) của vi khuẩn Vibrio sp P Phụ lục 7.3: Sự biến động mật độ của vi khuẩn Bacillus sp Q
Phụ lục 7.4: Sự biến động mật độ của vi khuẩn tổng R Phụ lục 8: Vi sinh trên mẫu cặn đáy S
Phụ lục 8.1: Sự biến động mật độ của vi khuẩn Vibrio sp S Phụ lục 8.2 Tỷ lệ khuẩn lạc (xanh, vàng) của vi khuẩn Vibrio sp S Phụ lục 8.3 Sự biến động mật độ của vi khuẩn Bacillus sp T
Phụ lục 8.4: Sự biến động mật độ của vi khuẩn tổng U Phụ lục 9: Tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm ký sinh trùng V Phụ lục 9.1: Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên ấu trùng tôm V Phụ lục 9.2: Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên ấu trùng tôm W Phụ lục 9.3: Cường độ nhiễm ký sinh trùng trên ấu trùng tôm X
Trang 10Phụ lục 9.4: Cường độ nhiễm ký sinh trùng trên vỏ Artemia Y
Phu lục 10: Thành phần thức ăn chế biến Z Phụ lục 11: Chế độ cho ăn của ấu trùng tôm càng xanh AA Phụ lục 12: Thành phần một số loại môi trường nuôi cấy vi khuẩn BB
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh 3
Bảng 3.1: Phương pháp xác định chỉ tiêu môi trường 12
Bảng 4.1: Biến động nhiệt độ (oC), pH trong thí nghiệm 15
Bảng 4.1: Mật độ vi khuẩn trong mẫu vỏ Artemia 27
Bảng 4.2: Mật độ vi khuẩn trong mẫu cặn đáy 28
Bảng 4.3: Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trong quá trình ương 30
Bảng 4.4: Tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 31
Trang
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Ký sinh trùng hình chuông trên ĐVTS 9
Hình 3.1: Hệ thống ương ấu trùng tôm càng xanh 13
Hình 3.2: Phương pháp pha loãng mẫu 13
Hình 4.1: Biến động hàm lượng TAN trong chu kỳ ương 16
Hình 4.2: Biến động hàm lượng N–NO2– trong chu kỳ ương 17
Hình 4.3: Biến động hàm lượng N–NO3– trong chu kỳ ương 18
Hình 4.4: Mật độ vi khuẩn trong mẫu nước ương 19
Hình 4.5: Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong mẫu nước ương 20
Hình 4.6: Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu nước ương 21
Hình 4.7: Mật độ vi khuẩn tổng cộng trong mẫu nước ương 22
Hình 4.9: Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong mẫu ấu trùng 24
Hình 4.10: Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu ấu trùng 25
Hình 4.11: Mật độ vi khuẩn tổng cộng trong mẫu ấu trùng 26
Trang
Trang 14CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là một trong những đối tượng có giá trị
kinh tế cao ở Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Theo báo cáo tóm tắt của viện kinh tế quy hoạch thủy sản – tổng cục thủy sản thì đến năm 2010 diện tích nuôi tôm càng xanh ở ĐBSCL ước đạt 7.437 ha, so với cả nước là 8.189 ha đạt 90,82%, năng suất trung bình là 0,8 tấn/ha, dù mang lại giá trị to lớn nhưng việc mở rộng diện tích gặp rất nhiều khó khăn do vấn đề về kỹ thuật, thời tiết, nguồn nước và con giống, Trong đó, vấn đề con giống đang được xem là một trong những vấn đề quan trọng nhất và cần thiết phải đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề trên
Hiện nay sản xuất giống tôm càng xanh có 4 quy trình được áp dụng trên thế giới là quy trình nước trong hở, quy trình nước trong kín, quy trình nước xanh và quy trình nước
xanh cải tiến (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003) Trong đó, quy trình nước trong kín
và quy trình nước xanh cải tiến được ứng dụng nhiều nhất
Điểm chung của 2 quy trình trên là linh động trên quy mô sản xuất, dễ thực hiện tại các trại thực nghiệm và đây là 2 quy trình ương tiết kiệm nước vì cả 2 đều không thay nước
trong suốt quá trình ương (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003) Vì vậy, hệ thống ương
sẽ có nhiều cặn bã do không hút cặn đáy bể (thức ăn, chất thải của ấu trùng, vỏ trứng
Artemia, ) làm giá thể tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và ký sinh trùng phát triển Trong đó nhóm Bacillus và nhóm Vibrio là những nhóm vi khuẩn cần được quan tâm và
theo dõi
Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài: “Mật số vi khuẩn Vibrio sp., Bacillus sp và ký sinh trùng hiện diện trong ương ấu trùng tôm càng xanh quy trình nước trong kín và nước xanh cải tiến” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Cung cấp thêm những thông tin về mật số vi khuẩn Vibrio, vi khuẩn Bacillus và ký sinh
trùng hiện diện trong hệ thống ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước trong kín và nước xanh cải tiến
1.3 Nội dung nghiên cứu
Xác định sự biến động về mật độ của: vi khuẩn tổng cộng, vi khuẩn Vibrio, vi khuẩn Bacillus trong môi trường nước ương ấu trùng, ấu trùng tôm, vỏ trứng Artemia và cặn
đáy
Xác định thành phần và hệ số nhiễm ký sinh trùng trên ấu trùng tôm càng xanh và trên vỏ
Artemia trong bể ương
So sánh mật độ vi sinh vật, ký sinh trùng đã được xác định của 2 quy trình ương
Trang 15CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh
2.1.1 Phân loại và phân bố
Tôm càng xanh (TCX) được phân loại theo Holthius (1980) và Barnes (1987) như sau: Ngành: Arthropoda
Loài: Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879)
Tên tiếng Anh: Giant Freshwater Prawn
Hình 1.1: Hình thái tôm càng xanh (nguồn: Forster and Wickins (1972))
Trong tự nhiên, TCX phân bố rộng ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, tập trung ở khu vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố
tự nhiên chủ yếu các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt vùng ĐBSCL Ngoài ra, ở các thủy vực độ
mặn cao từ 18 - 25‰ vẫn có sự hiện diện của tôm càng xanh (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
Trang 162.1.2 Vòng đời tôm càng xanh
Vòng đời TCX có 4 giai đoạn gồm: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành Tôm càng xanh thành thục, phát dục và giao vĩ đẻ trứng ở nước ngọt Trứng dính vào các chân bụng của tôm mẹ, khi ôm trứng tôm mẹ di cư ra vùng cửa sông nước lợ 6 – 18‰ để sinh sản, ở đó ấu trùng nở ra sống phù du
Ấu trùng (Nauplius) trải qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng (Post Larvae), lúc này tôm có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt, sống và lớn lên ở đây Khi trưởng thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ nơi có độ mặn thích hợp để sinh sản và tiếp tục vòng đời
(Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm càng xanh là loài ăn tạp nghiêng về động vật, theo Phạm Văn Tình (2004) trong tự nhiên khi kiểm tra dạ dày chúng thức ăn gồm có: nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các loài tảo và mùn bã hữu cơ
Khi ương ấu trùng TCX nếu không cấp đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau lúc lột xác, đây là đặc tính của loài Vì vậy, trong ương giống cần lưu ý vấn đề này nhằm nâng cao tỷ
lệ sống (Nguyễn Thanh Phương, 2003)
2.1.4 Đặc điểm về sinh trưởng
Tôm càng xanh phải trải qua 11 lần lột xác và biến thái để trở thành hậu ấu trùng Thời gian giữa hai lần lột xác của tôm phụ thuộc vào nhiệt độ, kích cỡ, giới tính, thức ăn và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn Việt Thắng, 1995)
Bảng 2.1 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh
Giai đoạn ấu
trùng Ngày tuổi Đặc điểm nhận dạng
IV 4 – 6 Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có 2 nhánh, có lông tơ
V 5 – 8 Các telson hẹp và có hình thon dài
VI 7 – 10 Có sự hiện diện của các núm chân bụng
VII 11 – 17 Các chân bụng chẻ đôi
VIII 13 – 20 Các chân bụng có các tơ cứng
IX 15 – 22 Nhánh chân trong của chân bụng xuất hiện
X 17 – 23 Có 3 – 4 răng trên chủy
XI 23 – 35 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy
PL 23 – 35 Có răng trên và dưới chủy, có tập tính giống tôm trưởng
thành
(Nguồn: Uno và Soo, 1969, trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
Sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng của tôm càng xanh không tăng liên tục mà theo hình bậc thang Tôm nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn, tôm đực lớn
Trang 17nhanh hơn tôm cái đặc biệt là về giai đoạn sau Tôm được bổ sung thức ăn là động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so với tôm ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn (Nguyễn Thanh Phương, 2003)
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2003) tỷ lệ sống của ấu trùng TCX (từ giai đoạn ấu
trùng đến PL) phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tôm bố mẹ Trong quá trình phát triển thì ấu trùng TCX có sự phân đàn và sự phân đàn lớn hay nhỏ tùy thuộc vào các điều kiện như: mật độ ương, nhiệt độ, dinh dưỡng,
2.2 Các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh hiện nay
Hiện nay, sản xuất giống TCX được áp dụng theo 4 quy trình: nước trong hở, nước trong kín, nước xanh và nước xanh cải tiến Mỗi quy trình ương đều có đặc điểm riêng biệt
2.2.1 Quy trình nước trong hở (Open – clear water systems)
Quy trình nước trong hở được khởi xướng bởi Ling vào năm 1969 và được hoàn thiện bởi Aquacop từ năm 1977 Đặc điểm của quy trình là sử dụng nước trong, đã qua lọc, khử trùng và không có tảo Ấu trùng được bố trí ương với mật độ cao, thực hiện thay nước hằng ngày Quy trình có ưu điểm là năng suất cao, tuy nhiên do quá trình thay nước hằng ngày nên tốn nhiều nước dẫn đến hạn chế địa điểm trại sản xuất (phải gần nguồn nước biển), hao phí nhân công và nhiều chi phí khác
2.2.2 Quy trình nước trong kín (Closed – clear water systems)
Quy trình nước trong kín được nghiên cứu bởi Sandifer (1970) và được hoàn thiện bởi Aquacop (1980) Năm 1984 quy trình được đưa vào sử dụng đại trà, quy trình đặc điểm: nước ương ấu trùng là nước trong, được lọc sạch, qua khử trùng, không có tảo và mật độ ương cao
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993) đây là một hệ thống mà ở đó nước nuôi được tái xử lý bằng các biện pháp như: lọc sinh học, lọc cơ học, hấp thụ vật lý, sục khí để tái sử dụng nguồn nước này Trong quy trình tuần hoàn kín hệ thống lọc sinh học là quan trọng nhất, được sử dụng chủ yếu để loại bỏ chất thải nitơ, chủ yếu từ amonia do ấu trùng và thức ăn
tươi (Artemia) trong quá trình bài tiết và từ sự phân hủy vật liệu hữu cơ
Về cơ bản việc ứng dụng quy trình nước trong kín mang lại một số ưu điểm như: tiết kiệm nước, giảm thiểu tác hại của môi trường, tiết kiệm nhân công Nhưng đây là quy trình ương khó, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, đầu tư nhiều trang thiết bị, vốn đầu tư lớn (Nguyễn Việt Thắng, 1993)
2.2.3 Quy trình nước xanh (Green water systems)
Quy trình được bắt đầu nghiên cứu bởi Fujimura năm 1966 hoàn thiện 1974, và được ứng
dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc điểm của quy trình là dùng tảo Chlorella cho vào bể
ương để duy trì màu nước xanh liên tục Ưu điểm của quy trình là hạn chế thay nước, tuy
Trang 18nhiên quy trình này chỉ thực hiện với mật độ ương thấp hơn so với quy trình nước trong, đòi hỏi kỹ thuật duy trì tảo trong bể ương
2.2.4 Quy trình nước xanh cải tiến (Modified static green water systems)
Quy trình nước xanh cải tiến được Ang et al., (1987) đề xướng, nguyên tắc chính của quy
trình là cho phép vi sinh vật và tảo phát triển tự nhiên trong bể ương để tự ổn định môi
trường nước Vỏ Artemia được cho trực tiếp vào bể làm giá thể cho vi sinh vật phát triển
Hệ thống này có nhiều ưu điểm là không phải thay nước, không vệ sinh bể và không bổ sung thêm tảo trong suốt quá trình ương (tảo chỉ cho vào bể ương một lần đầu trước khi thả ấu trùng), hệ thống rất đơn giản, chi phí thấp, dễ áp dụng cho nhiều đối tượng và
nhiều nơi, cả những vùng xa biển (được trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv.,
Fujimura đã dựa theo nghiên cứu của Ling và đưa ra quy trình nước xanh (green water systems) vào những năm 1965 – 1968 và được hoàn thiện năm 1974, sau đó được đưa vào ứng dụng rộng rãi
Năm 1973, Aquacop – Tahiti, đã bắt đầu nghiên cứu ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước trong hở (Open – clear water systems) dựa theo quy trình Galveston của tôm biển Theo Aquacop (1984) quy trình kỹ thuật cơ bản được xây dựng từ năm 1976 và hoàng thiện năm 1980 bởi ông
Đến khoảng thập niên 70, quy trình nước trong tuần hoàn kín (Closed – clear water systems) đã được nghiên cứu bởi một số tác giả như Sandifer (1977); Menasveta (1980); Singholka (1980) Đặc điểm của quy trình là dùng bể lọc sinh học để lọc nước từ bể ương
và cho tuần hoàn lại bể ương Nước trong tuần hoàn kín ra đời đã khắc phục nhược điểm hao phí nước trong quá trình ương, cũng như một số hạn chế khác của quy trình nước trong hở
Theo Aquacop (1977), hàm lượng đạm nitrit, amonia và khống chế chất lượng nước là vấn đề quan trọng trong quá trình ương giống tôm càng xanh
Nghiên cứu của Ang và Cheah (1979) tiến hành ương TCX khi cho ấu trùng ăn có bổ
sung cả vỏ Atermia đã làm cho nước xanh hơn Khi vỏ Atermia nằm dưới đáy bể sẽ là
một giá thể tốt giúp tảo và vi khuẩn phát triển từ đó góp phần làm sạch nước ương bởi
Trang 19quá trình chuyển hóa đạm Sau 54 ngày ương, tỷ lệ sống của ấu trùng ở độ mặn 6 – 8‰ là 36,9%
Đến năm 1986, Ang và Cheah đã tiến hành ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến và được ứng dụng khá phổ biến ở Malaysia với mật độ 25 con/L, tỷ lệ sống 36 – 77% ở nồng độ muối 12% Malecha (1983) ở Hawaii áp dụng quy trình sản xuất nước xanh, mật độ ương 60 con/L, một vài trại ương với mật độ 160 con/L, tỷ lệ sống 30 PL/L (Trích dẫn bởi Nguyễn Lê Hoàng Yến, 1999)
2.3.2 Trong nước
Ở nước ta, năm 1980 tại Hải Phòng và Vũng Tàu, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II
đã nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất TCX Tuy nhiên, lượng tôm giống vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu nuôi (Đào Mạnh Sơn, 2003)
Trường Đại học Cần Thơ và Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 từ những năm 1984
đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng các quy trình nước trong kín, nước trong hở, nước xanh để sản xuất giống TCX và đã đạt được những kết quả quan trọng Nguyễn Việt Thắng (1993) áp dụng quy trình sản xuất giống nước xanh với mật độ 40 – 50 ấu trùng/L đạt tỷ lệ sống 40,2%, quy trình nước trong hở với mật độ 60 – 100 ấu trùng/L đạt tỷ lệ sống 35,4%, quy trình nước trong kín với mật độ 70 ấu trùng/L tỷ lệ sống 24,9%
Nguyễn Lê Hoàng Yến (1999) đã ương TCX theo quy trình nước xanh cải tiến với mật
độ ương lần lượt 50, 100 và 150 ấu trùng/L và thức ăn duy nhất là Artemia Kết quả ương
cho thấy mật độ ương 50 con/L các yếu tố môi trường gần như tốt cho sự hoạt động của
ấu trùng, tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển PL cao nhất (19,46%) so với mật độ ương 150 con/L có
Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2000) đã nghiên cứu sản xuất TCX theo mô hình nước
xanh cải tiến với mật độ ấu trùng 60 con/L, chu kỳ ương thường 30 – 35 ngày, mật độ tảo ban đầu 1 triệu tế bào/mL Kết quả cho thấy tỷ lệ sống từ ấu trùng đến PL là rất tốt, trung bình đạt 52,6%
Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2006) tiếp tục nghiên cứu sản xuất TCX dựa trên nguồn
tôm bố mẹ thu từ tự nhiên, ao nuôi thương phẩm và tôm bố mẹ nuôi vỗ Kết quả cho thấy
số ấu trùng của tôm tự nhiên đạt cao nhất từ 7.950 – 25.859 ấu trùng/tôm cái, tôm nuôi vỗ
có số ấu trùng từ 9.308 – 23.626 ấu trùng/tôm cái và thấp nhất ở nguồn tôm nuôi thương phẩm Với chu kỳ ương khoảng 30 ngày, tỷ lệ sống của ấu trùng tôm nuôi vỗ (76,6%) cao hơn so với nguồn tôm thu từ tự nhiên (51,3%) và ao nuôi thương phẩm (62%)
Trang 20Lê Xuân Sinh (2008), mật độ ương ấu trùng TCX với quy trình nước xanh cải tiến là 66,9 con/L và năng suất PL12 – 15 của quy trình này là (12.880 con/m3/đợt) cao hơn các quy trình khác (10.800 con/m3/đợt) với tổng chi phí cho một đợt sản xuất khoảng 854.800 đồng/m3/bể ương
Vũ Thùy Phương Thảo (2010), thực hiện ương ấu trùng TCX theo quy trình nước xanh cải tiến với các mức nước ban đầu khác nhau là 25%, 50%, 75%, 100% Kết quả cho thấy với mức nước ban đầu là 50% ấu trùng có sự sinh trưởng, phát triển tốt và đạt tỷ lệ sống cao hơn các nghiệm thức khác
2.4 Sơ lược về vi khuẩn trong hệ thống ương
2.4.1 Vi khuẩn Bacillus sp
Bacillus là vi khuẩn gram dương thuộc giống Bacillaceae, thường được tìm thấy trong
môi trường có độ pH biến động cao, sinh trưởng dưới điều kiện hiếu khí hoặc kị khí
không bắt buộc Bacillus tồn tại khắp trong tự nhiên chúng thường sản sinh những chất
có hoạt tính sinh học nên được nghiên cứu sử dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học trên NTTS
Theo nghiên cứu của Xiang – Hong et al., (1998), nhóm Bacillus sp có các cơ chế tác
động như: ngăn chặn sự phát triển của nhóm vi khuẩn gây bệnh hoặc sản sinh ra các chất
ức chế sự phát triển của nhóm vi khuẩn gây bệnh, cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho vật nuôi, cung cấp một số enzyme cần thiết làm nâng cao khả năng tiêu hóa của vật nuôi, hấp thu hoặc đẩy mạnh quá trình phân hủy chất hữu cơ và chất độc trong môi trường nước làm cải thiện chất lượng môi trường nước
Verschuere (2000) đã nghiên cứu và công bố vi khuẩn Bacillus sp đóng vai trò quan
trọng trong việc cải thiện chất lượng nước do vi khuẩn này đạt hiệu quả cao trong việc chuyển đổi vật chất hữu cơ thành CO2 Do vậy, chúng làm giảm tích lũy chất hữu cơ và chất hòa tan trong môi trường nước ương ấu trùng
2.4.2 Vi khuẩn Vibrio sp
Theo Đỗ Thị Hòa (2004) giống Vibrio sp thuộc họ Vibrionaceae, có dạng hình que hay
dấu phẩy, kích thước tế bào 0,3 – 0,5µm x 1,4 – 2,6 µm Chúng là vi khuẩn gram âm,
không tạo bào tử và có khả năng di động bởi một hoặc nhiều roi Nhóm Vibrio là nhóm vi
khuẩn gây bệnh cơ hội, chúng tồn tại trong môi trường nước nuôi như một thành phần của quần thể sinh vật tự nhiên trong ao nuôi, khi gặp điều kiện bất lợi chúng trở thành vi khuẩn có khả năng gây bệnh
Nhóm vi khuẩn thuộc giống Vibrio sp đã gây thiệt hại lớn về kinh tế trong nuôi tôm công
nghiệp tại Philippin, Ấn Độ, Indonexia là nhóm vi khuẩn có khả năng phát sáng gây ra
như: V harveyi, V splendida, V orientalis, V ifscheri, V.vulnificus Ở Việt Nam, những dạng vi khuẩn phát sáng thường được thấy ở trại sản xuất giống hay ương giống, Vibrio
Trang 21phát sáng có thể phát thành dịch và gây chết 100% ấu trùng tôm, tôm giống và kể cả tôm trưởng thành (Đặng Thị Hoàng Oanh, 2005)
2.5 Sơ lược về ký sinh trùng (KST) trong hệ thống ương
Theo Bùi Quang Tề (2006) bệnh KST do trùng loa kèn gây ra chủ yếu thuộc 2 họ và có 4 giống, được phân loại như sau
Giống: Zoothamnium Bory de St Vincent, 1826
Ký sinh trùng (KST) xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của tôm, làm giảm khả năng
đề kháng, cản trở hô hấp và di chuyển, nhất ở giai đoạn ấu trùng (Thái Thanh Bình, 2011)
Trang 22
Hình 2.1: Ký sinh trùng hình chuông trên ĐVTS
Trùng hình chuông hay còn gọi là trùng loa kèn là loại KST chủ yếu trên ấu trùng tôm, có dạng hình loa kèn, hình chuông lộn ngược Cơ thể chúng phía trước có 1 – 3 vòng lông rung và khe miệng, phía sau có cuống để bám vào bất kỳ các giá thể nào Trùng loa kèn
ký sinh trên ĐVTS có 4 giống gồm: Vorticella, Zoothamnium, Epistylis và Apiosoma Trong đó, giống Epistylis, Zoothamnium hình thành lập đoàn và các cá thể liên kết với
nhau bởi nhánh đuôi Trùng loa kèn sinh sản sinh dưỡng và ăn lọc trong môi trường nước (Bùi Quang Tề, 2006)
Theo Nguyễn Chí Thanh (2005), trong sản xuất giống tôm sú cũng như tôm càng xanh bệnh dính chân hay xuất hiện và ảnh hưởng lớn đến ấu trùng Nguyên nhân do các loài nguyên sinh động vật, tảo bám vào các lông tơ của ấu trùng; với số lượng nhiều tôm bơi khó khăn và các lông tơ rụng dần, sau đó tổn thương phần phụ như chân bụng, đuôi, chủy,
Trang 23CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: thí nghiệm được tiến hành từ tháng 10/2014 đến tháng 05/2015
Địa điểm: nghiên cứu được thực hiện tại trại thực nghiệm khoa Sinh học ứng dụng – Trường Đại học Tây Đô và phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm Sinh hóa – Thủy sản, khoa Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Tây Đô
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Bể composite (2m3) dùng để chứa và xử lý nước
Bể ương gồm: 6 xô nhựa có thể tích 60 lít/xô
Bể chứa tôm mẹ, bể cho tôm nở có thể tích 500 lít
Bể ấp Artemia và bể nuôi tảo có thể tích là 80 lít
Dụng cụ trang thiết bị: Máy sục khí, đá bọt, cốc thủy tinh 50 mL, ống nhỏ giọt, vợt
Artemia, túi lọc vải, nhiệt kế, khúc xạ kế, kính hiển vi, cân điện tử, nồi, bếp gas
Môi trường TCBS (Thiosulphate Citrate Bilesalt Sucrose Agar), môi trường TSA (Trypticase Soy Agar), môi trường NA+ (Nutrient Agar)
Hóa chất phân tích các chỉ tiêu môi trường như: TAN, N –NO2– , N –NO3–
3.3 Phương pháp nghiên cứu
sử dụng phải kiểm tra lượng Chlorine dư và trung hòa bằng Na2S2O3 (Natrithiosunfat) và lọc qua túi lọc trước khi bố trí thí nghiệm
Tảo: Tảo sử dụng trong quy trình nước xanh cải tiến là tảo Chlorella được nuôi và duy trì
mật độ bằng nước nuôi cá rô phi, bể nuôi tảo có thể tích 70L, được đặt trong trại có mái che và phải đảm bảo đủ ánh sáng cho tảo phát triển
Tôm bố mẹ: Tôm mang trứng được mua từ các chợ hay ghe cào, chọn ra những con khỏe
mạnh, không xây xát, không có dấu hiệu bệnh, có trọng lượng từ 30 – 80 g/con và trứng
có màu nâu sậm
Tôm mẹ được xử lý bằng formaline (20 – 25 ppm) trong 30 phút, sau đó đưa vào bể ấp với độ mặn 8 – 12 ‰
Trang 24Thu và định lượng ấu trùng: ấu trùng sau khi nở được thu bằng phương pháp hướng quang như sau: che tối bể nở, chỉ dành ra một khoảng sáng, ngưng sục khí và dùng ống nhựa thu ấu trùng Ấu trùng được tắm qua formaline 200 ppm trong 30 giây trước khi bố trí vào bể ương
3.3.2 Bố trí thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm gồm 6 bể nhựa, có thể tích 60 lít/bể Ấu trùng được bố trí vào bể với mật độ 60 con/L mức nước ương ban đầu là 50% thể tích bể ương
Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại
Nghiệm thức 1 (NT1): Ương tôm càng xanh theo quy trình nước trong kín
Nghiệm thức 2 (NT2): Ương tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến
3.3.3 Chăm sóc và quản lý thí nghiệm
Ngày đầu tiên không cho ấu trùng ăn, bắt đầu từ ngày thứ 2 hằng ngày cho ăn Artemia bung dù vào buổi sáng (6 giờ) và buổi chiều (17 giờ), mật độ Artemia cho ấu trùng ăn
đảm bảo từ 2 – 3 con/mL
Ấu trùng đạt giai đoạn 4 trở đi, bắt đầu cho ăn thức ăn chế biến (Phụ lục 10) 3 lần/ngày
vào lúc 8 giờ, 12 giờ và 15 giờ; kết hợp cho ấu trùng ăn Artemia 1 lần/ngày vào lúc 17 –
18 giờ
Thức ăn chế biến được rây qua các mắt lưới thích hợp với từng giai đoạn phát triển của
ấu trùng, cho ăn theo nhu cầu của ấu trùng Chế độ cho ăn trong thí nghiệm được thực hiện theo Phụ lục 11
3.3.4 Phương pháp thu mẫu
3.3.4.1 Phương pháp thu các chỉ tiêu thủy lý hóa
Nhiệt độ (0C): được đo vào lúc 8 giờ và 14 giờ, dùng nhiệt kế thủy ngân cho vào bể nước cần xác định nhiệt độ Sau 5 – 10 phút, quan sát vạch thủy ngân dâng lên đến đâu thì nhiệt độ của bể được xác định ở mức đó
pH (đo bằng phương pháp so màu): rửa lọ bằng nước cần đo pH nhiều lần, lấy chính xác 10mL, nhỏ vào lọ 2 giọt pH Test, lắc đều, so màu nước trong lọ với bảng màu chuẩn Các chỉ tiêu thủy hóa: TAN, N–NO2 , N–NO – được thu mẫu trước khi bố trí ấu trùng vào
bể ương và sau đó thu định kỳ 5 ngày/lần trong suốt thời gian ương
3.3.4.2 Phương pháp thu mẫu vi sinh
Mẫu nước xác định vi sinh vật được thu bằng dụng cụ đã tiệt trùng và thu trực tiếp, cách mực nước 20-30 cm.Sau đó trữ lạnh ngay ở 40C và tiến hành phân tích trong vòng 2 giờ
Trang 25Định kỳ thu mẫu 3 ngày/lần, mẫu thu gồm: mẫu nước cấp, nước ương ấu trùng, vỏ
Artemia theo thời gian, mẫu cặn đáy
Mẫu cặn đáy được thu bằng bộ dụng cụ thu mẫu làm bằng ống nhựa đã tiệt trùng bằng Chlorine nồng độ 5 – 10 ppm hoặc cồn 70
Mẫu ấu trùng thu 5 ấu trùng/bể và được nghiền với 1mL nước muối sinh lý đã được tiệt trùng
Mẫu vi sinh sau khi thu sẽ được pha loãng và cấy trên môi trường NA+1,5% muối NaCl, TCBS agar và TSA +1,5% muối NaCl để xác định mật độ vi khuẩn
3.3.4.3 Phương pháp thu mẫu ký sinh trùng
Ký sinh trùng được quan sát và ghi nhận 3ngày/lần, mỗi lần kiểm tra ngẫu nhiên 30 ấu trùng/nghiệm thức bằng kính hiển vi ở vật kính 10X, 40X Xác định tỷ lệ nhiễm và cường
độ nhiễm KST trên ấu trùng
3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu
3.3.5.1 Phương pháp phân tích mẫu môi trường
Các chỉ tiêu TAN, N–NO2, N–NO3 phân tích bằng các phương pháp ở Bảng 3.1:
Bảng 3.1 Phương pháp xác định chỉ tiêu môi trường
Nhiệt độ Đo trực tiếp trong bể thí nghiệm, ghi nhận kết quả trên nhiệt kế
N–NO2 – Phương pháp Griess llosvay
N–NO3 – Phương pháp Salycilate
3.3.5.2 Phương pháp phân tích mẫu vi sinh
Mẫu ấu trùng sau khi thu (5 con/bể) đem nghiền với 1 mL nước muối sinh lý, khuấy đều sau đó dùng phương pháp pha loãng để cấy vi khuẩn
Mẫu cặn đáy thu 1g cặn đáy/bể với 1 mL nước cất, khuấy đều sau đó dùng phương pháp pha loãng để cấy vi khuẩn
Phương pháp pha loãng: Chuẩn bị 3 ống nghiệm chứa 9 ml nước muối sinh lý (0,85%), thanh trùng 121oC trong thời gian 15 phút
Tại phòng thí nghiệm lấy mẫu nước ra khỏi tủ mát, để nhiệt độ phòng, dùng pipet hút 1mL nước mẫu cho vào ống nghiệm 1, trộn đều mẫu để có độ pha loãng 10-1 Từ mẫu đó
Trang 26rút 1 mL cho vào ống nghiệm 2, được mẫu có độ pha loãng 10-2 Tiếp tục rút 1mL từ ống nghiệm 2 cho vào ống nghiệm 3, được mẫu có độ pha loãng là 10-3
10 – 1 10 – 2 10 – 3
Hình 3.2: Phương pháp pha loãng mẫu
Phương pháp xác định mật số vi khuẩn: dùng micropipet hút 0,1 mL dung dịch từ các mẫu pha loãng và dung dịch mẫu nước ban đầu cho vào đĩa môi trường rồi dùng que thủy tinh tán đều đến khi khô và đánh dấu
Các thao tác được thực hiện trong điều kiện vô trùng Mẫu được ủ trong tủ ấm ở nhiệt độ
28 – 38oC với đĩa petri úp ngược trong thời gian 24 giờ Kết quả được xác định thông qua việc đếm số khuẩn lạc trên các đĩa agar
Vi khuẩn Vibrio sp được xác định bằng cách đếm số khuẩn lạc trên đĩa petri chứa môi
trường TCBS, đĩa có số khuẩn lạc >200 được chọn để tính kết quả
Tương tự, vi khuẩn tổng số được xác định bằng cách đếm số khuẩn lạc trên đĩa thạch chứa môi trường NA+ và vi khuẩn Bacillus sp trên môi trường TSA+, các đĩa có số khuẩn lạc >500 được chọn để tính kết quả theo công thức:
3.3.5.3 Ký sinh trùng
Mức độ nhiễm KST được tính theo phương pháp của Margollis et al (1982) Tỷ lệ nhiễm
được xác định qua tất cả các loài KST
Tỷ lệ nhiễm KST trên ấu trùng được tính theo công thức sau:
Trang 27Đối với nhóm KST nhỏ và chỉ nhìn thấy bằng kính hiển vi thì quan sát ở vật kính 10X, 40X rồi đếm số KST có trên một lame Nếu số KST quá nhiều thì đếm số KST trong thị trường
Cường độ nhiễm = số KST/ lame (KST nhỏ và ít) (3.3)
Cường độ nhiễm = số KST/ thị trường (KST nhỏ và nhiều) (3.4)
Tính cường độ cảm nhiễm của nhóm KST có kích thước nhỏ và sống thành tập đoàn như
Epitylis, Ichthyonyctus,… (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2008)
Cường độ nhiễm KST nặng (>100 tế bào/lame): +++
Cường độ nhiễm KST trung bình (10-90 tế bào/lame): ++
Cường độ nhiễm KST nhẹ (<10 tế bào/lame): +
3.3.6 Xác định các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá của vi khuẩn Bacillus sp
Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa nhằm định danh các dòng vi khuẩn
được áp dụng theo Andretta et al., (2004) Xác định tính di động, sản sinh Catalase, khả
năng thủy phân tinh bột (Starch hydrolyis) được thực hiện theo tài liệu hướng dẫn thực tập giáo trình chuyên môn bệnh học thủy sản (Đặng Thị Hoàng Oanh, 2007)
Phương pháp nhuộm Gram thực hiện theo Sharmin and Rahman (2007) Nhuộm bào tử
theo Brown (2005) thủy phân Casein theo Elnasser et at., (2007), (trích dẫn bởi Lâm
Trung Tính, 2009)
3.3.7 Thu hoạch
Khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn PL trên 80%, tiến hành hạ độ mặn (giảm từ 2 – 3‰/ngày), đến khi độ mặn đạt 0‰ bắt đầu thu ấu trùng, đếm số lượng PL và ấu trùng còn lại/bể, xác định tỷ lệ sống theo công thức:
3.4 Phương pháp phân tích số liệu
Các số liệu thu thập được tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và viết bài bằng phần mềm Microsoft Word
Tổng số ấu trùng ban đầu
Số lượng PL thu được
(3.5)
Trang 28CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Sự biến động của các yếu tố môi trường
4.1.1 Sự biến động của các yếu tố thủy lý
Nhiệt độ
Nhiệt độ nước là yếu tố quan trọng có tác động trực tiếp đến quá trình hô hấp cũng như chuyển hóa vật chất dinh dưỡng trong môi trường nuôi, có liên quan rất lớn đến sự lột
xác và phát triển của ấu trùng TCX (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
Nhiệt độ sáng và chiều ở các nghiệm thức tương đối ổn định, dao động trong khoảng từ 25,00C – 31,50C nằm trong khoảng thích hợp cho ấu trùng phát triển tốt (Nguyễn Thanh
Phương và ctv., 2003) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các nghiệm thức không lớn trong suốt
quá trình ương, sự chênh lệch nhiệt độ giữa buổi sáng và buổi chiều khá cao (± 6,50C), nguyên nhân là do thời gian bố trí thí nghiệm có sự biến đổi thời tiết thất thường, trời hay mưa vào buổi sáng và nắng gắt vào buổi chiều làm cho nhiệt độ buổi sáng thấp nhưng buổi chiều lại khá cao
Bảng 4.1: Biến động nhiệt độ ( o C), pH trong thí nghiệm
xác (Trương Quốc Phú, 2006)
Trong suốt quá trình thí nghiệm, pH tương đối ổn định và dao động trong khoảng từ 7,9 –
8,5, nằm trong khoảng thích hợp cho ấu trùng Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv.,
2003, pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng tôm càng xanh từ 7 – 8,5 Trong thí nghiệm có những thời điểm pH xuống mức 7,9 vào buổi sáng và tăng lên 8,5 vào buổi chiều (Bảng 4.1), nguyên nhân do sự quá trình quang hợp và hô hấp của tảo trong bể ương Nhưng sự chênh lệch pH trong ngày ± 0,6 đơn vị, thấp hơn khoảng cho phép là 1 đơn vị vì vậy sự chênh lệch pH trong ngày không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
và phát triển của ấu trùng
Trang 294.1.2 Sự biến động của các yếu tố thủy hóa
4.1.2.1 Tổng đạm Ammonia (Total Ammonia Nitrogen – TAN)
Hàm lượng TAN trong thí nghiệm dao động từ 0,447 – 2,727 mg/L khá cao so với mức cho phép Nguyên nhân hàm lượng TAN tăng do quá trình tích lũy vật chất hữu cơ, chất thải của ấu trùng dưới đáy bể, phù hợp với nhận đinh của Nguyễn Việt Thắng (1993), lượng Ammonia trong bể ương hình thành và tăng lên do sự phân hủy của protein trong
thức ăn dư thừa, sản phẩm thải của ấu trùng tôm và Artemia
Trong quá trình thí nghiệm hàm lượng TAN tăng nhanh đến ngày ương thứ 10 rồi bắt đầu
ổn định cho đến cuối chu kỳ ương Từ ngày ương thứ 15 hàm lượng TAN ở nghiệm thức ương tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến (NT2) tăng cao và đạt đỉnh điểm vào ngày ương thứ 20 (2,73 mg/L), sau đó có xu hướng giảm dần đến cuối chu kỳ ương
và đạt 1,86 mg/L thấp hơn so với NT1 0,52 mg/L Riêng với NT2 thì hàm lượng TAN biến động nhiều hơn so với nghiệm thức ương tôm càng xanh theo quy trình nước trong
kín (NT1) do ở NT2 có sự phân hủy của tảo Chlorella khi thoái hóa
Hình 4.1: Biến động hàm lượng TAN trong chu kỳ ương
Theo Straus and et al., (1991), ấu trùng TCX không thể chịu được nồng độ N–NH4+ > 2 mg/L ở pH 8,5 (trích bởi Boyd and Zimmermann, 2000) Nhưng theo Nguyễn Thanh
Phương và ctv., (2003), khi ương ấu trùng tôm càng xanh trong hệ thống nước xanh, hàm
lượng N–NH4+ có thể lên đến 5 mg/L vẫn chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm do ấu trùng thích nghi cao với sự thay đổi từ từ của môi trường nước ương Như vậy, hàm lượng TAN ở cả hai quy trình ương đều thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
Hàm lượng N–NO2– trong thí nghiệm dao động theo chiều hướng tăng dần và đạt giá trị cao nhất vào ngày thứ 15 (2,45 mg/L) ở NT2 và cao gấp 1,24 lần so với NT1 Hàm lượng N–NO2– trung bình trong thí nghiệm trong khoảng từ 1,362 mg/L và 1,428 mg/L
0.00.51.01.52.02.53.0
Trang 30Khuynh hướng biến động N–NO2– của hai nghiệm thức tương đối khác nhau, ở NT2 hàm lượng N–NO2– tăng vọt rồi đạt đỉnh điểm vào ngày ương thứ 15 (2,45 mg/L), sau đó bắt đầu giảm xuống đến cuối chu kỳ ương và đạt 1,64 mg/L NT1 có khuynh hướng biến động khá ổn định, tăng nhẹ đến ngày ương thứ 5 (tăng 0,09 mg/L so với ngày ương đầu)
và tăng mạnh đến ngày ương thứ 10 (tăng 8,62 lần so với ngày ương thứ 5), nguyên nhân
có thể là do ở ngày ương thứ 10 đã có 40% ấu trùng ở giai đoạn 5 ấu trùng đang ăn bổ sung thức ăn chế biến nên thức ăn dư thừa tan vào nước ương, lắng đáy gây tích tụ vật chất dinh dưỡng trong bể ương Bên cạnh đó, trong thời gian này ấu trùng có dấu hiệu bị nhiễm KST với tỷ lệ nhiễm là 3,33% (Phụ lục2.2)
Hình 4.2: Biến động hàm lượng N–NO 2 – trong chu kỳ ương
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv., hàm lượng N–NO2– nên được duy trì dưới mức cho phép (< 0,1 mg/L), nhưng trong ương ấu trùng tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến hàm lượng N–NO2 có thể lên đến 2 mg/L vẫn không ảnh hưởng đến ấu trùng Như vậy, hàm lượng N–NO2– trong thí nghiệm rất cao, vượt quá ngưỡng an toàn nhưng
ấu trùng vẫn phát triển, điều này góp phần khẳng định khả năng thích nghi cao của ấu trùng TCX với sự thay đổi dần của môi trường nước ương, phù hợp với nhận định của Nguyễn Thanh Phương (2003)
Trong suốt quá trình thí nghiệm, hàm lượng N–NO3– biến động theo có quy luật tăng dần đến giữa chu kỳ ương (ngày 15 – 20) và giảm dần khi về cuối chu kỳ ương Sự tích lũy dinh dưỡng cùng với chu trình chuyển hóa đạm từ dạng NH3/NH4+ thành dạng N–NO2–
và N–NO3– diễn ra mạnh ở giữa chu kỳ ương nên kích thích sự phát triển của tảo
0.00.51.01.52.02.53.0
Trang 31Hình 4.3: Biến động hàm lượng N–NO 3 – trong chu kỳ ương
Hàm lượng N–NO3– trung bình đạt 4,29 mg/L ở NT1 và 4,83 mg/L ở NT2 Hàm lượng N–NO3– đạt giá trị cao nhất ở NT2 (9,76 mg/L) vào ngày ương thứ 20 cao gấp 33,7 lần
so với nghiên cứu sử dụng dịch trùn quế Promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh của Nguyễn Bảo Trung (2012) là 0,29 mg/L Nguyên nhân hàm lượng Nitrate cao có thể do nghiên cứu được thực hiện theo quy trình kín, không thay nước, không sử dụng bất cứ hóa chất nào can thiệp vào môi trường bể ương trong suốt thời gian thí nghiệm Từ đó, vật chất dinh dưỡng tích tụ làm tăng hàm lượng đạm Ammonia cao (TAN cao), sản phẩm trung gian (Nitrite) kém bền dễ bị chuyển sang Nitrate Bên cạnh đó nhiệt độ và pH khá cao cũng góp phần thúc đẩy quá trình Nitrate hóa xảy ra nhanh chóng
Trong chu kỳ ương, hàm lượng N–NO3– dao động trong khoảng 1,48 – 9,76 mg/L
Nguyễn Thành Phương và ctv., (2003) cho rằng, trong ương ấu trùng tôm càng xanh hàm
lượng N–NO3– tốt nhất nên kiểm soát dưới 20 mg/L và duy trì ở khoảng 0,1 – 10,0 mg/L
Vì vậy, hàm lượng N–NO3– trong thí nghiệm rất thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
4.2 Sự biến động mật độ vi sinh trong mẫu nước ương
Suốt thời gian thí nghiệm, mật độ vi khuẩn Vibrio sp và Bacillus sp trong hai nghiệm
thức biến động khá tương đồng và theo một quy luật nhất định, tăng dần qua các lần thu sau đó giảm dần khi chu kỳ ương kết thúc Riêng vi khuẩn tổng lại có biến động khá lớn, mật độ cao, biến động tăng dần đến ngày ương thứ 16 tăng vọt và đạt giá trị cao nhất vào ương thứ 25 sau đó giảm khi về cuối chu kỳ (Hình 4.4)
0.02.04.06.08.010.012.0
Trang 32Hình 4.4: Mật độ vi khuẩn trong mẫu nước ương
Trong mẫu nước ương, mật độ vi khuẩn tổng trung bình ở nghiệm thức nước trong đạt 1,45 x104 CFU/mL cao hơn 1,25 lần so với nghiệm thức nước xanh cải tiến với mật độ là 1,16 x104 CFU/mL Nhưng ngược lại với mật độ vi khuẩn tổng, mật độ vi khuẩn Vibrio
sp và Bacillus sp ở nghiệm thức nước xanh cải tiến cao hơn so với nghiệm thức nước trong kín Cụ thể, mật độ vi khuẩn Vibrio sp ở nghiệm thức nước xanh cải tiến là 3,51
x103 CFU/mL cao hơn 1,73 lần so với nghiệm thức nước trong (2,03 x103 CFU/mL), mật
độ vi khuẩn Bacillus sp ở nghiệm thức nước xanh cải tiến là 4,45 x103 CFU/mL cao hơn 1,77 lần so với nghiệm thức nước trong kín với mật độ là 2,52 x103 CFU/mL
4.2.1 Mật độ của vi khuẩn Vibrio sp
Trong suốt quá trình thí nghiệm, mật độ vi khuẩn Vibrio sp biến động khá lớn (0 –
9,8 x103 CFU/mL) Vào những ngày đầu, vi khuẩn Vibrio sp gần như không xuất hiện, đến ngày ương thứ 7 vi khuẩn Vibrio sp bất đầu xuất hiện với mật độ khá thấp (140
CFU/mL ở quy trình nước trong kín và 220 CFU/mL ở quy trình nước xanh cải tiến) sau
đó tăng dần đến giữa chu kỳ ương Do cả hai quy trình đều không thay nước trong suốt quá trình ương nên quá trình tích lũy chất thải của tôm, thức ăn thừa là nguyên nhân làm giảm chất lượng nước ương (hàm lượng TAN và N–NO2– dao động 1,97 – 2,19 mg/L và
3,67 – 5,83 mg/L) tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Vibrio sp phát triển Theo Từ
Trang 33Thanh Dung và ctv, (2005) vi khuẩn Vibrio sp thường phát triển ở môi trường nước giàu
dinh dưỡng, nhiều chất hữu cơ
Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong mẫu nước biến động theo quy luật tăng dần qua các lần
thu và đạt đỉnh điểm (9,8 x103 CFU/mL) vào ngày ương thứ 22 ở giữa chu kỳ rồi bắt đầu giảm xuống đến hết chu kỳ Từ ngày ương thứ 25, ở cả hai quy trình, mật độ của vi khuẩn
ương thứ 22 và đạt 0,18 x103 – 0,17 x103 CFU/mL ở ngày ương thứ 31 Cuối chu kỳ
ương mật độ vi khuẩn Vibrio sp giảm xuống còn 30 CFU/mL (nghiệm thức nước xanh
cải tiến) và 70 CFU/mL (nghiệm thức nước trong kín) thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Bảo Trung (2014), là 155 CFU/mL ở nghiệm thức đối chứng
Hình 4.5: Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong mẫu nước ương
Qua hình 4.9 cho thấy mật độ vi khuẩn Vibrio sp ở nghiệm thức NT1 và ổn định hơn so
với nghiệm thức NT2 Vào những ngày đầu chu kỳ và cuối chu kỳ mật độ vi khuẩn ở hai nghiệm thức tương đương nhau và khá thấp < 240 CFU/mL Nghiệm thức NT2 luôn có
mật độ vi khuẩn Vibrio sp cao hơn có thể do khi bổ sung tảo Chlorella sp vào ngày
ương thứ 5 (nước tảo mang vi khuẩn) khi cấp và chất lượng môi trường nước ương thấp hơn (hàm lượng N–NO2– cao hơn 1,31 lần ở ngày ương thứ 15 và TAN cao hơn 1,14 lần
ở ngày thu thứ 20) so với nghiệm thức còn lại
Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trung bình ở nghiệm thức nước trong kín là 2,02 x103
CFU/mL và đạt 3,5 x103 CFU/mL ở nghiệm thức nước xanh cải tiến, khá thấp so với kết quả nghiên cứu của Phó Văn Nghị (2011) là 5,21 x104 CFU/mL nhưng vẫn cao hơn so
với lý thuyết Theo khuyến cáo của Bộ Thủy sản (2000), mật độ vi khuẩn Vibrio sp
không được lớn hơn 500 CFU/mL nhằm hạn chế khả năng gây hại của vi khuẩn nhưng
Trang 34Trần Thị Tuyết Hoa và ctv., (2004) cho rằng, mật số vi khuẩn Vibrio sp từ 105 – 107
CFU/mL mới có khả năng gây độc đối với ấu trùng tôm càng xanh
Như vậy, mật độ vi khuẩn Vibrio sp trung bình ở nghiệm thức nước xanh cải tiến cao
hơn 1,7 lần so với nghiệm thức nước trong kín, tuy nhiên vẫn nằm trong khoảng phù hợp (<105 CFU/mL) không ảnh hưởng đến đời sống và phát triển của ấu trùng tôm càng xanh
4.2.2 Mật độ của vi khuẩn Bacillus sp
Trong suốt quá trình thí nghiệm, vi khuẩn Bacillus sp biến động lên tục và không theo bất cứ quy luật nào, mật độ vi khuẩn Bacillus sp vào những ngày đầu khá thấp (0,34 x103
– 0,89 x103 CFU/mL) sau đó tăng dần đến cuối chu kỳ ương
Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trung bình ở nghiệm thức nước trong kín là 3,46 x103
CFU/mL thấp hơn 1,38 lần so với nghiệm thức nước xanh cải tiến là 4,79 x103 CFU/mL Nghiệm thức ương TCX theo quy trình nước xanh cải tiến có mật độ cao nhất vào ngày ương thứ 25 (9,43 x103 CFU/mL) rồi giảm xuống còn 3,05 x103 CFU/mL khi đến ngày ương thứ 28 sau đó tăng nhẹ khi vào cuối chy kỳ (7,07 x103 CFU/mL vào ngày ương thứ 34) Nghiệm thức ương TCX theo quy trình nước trong kín có mật độ cao nhất vào ngày ương thứ 31 (7,69 x103 CFU/mL) và cao gấp 8,7 lần so với ngày thứ 1 của quy trình ương (0,89 x103 CFU/mL)
Hình 4.6: Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu nước ương
Nhìn chung, mật độ trung bình của vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu nước là 4,12 x103
CFU/mL cao hơn 1,6 lần với mật độ của vi khuẩn Vibrio sp 2,58 x103 CFU/mL Điều đó
chứng tỏ khi mật độ của vi khuẩn Bacillus sp trong môi trường nước ương cao sẽ gây ức chế sự phát triển của nhóm vi khuẩn Vibrio sp., góp phần ức chế các tác nhân gây bệnh
Trang 35do nhóm Vibrio sp gây ra, giảm ô nhiễm nước ương (vào ngày ương thứ 25 mật độ vi khuẩn Bacillus sp cao nhất đạt 9,43 x103 CFU/mL thì hàm lượng TAN, N–NO2– , N–
NO3– giảm lần lượt là 0,56 mg/L, 0,35 mg/ và 4,71 mg/L so với ngày ương thứ 22)và
tăng tỷ lệ sống của ấu trùng cũng như nâng cao chất lượng ấu trùng
4.2.3 Mật độ của vi khuẩn tổng
Vi khuẩn tổng trong mẫu nước ương biến động khá tương đồng với mật độ vi khuẩn
Vibrio sp trong quá trình thí nghiệm Mật độ vi khuẩn tổng tăng dần và đạt giá trị cao
nhất vào ngày ương thứ 22 (7,91 x105 CFU/mL) rồi giảm xuống đến khi kết thúc chu kỳ Mật độ của vi khuẩn tổng trung bình trong thí nghiệm 2,17 x105 CFU/mL cao hơn gấp 70
lần so với mật độ Vibrio sp (3,9 x103 CFU/mL) và cao hơn 64 lần so với mật độ Bacillus
sp (4,12 x103 CFU/mL)
Mật độ vi khuẩn khá thấp ở những ngày đầu chu kỳ (5 x103 – 41 x103 CFU/mL) và tăng mạnh sau ngày ương thứ 10, nguyên nhân có thể do lúc này ấu trùng đã chuyển dần sang giai đoạn ăn bổ sung thức ăn chế biến (40% ấu trùng ở giai đoạn V) có hàm lượng đạm cao làm ảnh hưởng đến môi trường nước ương (hàm lượng TAN, N–NO2– dao động từ 0,99 – 1,43 mg/L và 1,48 – 1,61 mg/L) tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển làm tăng mật độ của vi khuẩn trong cả hai quy trình ương Sau ngày ương thứ 25 mật độ vi khuẩn giảm xuống nhanh chóng (ở ngày ương 28 mật độ vi khuẩn dao động từ 2,91 – 4,55 x105
CFU/mL, giảm 51,3 – 65,7% so với ngày ương thứ 25) đến ngày 31 rồi ổn định ở những ngày cuối chu kỳ mật độ vi khuẩn nằm trong khoảng 0,44 – 0,5 x105 CFU/mL
Hình 4.7: Mật độ vi khuẩn tổng cộng trong mẫu nước ương
Trong mẫu nước, mật độ vi khuẩn tổng ở nghiệm thức nước xanh cải tiến luôn cao hơn nghiệm thức nước trong kín Cụ thể là cao hơn 246,2% vào ngày ương thứ 16 và 177,35% vào ngày ương 22 nhưng vào ngày cuối chu kỳ mật độ vi khuẩn giữa 2 nghiệm
Trang 36thức chênh lệch không lớn (± 6 x103 CFU/mL) Nguyên nhân có thể do ở nghiệm thức nước xanh cải tiến có bổ sung tảo làm cho hệ vi sinh ở nghiệm thức phát triển mạnh (từ
hệ vi sinh trong nước tảo), các giá trị môi trường luôn cao (ở ngày ương 20 TAN, N–
NO2– cao hơn 113,8% và 106%) Vào cuối chu kỳ, khi thực hiện quá trình giảm độ mặn nên nước ương ở hai nghiệm thức đều như nhau làm cho mật độ vi sinh mẫu cuối (ngày ương thứ 34) có sự khác biệt không lớn
4.3 Sự biến động mật độ vi sinh trong mẫu ấu trùng
Mật độ vi khuẩn trong mẫu ấu trùng biến động liên tục và không theo quy luật nào Mật độ trung bình của vi khuẩn tổng trong mẫu ấu trùng ở hai nghiệm thức đạt 2,96 x103
CFU/mL khá thấp chiếm 23% so với vi khuẩn tổng trong mẫu nước ương với mật độ là 1,3 x104 CFU/mL Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu ấu trùng đạt 9,43 x102
CFU/mL chiếm 27% so với mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu nước ương là 3,48
x103 CFU/mL Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trung bình trong mẫu ấu trùng đạt 3,42 x102
CFU/mL chiếm 12% so với vi khuẩn Vibrio sp trong mẫu nước ương với mật độ là 2,77
x103 CFU/mL
Hình 4.8: Mật độ vi khuẩn trong mẫu ấu trùng
Nghiệm thức nước trong kín (NT1) có mật độ vi khuẩn tổng đạt 3,14 x103 CFU/mL cao hơn so với mật độ vi khuẩn tổng ở nghệm thức nước xanh cải tiến 2,78 x103 CFU/mL
Trang 37Nhưng ngược lại, mật độ vi khuẩn Vibrio sp., Bacillus sp ở nghiệm thức NT1 lại thấp hơn so với mật độ ở nghiệm thức NT2; cụ thể mật độ vi khuẩn Vibrio sp ở nghiệm thức
NT1 đạt 2,97 x102 CFU/mL thấp hơn 1,3 lần so với nghiệm thức NT2 (3,87 x102
CFU/mL), mật độ vi khuẩn Bacillus sp ở nghiệm thức NT1 đạt 0,87 x103 CFU/mL thấp hơn 1,2 lần so với nghiệm thức NT2 (1,01 x103 CFU/mL)
Vào những ngày đầu chu kỳ ương vi khuẩn Vibrio sp gần như không xuất hiện ở trên ấu trùng, đến ngày ương thứ 7 mật độ vi khuẩn Vibrio sp bắt đầu tăng dần và đạt giá trị cao
nhất vào ngày ương thứ 25 (10,8 x102 CFU/mL) nhưng vẫn rất thấp so với mật độ Vibrio
sp trong mẫu nước ương (9,8 x103 CFU/mL) Khi đến cuối chu kỳ ương mật độ vi khuẩn
Vibrio sp giảm xuống rất nhanh (1,25 x102 CFU/mL ở nghiệm thức NT1 và 1,7 x102
CFU/mL ở nghiệm thức NT2)
Hình 4.9: Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong mẫu ấu trùng
Nghiệm thức ương tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến (NT2) có mật độ
Vibrio sp trung bình là 3,87 x102 CFU/mL cao hơn 1,4 lần so với nghiệm thức nước trong kín (NT1) là 2,97 x102 CFU/mL, cả hai nghiệm thức đều biến động theo quy luật, nhưng ở nghiệm thức NT2 sự biến động ổn định hơn so với nghiệm thức còn lại Từ ngày
ương 19 đến 25, mật độ Vibrio sp ở nghiệm thức NT1 biến động trong khoảng 6,4 x102
CFU/mL thấp hơn 1,44 lần so với mật độ Vibrio sp ở nghiệm thức NT2 là 9,27 x102
Trang 38CFU/mL, đến ngày ương 34 mật độ vi khuẩn Vibrio sp ở nghiệm thức NT2 đạt 1,7 x102
CFU/mL cao hơn 1,36 lần so với mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong quy trình nước trong là
Trong suốt quá trình thí nghiệm, mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu ấu trùng dao
động từ 0,16 – 2,63 x103 CFU/mL khá thấp (thấp hơn 3,7 lần) so với mật độ vi khuẩn
Bacillus sp trong mẫu nước ương và biến động không theo bất cứ quy luật nào
Mật độ vi khuẩn đầu nằm trong khoảng từ 0,16 – 0,23 x103 CFU/mL, sau 16 ngày ương mật độ tăng lên khá cao khoảng 1,77 – 2,63 x103 CFU/mL, sau đó giảm xuống đến cuối chu kì đạt giá trị khoảng 1,51 – 1,61 x103 CFU/mL nhưng vẫn cao hơn so với mật độ vi
khuẩn ban đầu Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong thí nghiệm cao nhất vào ngày ương 16
(1,77 – 2,63 x103 CFU/mL) và giảm xuống đột ngột vào ngày ương thứ 19 (giảm 3,8 lần) sau đó tăng dần và đạt giá trị 1,36 – 1,37 x103 CFU/mL vào ngày ương thứ 28 Cũng vào
thời điểm đó (ngày 16 – 28) mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong ấu trùng lại tăng cao (3,75 –
9,15 x102 CFU/mL), nguyên nhân có thể do cạnh tranh dinh dưỡng nên vi khuẩn Vibrio
sp đã ức chế sự phát triển của vi khuẩn Bacillus sp Điều đó cũng giải thích được nguyên nhân mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong những ngày cuối chu kỳ lại giảm xuống rõ rệt và vi khuẩn Bacillus sp lại có xu hướng tăng
Hình 4.10: Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trong mẫu ấu trùng
Qua hình 4.13 cho thấy, nghiệm thức nước xanh cải tiến (NT2) có mật độ vi khuẩn
Trang 39trong kín (NT1) là 0,87 x103 CFU/mL Vào ngày đầu chu kỳ (ngày 1 – 7), mật độ vi
khuẩn Bacillus sp trong nghiệm thức NT2 luôn thấp hơn so với nghiệm thức NT1, sau đó
mật độ dần thăng lên và đạt giá trị cao hơn vào ngày ương thứ 16 (cao hơn 1,5 lần) và
luôn cao hơn mật độ vi khuẩn Bacillus sp ở nghiệm thức NT1 cho đến cuối chu kỳ ương
ở cuối chu kỳ ương
Hình 4.11: Mật độ vi khuẩn tổng cộng trong mẫu ấu trùng
Mật độ trung bình của vi khuẩn tổng ở nghiệm thức nước xanh cải tiến (2,78 x103
CFU/mL) thấp hơn 0,36 x103 CFU/mL so với mật độ vi khuẩn tổng ở nghiệm thức nước trong kín (3,14 x103 CFU/mL) Trong suốt quá trình thí nghiệm, mật độ vi khuẩn tổng ở nghiệm thức nước trong kín (NT1) dao động từ 0,18 – 7,01 x103 CFU/mL và có biến động nhiều hơn so với nghiệm thức nước xanh cải tiến (NT2) có mật động vi khuẩn tổng cộng từ 0,45 – 6,07 x103 CFU/mL
Nhìn chung, mật độ vi khuẩn tổng ở nghiệm thức NT1 biến động lớn và có gía trị cao hơn so với nghiệm thức NT2 Vào ngày ương thứ 34 cuối chu kỳ ương, mật độ vi khuẩn
Trang 40tổng ở nghiệm thức NT1 đạt 5,32 x103 CFU/mL cao hơn 1,17 lần so với nghiệm thức nước xanh cải tiến (4,48 x103 CFU/mL)
4.4 Mật độ vi sinh trong mẫu Artemia và mẫu cặn đáy
4.4.1 Mẫu vỏ Artemia
Trong suốt quá trình ương, mật độ vi khuẩn trên mẫu vỏ Artemia khá cao so với mật độ
vi khuẩn trên mẫu nước ương và biến động ổn định Mật độ vi khuẩn tổng trên mẫu vỏ
nước ương (1,3 x104 CFU/mL) Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trên mẫu vỏ Artemia đạt 6
x103 CFU/mL cao hơn 2,2 lần so với mật độ vi khuẩn trên mẫu nước ương (2,77 x104
CFU/mL) Mật độ vi khuẩn Bacillus sp trên mẫu vỏ Artemia đạt 1,72 x104 CFU/mL cao hơn 4,9 lần so với mật độ vi khuẩn trên mẫu nước ương (3,48 x103 CFU/mL)
Bảng 4.1: Mật độ vi khuẩn trong mẫu vỏ Artemia
(giá trị thể hiện là mật độ vi khuẩn x10 4 CFU/mL)
Mật độ vi khuẩn tổng trung bình trên mẫu vỏ Artemia ở nghiệm thức nước trong kín
(8,29 x104 CFU/mL) cao hơn 5,7 lần so với mẫu nước ương 1,45 x104 CFU/mL Mật độ
vi khuẩn tổng có giá trị cao nhất là 2,89 x105 CFU/mL ở nghiệm thức nước trong kín (NT1) và 2,6 x105 CFU/mL ở nghiệm thức nước xanh cải tiến (NT2) vào ngày ương thứ
22 Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong cả hai quy trình đều rất thấp so với mật độ vi khuẩn tổng cộng Mật độ vi khuẩn Vibrio sp trung bình ở nghiệm thức NT1 đạt 0,57 x104