Trong các mô hình nuôi còn tồn tại nhiều khó khăn như thiếu vốn, dịch bệnh lây lan, thiếu kiến thức về kỹ thuật nuôi, giá đầu ra không ổn định, vấn đề thời tiết, nguồn thức ăn là những v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC ĐẦU
NHÍM Ở PHÚ TÂN – AN GIANG
Sinh viên thực hện
VÕ MINH QUÂN MSSV: 1153040061 Lớp: NTTS K6
Cần Thơ, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
KỸ THUẬT CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC ĐẦU
Trang 3XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ KHÓA LUẬN
PGS.TS Nguyễn Văn Kiểm Võ Minh Quân
Chủ tịch hội đồng
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Trước hết em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Kiểm và toàn thể các thầy cô trong Khoa Sinh học Ứng dụng Trường Đại Học Tây Đô đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình học tập và làm đề tài này
Xin gửi lời cám ơn đến các cô chú, anh chị công tác tại phòng nông nghiệp huyện Phú Tân
đã tận tình giúp đỡ khi em thực hiện đề tài Xin được cám ơn các bạn trong lớp Nuôi Trồng Thủy Sản 6 đã khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình đã tạo mọi điều kiện cũng như hỗ trợ kinh phí cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm đề tài
Với lòng biết ơn chân thành nhất!
Võ Minh Quân
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện nhằm khảo sát tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở huyện Phú Tân tỉnh An Giang để đánh giá hiện trạng nuôi cá lóc và đề xuất được những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả của các mô hình nuôi cá lóc tại địa bàn nghiên cứu Có 6 mô hình nuôi cá lóc chủ yếu được khảo sát gồm: nuôi ao đất, nuôi trên bể lót bạt, bể xi-măng, lồng bè, vèo ao và vèo sông
Kết quả phân tích số liệu cho thấy:
Mật độ nuôi trung bình cao nhất là ở mô hình nuôi bể lót bạt và lồng bè với 120con/m2, thấp nhất là ở mô hình nuôi ao với mật độ 30con/m2
Tỷ lệ sống ở mô hình nuôi ao đất là cao nhất (54,98±10,8%), tỷ lệ sống mô hình nuôi trên bể xi-măng là thấp nhất 35,6±6,4%
Về năng suất thì cao nhất là 40,5kg/m2 ở mô hình nuôi bể lót bạt và thấp nhất là 14,03kg/m2
ở mô hình nuôi ao đất
Giá mà người nuôi khi thu hoạch bán được bình quân 34.000±4.000 vnđ/kg
Xét về tỷ suất lợi nhuận thì hộ nuôi lồng bè có tỷ suất lợi nhuận cao nhất đến 54,4%, và thấp nhất là mô hình nuôi trên bể xi-măng với 5,6%
Qua kết quả thu được thì 30/34 người dân nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm có lời
Trong các mô hình nuôi còn tồn tại nhiều khó khăn như thiếu vốn, dịch bệnh lây lan, thiếu kiến thức về kỹ thuật nuôi, giá đầu ra không ổn định, vấn đề thời tiết, nguồn thức ăn là những vấn đề quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất Từ đó một số giải pháp cơ bản được đề xuất như: mong muốn được hỗ trợ vay vốn, tập huấn thêm kỹ thuật nuôi, chờ giá bán cao hay tự tìm đầu ra khi sản phẩm thu hoạch…
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC……….iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3Nội dung nghiên cứu……… 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc nói chung 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Hình thái 4
2.1.3 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản……… 5
2.2 Vấn đề khó khăn chung của thủy sản hiện nay 5
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long 6
2.4 Sơ lược về tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL 7
2.5 Tổng quan về tỉnh An Giang 8
2.5.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.5.2 Nguồn lợi và NTTS tỉnh An Giang 9
2.5.3 Tổng quan về huyện Phú Tân 9
2.6 Một số mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL 11
2.6.1 Nuôi trong ao đất 11
2.6.2 Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới) 11
2.6.3 Nuôi cá lóc trên ruộng lúa 12
2.6.4 Nuôi cá lóc trong rừng 12
2.6.5 Nuôi cá lóc trong lồng bè 12
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 14
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 14
3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 14
3.4 Các thông tin chủ yếu trong nghiên cứu 15
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 16
4.1 Thông tin về chủ hộ nuôi cá lóc 16
4.1.1 Độ tuổi 16
Trang 74.1.2 Kinh nghiệm nuôi và trình độ chuyên môn 17
4.1.3 Trình độ văn hóa 18
4.2 Thông tin về vụ nuôi 19
4.2.1 Các mô hình nuôi cá lóc 19
4 2.2 Lao động tham gia 20
4.2.3 Mùa vụ và thời gian thả nuôi 21
4.2.4 Diện tích nuôi cá lóc 21
4.2.5 Nguồn nước 22
4.3 Thông tin về con giống 24
4.3.1 Con giống và mật độ nuôi 24
4.3.2 Ương giống 25
4.4 Sử dụng thức ăn 25
4.5 Quản lý dịch bệnh 26
4.6 Thu hoạch 27
4.6.1 Thời gian nuôi 27
4.6.2 Kích cỡ trung bình 28
4.6.3 Tỷ lệ sống 28
4.6.4 Năng suất 29
4.7 Hình thức tiêu thụ 29
4.8 Phân tích các chỉ tiêu tài chính 29
4.8.1 Chi phí cố định và chi phí biến đổi 29
4.8.2 Tổng chi phí 30
4.8.3 Tổng thu nhập 31
4.8.4 Lợi nhuận và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi 31
4.9 Nhận thức của người nuôi cá lóc 31
4.9.1 Nhận thức về nguồn lợi thủy sản 31
4.10 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp 32
4.10.1 Thuận lợi 32
4.10.2 Khó khăn 32
4.10.3 Giải pháp 32
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Đề xuất 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 PHỤ LỤC A
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh 2008-2009 9
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản huyện Phú Tân giai đoạn 2005-2009 10
Bảng 4.1 Trình độ văn hóa của các hộ nuôi 18
Bảng 4.2 Hình thức nuôi được áp dụng 20
Bảng 4.3 Nguồn lao động tham gia nuôi cá lóc 21
Bảng 4.4 Tần suất thay nước 23
Bảng 4.5 Hóa chất dung trong cải tạo ao 23
Bảng 4.6 Mật độ nuôi cá lóc thương phẩm 24
Bảng 4.7 Tình hình ương con giống 25
Bảng 4.8 Loại thức ăn sử dụng 26
Bảng 4.9 Thời gian nuôi 28
Bảng 4.10 Kích cỡ cá khi thu hoạch 28
Bảng 4.11 Tỷ lệ sống trung bình khi thu hoạch 29
Bảng 4.12 Vay vốn 30
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện nhóm tuổi của các hộ nuôi cá lóc 16
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện kinh nghiệm nuôi cá lóc của các nông hộ 17
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện trình độ văn hóa của các hộ nuôi cá lóc 18
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện các mô hình nuôi cá lóc của nông hộ 19
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động của các nông hộ 20
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện diện tích nuôi cá lóc của các nông hộ 22
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện các bệnh thường gặp khi nuôi cá lóc 26
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện thời gian nuôi cá lóc của các nông hộ 27
Hình 4.9 Biểu đồ thể hiện phần trăm các chi phí 30
Trang 10DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 11CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1Giới thiệu
Từ lâu con người đã hướng tới việc khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS), nhất là khi dân số tăng nhanh và nhu cầu dinh dưỡng của con người tăng cao Tuy nhiên cần phải nói đến nguồn lợi thủy sản không phải là vô tận nếu khai thác không đi đôi với bảo vệ, tái tạo và phát triển thì nguồn lợi sẽ cạn kiệt Việt Nam là quốc gia có tiềm năng phát triển thủy sản trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương Với mạng lưới sông ngòi chằng chịt từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, Việt Nam có tiềm năng lớn cho phát triển NTTS với 2.192.878ha diện tích mặt nước, trong đó 1.161.740ha diện tích mặt nước ngọt và 1.011.138ha diện tích mặt nước lợ Diện tích NTTS năm 2013 là 1,5 triệu ha trong đó NTTS nước ngọt là 911.330ha với nhiều đối tượng nuôi và mô hình nuôi khác nhau (Tổng cục Thủy sản 2013)
Diện tích đất tự nhiên của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) năm 2013 là 849.430ha
và theo định hướng quy hoạch đến năm 2014 là 1 triệu ha (Tổng cục Thủy Sản 2013) Trong những năm qua NTTS đã trở thành thế mạnh kinh tế quan trọng ở ĐBSCL Năm
2013 sản lượng thủy sản đạt gần 3 triệu tấn tăng hơn năm 2012 là 170.000 tấn Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước năm 2013 đạt hơn 6 tỷ USD, trong đó ĐBSCL đạt hơn 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (Tổng cục thống kê, 2013) Khi nói đến vấn đề gia tăng sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt thì phải nói đến sự gia tăng sản lượng cá da trơn (cá tra, cá basa), cá lóc, cá rô, tôm càng xanh,… Và cá lóc hiện
là đối tượng nuôi quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi ở ĐBSCL (Nguyễn Văn Thường, 2004)
Cá lóc (Channa striata) là loài có phân bố rộng trong tự nhiên và thường thấy ở các thủy vực nước ngọt, ngày càng được nuôi nhiều ở ĐBSCL Cá có thể thích nghi cao với điều kiện môi trường, tăng trưởng nhanh, ít dịch bệnh và nhất là thịt cá thơm ngon, ít xương (Thủy sản Việt Nam, 2013) Cá lóc đầu nhím (Chana sp) còn gọi là cá lóc lai, được nhiều người nuôi ưa chuộng bởi dễ nuôi, tăng trưởng nhanh hơn các loài cá lóc khác, thịt cá thơm ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng, ít bệnh và dị tật Việc đầu tư đồng bộ, có
sự hỗ trợ của địa phương và các nhà khoa học, doanh nghiệp sẽ phát triển tiềm năng to lớn của giống cá này
Để phát huy những ưu thế trên một số tỉnh ở ĐBSCL như: An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Tiền Giang, Đồng Tháp,… đã đầu tư phát triển mạnh mẽ nghề nuôi cá lóc với nhiều
mô hình khác nhau như: nuôi bè trên sông, nuôi vèo trong ao và trên sông, nuôi trong hầm đất, nuôi trong bể lót bạt,…
Tuy nhiên các mô hình nuôi cá lóc nêu trên chưa đạt hiệu quả tối ưu, các yếu tố kinh tế -
kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nuôi cũng như sản lượng thu hoạch, lợi
Trang 12nhuận Tình hình sử dụng cá tạp để làm thức ăn chính cho đối tượng nuôi này đã làm giảm đáng kể nguồn lợi tự nhiên
Từ những lý do đã nêu giúp em có ý tưởng thực hiện đề tài “Hiện trạng và hiệu quả
kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi cá lóc đầu nhím ở Phú Tân – An Giang.” Qua đề
tài này em sẽ cơ bản đánh giá được vai trò cũng như hiện trạng mô hình, đồng thời phân tích các yếu tố kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi
cá lóc thương phẩm ở huyện Phú Tân – An Giang Từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất và lợi nhuận, mang lại hiệu quả kinh tế cho mô hình và góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng của các mô hình nuôi cá lóc đầu nhím đang được áp dụng tại huyện Phú Tân - An Giang
- Phân tích được các yếu tố kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng tới năng suất và lợi nhuận của
mô hình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm
- Phân tích tình hình sử dụng thức ăn là cá tạp có tác động như thế nào đối với nguồn lợi tự nhiên sau này
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất và lợi nhuận, mang lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cơ bản trong các mô hình nuôi được khảo sát
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của các mô hình nuôi ở địa bàn nghiên cứu
- Nhận thức của người nuôi về các vấn đề môi trường, nguồn lợi tự nhiên trong quá trình nuôi
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả của các mô hình nuôi
CHƯƠNG 2
Trang 13TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc nói chung
2.1.1 Phân loại
Cá lóc trong tiếng Anh được gọi là cá “đầu rắn” (Snakehead) ám chỉ đến cái đầu thuôn và tròn trông giống như đầu rắn Họ cá lóc Channidae bao gồm 2 chi là Channa phấn bố chủ yếu ở châu Á và chi Parachanna phân bố chủ yếu ở châu Phi Chi Channa có 26 loài và chi Parachanna có 3 loài Phía trên nắp mang của cá lóc có một cấu trúc nắp mang gọi là mang phụ (Suprabranchial organ), qua đó ô-xi từ không khí có thể thẩm thấu trực tiếp vào mạch máu, nhờ vậy mà cá lóc có thể tồn tại trong môi trường nghèo ô-xi hoặc bò trên cạn, vượt qua rào cản để thâm nhập vào các vùng nước mới ở chi Parachanna cũng có mang phụ nhưng lại đơn giản hơn chi Channa chức năng của nó cũng tương tự như mê lộ ở những loài thuộc họ Osphronemidae, chẳng hạn như: cá rô đồng, cá sặc rằn nhưng không phát triển bằng
Cá lóc ở Việt Nam chỉ có chi Channa gồm 8 loài như: cá trèo đồi (Channa ariatica), cá lóc bông (Channa micropellets), cá chuối (Channa maculata), cá lóc đen (Channa striatus), cá dày (Channa licius), cá quả (Channa melaroma), cá chành dục (Channa gachua), cá trầu mắt (Channa marullus) sống trong các ao hồ sông ngồi ở ĐBSCL và ĐBSH (Nguyễn Văn Hảo,
2005 trích bởi Nguyễn Văn Hòa, 2008)
Ở ĐBSCL cá lóc có 4 loài thuộc chi Channa được nhận biết là cá lóc bông (Channa micropellets), cá lóc đen (Channa striatus), cá dày (Channa licius), cá chành dục (Channa gachua) thịt thơm ngon và giá trị dinh dưỡng cao Hiện nay các loài trên đang được phát triển nuôi ở nhiều địa phương ở ĐBSCL (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Cá lóc nuôi ở ĐBSCL hiện nay thuộc:
Tên Tiếng Việt: Cá lóc đầu nhím
Cá lóc được nghiên cứu trong đề tài này là cá lóc đầu nhím có tên khoa học là Channa sp
Vào những năm 80 của thế kỉ 20 ở ĐBSCL có xuất hiện thêm giống cá lóc môi trề, cá lóc đầu vuông, cá lóc đầu nhím phân bố ở các tỉnh thượng nguồn như Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ… Đây là nhóm cá lai có kích cở lớn, giá trị cao được nuôi khá phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi (Nguyễn Văn Hòa, 2008)
2.1.2 Hình thái
Trang 14Cá lóc có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng, dẹp bằng Miệng to hướng lên, rạch xuyên và kéo dài qua đường thẳng kẻ từ bờ sau của mắt, răng bén nhọn, hàm dưới và vòm miệng có xen kẻ một số răng sắc nhọn, răng hàm trên không có răng sắc nhọn Cá không có râu, lỗ mũi trước
mở ra ngoài bằng một ống ngắn Mắt lớn và nằm lệch về phía trên của đầu rất gần chóp mõm và xa điểm cuối của xương nắp mang Thân dài, hình trụ ở phần trước và dẹp bên ở phần sau Vẩy lược lớn phủ khắp phần thân và đầu Có một số vẩy nhỏ phủ lên khắp vi đuôi
và vi ngực, gốc vi lưng rất dài, khởi điểm của vi lưng ở trên vẩy đường bên thứ năm và chấm dứt ở gần gốc vi đuôi ở vẩy đường bên thứ 48-52 Vi hậu môn ngắn hơn vi lưng (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)
Theo Mai Đình Yên (1983), vi lưng và vi hậu môn không có gai, kéo dài về phía sau gần tới gốc vi đuôi, vi ngực rộng, vi bụng nhỏ, gắn liền nhau ở mặt dưới của thân, vi đuôi tròn
2.1.3 Đặc điểm phân bố và sự thích nghi
Vùng phân bố của cá lóc khá rộng từ Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Ấn Độ, Campuchia và vùng ĐBSCL Việt Nam Cá có thể sống trong các loại hình thủy vực trên sông, kênh rạch, đồng ruộng, lung, trũng… Nhiệt độ thích hợp từ 20-35oC Cá cũng có thể sống được trong điều kiện kiềm tính hoặc đất phèn Tuy cá là loài sống chủ yếu ở nước ngọt nhưng có khả năng sống và phát triển ở vùng nhiễm mặn (Dương Nhựt Long, 2003)
Cá lóc thích sống ở vùng nước đục có nhiều rong cỏ, thường nằm ở dưới đáy vùng nước nông Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên cá vẫn sống được trong thủy vực có hàm lượng ô-xi hòa tan thấp và có thể thở được ô-xi trong không khí Đôi khi, cá có thể sống trong điều kiện môi trường bất lợi như nguồn nước bị cạn kiệt chỉ cần da và mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá lâu (Tạp chí khoa học và công nghệ thủy sản, 1/2009)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài cá dữ có kích thước tròn dài Lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dày to hình chữ Y (Dương Nhựt Long, 2005)
Sau khi tiêu hết noãn hoàng cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài và thức ăn chủ yếu của giai đoạn này là: luân trùng, giáp xác chân chèo, trứng nước Khi cá đạt chiều dài từ 5-6 cm chúng đã có thể đuổi bắt các loài tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng Khi chiều dài cá đạt trên 10 cm, cá có tập tính ăn tương tự như cá giai đoạn trưởng thành Cá lóc là loài cá dữ thức ăn chủ yếu là động vật, phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của cá lóc trưởng thành cho thấy: cá chiếm 63,0%; tép 35,9%; ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn
bã hữu cơ Trong điều kiện ương giống cá lóc sử dụng được thức ăn chế biến kết hợp với trùn chỉ cho tỷ lệ sống 97-97,5% (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Trang 15Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh Giai đoạn nhỏ cá tăng chủ yếu về chiều dài, cá càng lớn thì sự tăng trọng cũng nhanh hơn Trong tự nhiên tốc độ tăng trưởng của cá không đều mà phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng thức ăn có sẵn trong môi trường sống, cụ thể khi nhiệt độ trên 20oC sinh trưởng nhanh, dưới 15oC sinh trưởng chậm Bình quân cá lóc trong tự nhiên sau một năm có trọng lượng từ 0,5-0,8kg, đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (Tạp chí khoa học và công nghệ thủy sản, 1/2009)
Theo Dương Nhựt Long, 2005 cá lóc đầu nhím là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh Trong điều kiện nuôi với nguồn thức ăn cung cấp chủ động và có chế độ chăm sóc tốt cá sẽ lớn nhanh, sau chu kỳ 6 tháng cá có thể đạt trọng lượng dao động từ 0,8-1,2 kg/con, tỷ lệ sống dao động từ 75-85% và năng suất cá nuôi có thể đạt dao động từ 30-60 tấn/ha Cá lớn nhanh
từ tháng nuôi thứ 4, thứ 5 lúc này cá ăn rất mạnh và lớn nhanh vào mùa xuân hè Trong cùng giai đoạn phát triển của cá lóc đầu nhím cá đực có tốc độ tăng chiều dài nhanh hơn cá cái nhưng ngược lại khối lượng của cá đực lại tăng chậm hơn của cá cái
Sau khi cá lóc nở luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt nhất của
cá bột Ngoài ra có thể cho cá bột ăn nấm men lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng bột Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng trỉ, ấu trùng muỗi đỏ.tuy nhiên Moina vẫn là thức ăn tốt nhất cho cá trong 3 tuần lễ đầu Giai đoạn cá giống sâu gạo hay dòi là thức ăn ưa thích của cá Giai đoạn cá lớn thường cho ăn cá tạp, thức ăn công nghiệp, phụ phế phẩm từ các nhà máy chế biến thủy sản
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá lóc 1-2 năm tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4-8, tập trung chủ yếu vào tháng 4-5 Cá thường đẻ vào sáng sớm sau những trận mưa rào, nơi yên tỉnh có nhiều thực vật thủy sinh Số lượng trứng cá đẻ phụ thuộc vào kích cỡ cá cái Sức sinh sản tương đối của cá cái từ 8.000-10.000 trứng/lần đẻ đối với cá cái nặng 0,5 kg Sau khi đẻ xong, cá cái không rời khỏi ổ mà cùng với cá đực nằm dưới đáy bảo vệ trứng cho đế khi nở thành con mới rời ổ và dẫn đàn con tìm thức ăn (Tạp chí khoa học và công nghệ thuỷ sản, 1/2001) Ở nhiệt độ 20-30oC sau 2 ngày trứng nở thành cá bột, trong 3 ngày kế tiếp cá tiêu hết noãn hoàn và bắt đầu ăn thức ăn tự nhiên bên ngoài (Dương Nhựt Long, 2005)
2.2 Vấn đề khó khăn chung của thủy sản hiện nay
Nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam và trên thế giới đã và đang trên đà phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây sản lượng và diện tích liên tục tăng Tuy nhiên đứng về góc độ quản lý ngành NTTS Việt Nam và thế giới đang đối mặt với nhiều vấn đề Ngoài các vấn đề kỹ thuật nuôi và sản xuất giống để có thể nâng cao năng suất và chất lượng thủy sản nuôi đa dạng hóa đối tượng nuôi, loại hình nuôi, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trị bệnh, phương pháp bảo quản sau thu hoạch…còn rất nhiều vấn đề mà bất cứ một nhà nghiên cứu hay quản lý NTTS nào cũng phải nhận thức sâu sắc và tìm cách tháo gỡ Trong đó việc phát triển NTTS một cách bền vững là một vấn đề được quan tâm trước hết Nếu những người
Trang 16NTTS không có được những giải pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhất thì không thể phát triển NTTS một cách bền vững được Sự phát triển vùng nuôi thiếu quy hoạch và đầu tư lâu dài đã trở thành một nguy cơ trước mắt đối với nhiều nước phát triển NTTS quá nhanh, trên hết là sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường đòi hỏi các nước phải liên tục tăng chất lượng và hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn giữ được sự phát triển bền vững, đồng thời phải hết sức nhanh nhạy trong những thay đổi để dần chiếm lĩnh được thị trường
2.3 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất thấp rộng có khoảng 4 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước, có mạng lưới sông rạch chằng chịt, đất đai màu mỡ ĐBSCL cũng được biết đến như một nơi có sự phong phú về đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài thủy sinh vật trong thủy vực nước ngọt và nước lợ mặn (Lâm Vĩnh Toàn, 2008)
Nhiều năm qua nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thủy sản đã trở thành thế mạnh đặc biệt ở ĐBSCL, biến nơi đây thành một vùng trọng điểm về NTTS cho tiêu dùng và xuất khẩu trên
cả nước ĐBSCL là 1 trong bảy vùng kinh tế trọng điểm của cả nước có khoảng 1.720.800ha (2010) mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hàng năm lên đến hơn 2,5 triệu tấn, chiếm hơn 75% lượng thủy sản nuôi của cả nước Là vùng nuôi thủy sản lớn nhất cả nước diện tích nuôi trồng chiếm đến 65% diện tích nuôi cả nước sản lượng nuôi trồng chiếm 67% của cả nước và giá trị xuất khẩu chiếm 52% của cả nước Năm 2010 giá trị xuất khẩu thủy sản đạt xấp xỉ 1 tỷ USD (Báo kinh tế 2011)
Với bờ biển dài 735 km, đất có khả năng NTTS là 1.100.000ha, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐBSCL phát triển mạnh về khai thác và nuôi trồng, góp phần quan trọng vào nền kinh tế của khu vực và cả nước Hàng năm ngành NTTS ở ĐBSCL đã đóng góp khoảng 50% tổng sản lượng thủy sản cả nước, 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, đặc biệt là 80% sản lượng cho tôm xuất khẩu (Lâm Vĩnh Toàn, 2008)
Nguồn lợi thủy sản (NLTS) của ĐBSCL rất dồi dào về chủng loại Hàng năm có khoảng một triệu ha đất ngập lũ trong 2-4 tháng, vì vậy NLTS rất phong phú Theo bộ thủy sản (2005) công bố “sản lượng khai thác nội địa của Việt Nam đạt khoảng 190.000 tấn trong đó ĐBSCL đóng góp khoảng 71%” Theo kết quả điều tra khoa học, xác định được 544 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam (Lâm Vĩnh Toàn, 2008)
Sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL trong thời kỳ đổi mới vừa qua được đánh giá là phát triển tốt, nhất là ngành sản xuất lúa và NTTS Nguyên nhân chính là do ĐBSCL đã có sự chuyển đổi cơ bản của các thành phần kinh tế, trong đó nông dân đã thật sự trở thành đơn vị tự chủ sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và thủy sản, do vậy các hộ đã yên tâm đầu tư thêm lao động, vốn, sử dụng hiệu quả diện tích đất đai, mặt nước nhằm tạo thêm nhiều sản phẩm hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Gần đây, chương trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và NTTS của các tỉnh ở vùng ĐBSCL đã và đang thực hiện đạt được kết quả tốt (Dương Nhựt Long, 2005) Lượng cá, tôm đánh bắt được ở các vùng ngập lũ
Trang 17của ĐBSCL chủ yếu từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 11 âm lịch (tương ứng với mức thời gian có mực lũ cao nhất trong năm) Trung bình một hộ có thể đánh bắt bình quân
237 kg/năm Nhìn chung, sản lượng cá, tôm tự nhiên thu được bởi các hộ tham gia khai thác
có thể được sử dụng theo nhiều cách, trong đó để lại ăn trong gia đình chiếm khoảng 38%, phần lớn được đem bán ra ngoài chiếm 58,9% và còn khoảng 3,1% còn lại dùng để cho bà con hàng xóm (Lê Xuân Sinh và ctv, 2000)
An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp là những tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL có nghề nuôi cá lóc phát triển Người dân nuôi cá lóc bằng những mô hình khác nhau, cụ thể là tỉnh An Giang các mô hình nuôi cá Lóc như: bể lót bạt chiếm 25,4%; lồng bè 20,3%; ao đất 23,7%; vèo ao, vèo sông 30,5% Trong đó nuôi cá lóc thương phẩm đạt 78%, ương và nuôi giống 16,1%, sản xuất giống và ương giống 3,6% (Nguyễn Đặng Thùy, 2009)
Mục tiêu của phát triển NTTS ở ĐBSCL là đưa ngành này phát triển thành một ngành sản xuất hàng hóa quan trọng của vùng trên cơ sở hiệu quả, bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái, hòa nhập với sự phát triển thủy sản cả nước, khu vực và quốc tế, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản và xóa đói giảm nghèo (http://www.vncold.vn)
2.4 Sơ lược về tình hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
Từ xưa đến nay nghề nuôi cá nước ngọt ở ĐBSCL phát triển như nuôi trong ao hay lồng bè Vào những năm 1960 nghề nuôi cá lóc lồng bè đã xuất hiện ở Châu Đốc (An Giang) và Hồng Ngự (Đồng Tháp) Từ năm 1990 đến nay, nghề nuôi cá lóc ở vùng ảnh hưởng lũ trở nên phổ biến Cá lóc nuôi tương đối dễ có thể nuôi ở dạng bán thâm canh, thâm canh với nhiều hình thức như: nuôi trong ao đất, nuôi trong bể lót bạc, trong lồng bè, nuôi vèo, trên mương hay trên ruộng lúa
Cá lóc đen lớn nhanh, thu hoạch sau 4-5 tháng nuôi nên có thể nuôi 2 vụ/năm Cá lóc bông thu hoạc với kích thước lớn hơn nên thường thu hoạch sau 7-8 tháng nuôi Nhiều hộ dân tham gia nuôi cá lóc trong đó phần lớn là nông hộ nuôi với quy mô nhỏ lẻ sử dụng lao động gia đình để lấy công làm lời có thêm thu nhập
Cá lóc đầu nhím là con lai giữa cá lóc môi trề và cá lóc đen Ngoài tự nhiên cá phân bố ở nhiều loại thủy vực nước ngọt, lợ pH dao động từ 6,3-7,5, nhiệt độ thích hợp để tăng trưởng
là 25-350C Chúng là loài cá ăn thịt, có tập tính bắt mồi nhưng trong điều kiện nuôi cá sẽ quen dần với cách ăn tỉnh và ăn được nhiều loại thức ăn như (cá tạp, phế phẩm nhà máy chế biến, thức ăn công nghiệp…) Sau 4-5 tháng nuôi cá lóc đầu nhím đạt trung bình 0,7kg/con, tỉ
lệ sống 70-80%, hệ số chuyển hóa thức ăn FCR 1.4 (Trung tâm khuyến nông khuyến ngư Bến Tre, 2011)
Cá lóc có thể nuôi với nhiều quy mô khác nhau từ quy mô nhỏ để cải thiện bữa ăn gia đình, xóa đói giảm nghèo đến nuôi quy mô lớn, thâm canh ở mật độ cao Hiện nay các mô hình nuôi cá lóc sử dụng thức ăn tươi sống như cá tạp, ốc bươu vàng, cua đồng… vừa thiếu chủ động vừa gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và nguồn lợi tự nhiên.Việc sử dụng thức ăn
Trang 18viên còn rất hạn chế mặc dù điều này sẽ làm giảm lượng khai thác cá tạp tự nhiên, giảm nguy cơ ô nhiễm, người nuôi hoàn toàn có thể chủ động về mùa vụ và có thể nuôi thâm canh với năng suất cao không phụ thuộc vào nguồn cung cấp thức ăn Ban đầu khi mới nuôi cá lóc người ta thường dựa vào lợi thế mùa lũ tận dụng nguồn nước và thức ăn tự nhiên (thường là các loài cá trắng có kích cở nhỏ) Dần dần nghề nuôi cá lóc phát triển gây nên không ít lo ngại nuôi cá lóc dẫn đến đe dọa các giống loài thủy sản khác Các nhà nghiên cứu cho biết
để đạt 1 kg cá lóc phải cần đến ít nhất 3kg cá tạp (Huỳnh Văn Hiền, 2012)
Cứ như thế với sản lượng cá lóc nuôi ĐBSCL năm 2012 là 30.000 tấn thì phải sử dụng 50.000 tấn cá tạp nước ngọt và 40.000 tấn cá tạp biển, tương ứng với 30% sản lượng khai thác nội địa và 9% sản lượng khai thác hải sản của ĐBSCL năm 2012 Đó thật sự là vấn đề lớn đáng lo ngại đối với NLTS và an ninh thực phẩm cho cộng đồng, nhất là những nông thôn nghèo
An Giang ngoài đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên còn có vùng đồi núi Tri Tôn-Tịnh Biên Do đó địa hình An Giang có hai dạng chính đó là đồng bằng và đồi núi Ngoài các sông lớn An Giang còn có một hệ thống sông rạch tự nhiên rải rác khắp địa bàn của tỉnh với độ dài từ vài km đến 30km, độ rộng từ vài m đến 100m và độ uốn khúc quanh
co khá lớn Các rạch nối liền sông Tiền và sông Hậu thường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu Các rạch nằm trong hữu ngạn sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu vào nội đồng vùng trũng tứ giác Long Xuyên Điều kiện tự nhiện thuận lợi là một yếu tố quan trọng giúp An Giang có một nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh với sản lượng lúa
và thủy sản nước ngọt cao nhất cả nước
Đặc điểm khí hậu:
An Giang nằm trong vòng đại nội chí tuyến Bắc Bán Cầu, gần xích đạo, khí hậu nhiệt đới gió mùa và chia thành hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa có gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11
Mùa khô có gió Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Đất đai:
Có hai nhóm đất chính là đất đồi núi và đất phù sa, diện tích của hai nhóm đất này chiếm khoảng 70% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
Sông ngòi:
Trang 19Tỉnh An Giang nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt chi phối bởi hai chế độ thủy triều, nằm giữa một mạng lưới sông ngòi như: sông Tiền, sông Hậu
Thủy văn:
Tình trạng ngập lũ: so với các tỉnh khác ở ĐBSCL, lũ ở An Giang thường đến nhanh, rút nhanh và cường suất lớn Tuy nhiên do tỉnh An Giang nằm ở đầu nguồn nên mỗi năm đều nhận được lượng phù sa sông và thủy sản tự nhiên rất lớn
Tình trạng xâm nhập mặn: thời gian xâm nhập hàng năm chỉ khoảng 1-2 tháng với nồng độ mặn dưới 3g/l, có thể tận dụng nguồn nước lợ này để nuôi trồng thủy sản (Sở Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn An Giang, 2006-2020)
2.5.2 Nguồn lợi và NTTS tỉnh An Giang
An Giang là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi địa hình tương đối thấp và bằng phẳng, khí hậu
ôn hòa, có nguồn nước ngọt phong phú, hệ thống sông ngòi chằng chịt, tạo ra nhiều dạng thủy vực khác nhau, thích hợp cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản Sau thế mạnh cây lúa, NTTS là thế mạnh thứ hai trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh (Lê Thị Thùy Dung, 2009)
Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2007 An Giang có diện tích ngập nước quanh năm và theo thời vụ khoảng 125.000 ha, trong đó có 54.000 ha có thể đưa vào nuôi thủy sản Nghề NTTS trong những năm gần đây chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh, nhưng theo số liệu thống kê cho thấy đây là nghề có tiềm năng rất lớn và phát triển nhanh
Bảng 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh 2008-2009
2.5.3 Tổng quan về huyện Phú Tân
Phú Tân là một huyện của tỉnh An Giang Tổng diện tích của huyện là 230 km2
với tổng dân số là 96.500 người (Hoàng Chí Hùng, 2010)
Huyện có địa bàn khá thuận lợi về vị trí địa lý: nằm ở phía Đông của An Giang; phía Bắc giáp huyện Tân Châu; Nam giáp huyện Chợ Mới; Tây giáp huyện Châu Phú; Đông giáp tỉnh Đông Tháp Ở Phú Tân nông nghiệp phát triển chủ yếu bằng nghề trồng lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản Sau 10 năm thành lập, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của huyện đạt khoảng 11,1% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp-xây dựng, thương mại-dịch vụ (Hoàng Chí Hùng, 2010)
Trang 20Thế mạnh thứ hai sau cây lúa của huyện là mô hình NTTS (Phạm Thanh Vũ - Trạm Khuyến Nông Phú Tân, 2008) Tổng diện tích NTTS của huyện tăng nhanh vào năm
2008, với sản lượng thu hoạch đạt gần 4.060 tấn (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009)
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản huyện Phú Tân giai đoạn 2005-2009
Sản lượng thủy sản (tấn) 2.030 2.879 2.413 4.060 4.995
(Địa điểm điều tra: huyện Phú Tân; Nguồn: Cục thống kê An Giang hàng năm) Nhìn chung, từ năm 2008 phong trào nuôi thủy sản của toàn huyện phát triển khá nhanh, sản lượng đã tăng lên so với năm 2007 (từ 2.413 tấn lên 4.060 tấn), đây là ngành có tiềm năng mang lại thu nhập cho nông dân khá lớn trong phát triển kinh tế gia đình Năm 2009, diện tích thả nuôi thủy sản của toàn huyện khoảng 432ha, tăng gấp 3 lần so với năm 1999 (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009) Sản lượng thủy sản không ngừng tăng lên, từ khi áp dụng các mô hình nuôi chuyên canh cá rô đồng, cá lóc, theo hình thức công nghiệp Ông Nguyễn Văn Vui, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Tân, phân tích: “Tiềm năng thủy sản trên địa bàn huyện còn rất lớn (khoảng 20.000 ha mặt nước chưa được khai thác) Trong thời gian qua, diện tích, sản lượng thủy sản tăng nhanh nhờ sự góp sức của công tác chuyển giao kỹ thuật từ trường Đại Học Cần Thơ, Đại Học An Giang và các sở, ngành, tỉnh, sự tìm tòi học hỏi của bà con nông dân, rồi từng bước mở rộng quy mô, tăng dần diện tích” Tuy nhiên, nếu nuôi thâm canh ồ ạt, sẽ kéo theo ô nhiễm môi trường nước Vì vậy, cần phải có quy hoạch vùng nuôi bền vững mà UBND huyện đã và đang tính đến (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009)
Ngoài các mô hình sản xuất như: 2 vụ lúa xen 1 vụ cá; vườn ao chuồng (VAC) thì hiện nay huyện còn có các mô hình nuôi chuyên canh theo quy trình nuôi bán công nghiệp-công nghiệp, cá lồng bè rãi rác ở các xã, thị trấn Đặc biệt trong thời gian gần đây, mô hình nuôi cá lóc thương phẩm trong vèo trên sông đang là hướng phát triển mới của huyện Tuy nhiên, các mô hình nuôi còn khá đơn giản, chưa có quy hoạch cụ thể, nuôi trong vèo trên sông là chủ yếu và chưa được đầu tư đúng mức, với diện tích chiếm khoảng 5% tổng diện tích các đối tượng thủy sản nuôi của huyện (Phan Dũng và Hà Thanh, 2009)
Nhìn chung, cho đến nay các đối tượng cá đồng như cá lóc, cá rô đồng…được nuôi với hình thức thương phẩm khá nhiều Tuy nhiên những số liệu điều tra về các đối tượng này còn hạn chế Do đó cần có những nghiên cứu sâu hơn, tổng thể hơn nhằm phát triển nghề nuôi các đối tượng cá đồng Đó cũng là một trong những lý do để thực hiện đề tài này
2.6 Một số mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL
2.6.1 Nuôi trong ao đất
Trang 21Ao nuôi có diện tích trung bình từ 400-500m2 độ sâu nước 2,5-3m Bờ ao cao và chắc chắn
có cống cấp và thoát nước Mật độ dao động từ 15-50 con/m2 (Phạm Văn Khánh, Lý Thị Thanh Loan, 2004) có thể ghép thêm một số loài cá khác để tận dụng thức ăn dư thừa như trê phi, rô đồng Thức ăn cho cá lóc là tép, cá tạp, cá biển, cua, ốc… Trong 4 tháng đầu thức ăn được xay nhuyễn và trộn thêm chất kết dính, vitamin, các chất khoáng và được cho
ăn trong sàn ăn Từ tháng 5 trở đi cá ăn được thức ăn bâm nhỏ Hàng ngày bơm nước mới bổ sung vào ao cứ 5-10 ngày thay nước một lần mỗi lần thay 1/3-1/2 thể tích nước trong ao Sau 6-8 tháng cá đạt trọng lượng 0,7-0,8kg/ con Cá thường thu hoạch 1 lần bằng cách kéo lưới Với mô hình nuôi này thì ĐBSCL là nơi nuôi đạt hiệu quả nhất trung bình 300-400 tấn/ha/vụ, đặc biệt có thể lên đến 500-550 tấn/ha/vụ (Phạm Văn Khánh, Lý Thị Thanh Loan, 2004)
Tuy nhiên với phương pháp này cá nuôi chậm lớn, kích cỡ cá khi thu hoạch không đồng đều, tốn nhiều công lao động trong thu hoạch và cải tạo ao, tỷ lệ hao hụt lớn Trong nhiều trường hợp nếu thu hoach không đúng cách cá có thể chết nhiều do ngạt sình Ngoài ra các chi phí thức ăn, thuốc hóa chất, chi phí thay nước khá cao trong mỗi vụ nuôi
2.6.2 Nuôi cá lóc trong vèo (mùng lưới)
Hàng năm khi lũ về với nguồn nước dồi dào và thức ăn tự nhiên rất đa dạng như: các loài phiêu sinh vật, động vật đáy, các loài tôm, cá, cua, ốc…rất thuận lợi cho mô hình nuôi cá lóc trong vèo Bên cạnh đó trong những năm trở lại đây nghề nuôi cá lóc trong vèo cũng phát triển mạnh ở các tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang Người dân nuôi cá lóc đã nghỉ đến dung lưới thưa để tiện cho việc quản lý, dễ quan sát khi cho cá ăn, giảm chi phí đầu tư
và thu hoạch
Vèo nuôi có diện tích trung bình khoảng 6-10m2, chiều cao khoảng 2m Vèo nuôi cá lóc có thể đặt trong ao hoặc trên sông mức nước cao hơn 2m Nếu vèo đặt trên sông thì đặt nơi có dòng chảy nhẹ 0,3-0,4m/s, có ánh sáng và gió nhẹ, tránh nơi sóng to gió lớn, xa khu công nghiệp vị trí đặt vèo thuận lợi cho chăm sóc cá Loài cá phổ biến cho nuôi vèo là cá lóc đầu vuông hoặc cá lóc đầu nhím Thức ăn là những loài cá tạp, cua, ốc, thức ăn công nghiệp Ngày cho ăn 2-3 lần, thức ăn được đặt trên sàn ăn để tránh thất thoát, kích thước thức ăn phù hợp với cỡ miệng của cá để cá dễ bắt mồi
Mô hình này có thể nuôi quanh năm nhưng phù hợp nhất là vào tháng 5-9 Tuy nhiên cần xem xét nhu cầu thị trường và nguồn cung cấp thức ăn để bố trí thời gian nuôi thích hợp Việc nuôi cá lóc trong vèo giảm được chi phí đầu tư ban đầu và dễ áp dụng cho những nông
hộ nghèo ít đất Ngoài ra vèo nuôi ít ảnh hưởng bởi nước lũ, nước dâng đến đâu có thể nâng vèo lên đến đó.Nếu nuôi trong ao thì có thể tận dụng khoảng không còn lại để nuôi các loài
cá khác, tận dụng được thức ăn, giảm ô nhiễm môi trường, tăng thêm thu nhập
Sau 5-6 tháng nuôi thì thu hoạch trọng lượng trung bình 0,7-0,8kg/con nếu nuôi tốt, nhìn chung đây là mô hình nuôi đã mang lại rất nhiều thu nhập cho người dân tạo công ăn việc
Trang 22làm trong mùa lũ Theo (Nguyễn Văn Dính, 2004) thì nuôi cá lóc trong mùng lưới là giải pháp xóa đói giảm nghèo nhanh nhất cho nông dân
Tuy nhiên hình thức nuôi này vẫn gặp không ít khó khăn trong khâu quản lý chất lượng nước, kỹ thuật nuôi, nguồn thức ăn và giá cả trên thị trường Mặt khác ảnh hưởng của hình thức nuôi này lên môi trường xung quanh như: ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng nguồn lợi tự nhiên cũng chưa được đánh giá
2.6.3 Nuôi cá lóc trên ruộng lúa
Diện tích vuông ruộng nuôi cá lóc từ 0,5-3ha phải có mương và bờ bao xung quanh Mương rộng từ 1,5-2m, sâu 0,8-1m Phải có hệ thống cống cấp thoát nước khi cần thiết Mật độ thả nuôi từ 0,5-1con/ m2 và thời gian nuôi 6-7 tháng Trong mô hình này thường không cần cho
cá ăn nhưng để cá phát triển nhanh hơn người ta thường thả kết hợp một số loài cá khác như:
cá mè vinh, cá rô phi để nâng cao năng suất của ruộng nuôi
Nhìn chung cách nuôi này đòi hỏi diện tích ruộng khá lớn, tốn nhiều chi phí thiết kế vuông ruộng và khâu thu hoạch, khó quản lý và chăm sóc cá nuôi, cá chậm lớn
2.6.4 Nuôi cá lóc trong rừng
Từ việc làm đìa nhử cá tự nhiên, nay con người đã biết đưa những diện tích rừng vào nuôi cá gần 4.000ha, tập trung nhiều ở rừng U minh, khu Tràm Chim, các rừng nước ngọt, sông cụt, nước kém lưu thông là nơi nuôi và dưỡng cá lóc tự nhiên Nơi đây có điều kiện sống thích hợp cho cá lóc, thức ăn tự nhiên rất phong phú có tại chỗ Có thể nuôi cá 2-3 năm, cá đạt vài
kg mỗi con (Dương Tấn Lộc, 2011)
Rừng thích hợp để nuôi cá lóc là rừng có nhiều lung bào trũng, cây thưa vừa phải hoặc đất
có khoảng trống và cây dày đặc, có nơi ngập từ 0,3m trở lên trong suốt thời gian 5-7 tháng hay quanh năm Diện tích rừng 50-5.000ha có thể thiết kế cho một vuông nuôi Cỡ cá giống thả có chiều dài 8-10cm và mật độ 0,5-1con/m2 mặt nước Nguồn thức ăn của cá lóc chủ yếu
có từ tự nhiên như: cá sặc, cá rô đồng, cá tạp nhỏ, ốc nhái, cào cào, động vật phù du, ấu trùng muỗi…Để tăng sinh khối lúc thu hoạch cá lóc người ta thường thả nuôi thêm cá sặc, cá
rô đồng…Thu hoạch cá bằng lưới chụp đìa, mỗi năm thu 1-2 lần
Với cách nuôi này có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trong thời gian nuôi, tuy nhiên mô hình này cũng gặp một số trở ngại như: tỷ lệ hao hụt cao, năng suất cá không ổn định, diện tích nuôi quá rộng nên khó khăn trong khâu quản lý, dễ xảy ra trộm cắp và các động vật ăn thịt cá lóc nuôi
2.6.5 Nuôi cá lóc trong lồng bè
Năng suất và tỷ lệ mắc bệnh của cá lóc nuôi trong lồng bè phụ thuộc rất nhiều vào vị trí đặt
bè Bè nuôi nên đặt những nơi có dòng nước tốt, không bị ô nhiễm, dòng nước chảy chậm,
có mực nước sâu, giao thông thuận tiện, đồng thời gần nơi tiêu thụ sản phẩm Kích cở bè nuôi thường là 4x3, 5x2,5m Cỡ cá từ 6-10cm/con, mật độ thả trung bình là 120-130con/m3
(Đại học An Giang, 2003) Thức ăn chính là cá băm nhỏ, phế phẩm ở các chợ như đầu cá,
Trang 23ruột cá…xay nhuyễn đặt lên sàn ăn cho cá ăn Thường sau 5 tháng nuôi cá đạt trọng lượng
1kg/con.(Ngô Trọng Lư, 2003)
Ưu điểm của phương pháp này là cá lớn nhanh, nhưng nhược điểm là tốn chi phí đầu tư ban đầu cho việc đóng bè, tìm vị trí đặt bè thích hợp, chụi ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện tự nhiên, khó quản lý dịch bệnh và nguồn nước, dễ thất thoát nếu bè có hư hỏng
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU