Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường và Ban chủ nghiệm khoa Lâm nghiệp, tôi về thực tập tại Thị Xã Sông Công với tên đề tài: “Đánh giá thực trạng gây tr
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÙ VĂN TRUNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG GÂY TRỒNG CÂY CHÙM NGÂY
(MORINGA OLEIFERA) TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Vũ Văn Thông
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các số liệu được thu thập khách quan và trung thực Kết quả nghiên cứu chưa được
sự dụng công bố trên tài liệu nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
LÙ VĂN TRUNG
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận cho sinh viên
đã sửa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, Họ và tên)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong các trường Đại học, thời gian thực tập tốt nghiệp là khoảng thời gian rất quan trọng vì mỗi sinh viên đều có điều kiện, thời gian tiếp cận đi sâu vào thực tế, củng cố lại kiến thức đã học, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu, trau dồi kiến thức, kỹ năng của thực tế vào trong công việc
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường
và Ban chủ nghiệm khoa Lâm nghiệp, tôi về thực tập tại Thị Xã Sông Công
với tên đề tài: “Đánh giá thực trạng gây trồng cây Chùm ngây (Moringa Oleifera) tại Thị xã Sông Công Tỉnh Thái Nguyên” Sau một thời gian
nghiên cứu, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Có được kết quả này trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ tận tình của Ts.VŨ VĂN THÔNG trong suất qúa trình thực hiện đề tài Nhân dịp này tôi cũng xin cảm ơn toàn thể thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, các cấp chính quyền và
bà con nhân dân Thị Xã Sông Công đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
LÙ VĂN TRUNG
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Phân tích hàm lượng dinh dưỡng của Moringa 5
Bảng 4.1 Diện tích cây Chùm ngây 23
Bảng 4.2 Bảng điều tra hộ gia đình trồng Chùm ngây 25
Bảng 4.3.Sinh trưởng chiều cao và đường kính gốc trung bình 28
Bảng 4.3 Số cây bị hại trên tổng số cây điều tra 31
Bảng 4.2 Bảng năng suất lá trung bình của từng hộ 33
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
X : là trị số trung bình
Xi : là trị số của các cá thể theo i
N : là dung lượng mẫu
VA : là giá trị gia tăng thêm của mô hình
GO : là tổng thu nhập
IC : là Chi phí sản xuất
H : là hiệu quả kinh tế
Q : là kết quả thu được
C : là chi phí sản xuất
ĐH :Là đại học
TP : Là thành phố TTCN :Là tiểu thụ công nghiệp
CN : Là công nghiệp
NN : Là nông nghiệp PTNT : Là phát triển nông thôn
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU…….… ………1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩ đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Khái quát cây Chùm ngây 3
2.2 Trên thế giới 6
2.3 Tại Việt Nam 8
2.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh lý, sinh thái 8
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 11
2.4.1 Điều kiện tự nhiên 11
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14
2.4.3 Tình hình sản xuất 16
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 19
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 19
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19
3.2.2 Thời gian tiến hành 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.3.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn 20
3.3.6 Đề ra các giải pháp để phát triển và mở rộng diện tích trồng Chùm ngây tai địa bàn nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nhiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 20
3.4.2 Phương pháp xử lí số liệu 21
Trang 7PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Thực trạng gây trồng cây Chùm ngây tại Thị xã Sông công 23
4.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây Chùm ngây trên địa bàn nghiên cứu 27
4.2.1 Tình hình sinh trưởng Hvn, D00, khả năng đâm chồi được thể hiện tại bảng 4.3 27
4.2.2 Tình hình sâu bệnh hại 30
4.3 Thu hoạch và chế biến sản phẩm 32
4.3.1 Thu hoạch 32
4.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây Chùm ngây trên địa bàn nghiên cứu 35
4.3.1 Hiệu quả kinh tế: 35
4.3.2 Tác động xã hội 37
4.3.3 Đánh giá tác động môi trường 38
4.3.4 Đánh giá những yếu tố thuận lợi khó khăn trong phát triển cây Chùm ngây 39
4.4 Đề xuất một số biện pháp để phát triển và mở rộng diện tích trồng Chùm ngây tại địa bàn nghiên cứu 40
4.4.1 Biện pháp kỹ thuật 40
4.4.2 Biện pháp quản lý 41
4.5.2 Biện pháp về chính sách 41
PHẦN 5 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 44
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay xã hội ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao, kèm theo đó là nhu cầu về thực phẩm và an toàn thực phẩm
ngày càng được trú trọng, đặc biệt là những loài thân thiện với môi trường có khả năng thích nghi tốt với nhiều kiểu khí hậu lại vừa có hàm lượng dinh dưỡng cao so với những thực phẩm thong thường Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cả trong nước và thế giới đã chứng minh cây Chùm ngây là loài thực phẩm có nhiều công dụng Loài cây này mới chỉ xuất hiện ở việt nam tại một số vùng như: Nha Trang, Phan Thiết, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Phú Quốc, trồng để cung cấp lá cây làm rau, chế biến làm trà túi lọc cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu sang 3 thị trường chính đó là
Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc Với nhu cầu tiêu thụ ở thời điểm hiện
tại, với thực tế nguồn cung nhỏ, hẹp và rải rác hiện nay thì việc phát triển vùng nguyên liệu với quy mô lớn là cần thiết Nhất là việc phát triển giống cây Chùm ngây ra các tỉnh miền Trung, miền Bắc
Chùm ngây là cây có giá trị kinh tế cao, nhiều nhà hoạch định cho rằng chum ngây là “cây xoá đói giảm nghèo” Cây có thế thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu nên có thể trồng ở vùng đất bạc màu, khô cằn, yêu cầu kĩ thuật chăm sóc loài cây này không quá cao nên người dân dễ dạng áp dụng và thực hiện được, việc mở ra một hướng kinh tế mới đem lại hiệu quả và tăng thêm thu nhập cho người dân, tuy nhiên tại các tỉnh vùng núi phía bắc nói chung cũng như tỉnh Thái nguyên nói riêng việc phát triển loài cây này mới chỉ là bước mở đầu, quy mô còn nhỏ lẻ chưa thống kê được Vì vậy được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS Vũ Văn Thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:
Trang 9“Đánh giá thực trạng gây trồng cây Chùm ngây (Moringa Oleifera) tại Thị
xã Sông Công Tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng gây trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển
cây Chùm ngây tại địa bàn nghiên cứu
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các đặc điểm sinh thái học của loài cây Chùm ngây
- Xác định được thực trạng gây trồng phân bố loài Chùm ngây tại địa bàn
- Đề xuất được các giải pháp khắc phục những khó khăn trong việc
phát triển vào cây này tại địa phương và các vùng lân cận
1.4 Ý nghĩ đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là cơ hội giúp sinh viên biết cách nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Bổ sung tư liệu cho học tập
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá và thống kê được tình hình gây trồng cây Chùm ngây tại địa
bàn nghiên cứu và khả năng cung ứng cũng như nhu cầu thị trường về nguồn thực phẩm này
- Xác định được khó khăn, tồn tại trong việc phát triển loài cây này Tìm được giải pháp cụ thể để loài cây này được mở rộng trở thành cây thực phẩm phổ biến
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát cây Chùm ngây
- Tên thông dụng: Chùm ngây (VN), Moringa (international) ,
Drumsticktree(US),Horseradishtree,Behen,DrumstickTree,IndianHorseradish,
Noix de Bahen
- Tên Khoa học: Moringa oleifera hay M Pterygosperma thuộc họ Moringaceae
- Nhà Phật gọi là cây Độ Sinh (Tree of Life )
- Nguồn gốc: Cây xuất xứ từ vùng Nam Á, có lịch sử hơn 4 ngàn năm, nhưng phổ biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi Cây Chùm ngây rất phổ thông ở Ấn Độ và được dân tộc Ấn trân trọng đặt tên là cây Độ sinh Là loài cây ưa sáng, mọc nhanh, giai đoạn đầu ưa bóng nên có thể trồng xen, khi cây lớn điều chỉnh ánh sáng, phân cành cao, vỏ màu hơi xanh khi còn non, màu trắng mốc khi đã già, tái sinh chồi mạnh với những nơi có độ ẩm cao, đất xốp, những nơi tầng mùn dày tái sinh hạt yếu Cây chịu hạn tốt, chịu được những nơi đất xấu cằn cỗi
Cây Chùm ngây ( Moringa Oleifera) hiện được trồng ở 80 quốc gia
trên thế giới , những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng Các quốc gia đang phát triển sử dụng Moringa như dược liệu kỳ diệu kết hợp chữa những bịnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và thực phẩm dinh dưỡng
Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics Cây Chùm ngây cung cấp một hỗn hợp pha trộn nhiều hợp chất như zeatin, quercetin, beta-sitosterol caffeoylquinic acid và kaempferol, rất hiếm gặp tại các loài cây khác Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây,
Trang 11quả và hoa có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy-hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm Cây đã được dùng
để trị nhiều bệnh trong Y-học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á Gỗ
cây Chùm ngây rất nhẹ, có thể dùng làm củi nhưng năng lượng không cao Nó
được xem là nguồn nhiên liệu tiềm năng cho kĩ nghệ giấy với chất lượng bột
giấy được so sánh ngang với cây dương( Poputus.sp) Vỏ cây thường làm thảm chùi chân hay bện làm dây thừng ở châu Phi, ngoài ra tại Jamaica và Senegal, người ta còn sử dụng vỏ cây làm thuốc nhuộm vải.(Foil, 2006) Cây Chùm ngây thuộc loại cây mọc nhanh và dễ tính, sống được ở những nơi khô cằn và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu được hạn hán Vì vậy, ở nhiều nơi trên thế giới, cây Chùm ngây được trồng làm hàng rào xanh che chắn cho các khu sản xuất nông nghiệp, che bóng cho các cây công nghiệp dài ngày, chắn gió, chắn cát bay Ngoài ra, cây có lá nhỏ, thân thon , tán đẹp nên
được trồng làm cảnh, ngoài ra cây còn chữa nhiều chất dinh dưỡng có trong lá
Chùm ngây như sau:
Trang 12Bảng 2.1 : Phân tích hàm lượng dinh dưỡng của Moringa
STT
Thành phần dinh dưỡng/100gr
Trái tươi Lá tươi
Bột lá khô
Trang 132.2 Trên thế giới
Chùm ngây được xem là một cây đa dụng, rất hữu ích tại những quốc gia nghèo, vì vậy nó được nghiên cứu rất nhiều về trồng trọt, thu hái, cũng như nghiên cứu về các hoạt tính y dược học, giá trị dinh dưỡng Đa số các nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ, Philippines, và Châu Phi
Nghiên cứu nhiều nhất về giá trị của Moringa oleifera Lam được thực hiện tại Đại Học Nông Nghiệp Falsalabad- Pakistan Theo nghiên cứu tại Đại học Nông Nghiệp Falsalabad- Pakistan: Moringa oleifera Lam (Moringaceae) vừa là một nguồn dược liệu vừa là một nguồn thực phẩm rất tốt Các bộ phận
Trang 14của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất
đạm, vitamin, beta - carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics…
Nghiên cứu tại Institute of Bioagricultural Sciences, Academia Sinica,
Đài Bắc: dịch chiết từ lá và hạt Chùm Ngây có các hoạt tính diệt được nấm
gây bệnh loại Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes, Epidermophyton floccosum và Microsporum canis, dầu trích từ lá Chùm Ngây có đến 44 hóa chất (Bioresource Technology Số 98-2007)
Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (Ấn Độ): Kết quả cho thấy Chùm Ngây có tác dụng gây hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân (Journal of Ethnopharmacology Số
86 - 2003) Nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu Kỹ Thuật (CEMAT) tại thủ đô Guatemala, nước Guatemala ở phía Nam Mêhicô: Dịch trích bằng nước nóng của hoa, lá, rễ, hạt vỏ thân Chùm Ngây có hoạt tính chống co giật, hoạt tính chống sưng và tác dụng lợi
Nước trích từ hạt cho thấy tác động ức chế khá rõ sự co giật gây ra bởi acetylcholine ở liều ED50 = 65.6 mg/ml môi trường, tác động ức chế phụ gây
ra do carrageenan được định ở 1000mg/kg và hoạt tính lợi tiểu cũng ở 1000 mg/kg Nước trích từ rễ cũng cho một số kết quả (Journal of Ethnopharmacology Số 36 - 1992)
Một số các hợp chất, các chất gây đột biến gen đã được tìm thấy trong hạt Chùm Ngây rang chín: Các chất quan trọng nhất được xác định là 4 (alpha Lrhamnosyloxy) phenylacetonitrile, 4 - hydroxyphenylacetonitrile và 4 – hydroxyphenyl - acetamide(Mutation Research Số 224-1989)
Nghiên cứu tại ĐH Jiwaji, Gwalior (Ấn độ) về các hoạt tính estrogenic, kháng estrogenic, nước chiết từ rễ Chùm ngây có tác dụng ngừa thai(Journal
of Ethnopharmacology Số 22 - 1988) Hạt Chùm Ngây có chứa một số hợp
Trang 15chất “đa điện giải” (polyelectrolytes) tự nhiên có thể dùng làm chất kết tủa để làm trong nước
Kết quả thử nghiệm lọc nước: Nước đục (độ đục 15 - 25 NTU, chứa các
vi khuẩn tạp 280-500 cfu ml 1), khuẩn coli từ phân 280-500 MPN 100 ml 1)) dùng hạt Chùm ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ, đưa đến kết quả rất tốt (độ đục còn 0.3 - 1.5 NTU, vi khuẩn tạp còn 5 - 20 cfu, và khuẩn coli còn 5-10 MPN ) Phương pháp lọc này rất hữu dụng tại các vùng nông thôn của các nước nghèo và được áp dụng khá rộng rãi tại Ấn độ (Journal of Water and Health Số 3 - 2005)
(-Thử nghiệm tại ĐH Dược K.L.E.S, Nehru Nagar, Karnakata (Ấn Độ) ghi nhận dịch chiết bằng nước và alcohol rễ cùng lõi gỗ Chùm Ngây làm giảm rõ rệt nồng độ oxalate trong nước tiểu bằng cách can thiệp vào sự tổng hợp oxalate trong cơ thể Đây được xem như một một biện pháp phòng ngừa bệnh sạn thận Dr Reyes, 1990: đã nghiên cứu trồng trọt bằng hạt để thu hái làm dược liệu theo phương pháp luân phiên như sau: mỗi cây con trồng cách nhau
từ 10 đến 50 cm, sau 75 ngày thu hái lá và cành non ở phía trên bằng cách cắt ngang thân cây cách gốc 20 - 30 cm, sau đó chăm sóc tiếp và thu hái, cây sẽ cho ra nhánh và cành non sau đó Trung bình mỗi năm thu hoạch được 4 lần, năng xuất trung bình thu được 100 tấn/1 hecta/năm đầu tiên và 57 tấn /hecta/ năm thứ hai
2.3 Tại Việt Nam
2.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh lý, sinh thái
Theo Võ Văn Chi (1997), (2003) [3], [4] viết về cây Chùm ngây như sau: Tên khoa học Moringa oleifera Lam., là một loại cây gỗ nhỏ, nửa rụng
lá, thuộc họ Moringaceae Cây Chùm ngây có dạng sống là cây phân cành thấp, cao từ 10 – 12 m Hệ thống rễ phát triển mạnh, nếu được trồng từ hạt, rễ
Trang 16cái phình to như củ, màu trắng với hệ thống những rễ bên thưa, dài, đâm sâu, lan rộng Nếu trồng bằng cách giâm cành, hệ thống rễ sẽ không được như vậy Thân có vỏ màu trắng xám, dày, mềm, sần sùi nứt nẻ, gỗ mềm và nhẹ Khi bị thương tổn, thân rỉ ra nhựa màu trắng, sau chuyển dần thành nâu Lá kép lông chim 3 lần, lá trưởng thành có thể dài đến 45 cm, rộng 20 – 30 cm Các lá phụ dài khoảng 1.2 - 2.5 cm, rộng 0.6 - 1 cm
Cụm hoa to, dạng hơi giống hoa đậu, tràng hoa gồm 5 cánh, màu trắng, vểnh lên, rộng khoảng 2,5 cm Bộ nhị gồm 5 nhị thụ xen với 5 nhị lép Bầu noãn 1 buồng do 3 lá noãn, đính phôi trắc mô Hoa có mùi thơm thoang thoảng
Quả dạng nang treo, dài 20 – 50 cm, có quả dài đến 1 m nhưng rất hiếm, rộng 2 – 2.5 cm, khi khô mở thành 3 mảnh dày Hạt nhiều (khoảng 26 hạt/trái), tròn dẹp, màu nâu hoặc đen, đường kính khoảng 1 cm, mỗi hạt có 3 góc cạnh với những cánh mỏng màu hơi trắng, trọng lượng mỗi hạt khác nhau, trung bình khoảng 3.000 - 9.000 hạt/kg
Cây Chùm ngây thuộc loài mọc nhanh, phát triển nhanh chóng ở những vùng có điều kiện thuận lợi, có thể tăng trưởng chiều cao từ 1 - 2 m/năm trong vòng 3 đến 4 năm đầu Tuy nhiên, trong một thử nghiệm ở Tanzania, cây trồng từ hạt có thể đạt được chiều cao trung bình 4,1 m trong năm đầu tiên Cây bắt đầu cho quả từ thân và nhánh sau 6 đến 8 tháng trồng, quả sẽ chín sau khi hoa nở khoảng 3 tháng
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) [6] cây Chùm Ngây có khả năng phân bố rộng từ vùng cận nhiệt đới khô đến ẩm cho đến vùng nhiệt đới rất khô đến vùng rừng ẩm Chịu lượng mưa từ 480 - 4000 mm/năm, nhiệt độ 18,7 - 28,5oC và độ pH 4,5 - 8 Chịu được hạn và có thể sinh trưởng tốt trên đất cát khô ở Việt nam, Chùm ngây có thể sống và phát triển tốt trên nhiều loại đất,
từ loại đất đỏ bazan ở Tây Nguyên đến đất sét pha cát hoặc trên đất cát của vùng ven biển (Trung bộ, Nam Trung bộ)
Trang 17Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Văn Luật, vào những năm cuối thế kỉ 20,
Đại sứ Hoàng gia Anh đã tài trợ cho Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long
nghiên cứu trồng cây Chùm ngây dùng làm rau xanh và thuốc nam tại Ô Môn
và một số tỉnh ở Nam bộ Giống cây Chùm ngây đã nghiên cứu là Moringa Oleifera Lam được nhập nội từ Ấn Độ, Hà Lan….[21]
Kỹ sư Nguyễn Hữu Thành và cộng sự (1997) nghiên cứu và có kết luận cây Chùm ngây là cây dễ trồng, có thể trồng bằng hạt hay bằng cách giâm cành, cây tăng trưởng nhanh: Cao từ 4 – 5 m, đường kính cổ rễ từ 5 – 6 cm sau 1 năm trồng và ra hoa kết trái ngay trong năm đầu tiên và cao từ 7 – 8 m,
đường kính cổ rễ từ 7 – 9 cm khi cây được 2 năm tuổi [23]
Theo nghiên cứu của Lương y Nguyễn Công Đức và Lương Y Vũ Quốc Trung( 2006), lá Chùm ngây có chứa vitamin C gấp 7 lần trong trái cam, 4 lần vitamin A trong cà rốt, gấp 4 lần canxi trong sữa, gấp 0.75 lần hàm lượng sắt trong cải bó xôi, gấp 2 lần lượng đạm trong sữa, gấp 3 lần lượng kali trong trái chuối
Theo [21], [22], qua điều tra khảo sát, tháng 2/2009 ngành kiểm lâm An Giang đã phát hiện cây Chùm ngây ở các vườn rừng đồi núi hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một số vườn nhà vùng đông đồng bào Khmer cư trú có trồng cây Chùm ngây nhưng chỉ là để làm hàng rào chứ không biết được đặc tính quí hiếm của cây Từ đây đã mở ra một hướng mới cho đời sống của người dân hai huyện này
Theo [24], hội Làm Vườn & Trang Trại TPHCM với nguồn kinh phí của hội và sự đóng góp của một số chủ trang trại đã thực hiện dự án nhỏ “ Phát
triển cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) trong các hộ dân xã Tân Phú
Trung - Huyện Củ Chi làm nguồn rau xanh dinh dưỡng” Dự án có sự tham gia của 144 hộ dân trồng 1002 cây Chùm ngây và đã kết thúc giai đoạn đầu
Trang 18rất thành công Hiện Hội đang tìm nguồn kinh phí để hỗ trợ người dân nhân rộng mô hình mỗi hộ dân trồng cây Chùm ngây sử dụng trong gia đình Trạm khuyến nông liên quận 12 - Gò Vấp đã xây dựng mô hình trình diễn “Trồng cây Chùm ngây” tại phường Thạnh Xuân và phường Thạnh Lộc quận 12 từ tháng 8/2009 đến tháng 5/2010 Tại Tỉnh Đồng Nai, Chùm ngây
đã được gia đình Thạc sĩ - Dược sĩ Phạm Quang Vinh (trường ĐH Dược-
TPHCM) trồng trên một diện tích rộng, nơi này không chỉ cung cấp rau sạch cho các siêu thị trong thành phố Hồ Chí Minh, mà còn mở rộng thành công ty Hanh Thông chuyên sản xuất trà Chùm ngây
2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1 Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1 Vị trí địa lí khu vực nghiên cứu
Thị xã Sông Công có vị trí khá thuận lợi, nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội, trong vùng công nghiệp xung quanh thủ đô Hà Nội với bán kính 60 km, cách thành phố Thái Nguyên 20 km về phía Nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài 40 km, cách hồ Núi Cốc 17 km, có các tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, đường Quốc lộ 3 và đường sắt Hà Nội - Quan Triều chạy qua phía Đông thị xã, là thị xã công nghiệp nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên, là đô thị bản lề trung chuyển giao lưu hàng hóa giữa tỉnh Thái Nguyên với các đô thị xung quanh và nhất là vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Địa giới hành chính thị xã Sông Công:
- Phía Đông, Tây, Nam giáp huyện Phổ Yên
- Phía Bắc giáp thành phố Thái Nguyên
2.4.1.2 Địa hình, địa mạo
Thị xã Sông Công được dòng sông Công chia làm 2 khu vực phía Đông
và phía Tây tạo 2 nhóm cảnh quan chính:
Trang 19- Khu vực phía Đông có địa hình đồng bằng, xen lẫn gò đồi nhỏ và thấp,
có độ cao trung bình từ 25 - 30 m, phân bố dọc theo thung lũng sông thuộc các xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và các phường Lương Châu, Thắng Lợi, Cải
Đan, Phố Cò, Bách Quang
- Khu vực phía Tây có địa hình chủ yếu là gò đồi và núi thấp với độ cao
80 - 100 m, một số đồi cao khoảng 150 m và núi thấp trên 300 m, phân bố dọc theo ranh giới phía Tây thị xã trên địa phận các xã Bình Sơn và Vinh Sơn
2.4.1.3 Khí hậu thủy văn
a Khí hậu
Thị xã Sông Công nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C, nhiệt độ cao nhất vào các tháng 7, tháng 8, trung bình khoảng 380C, thấp nhất là tháng 1, trung bình khoảng từ 150C - 160C
Thời tiết trong năm có hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng
10, thường có gió Đông Nam thổi về, mang theo hơi nước từ biển Đông vào, gây ra những trận mưa lớn Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau,
thường có gió mùa Đông Bắc tràn xuống, nhiệt độ hạ thấp, tiết trời giá rét
b Thủy văn
Chảy qua địa bàn thị xã theo hướng Bắc - Nam là dòng sông Công Sông Công là con sông chính chảy qua địa bàn thị xã là một trong 3 phụ lưu của sông Cầu, bắt nguồn từ một số hợp lưu nhỏ ở thượng nguồn khu vực miền núi phía Đông tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc huyện Định Hóa Sông Công chảy qua thị xã có chiều dài14,8 km
Dòng sông Công được chặn lại tại huyện Đại Từ, tạo nên một hồ Núi Cốc nhân tạo rộng lớn Đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất công, nông nghiệp và nước sinh hoạt của thị xã Sông Công Sông Công - hồ Núi
Trang 20Cốc là công trình thuỷ lợi lớn có ý nghĩa trong phát triển kinh tế nông nghiệp, bảo vệ môi sinh, tạo thắng cảnh nổi tiếng trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên Ngoài ra, trên địa bàn thị xã, hệ thống sông Công còn có 7 suối lớn đổ vào: Phía Tây có 2 suối lớn chảy qua địa phận các xã Bá Xuyên và Cải Đan, phía Đông có 5 suối chảy qua địa phận các xã Bá Xuyên, Cải Đan, các phường Lương Châu và Thắng Lợi
2.4.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt của thị xã Sông Công chủ yếu từ Sông Công dài 95km, bắt nguồn từ huyện Định Hoá, qua huyện Đại Từ, thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên, rồi nhập vào sông Cầu tại khu vực Đa Phúc Sông Công chảy qua thị xã theo hướng Bắc - Nam với tổng chiều dài là 14,8 km
b Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn thị xã không có các khoáng sản trữ lượng lớn như một số nơi khác trong tỉnh, chỉ có các loại đá xây dựng, đá phiến sét, đất giàu sét có
độ kết vốn lớn (trên 30%), các bãi cát sỏi ở dọc sông Công, có thể khai thác
với quy mô nhỏ
c Tiềm năng du lịch, nhân văn
Mặc dù có diện tích tương đối nhỏ, xong thị xã Sông Công có tài nguyên du lịch khá phong phú Là vùng đất thoải thuộc phía Tây của dãy Tam
Đảo nối liền hàng trăm quả đồi bát úp màu xanh với những đồi chè, rừng cây
và các thung lũng tự nhiên, những hồ nước quanh năm trong xanh (hồ Ghềnh Chè, hồ Núc Nác), là tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Thị xã nổi tiếng với khu di tích lịch sử Căng Bá Vân, đây là một trong những khu di tích lịch sử được Bộ Văn hoá công nhận Nhà nước đã công nhận xã Bình Sơn là xã anh hùng trong thời kỳ kháng chiến
Trang 21Cán bộ và nhân dân các dân tộc thị xã Sông Công với truyền thống cách mạng kiên cường, lịch sử văn hoá lâu đời, giàu bản sắc, đa dạng loại hình, chính vì thế, tài nguyên nhân văn của thị xã rất độc đáo giàu chất dân gian, có 26 di tích văn hóa lịch sử với nhiều lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc được khôi phục và tổ chức hàng năm Người dân thị xã có truyền thống lao động sáng tạo và khả năng tiếp cận nhanh các tiến bộ kinh tế, khoa học kỹ thuật của thời đại, tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhân loại Những truyền thống đó tạo nên các giá trị phi vật thể đóng góp cho sự phát triển của thị xã
2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.3.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế
a Diện tích tự nhiên
Thị xã Sông Công là 8.276,27 ha diện tích tự nhiên Trong đó:
Diện tích đất nông nghiệp: 6.320,91 ha, chiếm 76,4%
Diện tích đất phi nông nghiệp: 1.895,47 ha, chiếm 22,9%
Diện tích đất chưa sử dụng: 59,89 ha, chiếm 0,7%
b Dân số, lao động
Tính đến ngày 31/12/2013, sau khi quy đổi thị xã Sông Công có 85.544 người, trong đó dân khu vực nội thị là 59.568 người Mật độ dân số trung bình của toàn thị xã là 1.033 người/km2
Năm 2013, thị xã có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,701% Nhìn chung biến động dân số của thị xã từ năm 2006 đến nay khá lớn, tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên và tăng cơ học có biến động mạnh do quá trình đô thị hóa của thị xã
Sông Công
Tổng số lao động toàn thị xã là 34.892 người, trong đó lao động khu vực nội thị 23.346 người, ngoại thị 11.546 người Trong khu vực nội thị, lao
Trang 22động nông, lâm, ngư nghiệp có 3.186 người (chiếm 13,65%), lao động phi
nông nghiệp 20.160 người (chiếm 86,35%)
2.3.2.2 Văn hóa xã hội
a Về văn hoá: Trong những năm gần đây, công tác văn hoá thông tin tuyên
truyền của thị xã sông công được quan tâm rõ rệt xã đã tổ chức tốt các hoạt
động văn hoá thông tin, thể dục thể thao nhằm nâng cao sức khoẻ, thể lực và
tinh thần cho nhân dân Tổ chức các buổi dao lưu văn nghệ, mời các đoàn nghệ thuật về phục vụ để đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của nhân dân An ninh quốc phòng được dữ vững và ổn định Tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lui Về công tác xã hội, xã tập chung chỉ đạo về thực hiện công tác thăm hỏi, tặng
quà các gia đình chính sách, trợ cấp cho các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn
b Về giáo dục: Trong những năm qua lĩnh vực giáo dục, đào tạo của thị xã
có bước phát triển toàn diện, chất lượng dạy và học không ngừng được nâng cao, quy mô trường lớp được mở rộng, huy động tối đa trẻ em trong độ tuổi
đến trường, công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục được
coi trọng, duy trì thường xuyên và hiệu quả phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên thường xuyên được tăng cường, đổi mới phương pháp dạy và học, làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu Thị xã đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2001, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến nhà trẻ đạt 100%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đạt 99,8% Đến nay, toàn thị xã đã có
28 trường (05 trường THCS, 10 trường Tiểu học, 13 trường Mầm non với 312 lớp học và 9.673 học sinh), trong đó có 24/28 trường đạt chuẩn quốc gia,
chiếm 85,7%
Hệ thống trường lớp các cấp học được sắp xếp và đầu tư xây dựng ngày càng khang trang hơn, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học được tăng cường Cơ cấu các ngành học được nâng cấp bổ sung Ngoài hệ thống giáo
Trang 23dục phổ thông, đã hình thành nhiều loại hình đào tạo như các lớp dạy nghề,
trung tâm ngoại ngữ, tin học, hướng nghiệp
c Về y tế: Hệ thống y tế từ xã, phường đến thị xã được đầu tư mở rộng
cả về cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế hiện đại cùng với đội ngũ thầy thuốc
có trình độ chuyên môn, có y đức đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu và điều trị bệnh cho nhân dân Trên địa bàn thị xã có Bệnh viện C, Trung tâm y tế thị xã và các Trạm Y tế của các xã, phường Hàng năm, đã thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia tại các cơ sở y
tế trên địa bàn Xây dựng xã đạt chuẩn về y tế theo Bộ tiêu chí Quốc gia, tăng cường công tác kiểm tra, quản lý nhà nước về y, dược, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Nâng cao chất lượng chăm sóc, sức khỏe cho nhân dân Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân trong thực hiện chính sách dân số, kế
hoạch hoá gia đình Năm 2013, thị xã có 08/10 cơ sở y tế đạt chuẩn quốc gia
2.4.3 Tình hình sản xuất
Thực hiện các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật và nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả như: Mô hình bí xanh, cây thanh long ruột đỏ, chè cao sản Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh giá trị trên đơn vị diện tích, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ Quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh, phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, năm 2013:
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 17.901 tấn, tăng 3,35% kế hoạch tỉnh giao, tăng 3,18% kế hoạch thị xã, tăng 3,95% so với cùng kỳ Trong đó, sản lượng thóc 14.635 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ, ngô 3.266 tấn, tăng 12,4% so với cùng kỳ, sản lượng một số cây hoa màu đạt khá so với
kế hoạch đề ra; diện tích chè trồng mới và trồng lại đạt 21,85 ha, bằng 109,3%
Trang 24kế hoạch tỉnh giao, tăng 9,3% so với cùng kỳ, nâng diện tích chè của thị xã lên 730 ha
- Tổng diện tích rừng sản xuất trên địa bàn thị xã đạt 153,35 ha, trong
đó trồng rừng theo chương trình 147 của Thủ tướng Chính phủ 100 ha, đạt
100% kế hoạch tỉnh giao Công tác quản lý nhà nước về lâm sản được kiểm tra chặt chẽ, công tác phòng chống cháy rừng được thực hiện nghiêm túc
* Nhận xét chung về thuận lợi và khó khăn
Qua điều tra tình hình thực tế của thị xã chúng tôi nhận thấy xã có một
số những khó khăn thuận lợi như sau:
Thuận lợi
Thị xã Sông Công nằm ở vùng trung du Bắc bộ, tiếp giáp giữa vùng rừng núi và đồng bằng bắc bộ, dân cư đông là tiền đề để phát triển kinh tế nông nghiệp Hơn nữa thị xã lại có nhiều đường giao thông thủy bộ ngang dọc, có Quốc lộ 3, đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên và tuyến đường sắt Hà Nội - Quan Triều chạy qua nên thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, tiêu thụ các sản phẩm nông lâm nghiệp, ứng dụng các tiến độ kĩ thuật và vận chuyển, đi lại của người dân
Thị xã còn có lợi thế là diện tích tương đối bằng phẳng nên thuận lợi cho việc phát triển các mô hình nông lâm kết hợp và các loại hình kinh tế trang trại Thêm vào đó thị xã còn có mạng lưới ao hồ kênh rạch rộng lớn thuận tiện cho việc tưới tiêu vào mùa khô và phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản
Thị xã có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các ban ngành đoàn thể thị xã Sông Công, sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng Uỷ, chính quyền địa phương Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các đoàn thể chính trị xã hội đã đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn, phối hợp thực hiện tốt các nhiệm vụ đề ra
Trang 25Đội ngũ cán bộ chuyên môn và các cơ sở của xã giỏi về chuyên môn,
không ngừng năng lực, năng động, sáng tạo và rất có trách nhiệm trong việc chỉ đạo các trương trình, đề án phát triển kinh tế xã hội
Đối với người dân, nhiều hộ đã biết được các thành tựu của khoa học kĩ
thuật, việc tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất cũng
dễ dàng hơn Nhận thức của bà con ngày càng được nâng cao nên việc đưa các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn sản xuất một cách phù hợp và kịp thời luôn được bà con hưởng ứng nhiệt tình
Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đó, thị xã còn gặp nhiều khó khăn sau:
Là một thị xã công nghiệp nên trong lĩnh vực nông nghiệp chưa được chú trọng, vốn đầu tư còn hạn chế, điều này làm cho việc ứng dụng khoa học
kĩ thuật ngày càng khó khăn
Sự biến động về giá cả hàng hoá phục vụ cho tiêu dung hàng ngày tăng quá cao, nhất là phân bón, thức ăn gia súc và các loại giống lúa khan hiếm Bên cạnh đó mặt hàng nông sản quan trọng là chè búp giá lại không ổn
định dẫn đến thu nhập của nhân dân trong xã còn chưa cao
Sự phân bố dân cư không đều nên ảnh hưởng tới việc tuyên chuyền phổ cập khoa học kỹ thuật trong sản xuất tới từng hộ nông dân
Mạng lưới thú y cơ sở còn yếu trong tổ chức và quản lý, do vậy nên việc kiểm soát dịch bệnh chưa được tốt Tập quán chăn nuôi còn lạc hậu nên việc
áp dụng các biện pháp vệ sinh thú y và phòng bệnh còn khó thực hiện
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cây Chùm ngây (Moringa Oliefera)
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng gây trồng, tình hình sinh trưởng của Cây Chùm ngây tại thị
xã Sông Công
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm thực tập điều tra nghiên cứu trên toàn bộ các xã phường có
trồng cây Chùm ngây của thị xã Sông công
3.2.2 Thời gian tiến hành
Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng gây trồng cây Chùm ngây tại Thị xã Sông công
- Khả năng sinh trưởng của cây Chùm ngây trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của cây Chùm ngây trên địa bàn nghiên cứu
+ Hiệu quả kinh tế
+ Tác động xã hội
Trang 27+ Tác động về môi trường
3.3.5 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn
3.3.6 Đề ra các giải pháp để phát triển và mở rộng diện tích trồng Chùm ngây tai địa bàn nghiên cứu
3.4 Phương pháp nhiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, đánh giá trên thực địa
- Chỉ tiêu sinh trưởng Hvn và D00
- Khả năng ra chồi sau mỗi lần thu hoạch lá
Để thu thập được số liệu của đề tài tiến hành các công việc như sau:
- Tiến hành phỏng vấn người dân trên địa bàn Thị Xã Sông Công ở các
xã khác nhau Số liệu ghi vào phụ biểu 1
- Sau khi phỏng vấn xong ta tiến hành đo đường kính, sinh trưởng Hvn
ở giai đoạn chưa thu hoạch lần đầu và D00 Số liệu điều tra ghi vào phụ biểu 2
+ Chiều cao vút ngọn (Hvn): là chiều cao tính từ mặt đất đến ngọn cây trong đề tài tôi đo chiều cao vút ngọn của cây bằng thức dây
+ Đường kính gốc trung bình (D00): là đường kính đo ở gốc của cây
- Điều tra phỏng vấn hộ gia đình tham gia trồng cây Chùm ngây tại địa
phương về những khó khăn, thuận lợi và những rủi ro gặp phải khi trồng cây
Trang 28Chùm ngây (Điều tra các hộ trồng cây Chùm ngây trong xã dự kiến khoảng
15 hộ) số liệu ghi vào phụ biểu 2
3.4.2 Phương pháp xử lí số liệu
Từ những số liệu thu thập qua các mẫu biểu điều tra, tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học lâm nghiệp và tính toán được sử lí trên các phần mềm chuyên dụng như excel…
a Trị số trung bình được tính theo trung bình cộng.Hvn, DC1.3, tỷ lệ cây sống
Trong đó:
- X: là trị số trung bình
- xi: là trị số của các cá thể theo i
- n: là dung lượng mẫu
b Tính hiệu quả kinh tế
VA = GO – IC Trong đó:
- VA là giá trị gia tăng thêm của mô hình
- GO là tổng thu nhập
- IC là Chi phí sản xuất Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giá trị kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để được kết quả đó
Trong đó:
- H là hiệu quả kinh tế
- Q là kết quả thu được
- C là chi phí sản xuất
H = Q – C
Trang 29c Cách xác định hiệu quả về mặt xã hội và môi trường
Sau khi tiến hành điều tra phỏng vấn thu thập thông tin từ cán bộ và người dân và qua nghiên cứu tài liệu , sách , báo, truyền hình … Quan sát thực tế tại địa phương Khu vực địa bàn trồng cây Chùm ngây mang lại hiệu quả kinh tế có tác động đến đời sống của người dân tại địa phương tại địa bàn nghiên cứu tác động đến hiệu quả môi trường ra làm sao từ đó có thể đánh giá được hiệu quả về mặt xã hội và môi trường
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng gây trồng cây Chùm ngây tại Thị xã Sông công
Khu vực trồng cây Chùm ngây của hai địa điểm nghiên cứu nhằm phát triển cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cũng như đem ra buôn bán trên thị trường đã được gây trồng tại hai nơi của địa bàn xã Vinh Sơn, Phường Lương Châu thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên Đây là hai địa
điểm đang được gây trồng cây Chùm ngây với tổng diện tích gây trồng của
ít do người dân còn chưa biết đến giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế mà cây đem lại Mặc dù cây Chùm ngây có giá trị kinh tế rất cao và đã được gây
trồng nhiều tại địa bàn
- Quá trình phát triển cây Chùm ngây trên địa bàn thị xã Sông công + Vì là cây trồng mới đưa vào gây trồng nên chưa được sự hưởng ứng của bà con nông dân trên địa bàn thôn Tân Sơn và Phường Lương Châu nên diện tích trống cây còn ít và nhỏ lẻ ở hộ gia đình Mối hộ chỉ đưa vào trồng thử ở gia đình vài trăm cây để thử nghiệm cây trồng mới