Khi đến thực tập tại công ty TNHH Viễn Bằng, cùng với kiến thứctiếp thu được tại trường kết hợp với thực tiễn nghiên cứu tìm tòi, nhận thức được vaitrò quan trọng của pháp luật đối với h
Trang 1TÓM LƯỢC
Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây được coi là thời gian bùng nổ các sảnphẩm thực phẩm chức năng, thị trường thực phẩm chức năng phát triển như vũ bão Sốlượng cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năngngày càng gia tăng và số lượngsản phẩm thực phẩm chức năng không chỉ đa dạng về mẫu mã, chủng loại, mà còn cảcông dụng… Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này, hàng loạt vấn đề bất cập của hoạtđộng quản lý và kinh doanh thực phẩm chức năng đã bộc lộ Nhiều doanh nghiệp lúngtúng trong việc tiến hành các thủ tục kinh doanh thực phẩm chức năng, nhiều cơ sở sảnxuất, kinh doanh thực phẩm chức năng chưa đạt tiêu chuẩn, nhiều sản phẩm thực phẩmchức năng không rõ nguồn gốc, xuất xứ… Bên cạnh đó, một bộ phận đông đảo ngườitiêu dùng chưa hiểu rõ về thực phẩm chức năng, sử dụng sai do quá tin hay lạm dụngthực phẩm chức năng đã gây ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ khiến thị trường thực phẩmchức năng ngày càng trở nên hỗn loạn
Ở Việt Nam, các quy định hiện hành về sản phẩm này được quy định trong Luật
An toàn thực phẩm 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội Việt Nam, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm 55/2010/QH12 và Thông tư
số 43/2014/TT-BYT về quản lý thực phẩm chức năng,ngày 24 tháng 11 năm 2014, Bộ
Y tế ban hành
Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định đối với thực phẩm chức năng nói chung,kinh doanh thực phẩm chức năng nói riêng vẫn còn chưa được chặt chẽ và rõ ràng dẫnđến nhiều khó khăn trong quản lý và kinh doanh
Trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Viễn Bằng, tôi đã được tìm hiểu vềlĩnh vực kinh doanh thực phẩm chức năng Nhận thấy xu hướng phát triển của ngànhsản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng cũng như tầm quan trọng của pháp luật
điều chỉnh lĩnh vực này, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Pháp luật về kinh doanh thực phẩm chức năng và thực tiễn thực hiện tại công ty trách nhiệm hữu hạn Viễn Bằng”.
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Thương Mại, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn, giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trong trường.Qua quá trình học tập tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức để vận dụng vào công việc
của mình trong tương lai Với đề tài khóa luận “Pháp luật về kinh doanh thực phẩm chức năng và thực tiễn thực hiện tại công ty trách nhiệm hữu hạn Viễn Bằng ”, tôi đã
có cơ hội làm quen với môi trường làm việc thực tế và vận dụng các kiến thức đã đượchọc Sau thời gian thực tập tại công ty trách nhiệm hữu hạn Viễn Bằng đến nay tôi đãhoàn thành khóa luận của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong trường Đại học Thương Mại,đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với Tiến sĩ Đinh ThịThanh Nhàn đã tận tìnhchỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành tốt bài khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ, côngnhân viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn Viễn Bằng đã tạo điều kiện giúp tôi hoànthành khóa luận của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do còn hạn chế về lý luận và kinh nghiệmthực tế, tài liệu tham khảo và tính chất đề tài nên bài khóa luận của tôi không tránhkhỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các cô chú, anhchị trong công ty và các thầy, cô giáo để bài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 3MỤC LỤC TÓM LƯỢC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 1
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2
3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 4
4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
4.3 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ KINH DOANH THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 7
1.1 Khái quát về vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng 7
1.1.1 Khái niệm thực phẩm chức năng 7
1.1.2 Phân biệt thực phẩm chức năng với thực phẩm thường và thuốc 8
1.1.3 Khái niệm về kinh doanh thực phẩm chức năng 9
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng 10
1.2.1Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng……… 10
1.2.1.1 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1.2 Cơ sở pháp lý 11
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng 12
1.2.2.1 Nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh về thực phẩm chức năng 12
1.2.2.2 Nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh về chủ thể kinh doanh thực phẩm chức năng 13
1.2.2.3 Nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ghi nhãn, quảng cáo và thu hồi thực phẩm chức năng 13
Trang 41.3 Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức
năng……… 14
1.3.1 Nguyên tắc tự do, bình đẳng trong kinh doanh thực phẩm chức năng 14
1.3.2 Nguyên tắc đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng……… 14
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ KINH DOANH THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 16
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng 16
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng 16
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng 17
2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng 18
2.2.1 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh thực phẩm chức năng 18
2.2.1.1 Yêu cầu về báo cáo thử nghiệm hiệu quả về công dụng 18
2.1.1.2 Yêu cầu về kiểm nghiệm 19
2.2.1.3 Công bố hợp quy và phù hợp quy định an toàn thực phẩm 20
2.2.2 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh chủ thể kinh doanh thực phẩm chức năng 21
2.2.2.1 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh 21
2.2.2.2 Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ và người trực tiếp kinh doanh thực phẩm chức năng 22
2.2.3 Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ghi nhãn, quảng cáo và thu hồi thực phẩm chức năng 23
2.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng tại công ty TNHH Viễn Bằng 24
2.3.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH Viễn Bằng 24
2.3.1 Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật điều chỉnh thực phẩm chức năng……… 25
2.3.1.1 Thực trạng thực hiện quy phạm về thử nghiệm hiệu quả về công dụng đối với thực phẩm chức năng 25
2.3.1.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm về kiểm nghiệm thực phẩm chức năng 25
Trang 52.3.1.3 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật về công bố hợp quy và phù hợp
an toàn thực phẩm 26
2.3.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật đối với chủ thể kinh doanh 26
2.3.2.1 Thực trạng thực hiện quy phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh 26
2.3.2.2 Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật về điều kiện đối với cơ sở, trang thiết bị, dụng cụ và người trực tiếp kinh doanh thực phẩm chức năng 27
2.3.3 Thực trạng thực hiện các quy định pháp luật đối với các hoạt động ghi nhãn, quảng cáo và thu hồi thực phẩm chức năng 28
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ KINH DOANH THỰC PHẨM CHỨC NĂNG 32
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng 32
3.2 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng 33
3.3 Những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu 35
KẾT LUẬN 37 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Theo điều tra của Hiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam, năm 2000 cả nướcmới có 13 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng (TPCN), thì đến năm 2005con số này đã lên tới 143 cơ sở Đến năm 2009, cả nước đã có 1.114 cơ sở TPCN vàđến tháng 7/2014, con số này là trên 4.500 cơ sở Nếu năm 2000, mới chỉ có 63 sảnphẩm TPCN có mặt tại thị trường Việt Nam thì chỉ từ 2011 – 2013, thị trường đã xuấthiện khoảng 10.000 sản phẩm, trong đó khoảng 40% là hàng nhập khẩu Cũng theoHiệp hội Thực phẩm chức năng Việt Nam, gần như cả ngành dược Việt Nam đã nhảyvào lĩnh vực TPCN với con số công bố chính thức là 1.781 doanh nghiệp đã tham giasản xuất TPCN tính đến cuối năm 2012
Mặc dù thị trường TPCN ở nước ta đang rất phát triển, nhưng pháp luật quy định
về kinh doanh TPCN vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trên thực tế Việc quản
lý kinh doanh TPCN vẫn còn đang bỏ ngỏ Luật quy định chung chung, không cụthể…
Hệ thống văn bản pháp quy về kinh doanh TPCN còn chưa hoàn chỉnh Pháp luật
về kinh doanh TPCN vẫn nằm chung trong các quy định về thực phẩm, được điều
chỉnh bởi LuậtAn toàn thực phẩm năm 2010, tuy nhiên, TPCN là một loại thực phẩm đặc biệt chưa được Luật An toàn thực phẩm điều chỉnh một cách đặc thù.
Mặt khác, Cơ quan quản lý nhà nước về thực phẩm đang quá tải với nhiệm vụquản lý vệ sinh an toàn thực phẩm (ATTP) chưa tập trung được vào lĩnh vực rấtchuyên biệt TPCN với rất nhiều hoạt động quản lý: Công bố chất lượng, ghi nhãn,quảng cáo TPCN, cấp phép hoạt động kinh doanh hoặc kiểm tra hoạt động của doanhnghiệp kinh doanh TPCN
Công nghiệp sản xuất và kinh doanh TPCN của Việt Nam còn manh mún nhỏ lẻ,công nghệ lạc hậu, chưa có sự đầu tư khoa học-công nghệ tiên tiến Chất lượng, hiệuquả của TPCN trong nước chưa được đánh giá, thiếu bằng chứng khoa học Các công
bố về lợi ích sức khỏe thiếu cơ sở khoa học, nhiều trường hợp thổi phồng công dụngcủa TPCN làm người tiêu dùng không tin tưởng Hơn nữa, trong bối cảnh thị trườnglộn xộn, không ít chủ thể kinh doanh TPCN thiếu lương tâm, vô đạo đức, thiếu tráchnhiệm với sức khỏe người tiêu dùng
Căn cứ báo cáo của các đoàn thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế trong đợt thanh trakéo dài từ tháng 12/2013 đến tháng 6/2014 và báo cáo của 50/63 tỉnh, thành phố thì viphạm trong kinh doanh TPCN đang có xu hướng gia tăng Cụ thể:
Trang 8Với tổng số 4.514 cơ sở được thanh kiểm tra đã phát hiện 1.974 cơ sở có vi phạmcác quy định về ATTP, chiếm 43,73% Các nội dung vi phạm chủ yếu bao gồm: viphạm quy định về sức khỏe, kiến thức, thực hành ATTP của người tham gia sản xuất,kinh doanh thực phẩm chiếm 30,3% số cơ sở được kiểm tra.Vi phạm về quảng cáoTPCN chiếm 19,01% với các hành vi như: quảng cáo khi không có giấy xác nhận nộidung quảng cáo, quảng cáo không đúng với nội dung đã đăng ký, gây hiểu lầm nhưthuốc chữa bệnh, Các loại vi phạm về ghi nhãn chiếm 9,05%, vi phạm điều kiệntrang thiết bị, dụng cụ chiếm 5,41%, điều kiện vệ sinh cơ sở chiếm 3,83%, công bố sảnphẩm chiếm 3,33% Ngoài ra, một số vi phạm khác về giấy chứng nhận cơ sở đủ điềukiện ATTP, giấy đăng ký kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, chiếm 28,33% Đốivới các mẫu kiểm nghiệm, với tổng số 97 mẫu được kiểm nghiệm đã có kết quả, có tới
17 mẫu không đạt, chiếm 17,53%
Thông tin từ Cục An toàn thực phẩm cho biết, Trong quý I/2016, Cục An toànthực phẩm đã ra quyết định xử phạt hành chính 20 công ty TPCN vi phạm về ATTP.Trong đó, có 13 công ty vi phạm về quảng cáo, 6 công ty vi phạm về chất lượng sảnphẩm, 1 công ty vi phạm 2 hành vi: quảng cáo và ghi nhãn
Do vậy, để các chủ thể kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh TPCN cóhiệu quả, đúng theo quy định của pháp luật, các cơ quan chức năng dễ dàng trong quản
lý và để quyền lợi người tiêu dùng thực sự được bảo vệ, thì các quy định pháp luật vềkinh doanh TPCN trước mắt cần phải được quy định rõ ràng hơn và sau đó tiến tới xâydựng một khung pháp lý riêng cho TPCN ở nước ta
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, nếu Việt Nam không giải quyết được các vấn đềpháp lý về TPCN, thì thị trường TPCN rất có triển vọng ở nước ta sẽ bị chiếm lĩnh bởicác nhà sản xuất kinh doanh TPCN có uy tín của các nước ASEAN và các đối tác củaHiệp định TPP
Tôi hy vọng với kết quả nghiên cứu này, không chỉ mang lại lợi ích cho bản thântrong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu pháp luật mà còn có thể giúp các doanh nghiệpthực hiện hoạt động kinh doanh TPCN hiệu quả hơn và tuân thủ đúng quy định củapháp luật
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Ở Việt Nam, có rất ít công trình nghiên cứu về pháp luật kinh doanh TPCN ,màchủ yếu là các bài viết ngắn trên các báo, tạp chí và các công ty tư vấn pháp luật,có thể
kể đến là:
-Thạc sĩ Phạm Thị Vân Thành (2014), “Quy định pháp luật về thực phẩm chức
năng của Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Cục Quản lý cạnh tranh, truy cập
ngày 13 tháng 3 năm 2014,
Trang 9-Phòng tư vấn pháp luật (2015), “Điều kiện mở cửa hàng kinh doanh thực phẩm
chức năng Thủ tục và các điều kiện pháp định khi kinh doanh các sản phẩm thực phẩm chức năng”, công ty Luật Dương Gia, truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2015,
<https://luatduonggia.vn/dieu-kien-mo-cua-hang-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang >.Theo công ty Luật Dương Gia, điều cốt yếu đầu tiên để được kinh doanh TPCN
là cần có giấy phép kinh doanh, hồ sơ để xin giấy phép bao gồm:
Thứ nhất, đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận
Thứ hai, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Thứ ba, bản thuyết minh về điều kiện cơ sở vật chất đủ điều kiện về sinhATTP,bản cam kết đảm bảo vệ sinh ATTP đối với nguyên liệu thực phẩm và sản phẩm dođơn vị sản xuất kinh doanh
Thứ tư, giấy chứng nhận sức khỏa của người trực tiếp sản xuất kinh doanh do cơ
sở y tế có thẩm quyền cấp và chứng nhận hoàn thành khóa tập huấn về vệ sinh ATTPcho người trực tiếp sản xuất kinh doanh
-Phòng thông tin phản ánh của tổ chức và công dân (2013), “4 điều kiện kinh
doanh thực phẩm chức năng”, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, truy cập ngày 9 tháng 12 năm Co-quan-chuc-nang/4-dieu-kien-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang/204304.vgp> Theo bài viết có 4 điều kiện cần đáp ứng để được kinh doanh TPCN là:
2013,<http://baochinhphu.vn/Doanh-nghiep-Một là cơ sở có giấy đăng ký kinh doanh có ngành nghề kinh doanh thực phẩm.Hai là cơ sở có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP theo quy định tại
Thông tư số 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012 của Bộ Y tế.
Ba là sản phẩm TPCN phải được cấp giấy xác nhận công bố phù hợp quy định
ATTP theo quy định tại Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩmnăm 2010.
Cuối cùng là lô hàng TPCN nhập khẩu vào Việt Nam phải được kiểm tra tại
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp thông báo lô hàng đạt chất lượng nhậpkhẩu
Trang 10-Luật sư Phan Vũ Tuấn (2015), “ Quy định pháp luật về kinh doanh thực phẩm
chức năng”, Báo Sài Gòi giải phóng, truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2015,
<http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2015/9/397417/>
Theo bài viết, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh TPCN cần đáp ứng 4 nhómđiều kiện gồm: nhóm điều kiện về cơ sở kinh doanh, nhóm điều kiện về trang thiết bịdụng cụ, nhóm điều kiện về người trực tiếp kinh doanh và nhóm điều kiện về việc bảoquản TPCN
Tuy nhiên các bài viết trên chỉ mới dừng ở việc đưa ra các quy định chung củapháp luật, chưa nghiên cứu riêng, cụ thể và toàn diện về pháp luật kinh doanh TPCN.Bài khóa luận này sẽ đi sâu phân tích cụ thể vấn đềkinh doanh TPCN theo pháp luậthiện hành và thực tiễn thực hiện tại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Viễn Bằng
Từ đó, chỉ ra những thuận lợi, bất cập và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về kinh doanh TPCN
3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Mặc dù ngành công nghiệp sản xuất và kinh doanh TPCN của nước ta đang pháttriển vô cùng mạnh mẽ, nhưng hành lang pháp lý về kinh doanh TPCN tại Việt Namchưa rõ ràng, dẫn đến những bất cập không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn với cơquan quan quản lý Khi đến thực tập tại công ty TNHH Viễn Bằng, cùng với kiến thứctiếp thu được tại trường kết hợp với thực tiễn nghiên cứu tìm tòi, nhận thức được vaitrò quan trọng của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh TPCN, tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài: “Pháp luật về kinh doanh thực phẩm chức năng và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Viễn Bằng” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
Qua quá trình tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu, nhận thấy đây là một đề tài mới,chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích thực trạng các quy phạm phápluật điều chỉnh về vấn đề kinh doanh TPCN.Dựa trên những quy định của pháp luật,các tài liệu tham khảo, và thực tiễn thực hiện tại đơn vị, khóa luận sẽ đưa ra các cơ sởpháp lý làm tiền đề để đi sâu phân tích lý luận cũng như thực tiễn thực hiện tại công tyTNHH Viễn Bằng, từ đó có những kiến nghị cần thiết nhằm hoàn thiện các quy địnhcủa pháp luật điều chỉnh về vấn đề kinh doanh TPCN cũng như việc đảm bảo thực thipháp luật tại đơn vị nói riêng và các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinhdoanh TPCN nói chung Cụ thể, khóa luận sẽ đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích những lý luận cơ bản của pháp luật về kinh doanh TPCN.Thứ hai, phân tích một cách cụ thể, có hệ thống thực trạng các quy phạm phápluật điều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHHViễn Bằng
Trang 11Thứ ba, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề kinhdoanh TPCN.
4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.
4.1Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những lý luận cơ bản, thực trạng phápluật điều chỉnh về TPCN, tập trung vấn đề kinh doanh TPCN và thực tiễn thực hiện tạicông ty TNHH Viễn Bằng
4.2Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, phân tích thực trạng, thực tiễnthực hiện pháp luật kinh doanh TPCN tại doanh nghiệp, nhằm:
Thứ nhất, tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luậtđiều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN
Thứ hai, nêu ra thực trạng thực hiện và đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnhvấn đề kinh doanh TPCN
Thứ ba, lập luận, đề ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật kinhdoanhTPCN
4.3Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian, phạm vi nghiên cứu nên khóa luận chỉ tập trung làmsáng tỏ một số vấn đề chính Cụ thể phạm vi nghiên cứu của khóa luận như sau:
Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu pháp luật về kinh doanh TPCN kể từ khi
Luật An toàn thực phẩmnăm 2010 có hiệu lực và thực tiễn thực hiện pháp luật kinh
doanh TPCN của công ty TNHH Viễn Bằng từ năm 2009 đến nay
Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý về kinh doanhTPCN tại Việt Nam, nghiên cứu điển hình tại công ty TNHH Viễn Bằng
Về phạm vi nguồn luật nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu các quy định của pháp
luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010, các văn bản hướng dẫn thi hànhLuật An toàn thực phẩm năm 2010 và Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy định về quản lý thực phẩm chức năng, doBộ Y tế ban hành, có
hiệu lực từ ngày 15 tháng 1 năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Thứ nhất, phương pháp so sánh:Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong
chương 1, so sánh TPCN với thực phẩm thông thường và thuốc, so sánh các định
Trang 12nghĩa về TPCN ở một số quốc gia trên thế giới để tìm ra điểm tương đồng và khácbiệt Từ đó hiểu được bản chất của TPCN.
Thứ hai, phương pháp phân tích: dựa trên các văn bản pháp luật, các bài viết trên
báo, tạp chí có liên quan đến đề tài nghiên cứu đã thu thập được, tiến hành phân tíchnội dung và thực trạng các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN
và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Viễn Bằng
Thứ ba, phương pháp tổng hợp: từ các kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để nhận
thức đầy đủ, đúng đắn, hiểu được nội dung các quy phạp pháp luật điều chỉnh vấn đềkinh doanh TPCN và đề xuất giải pháp hoàn thiện
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt, lời mở đầu vàdanh tài liệu tham khảo, kết cấu bài khóa luận gồm 3 chương :
Chương 1 Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thựcphẩm chức năng
Ở chương này, khóa luận đưa ra những khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luậtkinh doanh TPCN như khái niệm về TPCN, khái niệm về kinh doanh TPCN Tiếp đến
là cơ sở ban hành, những nội dung của pháp luật kinh doanh TPCN và nguyên tắc điềuchỉnh kinh doanh TPCN
Chương 2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chứcnăng và thực tiễn thực hiện tại công ty TNHH Viễn Bằng
Trong chương 2, khóa luận nêu tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởngđến pháp luật kinh doanh TPCN Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điềuchỉnh vấn đề kinh doanh TPCN và thực trạng thực hiện tại công ty TNHH Viễn Bằng
Từ đó đưa ra các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu
Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật kinh doanh thực phẩm chứcnăng
Từ những lý luận và phân tích các nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề kinhdoanh TPCN ở chương 1 và chương 2, chương 3 đưa ra các quan điểm xây dựng vàhoàn thiện pháp luật kinh doanh TPCN, kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện phápluật.Cuối cùng, đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
VẤN ĐỀ KINH DOANH THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
1.1Khái quát về vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng
1.1.1 Khái niệm thực phẩm chức năng
Ở mỗi quốc gia,TPCN có tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung cùng có tính chất
là các sản phẩm bổ sung hoặc thay thế các chất dinh dưỡng và những chất có lợi chosức khoẻ, giúp duy trì, tăng cường sức khoẻ và phòng ngừa bệnh tật, đặc biệt các sảnphẩm này không phải là thực phẩm đơn thuần nhưng cũng không phải là thuốc chữa bệnh.Năm 1991, chữ TPCN được đưa ra với ý nghĩa ban đầu là những thực phẩm chếbiến, chứa các hoạt chất có thể giúp một vài chức năng cơ thể hoàn thành nhiệm vụkhả quan hơn, ngoài công dụng dinh dưỡng
Các nước châu Âu, Mỹ, Nhật đưa ra định nghĩa rằng TPCN là một loại thựcphẩm ngoài hai chức năng truyền thống là: cung cấp các chất dinh dưỡng và thoả mãnnhu cầu cảm quan, còn có chức năng thứ ba được chứng minh bằng các công trìnhnghiên cứu khoa học như tác dụng giảm huyết áp, chống táo bón, cải thiện hệ vi khuẩnđường ruột…
Hiệp Hội thực phẩm sức khoẻ và dinh dưỡng thuộc Bộ Y tế Nhật Bản, định
nghĩa: “TPCN là thực phẩm bổ sung một số thành phần có lợi hoặc loại bỏ một số thành phần bất lợi Việc bổ sung hay loại bỏ phải được chứng minh và cân nhắc một cách khoa học và được Bộ Y tế cho phép xác định hiệu quả của thực phẩm đối với sức khoẻ”.
Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Mỹ, định nghĩa: “TPCN là thực phẩm mang đến nhiều lợi ích cho sức khoẻ, là bất cứ thực phẩm nào được thay đổi thành phần qua chế biến hoặc có các thành phần của thực phẩm có lợi cho sức khoẻ ngoài thành phần dinh dưỡng truyền thống của nó”
Hiệp Hội thông tin thực phẩm quốc tế (IFIC), định nghĩa: “ TPCN là thực phẩm
mang đến những lợi ích cho sức khoẻ vượt xa hơn dinh dưỡng cơ bản”.
Hiệp Hội nghiên cứu thực phẩm Leatherhead (châu Âu): Cho rằng khó có thểđịnh nghĩa TPCN vì sự đa dạng phong phú của nó Các yếu tố chức năng đều có thể bổ
sung vào thực phẩm hay nước uống Tổ chức này cho rằng: “TPCN là thực phẩm
được chế biến từ thức ăn thiên nhiên, được sử dụng như một phần của chế độ ăn hàng
ngày và có khả năng cho một tác dụng sinh lý nào đó khi được sử dụng”.
Tại Hàn Quốc, trong Pháp lệnh về TPCN(năm 2002) đã có định nghĩa như
sau:“TPCN là sản phẩm được sản xuất, chế biến dưới dạng bột, viên nén, viên nang,
Trang 14hạt, lỏng có các thành phần hoặc chất có hoạt tính chức năng, chất dinh dưỡng có
tác dụng duy trì, thúc đẩy và bảo vệ sức khoẻ”.
Tại Trung Quốc, không dùng thuật ngữ TPCN mà dùng thuật ngữ: thực phẩm
sức khoẻ, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ Bộ Y tế Trung Quốc đã có quy định về thực
phẩm sức khoẻ (11/1996) và định nghĩa như sau: “Thực phẩm sức khoẻ:Là thực phẩm
có chức năng đặc biệt đến sức khoẻ, phù hợp cho một nhóm đối tượng nào đó, có tác dụng điều hoà các chức năng của cơ thể và không có mục đích sử dụng điều trị”
Từ năm 1999, TPCN từ các nước bắt đầu nhập khẩu chính thức vào Việt Nam.Đồng thời, do có sẵn nguồn nguyên liệu, có sẵn dây truyền sản xuất thuốc và đội ngũcông nhân chuyên nghiệp cùng trào lưu phát triển TPCN trên thế giới, các công tydược, các cơ sở sản xuất thuốc Y học cổ truyền bắt đầu chuyển sang sản xuất, kinh
doanh TPCN Theo Khoản 23 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010của Việt Nam, TPCN được hiểu là “thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng
y học”.
Khái quát lại có thể đưa ra một định nghĩa như sau: TPCN là thực phẩm (hoặcsản phẩm) dùng để hỗ trợ (phục hồi, duy trì hoặc tăng cường) chức năng của các bộphận trong cơ thể, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăngsức đề kháng và giảm bớt nguy cơ bệnh tật
Nhìn nhận một cách khách quan, sự phát triển của thị trường TPCN tại Việt Namkhông phải chỉ là một hiện tượng bùng phát nhất thời, mà đó chính là những dấu hiệucủa xu hướng tương lai khi mà TPCN giàu vitamin tất yếu sẽ trở thành một trongnhững nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá Hiện nay, một số doanh nghiệp sản xuất vàkinh doanh TPCN nổi tiếng ở Việt Nam, được người tiêu dùng quan tâm như: Công ty
Lô Hội với nhãn hiệu Agri+, Vitolize, CardioHealth, Công ty Herbalife Việt Nam vớinhãn hiệu Herbalife, Công ty TNHH Tư vấn Y dược quốc tế với nhãn hiệu VươngBảo, Vegeplus …
1.1.2 Phân biệt thực phẩm chức năng với thực phẩm thường và thuốc
Thứ nhất, TPCN khác với thực phẩm thường
TPCN được sản xuất, chế biến theo công thức: bổ sung một số thành phần có lợihoặc loại bớt một số thành phần bất lợi Việc bổ sung hay loại bớt phải được chứngminh và cân nhắc một cách khoa học và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chophép (thường là phải theo tiêu chuẩn) Còn thực phẩm thông thường được chế biếntheo công thức thô, chưa loại bỏ được các chất bất lợi TPCN có tác dụng với sức khỏe(một số chức năng sinh lý của cơ thể) nhiều hơn là các chất dinh dưỡng như thực phẩm
Trang 15thông thường Nghĩa là, TPCN ít tạo ra năng lượng cho cơ thể như các loại thực phẩm,
ví dụ, gạo, thịt, cá… TPCN được sử dụng với liều nhỏ, thậm chí tính bằng gram,miligram như là thuốc, đối tượng sử dụng có chỉ định rõ rệt như người già, trẻ em, phụ
nữ tuổi mãn kinh, người có hội chứng thiếu vi chất, rối loạn chức năng sinh lý nàođó… Nhưng thực phẩm thông thường lại được sử dụng với số lượng lớn, cho mọi đốitượng và thời gian sử dụng thường xuyên, suốt đời, khó sử dụng cho người ốm, già,bệnh lý đặc biệt
Thứ hai, TPCN không phải là thuốc
Đối với thuốc, nhà sản xuất công bố trên nhãn là sản phẩm thuốc, có tác dụngchữa bệnh, phòng bệnh với công dụng, chỉ định, liều dùng, chống chỉ định Còn đốivới TPCN, nhà sản xuất công bố trên nhãn sản phẩm là thực phẩm, đảm bảo chấtlượng vệ sinh an toàn sức khỏe, phù hợp với các quy định về thực phẩm TPCN có thể
sử dụng thường xuyên, lâu dài nhằm nuôi dưỡng, bổ dưỡng hoặc phòng ngừa các nguy
cơ gây bệnh… mà vẫn an toàn, không có độc hại, không có phản ứng phụ Người tiêudùng có thể tự sử dụng theo hướng dẫn cách sử dụng của nhà sản xuất mà không cầnkhám bệnh, hoặc thầy thuốc phải kê đơn…Còn đối với thuốc, điều kiện sử dụng phải
có chỉ định, kê đơn của bác sĩ
1.1.3 Khái niệm về kinh doanh thực phẩm chức năng
Tất cả các cá nhân, tổ chức không thuộc quy định tại Điều 18 Luật Doanh nghiệpnăm 2014 đều được phép thành lập công ty hoạt động kinh doanh TPCN.
Theo Khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo Khoản 8 Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, “Kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm”.
Như vậy, có thể hiểu kinh doanh TPCN là việc thực hiện một, một số các hoạtđộng giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển, hoặc buôn bán TPCN nhằmmục đích sinh lợi.Thực tế cho thấykinh doanh thực phẩm nói chung, kinh doanh TPCNnói riêng phần lớn là hoạt động buôn bán thực phẩm
Căn cứ vào Luật Doanh nghiệpnăm 2014, doanh nghiệp kinh doanh TPCN có
các quyền như : Tự do, tự chủ kinh doanh, chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng
và ký kết hợp đồng buôn bán TPCN, tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêucầu kinh doanh, khiếu nại, tố cáo và tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật…Đặc biệt, doanh nghiệp kinh doanh TPCN còn có các quyền trong đảm bảo ATTP theo
Trang 16Luật An toàn thực phẩmnăm 2010, như quyền quyết định các biện pháp kiểm soát nội
bộ để duy trì chất lượng vệ sinh ATTP, lựa chọn cơ sở kiểm nghiệm để kiểm tra antoàn TPCN, lựa chọn cơ sở kiểm nghiệm đã được chỉ định để chứng nhận hợp quy đốivới thực phẩm nhập khẩu, yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu TPCN hợp táctrong việc thu hồi và xử lý TPCN không bảo đảm an toàn
Bên cạnh các quyền thì tổ chức, cá nhân kinh doanh TPCN cũng phải thực hiệncác nghĩa vụ như:thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp,tổchức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thờihạn, thực hiện các nghĩa vụ tài chính,đảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng củangười lao động, tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn đối với TPCN trong quá trìnhkinh doanh và chịu trách nhiệm về thực phẩmdo mình kinh doanh, thông tin trung thực
về an toàn TPCN,tôn trọng và đảm bảo sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng,tuânthủ quy định của pháp luật và các quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan Nhànước, hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật khi TPCN mất an toàn domình kinh doanh gây ra
1.2Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng
1.2.1Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng
1.2.1.1 Cơ sở thực tiễn
TPCN bùng nổ tại thị trường Việt Nam trong vài năm trở lại đây với hàng chụcngàn sản phẩm đã và đang được lưu hành Điều này đặt ra bài toán là làm sao vừa cóthể quản lý tốt, lại vừa tạo điều kiện cho những TPCN chất lượng đến được tay ngườitiêu dùng và khuyến khích doanh nghiệp thực hiện kinh doanh
Hiện nay có khoảng 10.000 sản phẩm được công bố, lưu hành và khoảng 3.000doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh TPCN Các mặt hàng TPCN lưu hành trênthị trường với rất nhiều kênh phân phối Điều đó cho thấy đây là một thị trường rộng
mở, nhiều tiềm năng mà các doanh nghiệp trong nước có thể phát triển và khai thác.Tuy nhiên, thị trường TPCN ngày càng trở nên bát nháo, khó kiểm soát Vi phạm
về kinh doanh TPCN ngày càng tăng Chủ yếu là các vi phạm về kinh doanh TPCNkhông đúng chất lượng đã công bố, quảng cáo TPCN sai sự thật, cường điệu hóa, thầnthánh hóa công dụng của TPCN và kinh doanh TPCN ở mọi nơi, không đảm bảo vệsinh Do đó, nhiều người tiêu dùng đang trở thành nạn nhân của TPCN, đặc biệt làTPCN giả Không ít người đã phải nhập viện vì dùng hàng kém chất lượng
Trang 17Với tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động kinh doanh TPCN, kéo theo đó làhàng loạt vi phạm liên quan, đòi hỏi Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luậtđiều chỉnh về TPCN, nhất là vấn đề kinh doanh TPCN.
tháng 4 năm 2012 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 178/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP Trong đó, ngoài các quyđịnh chung, còn có các quy định cụ thể đối với TPCN như: Điều kiện bảo đảm antoàn đối với TPCN, điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm nhập khẩu, tiếp nhậnbản công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP, hồ sơ công bố phù hợp quyđịnh ATTP đối với sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn sản phẩm, vi phạmquy định về điều kiện bảo đảm ATTP đối với TPCN và vi phạm quy định về điều kiệnđảm bảo ATTP đối với thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm xuất khẩu
Ngày 24 tháng 11 năm 2014, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy định về quản lý TPCN Thông tư này quy định các hoạt động liên quan đến sản xuất,
kinh doanh, công bố sản phẩm, ghi nhãn và hướng dẫn sử dụng TPCN bao gồm thựcphẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và thực phẩm dinh dưỡng y học, kể cả thựcphẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt
Ngoài ra, vấn đề kinh doanh TPCN còn được điều chỉnh bởi các văn bản phápluật sau:
-Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13, Quốc hội ban hành ngày 21 tháng 6 năm 2012 -Nghị định181/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
quảng cáo, Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2013.
-Thông tư số 08/2013/TT-BYThướng dẫn về quảng cáo thực phẩm thuộc phạm vi
quản lý của Bộ Y tế, Bộ Y tế ban hành ngày 13 tháng 3 năm 2013.
-Thông tư số 19/2012/TT-BYT hướng dẫn việc công bố hợp quy và công bố phù
hợp quy định an toàn thực phẩm, Bộ Y tế ban hành ngày 9 tháng 11 năm 2012.
-Thông tư số 15/2012/TT-BYT quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực
phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, Bộ Y tế ban hành ngày 12 tháng
9 năm 2012
Trang 18-Thông tư số 16/2012/TT-BYT quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ
sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, Bộ Y tế ban hành ngày 22 tháng 10 năm 2012.
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng
Pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN là tập hợp các quy phạm pháp luật
do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động kinh doanhTPCN
Căn cứ vào Luật An toàn thực phẩmnăm 2010 và các Nghị định, Thông tư quy
định vềvấn đề kinh doanh TPCN Nội dung pháp luật điều chỉnh kinh doanh TPCN cóthể chia thành các nhóm quy phạm chính sau: Thứ nhất là các quy phạm quy định vềTPCN được kinh doanh.Thứ hai là các quy phạm quy định về chủ thể kinh doanhTPCN Ngoài ra, còn các quy phạm quy định về ghi nhãn, quảng cáo, thu hồi TPCNtrong quá trình doanh nghiệp thực hiện kinh doanh TPCN
1.2.2.1 Nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh về thực phẩm chức năng
Theo quy định của pháp luật,sản phẩm TPCN phải được cấp giấy xác nhận công
bố phù hợp quy định ATTP Cụ thể: Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy định về quản lý thực phẩm chức năng quy định:
Đối với TPCN nhập khẩu và sản xuất trong nước, cần được công bố hợp quy đốivới các quy chuẩn kỹ thuật đã được cơ quan có thẩm quyền quy định Trường hợpchưa có các quy chuẩn kỹ thuật liên quan thì TPCN phải được công bố phù hợp quyđịnhATTP Nếu TPCN lần đầu tiên đưa ra thị trường hoặc có công dụng mới chưađược kiểm chứng, cần được tiến hành thử nghiệm hiệu quả về công dụng của sảnphẩm
Thông tư cũng nêu rõ sẽ cần phải thực hiện thử nghiệm hiệu quả về công dụngvới sức khỏe con người với một số sản phẩm TPCN như: những sản phẩm công bốkhuyến cáo có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh, sản phẩm công bố công dụng mới chưađược công nhận tại các quốc gia khác trên thế giới, sản phẩm có chứa hoạt chất mớichưa được cho phép sử dụng…Việc thử nghiệm hiệu quả về công dụng cũng cần ápdụng với những sản phẩm bảo vệ sức khỏe có công thức khác với sản phẩm đã có bằngchứng khoa học chứng minh, lần đầu tiên đưa ra lưu thông trên thị trường, sản phẩm
có nguồn gốc từ thực vật, động vật lần đầu tiên đưa ra thị trường có thành phần cấu tạokhác với thành phần cấu tạo của các sản phẩm y học cổ truyền cổ phương, cổ phươnggia giảm đã được đăng tải trên các tạp chí khoa học, thực phẩm dinh dưỡng y học vàthực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt chưa được cơ quan có thẩm quyền hoặc cơquan được ủy quyền hoặc pháp luật của nước xuất xứ cho phép, nước xuất khẩu xác
Trang 19nhận về công dụng, đối tượng sử dụng và cách dùng được phép ghi trên nhãn hànghóa.
Đối với TPCN nhập khẩu, ngoài việc đáp ứng các điều kiện như sản phẩm sảnxuất trong nước, doanh nghiệp phải đăng ký bản công bố hợp quy tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trước khi nhập khẩu, phải được cấp “Thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu” đối với từng lô hàng của cơ quan kiểm tra được chỉ
định theo quy định và phải có giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc giấy chứng nhận y
tế theo quy định của Chính phủ
1.2.2.2 Nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh về chủ thể kinh doanh thực phẩm chức năng
Cơ sở kinh doanh TPCN phải có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP Cụthể, doanh nghiệp thực hiện kinh doanh TPCN cần đáp ứng 4 nhóm điều kiện sau:nhóm điều kiện về ngành nghề đăng ký kinh doanh, nhóm điều kiện về cơ sở kinhdoanh, nhóm điều kiện về trang thiết bị dụng cụ và nhóm điều kiện về người trực tiếpkinh doanh
Đối với nhóm điều kiện về đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp kinh doanh TPCNcần có giấy đăng ký kinh doanh có ngành nghề kinh doanh thực phẩm
Theo Thông tư số 15/2012/TT-BYT quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, quy định:
Đối với 2 nhóm điều kiện về cơ sở kinh doanh và trang thiết bị dụng cụ, doanhnghiệp cần đảm bảo có cơ sở kinh doanh được xây dựng đạt yêu cầu về việc bảo quảnTPCN, có trang thiết bị dụng cụ đạt yêu cầu trong việc trưng bày và bảo quản phù hợpvới yêu cầu của từng loại TPCN
Đối với người trực tiếp kinh doanh TPCN, điều kiện được đặt ra là phải đảm bảo
về sức khỏe, không mắc các bệnh truyền nhiễm hoặc các bệnh không được tiếp xúcvới TPCN, phải được tập huấn kiến thức ATTP và được cấp giấy xác nhận tập huấn
1.2.2.3 Nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ghi nhãn, quảng cáo và thu hồi thực phẩm chức năng
Đối với hoạt động ghi nhãn TPCN, ngoài việc phải thực hiện theo quy định ghinhãn đối với thực phẩm bao gói sẵn về tên sản phẩm, thành phần cấu tạo của sản phẩm
và các nội dung ghi nhãn bắt buộc quy định tại Chương II quy định về ghi nhãn và
cách ghi nhãn của Thông tư liên tịch số 34/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 27
tháng 10 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Bộ Công Thương hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm
và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm bao gói sẵn, việc ghi nhãn TPCN đối với từng nhóm
thực phẩm cụ thể còn phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy
Trang 20định về quản lý thực phẩm chức năng Như: Công bố khuyến cáo về nguy cơ, nếu
có.Tên sản phẩm và các nội dung trên nhãn phải phù hợp nội dung đã công bố và cáctài liệu kèm theo trong hồ sơ công bố sản phẩm
Đối với hoạt động quảng cáo TPCN, phải được thực hiện theo quy định pháp luật
về quảng cáo.Việc quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe trên phương tiện nghe nhìn
phải có dòng chữ chú ý: “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”.
Đối với hoạt động thu hồi TPCN, Thông tư số 43/2014/TT-BYT quy định về quản
lý thực phẩm chức năngcũng quy định các trường hợp TPCN không đảm bảo phải
được thu hồi, như :quá thời hạn sử dụng, không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật hoặcquy định về ATTP của Bộ Y tế, lưu thông trên thị trường mà chưa có chứng nhận hợpquy hoặc xác nhận phù hợp quy định ATTP…
1.3Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh thực phẩm chức năng
1.3.1 Nguyên tắc tự do, bình đẳng trong kinh doanh thực phẩm chức năng
Ghi nhận quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp là nền tảng quan trọng cho việc hình thành và phát triển của pháp luật kinh doanh TPCN Hiến pháp năm 2013 đã
thừa nhận quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của công dân
Điều 33 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện cụ thể
trong các nội dung như: quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, quyền tự do lựachọn mô hình kinh doanh,quyền tự do lựa chọn loại hình tổ chức kinh tế,quyền tự dolựa chọn hình thức, cách thức huy động vốn, quyền tự do hợp đồng, quyền tự do lựachọn hình thức, cách thức giải quyết tranh chấp, quyền tự do cạnh tranh lành mạnh.Tổchức, cá nhân đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định về kinh doanh TPCN đềuđược thực hiện hoạt động kinh doanh TPCN
Thị trường TPCN muốn phát triển phải dựa trên sự cạnh tranh lành mạnh giữacác chủ thể tham gia Pháp luật về kinh doanh TPCN phải được tạo lập dựa trên quyền
tự do kinh doanh và sự bình đẳng đảm bảo các doanh nghiệp, cạnh tranh lành mạnh ,không trái đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh
1.3.2 Nguyên tắc đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
ATTP là việc đảm bảo để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con
người Luật An toàn thực phẩmnăm 2010 quy định: “Bảo đảm ATTP là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm” Nguyên tắc này đòi hỏi TPCN trước
khi đưa ra thị trường phải được cấp giấy xác nhận công bố phù hợp quy định ATTP và
Trang 21cơ sở kinh doanh TPCN có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiệnATTP Bên cạnh đó,
quyền lợi của người tiêu dùng TPCN phải được tôn trọng và bảo vệ Theo Khoản 1 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, thì người tiêu dùng thực phẩm nói chung
và TPCN nói riêng có các quyền như: quyền được cung cấp thông tin trung thực về antoàn thực phẩm, hướng dẫn sử dụng, bảo quản, lựa chọn, sử dụng thực phẩm phù hợp,yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi, khiếu nại,
tố cáo, khởi kiện và được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
Nguyên tắc đảm bảo ATTP và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là một nguyêntắc quan trọng của pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN, thể hiện sự quantâm của Nhà nước đến quyền lợi và sức khỏe người tiêu dùng Thông qua nguyên tắcnày, pháp luật quy định các doanh nghiệp kinh doanh TPCN chỉ được kinh doanh cácthực phẩm chất lượng và đã đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, nếu vi phạm doanhnghiệp sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ KINH
DOANH THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng
Năm 2004, Thông tư số 08/2004/TT-BYThướng dẫn quản lý sản phẩm thực phẩm chức năng là công cụ quản lý đầu tiên được áp dụng với ngành TPCN tại Việt Nam.
Theo đó, lần đầu tiên tại Việt Nam, TPCN được định nghĩa là thực phẩm được dùng để
hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho
cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh Thông tư
số 08/2004/TT-BYTcó ghi rõ điều kiện để xác định một sản phẩm TPCN sẽ được quản
lý theo các quy định của pháp luật về thực phẩm, phải có công bố tiêu chuẩn vệ sinhATTP của Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế trước khi lưu hành trên thị trường Thôngtin, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật
Năm 2010, khái niệm TPCN được đưa vào trong Điều 2 Luật An toàn thực phẩm
số 55/2010/QH12 TPCN vẫn được quản lý theo các quy định của pháp luật đối với
thực phẩm
Năm 2012,Nghị định 38/2012/NĐ-CPquy định chi tiết một số điều trongLuật An toàn thực phẩm số năm 2010 vềTPCN đã được ban hành Nghị định 38/2012/NĐ- CPquy định TPCN phải có công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP, quy định về ghi nhãn sản phẩm rõ ràng hơn so với Thông tư số 08/2004/TT-BYT Thông
tư số 19/2012/TT-BYT là tài liệu hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Nghị định 38/2012/ NĐ-CP của Chính phủ về công bố hợp quy và công bố phù hợp quy định ATTP Trong năm 2012, cũng đánh dấu sự ra đời của Thông tư 26/2012/TT-BYTquy định cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đối với các cơ sở sản xuất,kinh doanhTPCN, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm,chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của bộ Y tế, cùng với Luật Quảng cáo 16/2012/QH13 của Quốc hội là công cụ để các nhà quản lý siết chặt hơn
các quy định về quảng cáo TPCN
Năm 2013, Xử phạt các vi phạm hành chính về ATTP lần đầu được quy định chi
tiết tại Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm Một số quy định về TPCN như : điều kiện bảo đảm an toàn đối vớiTPCN,
điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm nhập khẩu, tiếp nhận bản công bố hợp
Trang 23quy và công bố phù hợp quy định ATTP, hồ sơ công bố phù hợp quy định ATTP đốivới sản phẩm chưa có quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn sản phẩm, vi phạm quy định vềđiều kiện bảo đảm ATTP đối vớiTPCN, thực phẩm nhập khẩu, thực phẩm xuất khẩu.
Các quy định về quảng cáo trong năm 2013 cũng được cập nhật trong Nghị định181/2013/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quảng cáo, Nghị định 158/2013/NĐ-CPquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.
Năm 2015, Thông tư 43/2014/TT-BYT quy định về quản lý TPCN ban hành ngày 24/11/2014 thay thế cho Thông tư số 08/2004/TT-BYT Thông tư này quy định các
hoạt động liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công bố sản phẩm, ghi nhãn và hướngdẫn sử dụng TPCN bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và thựcphẩm dinh dưỡng y học, kể cả thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt
Mới đây, Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội đã lấy ý kiến từ các đoàn Đại
biểu Quốc hội đối với Dự thảo Luật Dượcsửa đổi Một số ý kiến đề nghị bổ sung các quy định về quản lý TPCN vào Dự thảo Luật Dược sửa đổi.
Có thể thấy, việc ban hành khung pháp lý đối với sản phẩm TPCN là một bướctiến quan trọng cho sự phát triển ngành công nghiệp TPCN ở nước ta Pháp luật vềquản lý TPCN nói chung, kinh doanh TPCN nói riêng đang ngày càng được quan tâm,xây dựng và hoàn thiện Tuy nhiên, các quy định có liên quan đến kinh doanh TPCNcủa Việt Nam chưa được chặt chẽ và rõ ràng dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm
Để các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả và hạn chế cáchành vi vi phạm pháp luật thì những nội dung pháp luật về kinh doanh TPCN trong hệthống pháp luật hiện hành cần đượcquy định cụ thể, rõ ràng tiến tới xây dựng mộtkhung pháp lý riêng về TPCN
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật kinh doanh thực phẩm chức năng
Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề kinh doanh TPCN chịu ảnh hưởng củanhiều nhân tố Trong đó đường lối chính sách của Đảng, nhu cầu quản lý kinh tế xãhội của đất nước, doanh nghiệp thực hiện kinh doanh TPCN và người tiêu dùng TPCN
là các nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất
Thứ nhất, về đường lối chính sách của Đảng.
Đường lối, chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những phươngpháp, các thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó.Những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức phát triển ngành TPCN sẽđược nhà nước thể chế hóa thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế Vì thế,