Không giống như cà phê trộn lẫn, là khối cà phê lẫn tạp nhiều nguồn gốc xuất xứ bán trên thị trường, “Cà phê một xuất xứ” là cà phê chỉ được sản xuất tại một nơi nào đó, nghĩa là tại một
Trang 1Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 1
CHỈ DẪN ĐỊA LÝ CÀ PHÊ TRÊN THẾ GIỚI- NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ VÀ KINH TẾ
TS Trịnh Đức Minh
PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ DakLak
1 Giới thiệu
Sau dầu hỏa, cà phê là hàng hóa thương mại đứng hàng thứ hai trên thế giới
và chủ yếu do các quốc gia đang phát triển sản xuất Bối cảnh thị trường cà phê
thế giới trong thập kỷ qua có thể miêu tả là “nghịch lý cà phê” (Daviron & Ponte,
2005) Trong khi nhiều nước phương Tây - những nước tiêu thụ - hưởng được
thịnh vượng từ cà phê thì ngược lại các nước sản xuất phải đương đầu với những
vấn đề nghiêm trọng, trong đó có vấn đề giá cả không ổn định Mặc dù thị trường
cà phê toàn cầu đã phục hồi chậm chạp khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài từ năm
2000 đến cuối năm 2004, giá cà phê vẫn còn quá thấp Có lẽ vấn đề giá cà phê
thấp còn bị trầm trọng thêm do đồng Đô la Mỹ bị suy yếu so với tiền tệ của nhiều
quốc gia xuất khẩu cà phê quan trọng Một giải pháp khả thi là dịch chuyển từ
xuất khẩu hàng hóa thông thường sang xuất khẩu sản phẩm chất lượng cao cho thị
trường ngách có giá cao hơn Trước khi tìm hiểu về lĩnh vực này, cần phải nhìn
lại vài nét sơ lược về tình hình thị trường cà phê toàn cầu, nhất là sự thay đổi
trong mô hình tiêu dùng trong thời gian gần đây và “nghịch lý cà phê”
Cho tới năm 1989 thì thị trường toàn cầu được xem là “có điều tiết” nhờ có
Hiệp ước Cà phê Quốc tế (ICA) chi phối Hiệp ước Cà phê Quốc tế đầu tiên ra
đời năm 1962, rồi sau đó Hiệp ước thứ hai năm 1968, được hầu hết các nước sản
xuất và tiêu thụ ký kết, như Mỹ và Brazil Dù các Hiệp ước kể trên có một phần
nào đó ưu đãi các nước sản xuất, nhưng các quốc gia tiêu thụ vẫn có ảnh hưởng
quyết định lên việc đặt hạn ngạch cho bên sản xuất Các Hiệp ước tiếp theo được
ký kết năm 1976 và 1982 Mỗi Hiệp ước có một kỳ hạn riêng và xác lập hạn
ngạch xuất khẩu để nhằm đạt được giá cả hợp lý và nguồn cung ổn định Tuy
nhiên, không một Hiệp ước nào thành công thực sự trong việc ổn định giá cả trên
thị trường cà phê trong một khoảng thời gian dài
Vào năm 1989, các cuộc đàm phán cho ra đời một Hiệp ước Cà phê Quốc
tế mới bị thất bại Hậu quả là kể từ những năm 1990 thị trường cà phê trải qua
khủng hoảng thừa làm cho giá rớt chưa từng thấy trong lịch sử, nhất là từ 2000 tới
cuối 2004 Ví dụ, trong khi giá chỉ số tổng hợp ICO đối với cà phê trong những
năm 1980 đạt trung bình 127,92 US cent/pound, giá trung bình giai đoạn
2000-2004 rớt xuống chỉ còn 54,33 US cent/pound Ngay cả khi thị trường cà phê toàn
Trang 2Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 2
cầu phục hồi như hiện nay, với giá chỉ số tổng hợp ICO phần nhiều trên 100 cents/pound, mức giá này vẫn còn rất thấp nếu tính đến chi phí đầu vào liên tục tăng cao
Trong khi giá cà phê nhân quá thấp như hiện nay dẫn tới khủng hoảng tồi
tệ nhất chưa từng có đối với thu nhập người trồng cà phê, thì tình hình các nhà rang xay hoàn toàn ngược lại Trong thập kỷ qua, thị trường cà phê ở các nước Bắc bán cầu trải qua “cuộc cách mạng sữa” Không chỉ bản thân cà phê được đưa
ra thị trường mà môi trường trồng cà phê và vị thế xã hội của người trồng cà phê
cũng trở thành giá trị trên thị trường Người tiêu dùng phương Tây đang sẵn sàng trả nhiều tiền để tha hồ chọn lựa nhiều tổ hợp giống cà phê, nhiều nguồn gốc xuất
xứ, nhiều cách pha chế và rang xay, các tổ hợp hương vị đa dạng, nhiều hình thức đóng gói hấp dẫn, và trả tiền cả cho “hàm lượng xã hội” trong cà phê Đặc biệt với sự nở rộ các quán cà phê và nhà bán lẻ cà phê đặc sản bắt đầu từ những năm
1990, giá cà phê bán lẻ tiếp tục tăng trong thị trường đặc sản và ngay cả trong thị trường cà phê thông thường giá cả tại các nước nhập khẩu vẫn khá ổn định Do
đó, ngành công nghiệp cà phê tại các nước nhập khẩu vẫn tăng trưởng mạnh, nhiều sản phẩm mới ra đời, lợi nhuận của thị trường bán lẻ tăng gấp hơn hai lần
và tổng lợi nhuận toàn ngành cũng tăng cao
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới cái gọi là “nghịch lý cà phê” - bùng nổ cà phê ở các nước tiêu thụ và khủng hoảng cà phê ở các nước sản xuất Tuy nhiên,
có hai nguyên nhân cốt lõi thường được nhấn mạnh, đó là (i) liên tục thừa cung trên thị trường và (ii) bản thân cấu trúc đặc thù của thị trường cà phê
(i) Liên tục thừa cung trên thị trường thế giới chủ yếu là do những tiến
bộ công nghệ, gồm những giống cà phê mới và phương pháp thâm canh mới, và như đã đề cập ở trên là do không có hạn ngạch xuất khẩu kể từ 1989 Đặc biệt, Brazil và Việt nam đã gây tràn ngập thị trường thế giới với cà phê robusta vốn được xem là có chất lượng thấp so với arabica (sản lượng robusta chiếm gần 40% sau nhiều thập
kỷ chỉ chiếm khoảng 30%) Do đó, giá cà phê nhân đi xuống và nhân
cơ hội này các nhà rang xay có thể tăng biên độ lợi nhuận nhờ sử dụng cà phê nhân giá thấp Tuy nhiên, một nghịch lý nữa phát sinh ngay bên trong “nghịch lý cà phê” này là trong khi thị trường cà phê toàn cầu tràn ngập cà phê robusta chất lượng thấp thì cà phê chất lượng cao lại thiếu trầm trọng khiến cho giá bán tăng cao
(ii) Lý do cơ bản thứ hai làm giảm giá cà phê nhân là do cấu trúc đặc thù
và phức tạp của bản thân thị trường cà phê thế giới Công nghiệp cà phê mang tính tập trung độc quyền, trong đó một vài tập đoàn toàn cầu (như Starbucks, Kraft, Proctor & Gamble hoặc Nestle) chỉ trông
Trang 3Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 3
cậy vào một nhóm rất ít các nhà xuất khẩu nổi tiếng để mua cà phê nhân từ người nông dân sản xuất nhỏ Trên thị trường cà phê toàn cầu, trước khi tới người tiêu dùng, hạt cà phê thường qua tay tới 5 tác nhân khác nhau (nông dân – nhà đầu cơ trữ hàng địa phương – nhà xuất khẩu – nhà rang xay – nhà bán lẻ - người tiêu dùng) Nói chung, nông dân có vị thế đàm phán thấp nhất bên trong chuỗi cà phê, trong đó mỗi tác nhân cố gắng đạt lợi nhuận cao nhất Nông dân sản xuất nhỏ thường thiếu thông tin cập nhật về giá cả trên thị trường
cà phê và không thể tự mình đưa sản phẩm ra thị trường cũng như tự mình tham gia phân phối sản phẩm Do đó, những nhà đầu cơ trữ hàng tại địa phương mới có thể giành được phần lớn lợi nhuận từ việc buôn bán cà phê
Cả hai cách tiếp cận lý giải cho nghịch lý cà phê nêu trên đều xem xét những điều kiện thị trường hiện tại trên thị trường cà phê toàn cầu Tuy nhiên, Daviron và Ponte (2005) cũng luôn luôn lưu ý rằng cần phải thấy sự khác biệt ngày càng rõ rệt giữa cà phê được bán trên thị trường hàng hóa quốc tế với cà phê được bán như sản phẩm sau cùng cho người tiêu dùng phương Tây Nhà rang xay, nhà bán lẻ và quán cà phê không chỉ bán chất lượng “vật chất” mà còn bán cả chất lượng “phi vật chất” nghĩa là những thuộc tính chất lượng mang tính “biểu
tượng” như vùng lãnh thổ, một câu chuyện, ý tưởng, và tính mới lạ hương xa cũng như dịch vụ trực tiếp do mạng lưới du lịch nông nghiệp, tour săn thú ở trang trại cà phê, thiết lập chuỗi cà phê do tổ chức các nhà sản xuất điều khiển Đặc
biệt, thị trường cà phê hảo hạng được đặc trưng bởi những giá trị “phi vật chất” như vậy, tiêu biểu cho một sự dịch chuyển rõ rệt khỏi thị trường hàng hóa thuần túy Daviron và Ponte (2005) cũng cho rằng chính sự dịch chuyển này giải thích cho sự song song cùng tồn tại của hiện tượng bùng nổ cà phê ở các nước tiêu thụ
và sự khủng hoảng cà phê ở các nước sản xuất
Có thể có một cách để vượt qua thế tiến thoái lưỡng nan của nghịch lý cà phê đối với người nông dân/nhà vườn đó là chuyển dịch từ xuất khẩu hàng hóa thuần túy sang xuất khẩu sản phẩm cho thị trường ngách với giá cao hơn Với con đường này, họ không những có thể tham gia thị trường hàng hóa mà còn có thể tham gia thị trường ngách “phi vật chất” Một dạng sản phẩm cho thị trường ngách là “cà phê đặc sản” hoặc còn gọi là “hảo hạng”/ “giá cao” Những điểm đặc
thù của những sản phẩm cà phê này (nhất là mùi vị, quá trình sản xuất, các điều
kiện bán hàng hoặc xuất xứ) tương ứng với yêu cầu của nhà rang xay và người
tiêu dùng cà phê đặc thù Hơn nữa thị trường cà phê toàn cầu vẫn còn hiếm cà phê đặc sản Nhìn chung, tình hình này ám chỉ cà phê đặc sản có thể được bán với giá cao hơn và vẫn không bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng cà phê hiện nay
Trang 4Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 4
Một dạng của cà phê đặc sản đó là “Cà phê một xuất xứ” Không giống như
cà phê trộn lẫn, là khối cà phê lẫn tạp nhiều nguồn gốc xuất xứ bán trên thị trường, “Cà phê một xuất xứ” là cà phê chỉ được sản xuất tại một nơi nào đó, nghĩa là tại một quốc gia, một vùng lãnh thổ hoặc ngay cả tại một vườn Trên thị trường toàn cầu ngày nay, sự khác biệt của sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ của
nó trở nên một nhân tố quyết định ảnh hưởng đến quyết định mua hàng Với sự tin tưởng vào nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm – được coi như đồng nghĩa với
chất lượng và tính chất đặc thù – người tiêu dùng sẵn lòng trả giá cao hơn
Trong suốt một thời gian dài thị trường cà phê được coi là thị trường hầu như không tạo sự khác biệt cho sản phẩm Bức tranh này đã thay đổi khi chất lượng sản phẩm và chất lượng quá trình ngày càng quan trọng đối với người tiêu
dùng Đặc biệt, nguồn gốc sản phẩm, tượng trưng cho chất lượng sản phẩm và
chất lượng quá trình, ngày càng quan trọng đối với quyết định mua hàng của
người tiêu dùng Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng về tính
đa dạng, trên thị trường cà phê, nhất là thị trường cà phê đặc sản, có thể xem xét tăng cường sự khác biệt cho sản phẩm dựa trên nguồn gốc địa lý (Kaplinsky and Fitter 2004; Lewin et al 2004)
Cà phê đặc sản không được định nghĩa một cách chính xác nhưng bao gồm một dãy sản phẩm cà phê ít nhiều có khác biệt như là cà phê hữu cơ, cà phê thương mại công bằng, cà phê thân thiện chim muông… Bên cạnh những loại cà phê này, trong những năm gần đây đã xuất hiện một dạng khác của cà phê đặc sản gọi là cà phê một nguồn gốc (single-origin) hoặc cà phê có chỉ dẫn nguồn gốc địa
lý (Geographical Indication, GI) (Daviron and Ponte 2005; Lewin et al 2004) Trong khi cà phê xô được bán tới người tiêu dùng là khối trộn lẫn, có nghĩa là khối cà phê đó bao gồm cà phê từ nhiều nguồn gốc xuất xứ khác nhau hầu như không xác định được trộn lẫn với nhau, còn cà phê một nguồn gốc là không có sự trộn lẫn Tương tự như thuật ngữ cà phê đặc sản, thuật ngữ một nguồn gốc không được định nghĩa một cách chính xác cho nên cà phê một nguồn gốc có thể xuất phát từ một quốc gia, một vùng hoặc ngay cả một đồn điền hay một trang trại (Knox and Sheldon Huffaker 1996)
Tạo sự khác biệt cho sản phẩm dựa trên nguồn gốc địa lý không phải là một trào lưu mới phát triển mà đã có một lịch sử khá dài, đặc biệt là tại các quốc gia Nam Âu Tên gọi “Parmigiano Reggiano” là một ví dụ nổi tiếng về Tên gọi xuất xứ được bảo hộ (Protected Designations of Origin, PDO) theo Quy định Hội đồng EC số 510/2006, có nguồn gốc xa xưa từ thế kỷ thứ 13 Nhưng điểm mới trong những năm gần đây là số lượng sản phẩm có dán nhãn Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) ngày càng gia tăng ở châu Âu cũng như trên toàn cầu Kể từ khi quy định EC số 510/2006 có hiệu lực vào năm 1993 số lượng nộp đơn hàng năm đã
Trang 5Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 5
gia tăng đều và ngày nay có trên 700 sản phẩm đã được đăng ký dưới dạng Tên gọi xuất xứ được bảo hộ (PDO) hoặc Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ (PGI)
Hiện nay CDĐL cũng là một chủ đề mang tính thời thượng trên trường quốc tế Hiệp định về các khía cạnh liên quan thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), có hiệu lực vào năm 1995, được coi là hiệp định đa phương đầu tiên đưa ra một định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ CDĐL Theo định nghĩa trong Hiệp
định TRIPs, CDĐL là “ những chỉ dẫn cho biết một sản phẩm hàng hóa có nguồn
gốc từ lãnh thổ của một quốc gia thành viên, hoặc một vùng, một địa phương trong lãnh thổ đó mà chất lượng, danh tiếng hoặc những tính chất khác của sản phẩm hàng hóa chủ yếu do nguồn gốc địa lý” (TRIPs Điều 22.1) Hơn nữa,
TRIPs còn yêu cầu từng thành viên ký kết thiết lập những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo hộ CDĐL thông qua bộ luật quốc gia Các nước phát triển đã thực thi những yêu cầu của TRIPs vào năm 1996, các nước đang phát triển và đang chuyển đổi thực thi vào năm 2000, còn những nước chưa phát triển hạn cuối phải thực thi được kéo dài tới năm 2006 (Calboli, 2006; Liebig 2000)
Tất cả hiện thực phát triển trong những năm gần đây như nêu trên chứng minh mối quan tâm ngày càng gia tăng đối với CDĐL Nếu như trong quá khứ CDĐL là công cụ tạo khác biệt cho sản phẩm được áp dụng chủ yếu ở thị trường châu Âu và cho người sản xuất ở châu Âu, thì gần đây ngày càng nhiều nước đang phát triển phát hiện ra giá trị của công cụ thị trường này và nỗ lực áp dụng cho sản phẩm của họ Chính vì vậy trong khi có khá nhiều nghiên cứu về CDĐL
ở châu Âu thì lại có rất ít nghiên cứu liên quan CDĐL ở những nước đang phát triển
Do đó, mục tiêu tổng quát của tài liệu này là cung cấp một cái nhìn tương đối sâu về những phát triển gần đây của thị trường cà phê thế giới, đặc biệt tập trung vào cà phê có CDĐL Để đạt được mục tiêu này, trước tiên phải tìm hiểu khuôn khổ pháp lý của CDĐL trên thị trường cà phê nhằm trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu sau đây:
CDĐL nào đã hiện hữu trên thị trường cà phê?
Các CDĐL này được bảo hộ như thế nào và bằng những phương tiện pháp lý nào?
Các CDĐL này được bảo hộ trên thị trường nào?
Tiếp theo là nghiên cứu về tác động kinh tế của CDĐL, nhất là hiệu quả về giá
Ở khía cạnh này, những câu hỏi nghiên cứu nổi lên là:
CDĐL giúp cho giá tăng thêm được bao nhiêu?
Trang 6Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 6
Mức giá tăng thêm có khác nhau giữa các quốc gia và vùng có CDĐL không?
Tài liệu này cấu trúc như sau: Phần 2 sẽ tổng quan về tình hình pháp lý của CDĐL trên thị trường cà phê; Phần 3 sẽ tìm hiểu về những khía cạnh kinh tế của
cà phê có CDĐL Phần 3 gồm hai phần nhỏ: Trước hết tổng quan về cà phê có dán nhãn CDĐL và giá bán lẻ trên thị trường Mỹ; Sau đó, sử dụng số liệu của một số cuộc bán đấu giá trên internet, trong đó cà phê một nguồn gốc được nhà nhập khẩu hoặc nhà rang xay mua trực tiếp, để ước tính một mô hình định giá theo sở thích (hedonic pricing model) Công cụ kinh tế lượng này sẽ đưa ra một
số gợi ý ban đầu về quốc gia hoặc vùng lãnh thổ xuất xứ có ảnh hưởng như thế nào lên giá cả bởi vì cà phê chất lượng cao quy định các thuộc tính khác có liên quan của sản phẩm như giống, chất lượng cảm quan và những chứng nhận như hữu cơ hoặc thương mại công bằng
2 Những khía cạnh pháp lý-Những tác nhân chính và những bước phát triển trong thời gian gần đây
TRIPs được coi như hiệp định đa phương đầu tiên đưa ra một định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ CDĐL, nhưng lại không phải hiệp định đa phương đầu tiên có liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ thuộc dạng này Các hiệp định đa phương khác thuộc nhóm này là Công ước Paris bảo hộ sở hữu công nghiệp từ năm 1883, Hiệp định Madrid về đăng ký quốc tế cho nhãn hiệu từ năm 1891 và Hiệp định Lisbon bảo hộ và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ từ năm 1958 Tất cả những hiệp định này không xử lý thật rõ ràng đối với thuật ngữ CDĐL nhưng lại rõ ràng đối với thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc” (Indication of source) hoặc “tên gọi xuất xứ” (TGXX, Appelation of origin, APO) Có thể phân biệt ba khái niệm này như miêu tả trong hình 1
Trong 3 khái niệm được nêu trong các văn bản pháp lý, “Chỉ dẫn nguồn gốc” là khái niệm rộng nhất “Chỉ dẫn nguồn gốc” chỉ yêu cầu sản phẩm có nguồn gốc xuất phát tại một vùng địa lý nào đó Như vậy khái niệm này không
ám chỉ có mối liên hệ nào giữa vùng địa lý với chất lượng hoặc danh tiếng của sản phẩm, khái niệm chỉ nhằm cho biết thông tin duy nhất về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm mà thôi Điểm này giúp phân biệt định nghĩa của khái niệm “chỉ dẫn nguồn gốc” với hai khái niệm còn lại
Trang 7Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 7
Một sản phẩm được dán nhãn CDĐL hoặc TGXX phải có những đặc trưng chất lượng chủ yếu do nguồn gốc địa lý của sản phẩm đó tạo nên Vì trên một vài phương diện khái niệm TGXX thậm chí còn hẹp hơn cả khái niệm CDĐL nên có thể kết luận rằng tất cả TGXX đều là CDĐL và tất cả CDĐL đều là Chỉ dẫn nguồn gốc Nhưng không phải tất cả chỉ dẫn nguồn gốc đều là CDĐL tương ứng với TGXX (WIPO 2002) Tình hình trở nên càng phức tạp hơn khi xem xét quy
định của châu Âu EC Regulation số 510/2006 phân biệt TGXX được bảo hộ (PDOs) với CDĐL được bảo hộ (PGIs) Những yêu cầu đối với một sản phẩm để
trở thành một PDO cao hơn là để trở thành một PGI, vì với PDO tất cả các công đoạn sản xuất phải được tiến hành trong vùng địa lý đã xác định Trong khi đó đối với PGI thì ít nhất một công đoạn sản xuất phải nằm bên trong vùng đã xác định (Ủy hội châu Âu 2004)
Từ những điểm kể trên có thể phát biểu rằng không phải chỉ có một định nghĩa duy nhất về CDĐL và không phải chỉ có một cách để bảo hộ CDĐL Hơn nữa, với nhiều quốc gia khác nhau, có nhiều hệ thống quy định khác nhau về bảo
hộ CDĐL (Thevenod-Mottet 2006; WTO 2004) CDĐL có thể được bảo hộ thông qua những phương tiện bảo hộ đặc biệt như PDO/PGI, bảo hộ như nhãn hiệu (như
ở Mỹ) hoặc thông qua những bộ luật khác đã hiện hữu như luật về hạn chế cạnh tranh không lành mạnh hoặc luật bảo vệ người tiêu dùng Trong khi đa số các nước phát triển đã có hệ thống luật quy định rất chặt chẽ, các nước đang phát triển thì ngược lại, thường chỉ mới bắt đầu thiết lập hệ thống các quy định để bảo
Chỉ dẫn nguồn gốc
Chỉ dẫn địa lý
Tên gọi xuất xứ
Hình 1: Mối quan hệ giữa Chỉ dẫn nguồn gốc, Chỉ dẫn địa lý và Tên gọi xuất xứ
Trang 8Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 8
hộ tài sản trí tuệ nói chung và CDĐL nói riêng (van Caenegem 2004; Josling 2006) Nhiều quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu lại thuộc nhóm đang phát triển
Bảng 1: Hệ thống sở hữu trí tuệ tại một số quốc gia sản xuất cà phê chọn lọc
Quốc gia Quy định pháp lý CDĐL cà phê đã
Cafe’ de Colombia DA “Cà phê đặc biệt Colombia”
Ethiopia Luật SHTT Chưa thể xác định Sáng kiến Tạo nhãn hiệu và cấp
li xăng cho Cà phê Chất lượng cao Ethiopia
Guatemala Luật SHTT, Nghị định
47-2000: GI và DO
Genuine Antigua2 Coffee Atlas 2006/2007: đã xác
định 7 vùng cà phê; DA thử nghiệm Antigua: xác định TGXX đầu tiên của Guatemala mang tên
Jamaica Luật Bảo hộ CDĐL, 2004 Chưa thể xác định
Kenya Luật SHCN, 2001 Chưa có
Mexico Luật SHTT,1994: DO Cafe’ Chiapas3
Cả hai tên được bảo hộ là TGXX theo Hiệp định Lisbon
Nguồn: Ramona Teuber (2007)
Tổng quan về CDĐL đã bảo hộ và đăng ký trên thị trường cà phê sẽ phải thông qua tài liệu tham khảo và sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu nhãn hiệu cũng
Trang 9Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 9
như từ các chính phủ và hiệp hội người trồng cà phê Trong bối cảnh này cần phải phân biệt thị trường ngoại quốc với thị trường nội địa Vì tiêu thụ cà phê tại các nước sản xuất cà phê còn rất ít, trừ Brazil, và vì vậy về mặt thu nhập thì thị trường xuất khẩu quan trọng hơn thị trường nội địa (Lewin et al 2004) Như vậy nhất thiết phải nghiên cứu các CDĐL đã đăng ký trên các thị trường xuất khẩu chính Các thị trường xuất khẩu chính đối với cà phê một nguồn gốc là Nhật, Mỹ
và châu Âu Do đó, sau khi nghiên cứu sự bảo hộ CDĐL trên thị trường nội địa,
sẽ tổng quan về CDĐL cà phê đã được bảo hộ tại các hệ thống pháp luật nước ngoài kể trên
Từ bảng 1 có thể thấy tất cả các nước sản xuất cà phê đưa vào xem xét đều
đã thực thi luật để bảo hộ tài sản trí tuệ nói chung và luật để bảo hộ CDĐL nói riêng Tại hầu hết quốc gia các luật này được hình thành chưa lâu, phản ánh hạn chót thực thi các yêu cầu của hiệp định TRIPs Hơn nữa, bảng 1 cũng cho phép phát biểu rằng không có một định nghĩa duy nhất về CDĐL và cũng không có khuôn khổ pháp lý duy nhất để bảo hộ Những quốc gia thuộc cộng đồng Andean
như Bolivia và Colombia phân biệt chỉ dẫn nguồn gốc với tên gọi xuất xứ như là
hai khái niệm pháp lý trong nhóm CDĐL Các quốc gia khác như Costa Rica, Guatemala, Honduras và Mexico sử dụng các thuật ngữ CDĐL và TGXX còn Indonesia bảo hộ CDĐL theo luật nhãn hiệu của họ Cách tiếp cận này tương tự như cách tiếp cận của Mỹ Tại Mỹ, CDĐL không được coi như là phân nhóm tài sản trí tuệ riêng biệt Tuy nhiên, CDĐL có thể được bảo hộ với luật nhãn hiệu Mỹ hiện có (Josling 2006)
Một điều quả thực gây bất ngờ là cho đến nay chỉ có 3 CDĐL cà phê được đăng ký và bảo hộ trong thị trường nội địa của họ hoặc qua một hiệp định đa
phương Tên gọi Cafe’ de Colombia là một TGXX được bảo hộ cho cà phê nhân tại Colombia, trong khi đó những cà phê của Mexico như Cafe’ Chiapas và Cafe’
Veracruz được đăng ký và bảo hộ tại Mexico theo luật quốc gia và bên cạnh đó
như TGXX theo hiệp định Lisbon Cafe’ Veracruz được Mexico đăng ký năm
2001 là TGXX cho “cà phê nhân và cà phê rang” Sau đó năm 2004 đăng ký cho Cafe’ Chiapas Đăng ký cho Cafe’ Chiapas vượt quá giới hạn đăng ký cho Cafe’ Veracruz ở chỗ đăng ký bao gồm “cà phê nhân hoặc cà phê rang/bột của loài cà phê chè” và “tên gọi xuất xứ có thể sử dụng, tùy thuộc vào sự cho phép của Viện
Sở hữu công nghiệp Mexico, bởi bất cứ cá nhân hoặc pháp nhân có liên quan trực tiếp với chiết xuất, sản xuất hoặc chế biến Cafe’ Chiapas, trong phạm vi lãnh thổ
có tên gọi như trong tuyên bố bảo hộ chung, và phù hợp với luật chính thức tương đương” (WIPO 2007) Sự khác biệt giữa hai bảo hộ TGXX (APOs) như trên nhấn mạnh một điểm quan trọng cần phải luôn ghi nhớ trong bối cảnh của CDĐL, đó là phạm vi của bảo hộ Trong trường hợp Cafe’ Chiapas phạm vi bảo hộ có thể được diễn giải theo cách là chỉ có cà phê được chế biến hoặc thậm chí được xay trong
Trang 10Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 10
vùng địa danh Chiapas mới có thể được bán với tên gọi Cafe’ Chiapas (Schulte 2005) Một số chuyên gia luật tranh luận rằng thay vì hỗ trợ người trồng cà phê địa phương và đóng góp cho phát triển nông thôn, với phạm vi bảo hộ rộng như vậy có thể gây phương hại người trồng cà phê, vì các thương lái có thể không gánh chịu rủi ro khi mua cà phê đã rang hoặc thậm chí đã xay trong quốc gia xuất
xứ (Schulte 2005)
Cho tới nay CDĐL “Genuine Antigua” không được bảo hộ bởi luật quốc gia Năm 2000 Hiệp hội những người trồng cà phê Genuine Antigua (APCA) được thành lập và kể từ năm 2003 Công ty thanh tra thực phẩm của Thụy sĩ SGS chứng nhận cho cà phê trồng trong vùng Antigua đáp ứng một số yêu cầu về độ cao, đất và phương pháp chế biến Cà phê có chứng nhận này được dán nhãn Genuine Antigua (APCA Homepage)
Bên cạnh đó bảng 1 cũng thông tin về những dự án gần đây có liên quan cà phê và CDĐL Costa Rica, Colombia, Guatemala, Indonesia và Ethiopia đều có thể được coi như là những quốc gia hàng đầu trong ngành cà phê với những CDĐL đã xác lập Trong khi Colombia đã xác lập được một CDĐL cà phê pham
vi quốc gia, gần đây họ cũng đang nỗ lực tiến hành xác lập các CDĐL cho cà phê
vùng và cà phê đồn điền bên cạnh những cà phê đặc sản khác như cà phê hữu cơ
hoặc cà phê các mối quan hệ (relationship coffees) (FNC Website) Với mục tiêu
này, gần đây họ đã xác định được 86 “vùng tiểu khí hậu” riêng biệt dựa trên một loạt biến số, bao gồm địa điểm, lượng mưa, độ cao và phương pháp chế biến (Germain 2005) Cách tiếp cận theo vùng cũng được Costa Rica và Guatemala theo đuổi Cả hai quốc gia cũng đã xác định được 7 vùng trồng khác nhau, mỗi vùng có một profile riêng biệt (ICAFE Homepage; ANACAFE 2006) Cho tới nay tất cả các vùng trồng này vẫn chưa chính thức, nhưng tất cả các quốc gia đều rất nỗ lực để chính thức hóa các vùng này bằng công cụ pháp luật
Guatemala và Costa Rica cũng tham gia vào dự án GEOCafe’ do Chương trình Cà phê Chất lượng của USAID phát triển và tài trợ Các trang trại, hợp tác
xã và nhà máy xay xát tại các quốc gia tham gia đang được lên bản đồ chính xác nhờ công cụ GPS, thu thập dữ liệu cho từng nhóm đầu vào bao gồm điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của trang trại, dữ liệu kinh tế-xã hội, thời kỳ thu hoạch, những vấn đề về chứng nhận, kiểu bảo vệ cây trồng và phương pháp chế biến cà phê Với những dữ liệu này, những bản đồ cà phê trực tuyến tương tác đang được tạo dựng giúp cho có thể viếng thăm trong môi trường ảo các trang trại và vùng cà phê Những bản đồ này cũng là cơ sở cho thiết lập những hệ thống tên gọi cho cà phê (GeoCafe’ Homepage)
Trong tài liệu người ta thường so sánh giữa cà phê một nguồn gốc với rượu vang (Lewin et al 2004; Kaplinki and Fitter 2004; Daviron and Ponte 2005) Phát
Trang 11Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 11
biểu minh họa cho điều này là “cà phê hiện nay đang trong tình hình của rượu vang cách đây 10 năm” Việc thiết lập hệ thống tên gọi cho cà phê tương tự như
hệ thống tên gọi cho rượu vang tại Pháp và Ý được coi như con đường khả thi đối với các nước sản xuất cà phê nhằm gắn thêm giá trị của khu vực sản xuất (Daviron and Ponte 2005; Neilson 2005) Những kết quả như nêu trên cho thấy rằng nhiều nước sản xuất cà phê đồng ý với quan điểm này
Bước tiếp theo là thu thập dữ liệu CDĐL cà phê được bảo hộ trên các thị trường xuất khẩu chính Đáng tiếc là không thể có được dữ liệu từ thị trường Nhật nên chỉ xem xét dữ liệu của thị trường Mỹ và châu Âu
Từ bảng 2 cho thấy Colombia, Ethiopia, Jamaica, Hawaii và Mexico đã bảo hộ và đăng ký CDĐL cà phê tại thị trường Mỹ và châu Âu Trong khi Colombia và Jamaica đã bắt đầu dựa trên bảo hộ nhãn hiệu kể từ những năm
1980, còn thì tất cả những đăng ký khác là mới những năm gần đây
Bảng 2: Các CDĐL cà phê được bảo hộ tại châu Âu và Mỹ, tháng 01/2007
ký
Chủ sở hữu
Châu Âu
Cafe’ de Colombia CTM-Hình tượng 2001 FNC1
100% Cafe’ de Colombia CTM-Hình tượng 2004 FNC
Juan Valdez 100% Cafe’ de
Colombia
CTM-Hình tượng 2005 FNC
Cafe’ de Colombia CTM-Hình tượng 2006 FNC
TGXX Cafe’ de Colombia PGI 2006 FNC
Jamaica Blue Mountain Coffee CTM-Hình tượng 2004 Coffee Marks Ltd
Jamaica High Mountain Supreme CTM-Từ ngữ 2003 Coffee Marks Ltd
100% Kona Coffee CM 2000 Sở Nông nghiệp Hawaii
Jamaica Blue Mountain Coffee CM 1986 Coffee Marks Ltd
Jamaica High Mountain Supreme TM 2003 Coffee Marks Ltd
Trang 12Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 12
Cafe’ Veracruz CM 2005 Consejo Regulador del
Cafe-Veracruz
Chú giải: CM=nhãn hiệu chứng nhận; CTM=nhãn hiệu cộng đồng; FNC=Liên đoàn cà phê quốc gia
Colombia; PGI=chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; TM=nhãn hiệu
1
Trong những trường hợp này chưa có quyết định sau cùng về khả năng có thể đăng ký
Nguồn: Ramona Teuber (2007)
Với Sáng kiến Tạo nhãn hiệu và Cấp li-xăng cho Cà phê chất lượng cao Ethiopia, chính phủ Ethiopia đã nộp đơn tới trên 30 quốc gia, bao gồm cả Mỹ và
EU, cho các tên gọi Harrar, Sidamo và Yirgacheffe là 3 vùng trồng cà phê khác biệt và nổi tiếng của Ethiopia (EIPO 2006) Sáng kiến này gây ra tranh cãi giữa Cục Sở Hữu Trí Tuệ Ethiopia (EIPO) với Hiệp hội Cà phê đặc sản Mỹ (SCAA)
về phương thức bảo hộ CDĐL trong ngành cà phê Tổ chức thương mại thế giới WTO khuyến cáo sử dụng nhãn hiệu chứng nhận (certification marks) để bảo hộ cho các CDĐL và đây cũng là quan điểm của Hiệp hội Cà phê đặc sản Mỹ SCAA (SCAA 2006) Nhưng chính phủ Ethiopia xem nhãn hiệu (trademarks) mới là cách phù hợp hơn để bảo hộ CDĐL cà phê Nếu như cả hai quan niệm trên đều dựa trên cùng những cơ sở kinh tế chủ yếu, đó là bảo vệ khách hàng không bị lèo lái bởi bên thứ ba và giảm chi phí tìm kiếm của người tiêu dùng, giữa hai quan niệm vẫn có những khác biệt đáng kể (Josling 2006; WIPO 2003).Trước hết,
nhãn hiệu cho phép nhận biết người chế tạo của một sản phẩm, có thể bán hoặc
nhượng quyền li-xăng Thứ hai là không cần có sự gắn kết nào với danh tiếng
hoặc chất lượng Ngược lại nhãn hiệu chứng nhận là một quyền tập thể và thông
tin cho người tiêu dùng biết rằng hàng hóa có một số đặc trưng nào đó, ví dụ như nguồn gốc xuất xứ đặc thù Hơn nữa người sở hữu quyền không được phép sản xuất nhưng có thể khuếch trương nhãn hiệu chứng nhận Như vậy, người sở hữu nhãn hiệu chứng nhận thường là những cơ quan nhà nước Ngược lại với nhãn hiệu, nhãn hiệu chứng nhận không thể bán hoặc nhượng li-xăng (Josling 2006) Tài liệu này không phân tích sâu những điểm lợi và bất lợi của cả hai khái niệm, nhưng từ tranh luận nêu trên có thể rút ra một điểm quan trọng Đó là, CDĐL và việc bảo hộ CDĐL không phải là không có tranh cãi và ngay trong bản thân ngành cà phê, những ý kiến về làm thế nào để bảo hộ và thực thi loại quyền sở hữu trí tuệ này vẫn còn khác nhau rất lớn Một ví dụ làm rõ thêm tình hình này là
cà phê Harrar của Ethiopia đã được đăng ký như là nhãn hiệu phổ thông ở châu
Âu, trong khi đó tại Mỹ cho tới nay vẫn chưa đi tới quyết định cuối cùng về việc đăng ký Harrar như là một nhãn hiệu có chứa từ ngữ (word mark)
Trang 13Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 13
Như từ bảng 2, cả hai phương tiện pháp lý, đó là nhãn hiệu và nhãn hiệu chứng nhận, đều được sử dụng để bảo hộ CDĐL cà phê trên thị trường Mỹ Trong khi bảo hộ nhãn hiệu có thể thấy ở châu Âu lẫn ở Mỹ, thì việc bảo hộ PGI/PDO chỉ có thể tiến hành ở EU Vào năm 2005, Liên đoàn quốc gia những người trồng
cà phê Colombia (FNC) nộp đơn đăng ký “Cafe’ de Colombia” dưới hình thức TGXX được bảo hộ (PDO) Đây là đơn đầu tiên của một quốc gia ngoài EU và là đơn đầu tiên cho cà phê theo quy định 510/2006 của EU Vào tháng 12/2006, đơn tóm tắt mới được công bố trên tập san chính thức của EU Trong vòng 6 tháng nếu không nhận được tuyên bố từ chối thì tên gọi sẽ được đăng ký như một CDĐL được bảo hộ (PGI) (Ủy hội châu Âu 2004; Tập san chính thức của Liên minh châu Âu 2006) Do không nhận được tuyên bố từ chối sau 6 tháng nên vào tháng 9/2007 “Cafe’ de Colombia” đã được đăng ký như một CDĐL được bảo hộ (PGI) theo quy định của Hội đồng châu Âu EC Regulation số 510/2006 Đơn tóm tắt đã công bố có nêu đặc trưng sản phẩm, kể cả xác định vùng địa lý và phương pháp sản xuất Trong khi thu hoạch, chế biến ướt và xát vỏ thóc được xác định và
cả 3 công đoạn chế biến này đều phải tiến hành trong vùng địa danh đã xác định, thì quá trình rang không bị quy định như vậy Điều này giải thích tại sao tên gọi Cafe’ de Colombia trở thành một CDĐL được bảo hộ (PGI) chứ không phải TGXX được bảo hộ (PGO) như lúc đầu FNC nộp đơn Hơn nữa, đơn còn thông tin về những nhân tố chi phối mối liên hệ giữa chất lượng sản phẩm với xuất xứ địa lý Theo đơn tóm tắt, những đặc trưng chủ yếu quan trọng nhất quyết định tính đặc thù của Cafe’ de Colombia là chất lượng đất, khí hậu điển hình của quốc gia, nhất là ở những vùng núi nhiệt đới, độ cao và thu hoạch bằng tay chọn từng quả (Tập san chính thức của Liên minh châu Âu 2006)
Bảo hộ Cà Phê một xuất xứ: Hai nghiên cứu trường hợp
Việc quyết định chọn đi theo con đường bảo hộ Sở Hữu Trí Tuệ nào là một lựa chọn khó khăn Trong khu vực cà phê một xuất xứ, dù cho có thể thấy nhiều chiến lược bảo hộ nhưng chỉ có vài trường hợp chọn bảo hộ dưới dạng CDĐL Ví
dụ, gần đây “Cafe de Colombia” được đăng ký PGI theo Quy định Hội đồng (EC)
số 510/2006 Tuy nhiên, cũng có một ví dụ về chiến lược Nhãn hiệu thuần túy, đó
là Sáng kiến tạo Nhãn hiệu và nhượng quyền Li xăng cà phê chất lượng cao của Ethiopia Nhằm phác họa những lợi thế và bất lợi của từng chiến lược, dưới đây xem xét cả hai trường hợp
1 Cafe de Colombia và Juan Valdez
Colombia là một trong những quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới Được như vậy là nhờ chất lượng cà phê và chiến lược tiếp thị của Liên đoàn quốc gia những người trồng cà phê Colombia (FNC)
Trang 14Trịnh Đức Minh – Sở KH&CN tỉnh DakLak Tháng 2-2010 14
Ban đầu FNC do một nhóm người trồng cà phê Colombia sáng lập năm
1927, họ muốn tìm kiếm sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau Liên đoàn là một hợp tác xã phi lợi nhuận, phi chính trị và dân chủ Tham vọng của FNC là ổn định thị trường cho cà phê Colombia và tiến hành nghiên cứu, trợ giúp xã hội, các chương trình
xúc tiến thương mại đại diện cho trên 300.000 cafeteros độc lập Đặc biệt, dưới
sự giám sát của chính phủ và tài trợ của Quỹ Cà phê Quốc gia, liên đoàn đã thành công trong việc bảo vệ người trồng cà phê Colombia đối phó với rớt giá cà phê bằng cách mua, dự trữ và bán lại ra thị trường khi giá tăng tới một mức giá tối thiểu nào đó FNC còn bảo đảm luôn luôn mua cà phê của nông dân Ngoài ra, mọi người trồng cà phê trong các làng mạc đều có thể gọi điện thoại tới trung tâm tiếp xúc của liên đoàn để biết giá thời điểm cà phê của họ (giá này tùy thuộc vào giá đóng cửa theo ngày trên sàn giao dịch chứng khoán New York đối với cà phê Colombia) Điều này giúp làm tăng thu nhập của nông dân vì họ biết giá chính xác liên đoàn đang mua và qua đó so sánh với giá do người thu mua địa phương đưa ra
Trước đây chiến lược tiếp thị cà phê Colombia của liên đoàn FNC dựa vào bảo hộ Nhãn hiệu Tại nhiều quốc gia như EC và Mỹ, FNC nộp đăng ký một số nhãn hiệu hình ảnh có liên quan “Cafe de Colombia” và nhãn hiệu bằng từ ngữ
“Juan Valdez”, nhãn hiệu bằng từ ngữ này cũng đi kèm với những dấu hiệu hình ảnh khác nhau
Lô-gô Juan Valdez, một nhân vật tưởng tượng tiêu biểu cho nông dân Colombia điển hình, cũng đã được phát triển vào năm 1981 Mục đích của lô-gô
là để đóng dấu bảo đảm rằng thương hiệu thực sự hoàn toàn 100% cà phê Colombia và do FNC chứng nhận Từng công ty có thể sử dụng lô-gô bên cạnh Nhãn hiệu riêng của họ, bằng cách tham gia hợp đồng li-xăng Lô-gô được nhượng li-xăng chỉ được sử dụng trên cà phê nhân hoặc cà phê rang bột, có hoặc không có cafein, không có chất tăng hương vị Những thương hiệu cà phê này cứ hàng quý được FNC làm test kiểm tra chất lượng, nếu không đạt thì có thể bị thu hồi li-xăng nhãn hiệu
Tuy nhiên, gần đây FNC quyết định không chỉ dựa trên bảo hộ Nhãn hiệu
mà còn bảo hộ CDDL để tăng thị phần trên thị trường toàn cầu Do đó vào năm
2005 “Cafe de Colombia” được bảo hộ “TGXX” tại Colombia Ngoài ra, trong cùng năm này FNC cũng nộp cho Ủy hội châu Âu đơn bảo hộ CDDL “Cafe de Colombia” Vào tháng 12/2006, đơn tóm tắt được công bố trong Tập san Chính thức của EU Vì sau 6 tháng không có tuyên bố phản đối nào nên vào tháng 9/2007 “Cafe de Colombia” được chấp nhận đăng ký là CDDL được bảo hộ (PGI) theo Quy định Hội đồng (EC) 510/2006