1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯƠNG AO NUÔI TÔM SÚ THÂM CANH VÀ QUẢNG CANH CAI TIẾN Ở HUYỆN HÒA BÌNH

13 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 368,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả của đề tài cho th y nhiệt độ pH và độ m n trong các hệ thống nuôi TC và QCCT biến động trong phạm vi th ch hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của thủy sinh v t.. Hậu quả là có

Trang 1

KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG AO NUÔI TÔM SÚ

(PENAEUS MONODON) THÂM CANH VÀ QUẢNG CANH CẢI TIẾN Ở

HUYỆN HÒA BÌNH

SURVEYING THE ENVIRONMENTAL FLUCTUATION IN PONDS FOR

RAISING BLACK TIGER SHRIMP (PENAEUS MONODON) ON THE

INTENSIVE CULTIVATION AND IMPROVED EXTENSIVE CULTIVATION

IN HOA BINH DISTRICT

ThS Lê Hoàng Vũ Khoa Nông Nghiệp

TÓM TẮT

Để góp phần tìm hiểu sự biến động môi trường ao nuôi tôm sú và tìm hiểu sự tác động của môi trường trong 02 tháng nuôi đầu làm cơ sở cho việc giảm thiểu rủi ro trong nuôi tôm sú Đề tài “Khảo sát sự biến động môi trường ao nuôi tôm sú thâm canh (TC) và quảng canh cải tiến (QCCT) ở Huyện Hòa Bình” đã được thực hiện tại địa phương

Đề tài tiến hành thu mẫu 6 ao nuôi TC và 6 ao nuôi QCCT trong suốt 2 tháng đầu sau khi nuôi khu vực thu mẫu tại Thị tr n Hòa Bình ã nh nh H u nh H u - Huyện Hòa Bình - Bạc i u o nuôi TC

và QCCT được thu các ch ti u đo môi trường như: T H 2 S, NO 2

- D được đo b ng các Test kit độ m n đo

b ng khúc ạ kế nhiệt độ b ng nhiệt kế và C D thu b ng chai mài tr ng được bảo quản lạnh tại phòng th nghiệm thủy hóa của trường Đại h c Bạc i u

Kết quả của đề tài cho th y nhiệt độ pH và độ m n trong các hệ thống nuôi TC và QCCT biến động trong phạm vi th ch hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của thủy sinh v t C D qua khảo sát dao động trong khoảng từ 14 4 -24 đối với ao TC và 9 4 -22 4 đối với ao nuôi QCCT; T dao động từ 0 011 – 0 072 mg/ đối với ao nuôi TC và 0 008 – 0 093 mg/ đối với ao QCCT; NO 2

dao động từ 0 010 – 0 035 mg/ đối với ao nuôi

TC và 0,011 – 0 032 mg/ đối với ao QCCT và D đều n m trong khoảng cho phép cho tôm sinh trưởng và phát triển và không khác biệt nhiều giữa 02 mô hình Ch t lượng môi trường nước ở 02 mô hình TC và QCCT trong 02 tháng khảo sát đều n m trong giới hạn cho phép và sự khác biệt ở 2 mô hình nuôi này là không đáng

kể

Từ khoá: 2 tháng nuôi, khảo sát biến động môi trường, Hòa Bình

ABSTRACT

Learning about the environmental fluctuation in ponds for raising black tiger shrimps and the environment effect in the first two months of rasing as the foundation to minimize risks in rasing, the topic

“surveying the environmental fluctuation in ponds for raising black tiger shrimps (penaeus monodon) on the intensive cultivation and improved e tensive cultivation in Hoa Binh district” is carried out in the local

To do this topic, 6 sample ponds on the intensive cultivation and 6 sample ponds on the improved extensive cultivation are collected in the two first months of cultivations The area for collecting samples is in Hoa Binh township, Vinh My A commune, Vinh Hau – Hoa Binh district – Bac Lieu The environmental norms in

Trang 2

the ponds on the intensive cultivation and improved extensive cultivation were gathered such as TAN, H 2 S, NO 2

-,

DO measured by Test kit, their salinity was measured by refractometer, temparature was measured by thermometer and COD was collected into white bottles which was frozen in the liquefied laboratory of Bac Lieu University

The results showed that pH and the sanility in the systems of the intensive cultivation and improved extensive cultivation fluctuate in the limit appropriate for to the growth of water organism By the survey, COD fluctuation was about 14,4 – 24 in the ponds on the intensive cultivation and about 9,4 – 22,4 in the ponds on improved extensive cultivation; TAN fluctuation is about 0,011 – 0,072 mg/L in the ponds on the intensive cultivation and about 0,008 – 0,093 mg/L to ponds on improved extensive cultivation; the NO 2 fluctuation was about 0,010 – 0,035 mg/L in the ponds on the intensive cultivation and about 0,011 – 0,032 mg/L in the ponds on improved extensive cultivation and the DO was in the limit allowing black tiger shrimps to grow and there is no difference between the 2 models The quality of water environment on intensive cultivation model and improved extensive cultivation model in two months of the survey was in the allowed limit and the differences between 2 models were not considerable

1 GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây nghề nuôi trồng thủy sản đang phát triển mạnh, trong đó nuôi tôm sú thâm canh (TC) và quảng canh cải tiến (QCCT) phổ biến nhiều ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Nghề nuôi tôm không chỉ góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cho các nước mà còn tác động đến phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống cho người dân Bên cạnh

đó việc nuôi tôm theo hình thức thâm canh đã tạo ra nhiều vấn đề về môi trường như ô nhiễm, mất cân đối sinh thái vùng ven biến (Macintosh and Philip, 1992), từ đó làm cho môi trường ao nuôi bị nhiễm bệnh là nguyên nhân gây thiệt hại nặng nề nhất cho nghề nuôi tôm (FAO, 2003) Hậu quả là

có nhiều vùng nuôi tôm bị thất bại liên tục như năm 2011 toàn tỉnh Bạc Liêu diện tích tôm thiệt hại, trong đó tôm thâm canh là 9.693 ha và tôm QCCT là 12.211 ha (Chi Cục Nuôi Trồng Thủy Sản Bạc Liêu, 2011) và để hạn chế sự xân nhập của mầm bệnh các nhà khoa học đã nghiên cứu đề xuất mô hình nuôi tôm mật độ thấp và ít thay nước, đây là mô hình phổ biến hiện nay Tuy nhiên,

do ít thay nước nên từ đó chất lượng nước cũng giảm đi rất nhanh đang là vấn đề cần quan tâm đối với nghề nuôi

Bên cạnh nuôi tôm TC thì đa phần hiện nay đều nuôi tôm theo QCCT vừa cải thiện môi trường ao nuôi làm tăng độ màu mỡ cho đất, nhưng mấy năm gần đây diện tích nuôi tôm luôn gặp khó khăn gây thiệt hại đến đời sống của con tôm chủ yếu sử dụng các hóa chất, thuốc trừ sâu làm

ảnh hưởng đến hệ sinh thái của ao nuôi Theo Schulze et al (2006) quần thể vi sinh vật trong các

thủy vực nuôi thủy sản nước mặn rất đa dạng, khả năng duy trì sự cân bằng thích hợp của hệ sinh vật là chìa khóa thành công trong việc quản lý môi trường nuôi thủy sản (trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2009) Theo Phạm Thị Tuyết Ngân và Trương Quốc Phú, 2010 cho rằng trong tổng số vi khuẩn có mặt trong môi trường thì một số đóng vai trò quan trọng trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt liên quan đến sức sản xuất sơ cấp phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước ao nuôi, ngoài ra vi khuẩn còn giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa các chất

Trang 3

độc như: NO2, NH3 Từ những vấn đề trên thì đề tài “Khảo sát sự biến động môi trường ao nuôi

tôm sú thâm canh (TC) và quảng canh cải tiến (QCCT) ở Huyện Hòa Bình” được thực hiện

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa điểm thực hiện: Huyện Hòa Bình, Tỉnh Bạc Liêu

Tiến hành thu mẫu 6 ao nuôi TC và 6 ao nuôi QCCT trong suốt 2 tháng đầu sau khi nuôi, khu vực thu mẫu tại TT Hòa Bình, xã nh M A, nh Hậu A, nh Hậu - Huyện Hòa Bình - Bạc Liêu Ao nuôi TC và QCCT được thu các chỉ tiêu đo môi trường như: TAN, H2S, NO2-, DO được

đo bằng các Test kit, độ mặn đo bằng khúc xạ kế, nhiệt độ bằng nhiệt kế và COD thu bằng chai mài

tr ng được bảo quản lạnh tại phòng thí nghiệm thủy hóa của trường Đại học Bạc Liêu Các chỉ tiêu môi trường thu ở tầng giữa cách mặt nước từ 0,3 – 0,5 m.Thu mẫu 7 ngày/ lần (ngoài nhiệt độ, oxy,

pH 2 lần/ngày) ở 2 mô hình trong 2 tháng đầu sau khi thả tôm

COD: Phương pháp oxy hóa bằng KMnO4 trong môi trường kiềm, thu mẫu trong chai nút mài tr ng 125 mL, cố định mẫu bằng 2 mL H2SO4 4M

Mẫu được lưu trữ và phân tích tại phòng thí nghiệm Thủy hóa trường Đại học Bạc Liêu

B n : T n m p n p p p n m

C ỉ ê Số lần T n P n p p phân tích

Nhiệt độ 2 lần/ngày Chiều: 14Sáng: 7h h– 9h

pH 2 lần/ngày Chiều: 14Sáng: 7h h– 9h

Độ mặn 2 lần/ngày Chiều: 14Sáng: 7h h– 9 – 16h h Test kit

Độ kiềm 2 lần/ngày Chiều: 14Sáng: 7h h– 9h

DO 2 lần/ngày Chiều: 14Sáng: 7h h– 9h

kiềm, cố định 2ml H2SO4

Test kit

Test kit

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả nghiên cứu các yếu tố môi trường ở 2 mô hình nuôi TC và QCCT trong 2 tháng nuôi đầu như sau

3.1 N ệ độ

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy đợt 4 có nhiệt độ cao nhất là 320C±1,1 ở ao 1; nhiệt độ thấp nhất ở đợt 5 và đợt 6 là 270C±1,3 của ao 4 và ao 5, nhiệt độ trung bình ngoài kênh từ 28,7±1,20C Như vậy, nhiệt độ giữa các đợt không có sự chênh lệch đáng kể và đều nằm trong

Trang 4

khoảng thích hợp cho các loài thủy sinh vật sinh trưởng và phát triển là 26 – 330

C (Chiu et al

,1998; Boyd và Fast, 1992) (trích dẫn Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)

Còn đối với ao nuôi QCCT cao nhất ở đợt 4 là 31,3±1,14 0C của ao 10 và thấp nhất ở đợt 5

là 270C±1,18 của ao 11 và ao 12 à nhiệt độ ngoài kênh dao động từ 27 - 300C Qua kết quả ta thấy nhiệt độ các ao QCCT đều nằm trong khoảng thích hợp cho các loài thủy sinh vật sinh trưởng

và phát triển là 26 – 330

C (Chiu et al, 1998; Boyd và Fast, 1992) (trích dẫn Trần Ngọc Hải và

Nguyễn Thanh Phương, 2009)

Các kết quả này cho thấy nhiệt độ ở tất cả các ao đo được đều nằm trong khoảng thích hợp cho các loài thủy sinh vật sinh trưởng và phát triển là 26 – 330

C (Chiu et al, 1998; Boyd và Fast,

1992) (trích dẫn Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)

3.2 pH

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy ao nuôi TC có pH trung bình qua các đợt thu mẫu đợt 8

pH cao nhất là 8,0±0,12 ở ao 4 và ao và thu mẫu đợt 4 thấp nhất là 7,6±0,15 ở ao 3 Từ đó, ta thấy

pH qua các ao TC thích hợp cho các loài thủy sinh vật phát triển và sinh trưởng là 6,5 – 9 (Trương Quốc Phú ,2006)

Đối với ao tôm QCCT có pH trung bình cao nhất ở đợt 1 là 8,2±0,07 ở ao 8 và ao 9, pH thu đợt 5 thấp nhất là 7,7±0,16 ở ao 7 Qua các đợt thu cho thấy rằng pH trong ao nuôi thích hợp cho

tôm sinh trưởng và phát triển là 7,5 – 8,5 (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2002)

Qua kết quả trên thấy được trong 2 hệ thống nuôi tôm được khảo sát thì hệ thống nuôi quảng canh cải tiến có pH trung bình qua các đợt thu mẫu cao hơn ao nuôi TC Mà pH cao cũng ảnh hưởng đến quá trình sống của thủy sinh vật dẫn đến hàm lượng NH3 tăng gây độc cho tôm trong ao (Pekar, 2002) (trích dẫn Tạ ăn Phương, 2006)

Theo kết quả khảo sát cho thấy pH nằm trong khoảng thích hợp đối với thủy sinh vật phát triển và sinh trưởng pH dao động từ 6,5 -9 (Trương Quốc Phú, 2006) và nằm trong ngưỡng cho

ph p theo tiêu chuẩn chất lượng nước mặt TC N 5942 – 1995 là (5.5 - 9) và pH ở mức cao làm gia tăng tỷ lệ NH3 gây độc cho tôm nuôi

3.3 Độ mặn

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy độ mặn ao nuôi TC qua các đợt thu mẫu cao nhất ở đợt thu

là 26,8±1,27%o tập trung ở ao 2 và thấp nhất ở đợt thu 7 là 21,5±1,57%o Qua kết quả khảo sát ta

thấy độ mặn giảm vào đầu mùa mưa và theo Chanratchakool et al , 1995 cho rằng độ mặn từ 10%o

- 30%o là thích hợp cho sự sinh trưởng tối ưu của tôm sú

Đối với ao nuôi QCCT độ mặn cao nhất qua đợt thu mẫu 5 từ 28,8 ±1,78%o ở ao 7 và ao

10, độ mặn thấp nhất qua đợt thu 7 là 21±1,37%o ở ao 12 Nhìn chung, độ mặn ở các ao chênh lệch

từ 2%o - 10%o, mà mô hình này bơm nước một tháng khoảng 2 -3 lần làm cho độ mặn trong ao giảm và tăng theo thủy triều và lượng mưa, mặt khác khi cung cấp nước vào làm cho lượng phù sa

Trang 5

nhiều nên độ đục trong ao rất cao đó cũng là tạo ra nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm và động vật thủy sinh

Như vậy ta thấy rằng ở 2 mô hình TC và QCCT độ mặn không khác biệt nhiều, trong đó độ mặn ở các ao quảng canh cải tiến dao động nhiều hơn so với mô hình TC, nhưng nhìn chung độ mặn đều nằm trong khoảng thích hợp cho động vật thủy sinh và tôm sú phát triển, theo

Chanratchakool el al, 2002 cho rằng độ mặn từ 10%o - 30%o là thích hợp cho sự sinh trưởng tối

ưu của tôm sú và theo Whetston el al, 2002 cho rằng tôm sú có thể sống và sinh trưởng tốt ở độ

muối từ 15%o - 35%o

3.4 Độ k ềm

Môi trường nước có độ kiềm cao giúp ổn định pH, nước có lượng kiềm tổng cộng 20 – 150

mg CaCO3/l thì thích hợp cho sự phát triển của nhiều loài thủy sản và độ muối của nước ao tăng lên đồng ngh a với lượng kiềm tổng cộng tăng ( ũ Thế Trụ, 2001; Boyd, 1998)

Qua hình 3.1 cho thấy trong ao nuôi TC độ kiềm trung bình cao nhất qua thu mẫu đợt 2 là 105±4,4 mg CaCO3/l ở ao 3 và thấp nhất qua thu mẫu đợt 6 là 90,5±3,8 mg CaCO3/l ở ao 5 Qua khảo sát các ao TC ta thấy độ kiềm đều nằm trong khoảng thích hợp cho tôm phát triển và sinh trưởng từ 80 mg - 110 mg CaCO3/l phụ thuộc vào sự dao động pH trong ao (Chanratchakool et al,

1997)

80 85 90 95 100 105 110

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ o TC

ao 1

ao 2

ao 3

ao 4

ao 5

ao 6

Hìn 3.1 B ến độn độ k ềm ron o n ô TC

Qua hình 3.2 cho thấy trong ao nuôi QCCT có độ kiềm trung bình cao nhất ở thu mẫu đợt 1, đợt 7 và đợt 8 là 115±4,9 mg CaCO3/L ở ao 9 và ao 12, độ kiềm thấp nhất qua thu mẫu đợt 5 là 97±6,1 mg CaCO3/L ở ao 11 Chanratchakool et al, 1997 cho rằng độ kiềm thích hợp cho tôm phát triển và sinh trưởng là từ 80 mg - 110 mg CaCO3/L phụ thuộc vào sự dao động pH trong ao

Trang 6

0 20 40 60 80 100 120 140

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o QCCT

ao 7

ao 8

ao 9

ao 10

ao 11

ao 12

Hìn 3.2 B ến độn độ k ềm ron o n ô QCCT

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở 2 mô hình TC và QCCT độ kiềm không khác biệt nhiều, trong đó ao nuôi TC độ kiềm ít biến động hơn so với ao nuôi QCCT, trong quá trình ao nuôi

TC sử dụng vôi đã làm cho môi trường ít biến động nhất là độ kiềm luôn luôn giữ trong khoảng thích hợp Do đó, độ kiềm qua khảo sát các ao cho thấy thích hợp cho tôm phát triển và sinh trưởng

là từ 80 mg - 110 mg CaCO3/l phụ thuộc vào sự dao động pH trong ao (Chanratchakool et al, 1997)

3.5 Oxy hòa tan (DO)

0 1 2 3 4 5 6 7 8

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o TC

ao 2

ao 3

ao 4

ao 5

ao 6

Hìn 3.3 B ến động DO trong ao nuôi TC

Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường nước Qua hình 3.3 cho thấy hàm lượng oxy hòa tan trung bình kênh ao nuôi TC dao động từ 5,33±0,41 mg/L, hàm lượng oxy hòa tan trong ao nuôi TC cao nhất qua thu mẫu đợt 3 là 7,3±0,7 mg/L ở ao 4, hàm lượng oxy hòa tan trung bình thấp nhất qua thu mẫu đợt 6 là 4,2±0,6 mg/L ở ao 5 Qua khảo sát ta thấy nồng độ oxy hòa tan đều nằm trong khoảng thích hợp để tôm và động vật thủy sinh sinh trưởng và phát triển, theo Swingle, 1969 cho rằng oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho ao nuôi tôm

Trang 7

sú là trên 5 mg/L và không vượt quá 15 mg/L (Whetston et al, 2002 trích dẫn bởi Phạm Thị Tuyết

Ngân và Trương Quốc Phú, 2010)

Qua hình 3.4 cho thấy trong ao nuôi QCCT oxy hòa tan trung bình cao nhất qua thu mẫu đợt 3 là 4,6±0,30 mg/L ở ao 9 và thấp nhất qua thu mẫu đợt 5 và đợt 6 là 3,7±0,30 mg/L ở ao 11 và

ao 9, nhưng nhìn chung nồng độ oxy hòa tan cao vào buổi chiều do quá trình quang hợp mạnh Theo tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (TC N 5942 – 95) thì nằm trong khoảng giới hạn cho ph p

để thủy sinh vật phát triển và sinh trưởng (≥ 2mg/L)

0 1 2 3 4 5

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o QCCT

ao 7

ao 8

ao 9

ao 10

ao 11

ao 12

Hìn 3.4 B ến độn DO ron o n ô QCCT

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở 2 mô hình TC và QCCT hàm lượng oxy hòa tan không có sự khác biệt nhiều, mà ao nuôi QCCT có diện tích thoáng và thay nước một tháng 2 -3 lần làm cho hàm lượng oxy sáng chiều biến động nhiều Bên cạnh đó hàm lượng oxy hòa tan thấp còn làm tăng tính độc của một số chỉ tiêu môi trường nước, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm

cá và theo Allan et al., (1990) nhận thấy tính độc của ammonium gia tăng 69% ở tôm giống

Penaeus monodon khi nuôi giữ trong điều kiện thiếu oxy và khi hàm lượng oxy hòa tan thấp

thường xuyên có thể làm giảm khả năng b t mồi, tỷ lệ tăng trưởng và tần số lột xác của tôm (Seidman & Lawrence, 1985)

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng oxy hòa tan trong các hệ thống được khảo sát đều nằm trong khoảng giới hạn cho ph p để thủy sinh vật phát triển và sinh trưởng (≥2 mg/L) theo tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (TC N 5942 – 95)

3.6 T ê o oxy ó ọ (COD)

Qua hình 3.5 ta thấy hàm lượng COD trung bình cao nhất qua thu mẫu đợt 4 là 24±3,09 mg/L ở ao 2 và thấp nhất qua thu mẫu đợt 1 là 12,8±2,15 mg/L ở ao 1 Hàm lượng COD khảo sát nằm trong ngưỡng cho ph p theo tiêu chuẩn chất lượng nước mặt là hàm lượng COD <35 ppm (TCVN 5942 – 95)

Trang 8

0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o TC

ao 2

ao 3

ao 4

ao 5

ao 6

Hìn 3.5 B ến độn COD ron o n ô TC

Qua hình 3.6 cho thấy ao nuôi QCCT hàm lượng COD trung bình cao nhất qua thu mẫu đợt

3 và đợt 4 là 22,4±2,95 mg/L ở ao 7 và ao 11, thấp nhất qua thu mẫu đợt 5 là 9,4±2,97 mg/L ở ao

12 Qua khảo sát cho thấy rằng hàm lượng COD trong các ao nuôi QCCT thích hợp cho tôm và

thủy sinh vật phát triển theo Smith el al, 2002 và Boyd (1998) thì hàm lượng COD trong ao nuôi

tôm là dưới 20 mg/L

0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o QCCT

ao 7

ao 8

ao 9

ao 10

ao 11

ao 12

Hìn 3.6 B ến độn COD ron o n ô QCCT

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở 2 mô hình TC và QCCT nồng độ COD không khác biệt nhiều Từ những kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng COD trong các hệ thống ao nuôi nằm trong giới hạn cho ph p (<35 mg/L) theo tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (TC N 5942 – 95)

3.7 Nitrite (NO 2 - )

Qua hình 3.7 ta thấy ao nuôi TC hàm lượng nitrite cao nhất qua thu mẫu đợt 7 và đợt 8 là 0,035±0,007 mg/L ở ao 4 và thấp nhất qua thu mẫu đợt 7 là 0,01±0,005 mg/L ở ao 3 Theo

Whetston el al, 2002 cho rằng nồng độ nitrite trong ao nuôi phải nhỏ hơn 0,23 mg/L, từ đó ta thấy

nồng độ nitrite trong ao nuôi TC rất thích hợp cho tôm và động vật thủy sinh sinh trưởng và phát triển

Trang 9

0.000 0.005 0.010 0.015 0.020 0.025 0.030 0.035 0.040

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o TC

ao 2

ao 3

ao 4

ao 5

ao 6

Hìn 3.7 B ến độn NO 2 trong ao nuôi TC

Qua hình 3.8 cho thấy ao nuôi QCCT hàm lượng nitrite cao nhất qua thu mẫu đợt 1 là 0,032±0,0067 mg/L ở ao 10 và thấp nhất qua thu mẫu đợt 3 là 0,011±0,004 mg/L ở ao 7 Qua những kết quả của các ao nuôi QCCT cho thấy hàm lượng nitrite đều nằm trong khoảng thích hợp

cho tôm và động vật thủy sinh phát triển và sinh trưởng theo Whetstone et al, 2002 cho rằng nồng

độ nitrite trong ao nuôi tôm phải nhỏ hơn 0,23 mg/L được xem là an toàn

0.000 0.005 0.010 0.015 0.020 0.025 0.030 0.035

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o QCCT

ao 7

ao 8

ao 9

ao 10

ao 11

ao 12

Hìn 3.8 B ến độn NO 2 trong ao nuôi QCCT

Qua nghiên cứu ta thấy rằng ở 2 mô hình TC và QCCT nồng độ nitrite không khác biệt nhiều Theo kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng nitrite trong các ao nuôi tôm đều thấp hơn với nồng độ nitrite cho ph p đối với tiêu chuẩn tầng nước mặt là <0,05 mg/L (theo TC N 5942 – 95)

và đều nằm trong khoảng thích hợp cho tôm và động vật thủy sinh phát triển mà theo Whetstone et

al, 2002 cho rằng nồng độ ao nuôi tôm phải nhỏ hơn 0,23 mg/L được xem là an toàn

3.8 T n đ m môn (TAN)

Trang 10

0 0.01 0.02 0.03 0.04 0.05 0.06 0.07 0.08

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ o TC

ao 2

ao 3

ao 4

ao 5

ao 6

Hìn 3.9 B ến độn TAN ron o n ô TC

Qua hình 3.9 cho thấy hàm lượng TAN trong ao nuôi TC cao nhất qua thu mẫu đợt 1 là 0,072±0,013 mg/L ở ao 2, thấp nhất qua thu mẫu đợt 5 là 0,009±0,0014 mg/L ở ao 5 Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Thanh Toàn (2008) cho rằng hàm lượng TAN trong ao nuôi tôm sú dao động từ 0,01 – 4,30 mg/L thì nồng độ TAN rất thích hợp cho tôm phát triển

0.000 0.020 0.040 0.060 0.080 0.100

đợt 1

đợt 2

đợt 3

đợt 4

đợt 5

đợt 6

đợt 7

đợt 8

Đợ m o QCCT

ao 8

ao 9

ao 10

ao 11

ao 12

Hìn 3.1 B ến độn TAN ron o n ô QCCT

Qua hình 3.10 cho thấy trong ao nuôi QCCT nồng độ TAN trung bình cao nhất qua thu mẫu đợt 2 là 0,093±0,026 mg/L ở ao 12, thấp nhất qua thu mẫu đợt 2 là 0,008±0,0016 mg/L ở ao 7, các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hàm lượng TAN ao nuôi QCCT đều nằm trong khoảng cho ph p

để tôm sinh trưởng và phát triển theo Nguyễn Thanh Long và Thanh Toàn (2008) cho rằng hàm lượng TAN trong ao nuôi tôm sú dao động từ 0,01 – 4,30 mg/L thì nồng độ TAN rất thích hợp cho tôm phát triển

3.9 H 2 S

Ngày đăng: 13/06/2016, 04:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w