ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊNTẠI TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI Th.S Lê Hồng Hạnh Trường ĐH Thủ đô Hà Nội Tóm tắt: Trên cơ sở lý luận về đào tạo nghiệp vụ sư ph
Trang 1ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊNTẠI TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Th.S Lê Hồng Hạnh
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Trên cơ sở lý luận về đào tạo nghiệp vụ sư phạm (NVSP) theo chuẩn
nghề nghiệp giáo viên, đào tạo NVSP tại Trường ĐH Thủ đô Hà Nội tập trung đến: 1)Mục tiêu đào tạo NVSP; 2)Nội dung đào tạo NVSP; 3) Cấu trúc các học phần NVSP trong chương trình đào tạo giáo viên; 4) Chương trình chi tiết; 5)Thời lượng các học phần NVSP; 6) Hình thức tổ chức và phương pháp đào tạo NVSP; 7) Đánh giá sinh viên tốt nghiệp Trường ĐH Thủ đô Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp GV Bài báo đưa
ra một số đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NVSP tại Trường ĐH Thủ đô Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Abstract: On the basis of the theories related to pedagogical training in
accordance with Professional Teaching Standards, pedagogical training at Hanoi Metropolitan University (HNMU) is focused on the following things: (1) Pedagogical training objectives; (2) Pedagogical training contents; (3) Structure of the pedagogical traning modules in teacher training programs, (4) Syllabuses; (5) Amount of time spared for each of the pedagogical training modules; (6) Pedagogical training organization forms and methods; (7) Assessment criteria for graduates from Hanoi Metropolitan in accordance with professional standards In this article, some recommenations on the improvement of pedagogical training at Hanoi Metropolitan University are offered with a view to meeting the demands of the current educational innovation
Key word: pedagogic training, Professional Teaching Standards,
1 Đặt vấn đề
Bước vào thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục Việt Nam Trên nền tảng sáng tạo khoa học và phát triển công nghệ mạnh mẽ như hiện nay, xu hướng chung của thế giới
là toàn cầu hóa và tiến tới nền kinh tế tri thức Trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng, sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở các nước trên thế giới, tạo cơ hội tốt để giáo dục nước ta nhanh chóng tiếp cận các xu thế mới, nhận thức mới,
Trang 2tới vận dụng kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển Trong quản lí giáo dục hiện đại, chúng ta cần tiếp cận cách “quản lí theo Chuẩn” Có thể sử dụng Chuẩn nghề nghiệp GV để quản lí chất lượng đội ngũ GV là sự đổi mới trong tư duy quản lí giáo dục, là yêu cầu khách quan trong xu thế phát triển
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thành chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, vì vậy nhiệm vụ của các trường đại học sẽ rất quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên để thực hiện chương trình mới Nghiệp vụ sư phạm là một trong những nội dung cốt lõi của chương trình đào tạo giáo viên Mục đích của nội dung này nhằm hình thành nǎng lực nghề nghiệp cả về lý luận và thực hành[1;4] Trong suốt quá trình đào tạo, các nội dung nghiệp vụ sư phạm giúp sinh viên thích ứng dần với hoạt động của người giáo viên tương lai, được sắp xếp theo một hệ thống lý thuyết và thực hành, góp phần hình thành năng lực sư phạm nhằm hướng tới mục tiêu: đào tạo đội ngũ giáo viên có chất lượng cao, đáp ứng thực tiễn giáo dục, phù hợp xu thế hội nhập và phát triển hiện nay
Trường đại học địa phương (ĐHĐP) của Việt Nam đào tạo nhân lực cho địa phương, cho vùng miền để phục vụ cộng đồng, góp phần xây dựng xã hội học tập, xã hội nghề nghiệp và phát huy sự đồng thuận của xã hội Theo Vũ Ngọc Hải: trường ĐHĐP ở Việt Nam có sứ mệnh đào tạo cung cấp nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển kinh tế- xã hội địa phương trên cơ sở tối ưu hóa điều kiện học tập cho sinh viên và một bộ phận dân cư đa dạng ở địa phương, giúp họ trở thành những người lao động có hiệu quả thích ứng được với những thách thức mới trong phát triển kinh tế- xã hội địa phương
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội - trường đại học đa ngành, là một trong những
cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng của thành phố Hà Nội; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho sự nghiệp giáo dục và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Hà Nội
2 Nội dung
2.1 Đào tạo nghiệp vụ sư phạm
Đào tạo sư phạm là dạy các kỹ năng thực hành, nghề dạy học hay kiến thức liên
quan đến dạy học và giáo dục, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng một cách có hệ thống để chuẩn bị cho họ thích nghi với cuộc sống và khả năng
đảm nhận được công việc Error! Reference source not found Nội dung đào tạo sư
Trang 3phạm, giảng dạy và nghệ thuật sư phạm, lý luận giáo dục chuyên ngành và bộ môn, nhân cách người giáo viên và những kỹ năng, kỹ xảo sư phạm Kết quả của quá trình đào tạo sư phạm sẽ thực sự có hiệu quả chỉ khi quá trình đào tạo sư phạm biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác điều này đồng nghĩa với việc giáo sinh sau này để trở thành nhà giáo giỏi cần phải chuyển từ tự ý thức thành hành động chủ động tích cực tự giác trọng học tập và rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ của bản thân
Nghiệp vụ sư phạm được hiểu là toàn bộ những kỹ năng nghề nghiệp thiết yếu
mà người giáo viên phải có để thực hiện quá trình dạy học, giáo dục học sinh Một cách cụ thể hơn nghiệp vụ sư phạm là đề cập đến các chuyên ngành tâm lý học, giáo dục học và giáo dục học bộ môn, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và tương ứng là các phần thực hành, thực tế, thực tập sư phạm, những lĩnh vực cơ bản đảm bảo cho người giáo viên có thể đảm nhiệm chức năng dạy học và giáo dục hiệu quả
2.2 Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên là mức độ và yêu cầu về phẩm chất và năng lực
sư phạm của người giáo viên đáp ứng với từng giai đoạn giáo dục Năng lực giáo viên được hình thành và phát triển trong suốt quá trình hành nghề theo chuẩn Có thể nói chuẩn nghề nghiệp đã bao hàm chuẩn đào tạo ban đầu, đồng thời bao hàm các mức độ, yêu cầu ngày càng cao hơn để phát triển năng lực giáo viên ở những năm sau đó Chuyển từ xây dựng và quản lí giáo viên theo chuẩn trình độ đào tạo sang xây dựng và quản lí giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp là cách nhìn mới trong quản lí giáo dục phù hợp xu hướng quản lí của các nước đang phát triển và hiện đại
Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo nước ta trong những năm gần đây đã ban hành các bộ Chuẩn nghề nghiệp (CNN) cho giáo viên (GV) tiểu học năm 2007 và CNN cho GV trung học năm 2009 Nội dung của CNN thực chất là các yêu cầu về năng lực thực hiện hoạt động nghề nghiệp trong các lĩnh vực cơ bản đối với GV phổ thông ở một cấp học cụ thể (chưa tính đến quy định về trình độ đào tạo của GV) Mỗi
bộ CNN cho GV của một cấp học có những cấu trúc và cách diễn giải khác nhau nhưng từng yêu cầu của CNN đều xác định những kiến thức và kỹ năng cần thiết bảo đảm cho sự thành công của các hoạt động mà người GV phải thực hiện hàng ngày ở cơ
sở giáo dục (trường học, các trung tâm giáo dục) Theo thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ban hành quy định CNN GV Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông thì những năng lực NVSP trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của GV gồm 5 tiêu chuẩn:
Trang 4(1) Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục: Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin thường xuyên: về nhu cầu và đặc điểm của học sinh, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục;về điều kiện giáo dục trong nhà trường
và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục
(2) Năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học: bảo đảm kiến thức môn học, chương trình môn học, vận dụng các phương pháp dạy họ, sử dụng các phương tiện dạy học, xây dựng môi trường học tập, quản lí hồ sơ dạy học
(3) Năng lực xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục: giáo dục qua môn học, giáo dục qua công tác chủ nhiệm, hoạt động đoàn đội, qua các hoạt động cộng đồng, vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức HS
(4) Năng lực hoạt động chính trị xã hội: Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường;Tham gia các hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng đồng, xây dựng xã hội học tập
(5) Năng lực phát triển nghề nghiệp: Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục; Phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục
Đây là những năng lực cốt lõi, cần thiết của người GV giúp họ thực hiện các chức năng, vai trò, nhiệm vụ giáo dục, đáp ứng các yêu cầu của nhà trường phổ thông hiện nay
CNN là hệ thống các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
và các năng lực nghề nghiệp mà người GV phải đạt được để thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học và giáo dục đáp ứng mục tiêu của giáo dục phổ thông CNN GV được xây dựng trên cơ sở mô hình năng lực của GV, trong đó đưa ra các tiêu chuẩn năng lực và các tiêu chí đánh giá cho mỗi tiêu chuẩn đó CNN GV là cơ sở định hướng cho việc đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và phát triển đội ngũ GV Do đó, xây dựng mục tiêu, chương trình đào tạo và bồi dưỡng GV, xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá SV tốt nghiệp phải hướng theo CNN GV
Trang 5Căn cứ CNN GV, chương trình đào tạo GV nói chung và cụ thể là đào tạo NVSP của các trường có đào tạo sư phạm phải được thiết kế một cách tổng thể các hoạt động của quá trình đào tạo, trong đó mô tả mục tiêu, các khối kiến thức, năng lực, phẩm chất cụ thể, các phương pháp, hình thức tổ chức, kế hoạch đào tạo, các tiêu chí để kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo Các thành phần đó chỉ ra những phẩm chất năng lực mà quá trình đào tạo phải đạt được Đó cũng chính là chuẩn đầu ra (chuẩn tốt nghiệp)
2.3 Đào tạo NVSP cho sinh viên trường Đại học Thủ Đô Hà Nội theo chuẩn nghề nghiệp của giáo viên
1 Mục tiêu đào tạo NVSP
Mục tiêu đào tạo NVSP của trường Đại học Thủ đô Hà Nội- chuẩn đầu ra mà nhà trường hướng đến đòi hỏi người giáo viên tương lai đạt được các tiêu chí về phẩm chất nhân cách và các năng lực của CNN GV đã quy định Bên cạnh các yêu cầu nắm chắc kiến thức bộ môn, có kĩ năng, phương pháp dạy học, giáo dục, người GV tương lai cần phải có kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp về mặt giao tiếp, tổ chức, hợp tác với đồng nghiệp, với học sinh, với môi trường, kĩ năng tự trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ, vị trí việc làm và khả năng học tập nâng cao trình độ sau khi ra trường gắn với CNNGV Nội dung các yêu cầu đối với sinh viên tốt nghiệp là cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong chương trình đào tạo giáo viên, kiểm tra, đánh giá sinh viên tốt nghiệp Đặc biệt các yêu cầu liên quan đến phẩm chất đạo đức, chính trị, lối sống được đặc biệt nhấn mạnh đối với giáo viên nói chung và sinh viên tốt nghiệp nói riêng Tuy nhiên khi đi sâu phân tích thì thấy cách viết về cơ bản vẫn theo cách tiếp cận nội dung và chưa phản ánh được đầy đủ những yêu cầu của CNN GV, cũng như những yêu cầu mới của giáo dục phổ thông
2 Nội dung đào tạo NVSP
Theo chương trình khung đào tạo hiện nay của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội thì nội dung đào tạo NVSP bao gồm các học phần: tâm lý học, giáo dục học và giáo dục học bộ môn, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên, rèn luyện phẩm chất người giáo viên, rèn luyện năng lực dạy học, rèn luyện năng lực giáo dục của người giáo viên, và tương ứng là các phần thực hành, thực tế, thực tập sư phạm Bên cạnh đó còn
có các học phần tự chọn như: Giao tiếp sư phạm, Phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, giúp sinh viên có kiến thức và kĩ năng tìm hiểu người học và môi trường giáo dục, lập kế hoạch giáo dục, dạy học, công tác chủ nhiệm lớp, quản lí tổ chức lớp
Trang 6học Tuy nhiên nội dung NVSP vẫn chưa thể hiện được sự gắn kết chặt chẽ với thực tiễn giáo dục phổ thông
Các nội dung nghiệp vụ sư phạm nhằm mục đích giúp sinh viên thích ứng dần với hoạt động của người giáo viên tương lai, được sắp xếp theo một hệ thống lý thuyết
và thực hành Một trong những nội dung cơ bản để nhằm phát triển nghiệp vụ nói riêng và nhân cách người giáo viên nói chung chính là thực tập sư phạm
Nội dung thực tập sư phạm của trường yêu cầu khi sinh viên đi TTSP bao gồm: (i)Tìm hiểu về thực tế nhà trường, địa phương, học sinh, giáo viên và các hoạt động trong nhà trường và làm những bài tập nghiên cứu khoa học về tâm lí- giáo dục, thực tập làm công tác chủ nhiệm lớp và tìm hiểu công tác giảng dạy, dự giờ mẫu, nghiên cứu chương trình, tài liệu sách giáo khoa (ii)Thực tập giảng dạy dưới sự giúp đỡ của
GV hướng dẫn
(iii)Thực tập giáo dục hay thực tập công tác chủ nhiệm với sự hướng dẫn của
GV hướng dẫn (lập kế hoạch chủ nhiệm, thực hiện hoạt động giáo dục, tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.)
Nội dung TTSP của trường được chia thành 02 nội dung khá rõ ràng với những tiêu chí đánh giá rất cụ thể trong thực tập giáo dục và thực tập giảng dạy Tuy nhiên, một số khoa vẫn chưa xác định rõ nội dung TTSP cho từng đợt Chẳng hạn có khoa vẫn nhầm lẫn cho rằng đượt TTSP lần 1 dành cho năm thứ hai sinh viên cần thực hiện giảng dạy tốt các môn dạy khi xuống phổ thông
3 Cấu trúc các học phần NVSP trong chương trình đào tạo giáo viên
Dựa vào quy định khung chương trình đào tạo giáo viên của Bộ giáo dục và đào tạo, mỗi cơ sở đào tạo giáo viên đều xây dựng các chương trình đào tạo chi tiết cho các ngành đào tạo của trường mình dựa trên chương trình đào tạo khung của Bộ Giáo dục
và đào tạo Trong chương trình đào tạo giáo viên theo học chế tín chỉ của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội với tổng số từ 130 - 140 tín chỉ Trong cấu trúc chương trình học phần liên quan đến nghiệp vụ sư phạm được chia làm 2 phần: Phần chung đào tạo cho toàn bộ sinh viên của các ngành học sư phạm trong toàn trường và phần riêng đặc thù cho từng chuyên ngành Cấu trúc các học phần chung và chuyên ngành được sắp xếp khá hợp lý không có sự trùng lặp chẳng hạn đối với chuyên ngành sư phạm tin thì không có học phần tin học 2 tín chỉ môn chung
Các học phần: tâm lý học, giáo dục học, và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên được sắp xếp vào năm thứ nhất và đầu năm thứ hai giúp cho sinh viên khi đi thực
Trang 7tập sư phạm (TTSP) có sự vận dụng kiến thức vào thực tiễn khá phù hợp và thuận lợi Thực tập sư phạm là phần thực hành cho nội dung đào tạo giáo viên của các trường sư phạm, Thực tập sư phạm được xem là có ý nghĩa đặc biệt nhất trong đào tạo kĩ năng nghề nghiệp, thời lượng TTSP của trường đại học Thủ đô Hà Nội là 9 tín chỉ được trải đều trong các năm đào tạo: 02 tuần cho năm thứ hai, 04 tuần cho năm thứ ba và 08 tuần cho năm thứ tư Có thể thấy rằng thực tập sư phạm đã thể hiện sự liên hệ giữa lý luận và thực hành hướng đến sự gắn kết với thực tiễn trong đào tạo nghề
Phần chung của đào tạo NVSP dành cho toàn bộ sinh viên các ngành học sư phạm của trường, nội dung bao gồm các học phần giúp sinh viên có các kiến thức cơ
sở để hình thành và phát triển các năng lực cơ bản của giáo viên: Năng lực hiểu đối tượng giáo dục và môi trường giáo dục; Năng lực giải quyết các tình huống sư phạm, Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục, năng lực tự học nghiên cứu, năng lực kiểm tra đánh giá và rèn luyện phẩm chất người giáo viên, năng lực phát triển cộng đồng và phần riêng đặc trưng dành cho từng chuyên ngành Đây là sự thay đổi phù hợp, khoa học tạo được sự thống nhất, logic khá tốt trong toàn trường trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên và hướng đến hình thành phát triển năng lực đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên mà Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
4 Chương trình chi tiết
Chương trình đào tạo GV cụ thể đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong trường Đại
học Thủ đô Hà nội có những ưu điểm như: “i) được xây dựng theo hướng tiếp cận
mục tiêu phát triển năng lực; ii) có các học phần lựa chọn, học phần tích hợp, đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực cần đạt theo mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình; iii) chặt chẽ, có tính liên kết và cấu trúc hợp lý nhằm trang bị năng lực cần có của người GV; iv) Đảm bảo tính hệ thống v) Đảm bảo tính cân đối, có tỷ
lệ hợp lý giữa đại cương và chuyên nghiệp; vi) đảm bảo tính cân đối có tỷ lệ hợp lý giữa chuyên môn và NVSP; vii) có tỷ lệ hợp lý giữa cơ sở ngành và chuyên ngành; viii) có tỷ lệ hợp lý giữa lý thuyết, thực hành và tự học, tự nghiên cứu; ix) nội dung trong chương trình đào tạo được lựa chọn thực sự là cốt lõi và cần thiết cho người GV tương lai; x) nội dung chương trình đào tạo gắn với nội dung giáo dục phổ thông, gắn kết kiến thức chuyên ngành với nội dung dạy học ở phổ thông; xi) Nội dung chương trình đào tạo có tham khảo các chương trình đào tạo cùng lĩnh vực ở trong nước và quốc tế; xii) nội dung chương trình đào tạo của khoa được rà soát định
Trang 8kì để bổ sung và điều chỉnh cho cập nhật và phù hợp với yêu cầu thực tiễn theo hướng tăng cường các kĩ năng”
Tuy nhiên, chương chình chi tiết các học phần rèn luyện nghiệp vụ sư phạm vẫn
chưa làm rõ được mối quan hệ giữa chương trình đại học với kiến thức, năng lực cần đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông cụ thể các môn học chỉ có sự phân chia lý thuyết, thảo luận, hoặc thực hành, bài tập chưa thấy có sự thực hành tại trường phổ thông
Thêm nữa, chương trình đào tạo chưa chú trọng đến sự phát triển năng lực cơ bản của SV với tư cách là người học tập và sau nữa là đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai cụ thể: năng lực tự học, tự nghiên cứu; sự hình thành khả năng xây dựng, phát triển chương trình đối với SV; năng lực dạy học tích hợp và phân hóa trong giảng dạy
Một điều dễ nhận thấy trong chương trình đào tạo đó là: Sinh viên chưa được trang bị một cách hợp lí các kỹ năng về giáo dục toàn diện, nhất là về kỹ năng nghề nghiệp, về tham vấn học đường, về các tổ chức hoạt động trải nghiệm…
Các học phần về phương pháp dạy học bộ môn tuy đã cố gắng trang bị cho
SV nắm vững hệ thống các phương pháp dạy học và cập nhật những vấn đề đổi mới về phương pháp giảng dạy ở phổ thông, song vẫn còn khoảng cách giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa đào tạo ở trường sư phạm với thực tế giảng dạy ở nhà trường Nhiều SV khi thực tập sư phạm rất ngỡ ngàng, lúng túng trước những yêu cầu của GV hướng dẫn dưới phổ thông (như cách lập kế hoạch dạy học, thiết kế giáo án; trình bày bài giảng,
sử dụng các phương tiện, đồ dùng trực quan, tổ chức các hoạt động DH-GD ngoài giờ lên lớp…)
5 Thời lượng các học phần NVSP
Khối kiến thức về NVSP của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội trong cấu trúc chương trình có tỷ lệ thời lượng phân bổ chiếm khoảng 24,6% tổng quỹ thời gian học tập của khóa học trong đó thực tập sư phạm chiếm khoảng 6,9% còn lại là các học phần liên quan đến chuyên môn sư phạm Với tỷ lệ thời lượng phân bổ khối kiến thức
về NVSP trong toàn bộ chương trình đào tạo của trường Đại học Thủ Đô Hà Nội chiếm tỷ lệ khá cao so với các trường đào tạo sư phạm trong cả nước, chẳng hạn, Đại học Sư phạm Hà Nội chiếm khoảng 19,6% trong toàn bộ chương trình đào tạo; Đại học Cần Thơ chiếm khoảng 14-17%, tỷ lệ này gần bằng tỷ lệ trung bình về thời lượng phân bổ khối kiến thức về NVSP trong toàn bộ chương trình đào tạo các nước trên thế giới (khoảng 30%.) [1]
Trang 9Có thể thấy rõ rằng mối quan hệ và tỷ lệ hợp lý giữa khoa học chuyên ngành, khoa học giáo dục và thực tiễn phổ thông trong nội dung đào tạo của trường đại học Thủ Đô Hà Nội đã thể hiện theo định hướng năng lực của nghề dạy học
6 Hình thức tổ chức và phương pháp đào tạo NVSP
Phương pháp rèn luyện NVSP cho sinh viên trường Đại học Thủ Đô Hà Nội theo hướng lấy việc tự học, tự rèn luyện làm cơ sở, dưới sự hướng dẫn của giáo viên
để định hướng nội dung rèn luyện, cách thức rèn luyện, cách kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá có hiệu quả
Hình thức đào tạo chủ yếu học tập, rèn luyện ở trên lớp, một số khoa chú trọng đến sự liên hệ với phổ thông trong việc đưa sinh viên xuống trường thực hành từ năm thứ nhất tuy nhiên chưa thực sự có sự quản lý và thống nhất trong toàn trường và xuống phổ thông không được thuận lợi do không phải trường phổ thông nào cũng dễ dàng tiếp nhận sinh viên xuống thực hành liên tục Hàng năm nhà trường thường yêu cầu các khoa tổ chức hội thi NVSP để trao đổi và khuyến khích rèn luyện NVSP ; 02 năm một lần nhà trường tổ chức hội thi nghiệp vụ giỏi trong toàn trường để trao đổi học hỏi lẫn nhau Mặc dù vậy, để liên hệ chặt chẽ với phổ thông như thường xuyên mời giáo viên phổ thông về báo cáo hoặc tham gia nhận xét đánh giá các tiết dạy hoặc
tổ chức HĐ GD của SV còn chưa được thực hiện ở các khoa sư phạm trong toàn trường Cộng thêm, công tác hướng dẫn TTSP của GV phổ thông cho sinh viên chủ yếu mới được thưc hiện theo kinh nghiệm của từng cá nhân, hầu như chưa có chương trình bồi dưỡng cho GV hướng dẫn về nội dung, phương pháp hướng dẫn sinh viên trong thực tiễn Đội ngũ GV phổ thông tham gia TTSP chưa được quản lý, tập huấn
và đánh giá để đảm bảo cho việc hướng dẫn TTSP có tính chuyên nghiệp
Đội ngũ giảng viên dạy NVSP là yếu tố rất quan trọng quyết định cơ bản đến chất lượng đào tạo giáo viên nói chung và đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sau này trở thành giáo viên tuy nhiên một số giảng viên trẻ dạy NVSP lại thiếu kinh nghiệm và hiểu biết thực tiễn giáo dục phổ thông nên sẽ dễ dẫn đến việc giảng dạy lý thuyết suông , xa rời thực tế Thêm nữa, sự gắn kết giữa những môn chung làm cơ sở đào tạo nghiệp vụ sư phạm và môn phương pháp giảng dạy các khoa chưa chặt chẽ: chưa có những hội thảo hoặc trao đổi thảo luận để thống nhất trong tiến trình rèn luyện NVSP cho sinh viên
7 Đánh giá sinh viên tốt nghiệp
Tiêu chí xét điều kiện dự thi tốt nghiệp, xét công nhận tốt nghiệp và đánh giá
Trang 10lũy qua các học phần Kết quả thực hành, thực tập sư phạm, khóa luận tốt nghiệp hay điểm học phần các môn học thay thế khóa luận đều được tính là điểm thành phần của tổng kết quả chung như các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp Điểm khác biệt giữa SV sư phạm và SV các ngành khác trong đánh giá tốt nghiệp là hoàn thành các học phần về NVSP: Tâm lý học, Giáo dục học, phương pháp dạy học, rèn luyện NVSPthường xuyên, thực hành, thực tập sư phạm Như vậy, nếu chương trình đào tạo GV nói chung và cụ thể là đào tạo NVSP của các trường được thiết kế trong đó mô tả mục tiêu, các khối kiến thức, năng lực, phẩm chất
cụ thể, các phương pháp, hình thức tổ chức, kế hoạch đào tạo, các tiêu chí để kiểm tra đánh giá những phẩm chất năng lực người giáo viên mà quá trình đào tạo phải đạt được theo CNN GV thì việc đánh giá sinh viên sư phạm tốt nghiệp sẽ có chất lượng cao và phù hợp thực tiễn
3 Đề xuất, kiến nghị
3.1 Xây dựng chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm
- Chương trình nghiệp vụ sư phạm phải luôn cập nhật những vấn đề mới của chương trình, sách giáo khoa, những phương pháp dạy học hiện đại đang áp dụng và
sẽ áp dụng ở trường phổ thông trong một thời gian gần, những chủ trương mới trong giáo dục và đào tạo điều này sẽ giúp trường sư phạm đào tạo giáo viên sẽ đào tạo những sinh viên mới tốt nghiệp sẽ có những phương pháp mới hiện đại hoặc ít nhất bắt kịp những đổi mới ở phổ thông
- Chương trình chi tiết nên thể hiện những năng lực cần thiết mà sinh viên cần
để giúp họ tích lũy đáp ứng chuẩn nghề nghiệp trong tương lai, do vậy chương trình tiết phải làm sao gắn kết chặt chẽ được với phổ thông, cụ thể, trong học phần liên quan đến NVSP nên có thời gian thực hành tại trường phổ thông Ví dụ: 60% lý thuyết môn học tại trường, 25% thảo luận nhóm, 15% thực hành tại trường phổ thông
3.2 Phương pháp hình thức đào tạo nghiệp vụ sư phạm
- Thường xuyên tổ chức mời giáo viên giỏi phổ thông trình bày báo cáo về kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm, giáo dục học sinh cá biệt, kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm làm đồ dùng dạy học, kinh nghiệm phấn đấu trở thành giáo viên giỏi Hình thức này đã được nhiều trường sư phạm thực hiện Nhưng tạo dựng một đội ngũ
có tổ chức, có sinh hoạt, có sự bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và có định mức kinh phí bồi dưỡng lao động phù hợp