1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỔI mới KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN TRONG học PHẦN “PHƯƠNG PHÁP tổ CHỨC HOẠT ĐỘNG CHO TRẺ mầm NON làm QUEN với TOÁN” THEO HƯỚNG TIẾP cận NĂNG lực

17 517 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 565,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ mục tiêu đào tạo theo năng lực chung dành cho hệ Cử nhân giáo dục mầm non kết hợp với mục tiêu riêng của môn học và dựa trên quan điểm về năng lực một cách tích hợp, đề tài

Trang 1

ĐỔI MỚI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN TRONG HỌC PHẦN

“PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CHO TRẺ MẦM NON LÀM

QUEN VỚI TOÁN” THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC

ThS Đỗ Kim Dung

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt: Đề tài tập trung bước đầu tìm hiểu định hướng đổi mới kiểm tra, đánh

giá sinh viên theo tiếp cận năng lực trong quá trình tổ chức giảng dạy học phần

“Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ mầm non làm quen với toán” tại khoa Giáo dục mầm non, trường ĐH Sư phạm Hà Nội Xuất phát từ mục tiêu đào tạo theo năng lực chung dành cho hệ Cử nhân giáo dục mầm non kết hợp với mục tiêu riêng của môn học

và dựa trên quan điểm về năng lực một cách tích hợp, đề tài đề xuất định hướng đổi mới quá trình kiểm tra, đánh giá sinh viên trong môn học cả về nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá, đồng thời, phân tích những điều kiện cần thiết cho việc đổi mới đó

về phía giảng viên, sinh viên cũng như cơ sở vật chất, sĩ số lớp học

Từ khóa: kiểm tra, đánh giá, năng lực, sinh viên, trẻ mầm non, toán

Abstract: This article researchs on driven innovation in student's competencies

assessment during learning the subject "Methods of organizing activities for preschool children acquainted with mathematics" in Preschool Education Department in Hanoi National University of Education Stemming from the target of training preschool teachers according to developing competencies in preschool education department, in conjunction with this subject's objectives and also from the perspective considering competency as an integrated manner, the author proposes improvements in both content, methods and forms of assessment of student competencies, simultaneously, analyzing the conditions necessary for this innovation about teacher's skills, student's capabilities as well as equypments

Key words: assessment, student , preschool, competency(ies), mathematics

1 Đặt vấn đề

Một trong những xu hướng cốt lõi trong chiến lược giáo dục và phát triển con người toàn thế giới hiện nay là giáo dục định hướng phát triển năng lực cho người học

Xu hướng này phù hợp bốn trụ cột trong phương châm giáo dục của thế kỉ 21 của tổ

chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đề ra là“Học để biết, học để

làm, học để giải quyết vấn đề, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình”

Trang 2

Như vậy, công tác giáo dục nói chung, việc đào tạo cử nhân giáo viên chuyên ngành mầm non nói riêng cần hướng đến mục tiêu cung cấp cho người học không chỉ các năng lực chuyên môn (học để biết) mà còn chú trọng năng lực phương pháp (học đề làm), năng lực xã hội (học để chung sống, hợp tác) và năng lực cá nhân (học để tự khẳng định mình)

Nắm bắt xu hướng đào tạo phát triển năng lực đó, khoa Giáo dục mầm non, ĐH

Sư phạm Hà Nội đang tích cực triển khai kế hoạch xây dựng khung chương trình đào tạo cử nhân giáo dục mầm non (GDMN) theo mục tiêu phát triển khung năng lực (NL) Do vậy, nội dung và phương pháp giảng dạy các học phần, chuyên đề đào tạo GVMN cần căn cứ vào quan điểm tiếp cận đào tạo phát triển NL cho sinh viên, trong

đó bộ môn “Phương pháp tổ chức hoạt động cho trẻ mầm non làm quen với Toán” (PP

tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT) Nghiên cứu này tập trung hướng vào vấn đề tìm hiểu định hướng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học phần PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT của sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non, khoa Giáo dục mầm non, ĐH Sư phạm Hà Nội

2 Nội dung

2.1 Quan điểm về năng lực và kiểm tra, đánh giá năng lực trong giáo dục

* Quan điểm về năng lực

Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc

tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hay “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[3, 639] Có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm năng lực (competence/

competency) khác nhau trong lịch sử giáo dục học và tâm lý học Một số cách tiếp cận chính như:

Hướng thứ nhất, theo cách tiếp cận truyền thống, theo hướng tiếp cận hành vi

(behavioural approach) thì năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên sự lắp ghép các mảng kiến thức và kỹ năng cụ thể

Hướng thứ hai, xem xét năng lực nghiêng về khía cạnh kỹ thuật của thao tác hành động, nói cách khác, xem xét năng lực là kỹ năng, coi kỹ năng là sự biểu hiện

của năng lực như A.V Petrovski,Xavier Roegiers, hay De Ketele [4]

Hướng thứ ba, tiếp cận khái niệm năng lực dựa trên quan điểm cấu trúc tổng hợp, theo hướng xem xét năng lực là tổng thể của nhiều thành tố khác nhau: NL nào

đó của một cá nhân cụ thể phải gắn với khả năng vận dụng NL vào bối cảnh, hoàn

Trang 3

cảnh cụ thể cũng như gắn liền với hoạt động của người học trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định Theo đó, NL được đánh giá chủ yếu vào khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống cụ thể một cách linh hoạt, NL không chỉ bao gồm kiến thức- kĩ năng- kĩ xảo mà còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền (sinh lý) và yếu tố tâm lí (thái độ) của con người, gắn liền với trách nhiệm đạo đức như các tác giả Denys Tremblay, P.A Ruđich, Bernd Meier [4]

Chương trình dạy học của nước thuộc khối Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD- Organization for Economic Cooperation and Development) chỉ ra rằng “năng

lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và phối hợp thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” và mô hình NL được phân chia thành hai

nhóm NL chính là: năng lực chung và năng lực chuyên môn Trong đó:

+ Nhóm năng lực chung gồm: Khả năng hành động độc lập một cách thành

công; khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ; khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất

+ Nhóm năng lực chuyên môn liên quan đến các môn học, lĩnh vực riêng biệt

Nhằm định hướng quá trình đào tạo giáo viên mầm non theo khung NL, hiệp hội các nhà GDMN Canifornia- ECE (Early childhood Educator) cho rằng NL sư phạm là những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất mà người GVMN có cần để đảm bảo việc chăm sóc và giáo dục có chất lượng với trẻ nhỏ và với gia đình trẻ Tổ chức ECE

đã sắp xếp nhóm năng lực GVMN gồm 12 lĩnh vực khác nhau

Để xây dựng khung chương trình đào tạo giáo viên mầm non, các chuyên gia

thuộc Đại học Artevelde, Vương quốc Bỉ cũng xem xét “năng lực là sự kết hợp- sự

tổng hợp toàn diện của kỹ năng, kiến thức, thái độ và hành vi cần thiết để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ hoặc hành động thực tiễn” [2]

Như vậy, quan niệm cho rằng NL là tổng hòa giữa kiến thức- kỹ năng- phẩm chất là một trong những quan điểm tiến bộ đang được các nhà giáo dục nước ngoài đồng tình và vận dụng vào các mục tiêu giáo dục nhất định Đây cũng là cách tiếp cận khi xây dựng khung chương trình đào tạo cử nhân GDMN theo khung NL của khoa Giáo dục mầm non, ĐH Sư phạm Hà Nội

Xuất phát những quan niệm trên, có thể hiểu NL của sinh viên cần đạt được

trong học phần PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT là một hệ thống các kiến thức (bao gồm cả kiến thức của bộ môn và kiến thức liên quan trong chương trình đào tạo

Trang 4

cử nhân mầm non), các kỹ năng (bao gồm kỹ năng lập kế hoạch dạy toán, tổ chức HĐ toán, kỹ năng học tập, tự học bộ môn, kỹ năng giao tiếp, hợp tác ) cùng những thái

độ của sinh viên trong quá trình học tập bộ môn trong phạm vi trường đại học cũng như trong toàn bộ quá trình thiết kế, tổ chức HĐ toán học cho trẻ ở trường mầm non

* Kiểm tra, đánh giá năng lực trong giáo dục

Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ kiểm tra được hiểu là “Xem xét tình hình

thực tế để đánh giá, nhận xét” còn đánh giá là “nhận định giá trị” [3, 504, 278] Việc

kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá

Theo tác giả Trần Bá Hoành thì đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc [Bảng thuật ngữ Anh-Việt, 1995, 5]

Đánh giá trong giáo dục có thể là đánh giá người học, đánh giá người dạy, cũng có thể đánh giá một phương pháp, một đơn vị giáo dục Để đánh giá quá trình học tập của sinh viên - có những kiểu kiểm tra, đánh giá sau đây:

- Kiểm tra đầu vào, đánh giá chẩn đoán: mục đích của loại hình kiểm tra, đánh

giá đầu vào chính là nhằm xác định điểm xuất phát của sinh viên về kiến thức, kỹ năng, vốn kinh nghiệm, thái độ, những điểm mạnh, khó khăn trước khi học nội dung nào đó, giúp giảng viên có thể lập kế hoạch giảng dạy, xác định mục tiêu dạy, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức cho phù hợp

- Kiểm tra, đánh giá thường xuyên: là hình thức kiểm tra, đánh giá được diễn ra

hàng ngày nhằm giúp giảng viên kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học cho phù hợp với sự tiếp thu của sinh viên, phát huy tính tích cực học tập một cách liên tục, có

hệ thống của sinh viên

- Kiểm tra, đánh giá định kỳ: thường diễn ra sau khi kết thúc một chương, một

phần chương trình hay một học kỳ nhằm kiểm tra khối lượng tương đối lớn tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Loại hình kiểm tra, đánh giá này giúp giảng viên và người học nhìn nhận laị kết quả hoạt động sau một thời gian nhất định, củng cố, mở rộng tri thức đã học và tạo cơ sở học tập phần mới, chương mới

Trang 5

- Kiểm tra, đánh giá tổng kết: được thực hiện vào cuối giáo trình, cuối môn

học, cuối năm nhằm đánh giá kết quả chung, củng cố, mở rộng toàn bộ những gì sinh viên đã học từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quá trình học

Hầu hết các nhà giáo dục đều đồng tình rằng NL là có thể đánh giá và đo đạc được, thể hiện thông qua hoạt động có kết quả Để kiểm tra, đánh giá NL học tập, theo những tác giả quan niệm trí tuệ là sự thích ứng nói chung hoặc thu hẹp khái niệm theo các quá trình tư duy như Freedman F.S, Terman coi NL học tập là trí tuệ loại thứ nhất,

NL tư duy trừu tượng là trí tuệ loại thứ hai và NL thích ứng là trí tuệ loại thứ ba thì phương pháp phổ biến đánh giá NL học tập là dùng trắc nghiệm (test), có nghĩa là thử hay phép thử- phương pháp thăm dò một vài đặc điểm của NL.[1]

Dựa trên quan điểm tiếp cận NL đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa kiến thức, kỹ năng, phẩm chất - tức bao gồm cả thái độ, động cơ, cảm xúc, giá trị đạo đức để thực hiện nhiệm vụ học tập trong các bối cảnh cụ thể, một số bộ NL có tính tin cậy được phổ biến rộng rãi hiện nay là bộ “31 năng lực cốt lõi” của tạp chí Workforce,

bộ từ điển NL của đại học Havard (Havard University Competency Dictionay), bộ NL

do Viện phát triển nhân lực của Vương quốc Anh (CIPD) Các bộ từ điển NL này có đưa ra định nghĩa NL của con người một cách hoàn chỉnh, mô tả hành vi gắn với các

NL khác nhau và đưa ra các ví dụ cụ thể Cũng theo quan điểm này, các chuyên gia

của Đại học Artevelde (Bỉ) cho rằng kết quả học tập và NL của sinh viên có ý nghĩa

tương đồng và ngang nhau trong việc sử dụng hai khái niệm này Từ đó, kết quả học tập của sinh viên được đánh giá thông qua hệ thống các NL cốt lõi, đánh giá cụ thể căn

cứ vào kết quả thực hiện các NL thành phần nên NL cốt lõi (có thể hiểu là các “năng lực cơ bản”, “tiểu năng lực”), trong mỗi “tiểu năng lực” của sinh viên cần đạt đạt được các chỉ số năng lực nhất định mang tính cụ thể, chi tiết hơn nữa.[2]

Như vậy, khi đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận NL, quá trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên chính là quá trình đánh giá kiến thức - kỹ năng - thái độ của

sinh viên đặt trong những “bối cảnh có ý nghĩa”, tức là cần chú trọng vào khả năng

vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các tri thức trong các tình huống khác nhau thay

vì chỉ hướng đến kiểm tra khả năng tái hiện lại kiến thức đã học của sinh viên theo cách truyền thống

Một số điểm chính trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo NL là:

- Mục đích đánh giá: việc kiểm tra, đánh giá hướng đến mục đích chính là xác

định khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học của sinh viên vào việc thực các nhiệm vụ thực tiễn, giải quyết các bài toán trong thực hành, cuộc sống Đối với sinh

Trang 6

viên, kết quả đánh giá giúp sinh viên được cung cấp thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân, nâng cao tinh thần trách nhiệm với việc học, ý chí phấn đấu đạt kết quả tốt hơn,giúp sinh viên có cơ hội điều chỉnh quá trình học tập cũng như khuyến khích sinh viên có năng lực tự đánh giá Đối với giảng viên, kiểm tra, đánh giá sinh viên một mặt nhằm đánh giá kết quả phát triển NL của sinh viên, mặt khác, giúp giảng viên tìm ra những NL còn hạn chế và nguồn gốc những hạn chế của sinh viên Bên cạnh đó, giảng viên có thể tự đánh giá NL tổ chức giảng dạy, nghiên cứu của chính mình như: các phương pháp hiệu quả, những phương pháp chưa hiệu quả, hình thức tổ chức nào cần phát huy hơn nữa

- Nội dung đánh giá: tập trung vào NL thực hiện, dựa trên sự tiến bộ của bản

thân sinh viên trên nhiều học phần, chuyên đề khác nhau cũng như trong các dạng hoạt động khác như: thực hành, thực tập, tham gia phong trào, tham quan, dã ngoại thay

vì đánh giá riêng biệt kết quả riêng lẻ của duy nhất một học phần

- Cách đánh giá: Kết quả xác định mức độ đạt các chỉ số NL của sinh viên

trong môn học được tổng hợp từ quá trình quan sát, kết quả sinh viên thực hiện các nhiệm vụ, bài tập trong bối cảnh thực tiễn thay cho việc đơn thuần đánh giá kiến thức,

kỹ năng theo các nội dung học tập một cách hàn lâm Điều này đòi hỏi giảng viên cần theo sát toàn bộ quá trình học tập của sinh viên - nghĩa là đánh giá cả trước, trong và sau khi học Như vậy, sinh viên giải quyết tình huống, hoàn cảnh càng phức tạp, khó khăn trong quá trình học tập thì kết quả đánh giá NL càng cao

- Môi trường đánh giá: Đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo cách tiếp

cận NL đòi hỏi giảng viên phải xây dựng các tình huống, bối cảnh học tập mang tính thực tiễn bao gồm cả trong trường đại học và tại các trường mầm non và các cơ sở giáo dục khác thay vì thực hiện hoàn toàn trong nội bộ phạm vi nội bộ trường đại học như trước

2.2 Cơ sở xác định định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá sinh viên theo

NL trong học phần “PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT”

Thứ nhất, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá sinh viên theo tiếp cận NL trong học

phần “PP tổ chức hoạt động cho trẻ mầm non LQVT” cần lấy quan điểm xem xét năng

lực của sinh viên là hệ thống tổng hòa kiến thức - kỹ năng - hành vi và thái độ, phẩm chất đạo đức đặt trong bối cảnh cụ thể làm quan điểm chỉ đạo Theo đó, đánh giá kết

quả học tập sinh viên phải căn cứ vào kết quả hoạt động của sinh viên một cách toàn diện và chú trọng vào khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng bộ môn PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT vào các tình huống, hoàn cảnh nhất định

Trang 7

Thứ hai, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bộ môn cần dựa vào định hướng xây

dựng khung chương trình đào tạo Cử nhân giáo dục mầm non theo hướng phát triển năng lực của khoa Giáo dục mầm non và chuẩn nghề nghiệp GVMN

Thứ ba, việc đánh giá sinh viên cũng cần kết hợp hướng vào 4 nhóm năng lực

của người học cần đạt theo khung NL của UNESCO, bao gồm:

- NL nhận thức: đòi hỏi sinh viên phải có khả năng quan sát, ghi nhớ, tư duy một cách độc lập - logic trong quá trình học

- NL xã hội: đòi hỏi sinh viên có khả năng giao tiếp, thuyết trình, vận hành và điều chỉnh cảm xúc trong quá trình tham gia các hoạt động nhóm trên lớp, có thể chia thành các cấp độ: NL hợp tác làm việc NL quan hệ với người khác NL xây dựng nhóm NL tạo dựng phong cách làm việc nhóm khi giải quyết nhiệm vụ chung

- NL thực hành bộ môn: đòi hỏi sinh viên phải vận dụng tri thức từ bộ môn vào thực tiễn một cách linh hoạt, tự tin, chủ động, sáng tạo

- NL cá nhân: thể hiện qua hoạt động thể chất và khả năng lập kế hoạch học tập, khả năng tự đánh giá kết quả, tự chịu trách nhiệm của sinh viên

Thứ tư, đánh giá kết quả học tập của sinh viên cần dựa vào nhiệm vụ của học

phần PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT , bao gồm 4 nhiệm vụ cơ bản là:

(1) Truyền thụ cho sinh viên những kiến thức cơ bản về hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non

(2) Rèn luyện những kĩ năng cơ bản về việc hình thành các biểu tượng toán học

sơ đẳng cho trẻ mầm non

(3) Góp phần bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, đạo đức nhà giáo cho giáo viên mầm non

(4) Phát triển năng lực đào tạo, tự nghiên cứu về phương pháp hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non

Nói tóm lại, giảng viên cần theo sát quan điểm về đánh giá sinh viên theo NL, dựa vào định hướng đào tạo của khoa, của trường nói chung và căn cứ vào kế hoạch, mục tiêu giảng dạy bộ môn PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT nói riêng trong quá trình đánh giá, kiểm tra sinh viên

2.3 Định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá sinh viên theo NL trong học phần “PP tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT”

Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá sinh viên theo NL đòi hỏi mỗi giảng viên vừa phải tăng cường vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, cải tiến các kỹ thuật dạy

Trang 8

học trong quá trình giảng dạy để phát triển các NL vận dụng cho sinh viên trên lớp, vừa phải xây dựng được hệ thống các bài tập thực hành hướng đến phát triển NL cho sinh viên trong thực tiễn tổ chức hoạt động cho trẻ LQVT theo chủ đề giáo dục tại trường MN

Quá trình đó cần thiết được triển khai một cách toàn diện về tất cả các yếu tố như:

* Đổi mới mục tiêu kiểm tra, đánh giá:

Xác định sự phát triển các NL chung và NL chuyên môn riêng của bộ môn “PP

tổ chức HĐ cho trẻ mầm non LQVT” ở sinh viên, tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong đánh giá chuẩn đầu ra theo NL sinh viên giữa môn học này với các bộ môn khác trong chương trình đào tạo GVMN

* Đổi mới nội dung kiểm tra, đánh giá:

Đánh giá sự thể hiện các NL cốt lõi của sinh viên trong bộ môn được tổng hợp dựa trên đánh giá 4 nhóm NL:

- Năng lực chuyên môn: Là khả năng nắm bắt, hiểu các kiến thức cũng như kỹ

năng trong bộ môn như: đặc điểm phát triển khả năng “tiền toán học” ở trẻ nhỏ, cách thức dạy trẻ đếm, đo lường, định hướng không gian, thời gian, kỹ năng soạn giáo án tổ chức HĐ toán, kỹ năng thiết kế trò chơi toán học cho trẻ ; khả năng thực hiện các nhiệm vụ giảng viên giao cho trong quá trình học tập bộ môn, là khả năng tự học, tìm tòi tài liệu, nghiên cứu các vấn đề của bộ môn; khả năng tự đánh giá PP tổ chức các tiết học cho trẻ LQ với toán của bản thân sinh viên một cách độc lập và của bạn học; khả năng liên kết một cách phù hợp và hiệu quả kiến thức, kỹ năng riêng biệt của bộ môn với các bộ môn PP khác như PPcho trẻ LQ với MTXQ, Giáo dục âm nhạc, PP giáo dục thể chất ; có kỹ năng phát triển chương trình dạy toán cho trẻ và xây dựng

kế hoạch chăm sóc - giáo dục thúc đẩy sự phát triển khả năng toán học của trẻ; hiểu các nội dung chương trình cho trẻ LQVT; kỹ năng tự thiết kế khung chương trình và chương trình chi tiết dạy toán cho trẻ cũng như có kỹ năng đánh giá chương trình GDMN

- Năng lực phương pháp (Methodical competency): NL phương pháp là sự lồng

ghép giữa bao gồm cả các NL xã hội chung và NL bộ môn, được đánh giá rõ ràng nhất thông qua quá trình thực hiện và kết quả giải quyết vấn đề của sinh viên, là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích khi giải quyết các nhiệm

vụ của sinh viên do bộ môn đề ra NL này thể hiện qua khả năng tiếp nhận vấn đề, xử

Trang 9

lý thông tin sinh viên thu thập được; khả năng đánh giá; khả năng truyền thụ và trình bày tri thức của cá nhân mình trước giảng viên và tập thể; khả năng hướng dẫn, tác động đến trẻ nhằm hình thành NL toán học ban đầu cho trẻ; Xây dựng môi trường giáo dục tăng cường trải nghiệm đáp ứng nhu cầu và khả năng của trẻ; NL tổ chức môi trường toán học ở lớp, trường mẫu giáo phù hợp mức độ phát triển biểu tượng toán của trẻ; Khả năng thiết kế môi trường vật lý, tạo môi trường tinh thần cho trẻ tích cực học toán; Năng lực tổ chức cho trẻ học toán trong các hoạt động giáo dục ở trường mầm non theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ; NL theo dõi, đánh giá, điều chỉnh cách thức tổ chức HĐ cho trẻ LQVT và giải quyết các sự cố khi

tổ chức hoạt động; Năng lực tự học, tự nghiên cứu khoa học; phát hiện và giải quyết các vấn đề của thực tiễn bộ môn

- Năng lực xã hội (Social competency): Đây là NL chung, thể hiện khả năng

thiết lập mối quan hệ của sinh viên; thể hiện phẩm chất, đạo đức, lối sống của nhà giáo, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng

và Nhà nước, thực hiện tốt các nghĩa vụ công dân; yêu nghề, mến trẻ; Thể hiện sự nhạy cảm của GVMN tương lai, biết phát hiện ra những nhu cầu trong quá trình học toán của trẻ; Biết tham khảo ý kiến chuyên gia và đồng nghiệp để giải quyết những tình huống có vấn đề; Là khả năng đạt mục đích trong sự phối hợp chặt chẽ với sinh viên khác, với giảng viên trong và ngoài lớp học, với các lực lượng giáo dục tại cơ sở thực hành như: GVMN, trẻ, phụ huynh, cán bộ - nhân viên của trường mầm non ở những tình huống giao tiếp, ứng xử khác nhau khi tham gia thực hành bộ môn

- Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng sinh viên tự xác định,

đánh giá được những cơ hội phát triển, giới hạn khả năng của mình, nhận ra các ưu - nhược điểm của mình khi tổ chức HĐ cho trẻ LQVT tức có khả năng hiểu bản thân, quản lý bản thân và tự phát triển, hợp tác với đồng nghiệp; khả năng tự xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, phát triển năng khiếu, sở trường trong khi học

bộ môn; khả năng xác định vai trò, vị trí nghề nghiệp, lập kế hoạch cá nhân học tập bộ môn; có thể khẳng định giá trị bản thân phù hợp với chuẩn nghề nghiệp GVMN

* Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá:

Việc đổi mới đánh giá, kiểm tra kết quả học tập bộ môn PP tổ chức HĐ cho trẻ LQVT của sinh viên theo hướng tiếp cận NL cần phải tiến hành trong tất cả các khâu quả quá trình kiểm tra, đánh giá, bao gồm: Thu thập thông tin- Phân tích và xử lý thông tin- Đánh giá kết quả và xác nhận kết quả học tập của sinh viên

Trang 10

- Giai đoạn 1: Thu thập thông tin (Kiểm tra): Nhằm thu thập thông tin về NL

của sinh viên, giảng viên cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn, “kênh” thông tin khác nhau, không chỉ bằng các câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm, các bài tập viết, vấn đáp theo nội dung giảng dạy mà còn thông qua những phương thức đa dạng như: theo dõi, quan sát quá trình học tập trên lớp, giao và kiểm tra kết quả làm bài tập về nhà, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của sinh viên, lấy phản hồi của sinh viên, tham khảo

sự tự đánh giá của sinh viên và nhận xét, đánh giá của sinh viên khác trong lớp dành cho sinh viên đó Nội dung thông tin thu thập cần xét tổng thể về cả 3 mặt của NL là: kiến thức chuyên môn - kỹ năng thực hành và thái độ học tập của sinh viên Trong đó, chú trọng đánh giá cả định lượng và định tính kiến thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng của sinh viên theo các cấp độ khác nhau nhờ bài tập cá nhân, bài tập nhóm, giao đề tài, triển khai các “dự án” khi sinh viên học bộ môn, phối hợp câu hỏi trắc nghiệm - tự luận, vấn đáp, phiếu hỏi đảm bảo nội dung bài tập, kiểm tra được thiết kế

là có tính toàn diện, khoa học

- Giai đoạn 2: Phân tích và xử lý thông tin: Sau khi nắm được các thông tin cần

thiết, giảng viên tiến hành xử lý và phân tích thông tin cả định tính và định lượng Việc

xử lý lượng hóa kết quả được thực hiện qua kết quả chấm điểm bài tập theo đáp án cho trước hoặc theo gợi ý, hướng dẫn chấm điểm và thống kê số liệu, tính những câu trả lời đúng, trả lời sai, sử dụng các công thức tính bình quân, trung bình, tính điểm cao nhất, thấp nhất, số lần kiểm tra Tuy nhiên, với những thông tin dựa trên kết quả sinh viên thuyết trình, trả lời miệng, dựa trên quá trình quan sát của giảng viên không thể đánh giá định lượng, giảng viên cần phải có sự ghi chép, lưu trữ thông tin của từng sinh viên (student profile) rồi sắp xếp dữ kiện theo các mức độ, tiêu chí NL khác nhau (theo 4 nhóm NL lớn, các NL cốt lõi, năng lực cơ bản ) một cách rõ ràng dưới dạng bảng - ma trận, giảng viên tiến hành cập nhật, đối chiếu thông tin để so sánh sự tiến

bộ, phát triển năng lực của mỗi sinh viên trong bảng tổng hợp theo trục thời gian học tập bộ môn một cách thường xuyên

- Giai đoạn 3: Đánh giá kết quả và xác nhận kết quả học tập của sinh viên

(Đánh giá) là bước xem xét, phân tích sự tiến bộ của sinh viên căn cứ vào kết quả đo lường của bước trên Ở bước này, giảng viên cần đưa ra quyết định, tức nhận xét, kết luận về sự tiến bộ của sinh viên được tham chiếu vào môi trường hoạt động, hoàn cảnh gia đình, đặc điểm cá nhân của sinh viên Tiến trình đánh giá kết quả không chỉ thực hiện sau khi sinh viên đã kết thúc học phần nhằm xếp loại sinh viên, báo cáo kết quả với khoa và thông báo cho sinh viên mà cần được tiến hành trong suốt quá trình học

Ngày đăng: 12/06/2016, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w