TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN MÃ SỐ: 52620301 NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỊCH TRÙN QUẾ PROMIN TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 52620301
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỊCH TRÙN QUẾ PROMIN TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG
XANH THEO QUY TRÌNH NƯỚC TRONG KÍN
Cần Thơ, 2012
Sinh viên thực hiện Nguyễn Bảo Trung MSSV: 0853040125
Lớp: NTTS K3
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 52620301
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỊCH TRÙN QUẾ PROMIN TRONG ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH THEO QUY TRÌNH NƯỚC TRONG KÍN
Cần Thơ, 2012
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện Ths Nguyễn Lê Hoàng Yến Nguyễn Bảo Trung MSSV: 0853040125 Lớp: NTTS K3
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết khóa luận này được hoàn thành trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ khóa luận cùng cấp nào
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012 Sinh viên thực hiện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Bảo Trung
Trang 4XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ KHÓA LUẬN
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2012
Chủ tịch hội đồng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với Ths Nguyễn
Lê Hoàng Yến đã tận tình dìu dắt, động viên và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quý báo trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cha, mẹ, những người thân đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình dài học tập và thực hiện đề tài
Tiếp đến, chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Bên cạnh đó, xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quí thầy cô Khoa Sinh học ứng dụng đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả mọi người đã giúp đỡ và chia
sẻ khó khăn để tôi có được thành công ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn với tấm lòng trân trọng!
Trang 6TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm dịch trùn quế Promin lên tỷ lệ sống, khả năng hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, cải thiện môi trường nước khi ương ấu trùng tôm càng xanh theo qui trình nước trong kín
Thí nghiệm được tiến hành trên bể 60L, mật độ ấu trùng 60 con/Lít, với 2 nhân tố
và gồm 3 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại Nhân tố 1
là liều lượng bổ sung dịch trùn vào thức ăn (0, 1, 2, 3 ml/kg thức ăn) Nhân tố 2
là chu kì cho ấu trùng ăn thức ăn có bổ sung dịch trùn (không cho ăn, mỗi ngày, cách 1 ngày, cách 2 ngày)
Kết quả thí nghiệm cho thấy, ấu trùng được cho ăn thức ăn bổ sung dịch trùn quế Promin với liều lượng 3ml/kg thức ăn chế biến mỗi ngày cho kết quả tốt nhất với
tỷ lệ sống trung bình 90,0 ± 0,48% Dịch trùn quế khi được sử dụng đã góp phần làm cho các yếu tố môi trường ổn định và tốt hơn Càng về cuối chu kì ương, hàm lượng TAN và N-NO2- có khuynh hướng giảm và thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng, hàm lượng N-NO3- tăng nhưng vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng Bên cạnh đó, bổ sung dịch trùn quế Promin với liều lượng 3ml/kg thức ăn chế biến mỗi ngày đã góp phần hạn chế sự phát triển
mật số vi khuẩn Vibrio sp Đồng thời việc bổ sung dịch trùn quế với liều lượng
3ml/kg thức ăn chế biến mỗi ngày cho tỷ lệ ấu trùng biến thái tốt hơn so với nghiệm thức không sử dụng
Như vậy, sử dụng dịch trùn quế với liều lượng trên đã góp phần tích cực trong
quản lí môi trường bể ương, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio sp cũng
như góp phần gia tăng năng suất giống tôm càng xanh
Từ khóa: ương ấu trùng, tôm càng xanh, dịch trùn quế Promin, qui trình nước trong kín
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ……… ……….……….…… …….i
TÓM TẮT……… ……… … …….……… ii
MỤC LỤC……….……….……….… ….iii
DANH SÁNH BẢNG……… ……… …… … v
DANH SÁCH HÌNH……… … vi
DANH SÁCH PHỤ LỤC… ……… … …….….… vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT…… ……….………… …….……viii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ… ……….……… ……….….… 1
1.1 Giới thiệu……….………….……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu……… ……… 2
1.3 Nội dung nghiên cứu……….….……….2
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU…….……….……… …….….…… 3
2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của tôm càng xanh 3
2.1.1 Phân loại và phân bố 3
2.1.2 Vòng đời tôm càng xanh 3
2.1.3 Phát triển ấu trùng tôm càng xanh 5
2.1.4 Đặc điểm về sinh trưởng 5
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 5
2.1.6 Sự phân đàn 6
2.2 Các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh hiện nay 6
2.2.1 Hệ thống nước trong hở 6
2.2.2 Hệ thống nước trong kín 6
2.2.3 Hệ thống nước xanh 6
2.2.4 Hệ thống nước xanh cải tiến 6
2.3 Các công trình nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh 7
2.3.1 Trên thế giới 7
2.3.2 Việt Nam 8
2.4 Vấn đề sử dụng trùn quế và chế phẩm từ trùn quế trong thủy sản 10
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… … 13
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
3.1.1 Thời gian 13
3.1.2 Địa điểm 13
3.2 Vật liệu nghiên cứu 13
3.3 Phương pháp nghiên cứu 13
3.3.1 Chuẩn bị thí nghiệm 13
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 14
3.3.3 Chăm sóc và quản lý thí nghiệm 15
3.3.4 Các chỉ tiêu môi trường cần theo dõi 17
3.3.5 Phương pháp thu và phân tích mẫu vi khuẩn 17
3.3.6 Thu hoạch 18
3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN…… ……….… ….… … ……20
4.1 Các yếu tố môi trường 20
4.1.1 Nhiệt độ 20
4.1.2 pH 21
4.1.3 Các yếu tố đạm hòa tan 22
4.2 Kết quả xác định mật số vi khuẩn 26
Trang 84.3 Sự phát triển của ấu trùng 28
4.3.1 Sự phân đàn trong quá trình phát triển ấu trùng 28
4.3.2 Thời gian lột xác và tốc độ biến thái của ấu trùng 29
4.4 Tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh 30
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT… ………… … … ……….32
5.1 Kết luận 32
5.2 Đề xuất 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO…… ……… … ……… …… ……33
PHỤ LỤC ……… ……….……… A
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh 4
Hình 4.1 Biến động hàm lượng TAN ở các nghiệm thức so với nghiệm thức đối
Trang 11DANH SÁCH PHỤ LỤC
Phụ lục 1.1 Biến động nhiệt độ (oC) sáng trong thí nghiệm ………… …….… A Phụ lục 1.2 Biến động nhiệt độ (oC) chiều trong thí nghiệm ……….…… B Phụ lục 1.3 Biến động pH sáng trong thí nghiệm ……….……….… C
Phụ lục 1.5 Biến động hàm lượng TAN (mg/L) trong thí nghiệm ………… ….E Phụ lục 1.6 Biến động hàm lượng N-NO2- (mg/L) trong thí nghiệm F Phụ lục 1.7 Biến động hàm lượng N-NO3- (mg/L) trong thí nghiệm….…… …G
Phụ lục 1.8 Biến động mật số vi khuẩn Vibrio sp trong thí nghiệm ……… …H
Phụ lục 1.10 kết quả thu hoạch PL ……… … J
Phụ lục 1.12 Kiểm định sự khác biệt về tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức…… M
Trang 13CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) đang là đối tượng nuôi hấp dẫn đối
với nhiều người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Theo Cục Nuôi trồng Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), sản lượng tôm càng xanh (TCX) cả nước đạt khoảng trên 25.000 tấn, trong đó khu vực ĐBSCL có sản lượng lớn nhất Dù mang lại giá trị to lớn nhưng việc mở rộng diện tích gặp rất nhiều trở ngại Trở ngại lớn nhất đối với nghề nuôi TCX là vấn đề con giống Từ lâu, người nuôi đã quen sử dụng nguồn giống tự nhiên được thu gom từ sông rạch, nguồn giống này chẳng những ngày càng khan hiếm, mà chất lượng lại không đảm bảo Bên cạnh đó, sản xuất nhân tạo vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người nuôi, nên việc giải quyết vấn đề này càng cấp thiết
Sản xuất nhân tạo giống TCX gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nước, thức ăn, độ ẩm,… trong đó thức ăn là vấn đề được người ương quan tâm nhiều nhất Để giải quyết những khó khăn này, các nhà khoa học đã nghiên cứu và chế biến thành công các loại thức ăn phù hợp với nhu cầu của ấu trùng tôm càng xanh nhưng vì các loại thức ăn này có giá khá cao nên người ương phải bổ sung thức ăn chế biến Thức ăn chế biến được sử dụng nhằm hạ giá thành khi sản xuất con giống nhưng khi sử dụng lại bộc lộ một số khuyết điểm như ấu trùng có tỷ lệ sống không ổn định, môi trường
nước ương bị ô nhiễm Ngoài ra, vi khuẩn Vibrio lại dễ phát triển khi môi trường nước ương bị ô nhiễm Việc hạn chế sự phát triển của nhóm Vibrio cũng là khó khăn
hiện nay của các trại sản xuất giống Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Minh và
ctv., (2010) khi phân lập vi sinh vật kiểm soát mầm bệnh trong trùn quế (Perionyx excavatus) nhận thấy: trong 13 chủng Bacillus sp thì thấy 3 chủng Bacillus sp đối
kháng với vi khuẩn gây bệnh và kháng mạnh với nhóm Vibrio
Trùn quế hiện nay được xem như nguồn thức ăn quý giá trong ương nuôi các đối tượng thủy sản như tôm hùm, ba ba, tôm sú, tôm càng xanh,… có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng đạm cao, các acid amin thiết yếu Từ thực tế trùn quế mang lại, các chế phẩm từ trùn quế được nghiên cứu và ứng dụng thành công trong thủy sản như: Bột trùn, phân trùn, dịch trùn quế Promin, BIO-T,… trong đó bột trùn quế đã được nghiên cứu làm thức ăn bổ sung cho ấu trùng tôm sú, cho chất lượng Postlorvae - 15
tốt hơn thức ăn nhập ngoại Frippak (Phan Thị Bích Trâm và ctv., 2009)
Trên cơ sở trùn quế là thức ăn giàu đạm, chứa nhiều acid amin, vi sinh vật có sẵn trong trùn quế có khả năng kiểm soát mầm bệnh, đề tài “Nghiên cứu sử dụng dịch trùn quế Promin trong ương ấu trùng tôm càng xanh theo qui trình nước trong kín” được thực hiện
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết xuất trùn quế Promin đến ấu trùng tôm càng xanh nhằm nâng cao tỷ lệ sống, sức tăng trưởng, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn
Vibrio sp Từ đó đưa vào thực tiễn sản xuất góp phần làm cho nghề nuôi tôm càng
xanh phát triển bền vững
1.3 Nội dung nghiên cứu
Ảnh hưởng của liều lượng, nhịp cho ấu trùng ăn thức ăn có bổ sung dịch chiết xuất trùn quế Promin đến biến động các yếu tố môi trường: nhiệt độ, pH, TAN, N-NO2-, N-NO3- khi ương tôm càng xanh theo qui trình nước trong kín
Sự biến động mật độ vi khuẩn Vibrio sp trong quá trình ương tôm càng xanh, khi bổ
sung dịch chiết xuất trùn quế Promin
Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bổ sung và chu kỳ cho ăn thức ăn có bổ sung dịch chiết xuất trùn quế Promin đến tỷ lệ sống, sự biến thái của ấu trùng tôm càng xanh
Trang 15CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học của tôm càng xanh
2.1.1 Phân loại và phân bố
Tôm càng xanh có tên khoa học là Macrobrachium rosenbergii được De Man đặt
tên vào năm 1897, có vị trí phân loại như sau:
Loài: Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879)
Tên tiếng Anh: Giant Freshwater Prawn Trong tự nhiên, tôm càng xanh phân bố rộng ở các vùng nước ngọt và lợ trên thế giới và tập trung ở khu hệ Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương Ở Việt Nam chúng phân bố tự nhiên vùng nước ngọt và lợ phía Nam từ Nha Trang trở vào tới Đồng Bằng Nam Bộ, đặc biệt vùng Đồng bằng sông Cửu Long Ở các thủy vực
độ mặn 18%o hay đôi khi cả 25%o vẫn có thể thấy tôm xuất hiện (Nguyễn Thanh
Phương và ctv., 2003)
2.1.2 Vòng đời tôm càng xanh
Vòng đời tôm càng xanh có 4 giai đoạn bao gồm trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và
tôm trưởng thành (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003) Thời gian giữa các giai
đoạn, tốc độ biến thái của chúng thay đổi phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện môi trường, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ (Nguyễn Việt Thắng, 1995) Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ yếu ở nước ngọt Khi thành thục tôm bắt cặp, đẻ trứng dính vào các chân bụng của tôm mẹ, tôm mẹ ôm trứng di cư ra vùng cửa sông nước lợ (6
- 18‰) để nở Ấu trùng nở ra sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành
hậu ấu trùng (Postlarvae) (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
Trang 16Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3
Giai đoạn 4 Giai đoạn 5 Giai đoạn 6
Giai đoạn 10 Giai đoạn 11 Tôm bột (Postlarvae)
Hình 2.1 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm càng xanh (Nguồn: Takuji Fujimura,
Trang 172.1.3 Phát triển ấu trùng tôm càng xanh
Sự biến thái của ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác (Uno và Soo, 1969
trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
Bảng 2.1 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng của tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969, trích dẫn
bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
2.1.4 Đặc điểm về sinh trưởng
Tôm càng xanh phải trải qua 11 lần lột xác và biến thái để phát triển thành hậu ấu trùng Thời gian giữa hai lần lột xác của tôm phụ thuộc vào nhiệt độ, kích cỡ, giới tính, thức ăn và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn Việt Thắng, 1995)
Sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng từng cá thể tôm không tăng liên tục mà theo hình bậc thang Tôm nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn Tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái, đặc biệt là về giai đoạn sau Trong điều kiện nuôi, tôm có thể đạt 35 - 40g và 70 - 100g tương đương trong thời gian 6 và sau 8 tháng (Nguyễn
Thanh Phương và ctv., 2003)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm càng xanh ăn các loại thức ăn khác nhau ở từng giai đoạn phát triển Ở giai đoạn ấu trùng, tôm ăn chủ yếu là phiêu sinh thực vật và ấu trùng của các động vật không xương sống khác (Trương Quan Trí, 1990)
Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi Đây là vấn đề quan trọng trong việc chế biến thức ăn cho ấu trùng tôm
Đặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, đây là đặc tính của loài Vì vậy trong ương giống cần lưu ý vấn đề này nhằm
Trang 18năng cao tỷ lệ sống Khi nuôi tôm thương phẩm cũng cần lưu ý đến hiện tượng này
và để có các biện pháp kỹ thuật hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm (Nguyễn Thanh
Phương và ctv., 2003)
2.1.6 Sự phân đàn
Giai đoạn ấu trùng đến Postlarvae tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tôm mẹ, trong quá trình phát triển đó thì sự phân đàn là không tránh khỏi Sự phân đàn lớn hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện như mật độ, nhiệt độ,
dinh dưỡng,… (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
2.2 Các quy trình sản xuất giống tôm càng xanh hiện nay
2.2.1 Hệ thống nước trong hở
Quy trình nước trong được khởi xướng đầu tiên bởi Ling vào năm 1969 và được hoàn thiện bởi Aquacop từ năm 1980 Đặc điểm của quy trình này là nước ương ấu trùng là nước trong, được lọc sạch, khử trùng và không có tảo, mật độ ương cao Ưu điểm của quy trình này là thường đạt năng suất cao Tuy nhiên, quy trình này lại đòi hỏi tốn nhiều công lao động và chi phí khác
2.2.2 Hệ thống nước trong kín
Được nghiên cứu và căn bản hoàn chỉnh bởi một số tác giả như Sandifer, (1977), Menasveta, (1980), được đưa vào sản xuất đại trà năm 1984 Đặc điểm của quy trình này là dùng bể lọc sinh học để lọc nước từ bể ương và cho tuần hoàn lại bể ương Tuy nhiên quy trình này đòi hỏi kĩ thuật cao
2.2.3 Hệ thống nước xanh
Bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1966 do Fujumura khởi xướng và hoàn thiện vào
năm 1974 Đặc điểm của quy trình này là dùng tảo Chlorella cho vào bể ương để
duy trì màu nước xanh liên tục Quy trình này có ưu điểm nổi bật là hạn chế thay nước Tuy nhiên hạn chế chính của quy trình là mật độ ương thấp, đòi hỏi kỹ thuật nuôi tảo
2.2.4 Hệ thống nước xanh cải tiến
Theo Ang et al., (1986) nguyên tắc chính của qui trình nước xanh cải tiến là cho
phép vi sinh vật và tảo phát triển tự nhiên trong bể ương nhằm ổn định môi trường
nước Tảo Chlorella được bổ sung vào bể ương trước khi bố trí ấu trùng với mật độ
1 triệu tế bào/ml, mật độ ấu trùng thích hợp là 60 ấu trùng/lít Hệ thống này có ưu điểm là không thay nước, không vệ sinh bể và không bổ sung thêm tảo trong suốt
Trang 192.3 Các công trình nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh
2.3.1 Trên thế giới
Nghề nuôi tôm càng xanh mới được thành công trong những năm gần đây so với nghề nuôi tôm biển Thành công đầu tiên trong nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh là của Ling, (1959), Ling đã phát hiện ra đặc điểm sinh thái và sinh sản của tôm càng xanh Từ đó nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công tôm càng xanh theo chu trình khép kín ở Malaysia vào năm 1962 Sau đó 1966, ông dùng nước xanh với
độ mặn 12‰ ương ấu trùng tôm càng xanh, từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
Trong kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh, tiếp theo nghiên cứu của Ling (1961 - 1962), Fujimura lần đầu tiên phát triển qui trình nước xanh (green water systems) những năm 1965 - 1968 và được đưa vào ứng dụng rộng rãi sau đó
Từ năm 1973, Aquacop - Tahiti, đã bắt đầu nghiên cứu và áp dụng qui trình nước trong hở (Open - clear water systems) tương tự như qui trình Galveston đối với tôm biển Qui trình kỹ thuật cơ bản được xây dựng từ năm 1976 và hoàn thiện từ năm
1980 bởi Aquacop (Aquacop, 1984) Tuy nhiên, mô hình nước trong hở cũng có một
số hạn chế nhất định, đặc biệt là cần lượng nước rất lớn để thay cho bể ương trong quá trình ương Vì thế qui trình nước trong tuần hoàn kín (Closed - clear water systems) với đặc điểm là dùng bể lọc sinh học để lọc nước từ bể ương và cho tuần hoàn lại bể ương được một số tác giả nghiên cứu như Sandifer, (1977), Menasveta (1980), Singholka (1980) nghiên cứu và đưa vào sản xuất đại trà năm 1984 Nhiều công trình sau đó cũng đã được thực hiện để phát triển các loại lọc sinh học khác nhau trong ương nuôi ấu trùng (Valenti và Daniels, 2000; New, 2002)
Ngoài ra, trong sản xuất giống tôm càng xanh còn có qui trình nước xanh cải tiến (Modified static green water systems) được Ang nghiên cứu và ứng dụng từ năm
1986 trên cơ sở cải tiến qui trình nước xanh trước đó (Ang và Cheah, 1987; Ang, 1995) Qui trình này hiện được áp dụng phổ biến ở Malaysia và Việt Nam
Trong ương giống tôm càng xanh thì hàm lượng đạm nitrit, amonia và khống chế chất lượng nước là vấn đề quan trọng trong quá trình ương (Aquacop, 1977)
Nghiên cứu của Cheah and Ang, (1979), khi tiến hành ương tôm càng xanh, khi cho
ấu trùng ăn có bổ sung cả vỏ Artemia đã làm cho nước xanh hơn Khi vỏ Artemia
nằm dưới đáy bể sẽ là một giá thể tốt giúp tảo và vi khuẩn phát triển từ đó góp phần làm sạch nước ương bởi quá trình chuyển hóa đạm Sau 54 ngày tỷ lệ sống của ấu trùng ở độ mặn 6 - 8‰ là 39,6%
Trang 20Theo nghiên cứu của Poper và Davidson, (1979) đã thuần Postlarvae đầu tiên dần đến nồng độ 6‰, và tiến hành nuôi tôm ở nồng độ muối 16‰, tôm đạt 8 g sau 60 ngày nuôi Cũng trong năm này Sandifer và Jenkins đã thực nghiệm ảnh hưởng của
độ mặn lên tốc độ tăng trưởng của tôm, biến thiên nồng độ muối 0 - 15‰, những thí nghiệm được thực hiện chủ yếu theo 3 qui trình lớn của thế giới là qui trình nước xanh, nước trong hở, nước trong kín (Lê Thị Cẩm Oanh, 2000, trích dẫn bởi Đỗ Trung Kiên, 2010)
Đến năm 1986, Ang và Cheah đã tiến hành ương ấu trùng tôm càng xanh theo qui trình nước xanh cải tiến và được ứng dụng khá phổ biến ở Malaysia với mật độ 25 con/lít, tỉ lệ sống 36 - 77% ở nồng độ muối 12‰ Malecha (1983) ở Hawai áp dụng qui trình sản xuất nước xanh, mật độ ương 60 con/lít, một vài trại ương với mật độ
160 con/lít, tỉ lệ sống 30 Postlarvae/lít (Trích dẫn bởi Nguyễn Lê Hoàng Yến, 1999) Theo New (1988), Thái Lan đã ương ấu trùng tôm càng xanh với mật độ 30 - 50 ấu trùng/Lít cho tỉ lệ sống 10 - 20 tôm bột/L khi áp dụng qui trình nước trong (Trần Sử Đạt, 2006, trích dẫn bởi Vũ Thùy Phương Thảo, 2010)
2.3.2 Việt Nam
Trước những năm 1980, ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về sản xuất giống tôm càng xanh, nguồn giống chủ yếu được thu gom từ tự nhiên Năm 1977, Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ đã bắt đầu nghiên cứu về sinh học và kĩ thuật ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh và tiến hành ương nuôi thu thập mẫu, nhận xét về sinh học phát triển của tôm, đến năm 1983, đã sản xuất ra Postlarvae Sau đó, năm 1987 tiến hành ương nuôi Postlarvae trong bể xi măng và ao đất (Lý Hoàng Phúc, 2006, trích dẫn bởi Đỗ Trung Kiên, 2010)
Nguyễn Việt Thắng (1993), đã nghiên cứu một vài đặc điểm sinh học và sản xuất giống tôm càng xanh ở đồng bằng Nam bộ Và nghiên cứu 3 qui trình: quy trình nước xanh với mật độ 40 - 50 ấu trùng/lít đạt tỷ lệ sống 40,2%, quy trình nước trong
hở với mật độ 60 - 100 ấu trùng/lít đạt tỷ lệ sống 35,4%, quy trình nước trong kín với mật độ 70 ấu trùng/lít tỷ lệ sống 24,9%, trong 3 quy trình thì quy trình nước xanh cho tỷ lệ sống đạt cao nhât (Trích dẫn bởi Nguyễn Lê Hoàng Yến, 1999) Nguyễn Lê Hoàng Yến (1999), đã thử nghiệm ương tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến với các mật độ ương 50, 100 và 150 ấu trùng/lít Kết quả ương cho thấy mật độ ương 50 con/lít các yếu tố môi trường gần như tốt cho sự hoạt động của ấu trùng, tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển Postlarvae cao nhất (19,46%) so với mật độ ương 150 con/lít có tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển Postlarvae thấp nhất (0,82%)
Trang 21Nguyễn Ngọc Thọ (2000), đã thử nghiệm sản xuất tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến với mật độ ương 60 ấu trùng/lít và 90 ấu trùng/lít Qua kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng theo chiều dài và tỷ lệ chuyển Postlarvae ở mật độ ương
60 ấu trùng/lít cao hơn (7,56 mm và 80,77%) ở mật độ ương 90 ấu trùng/lít (5,6mm
và 41,48%)
Nguyễn Thanh Phương, (2000) nghiên cứu sản xuất giống tôm càng xanh theo mô hình nước xanh cải tiến Theo kết quả nghiên cứu thì mật độ ương ấu trùng thích hợp là 60 con/lít, nghiên cứu cũng cho thấy ấu trùng có nguồn gốc từ tôm mẹ nhân tạo cho kết quả ương nuôi cao và ổn định hơn ấu trùng có nguồn gốc tôm mẹ tự nhiên Vì tôm thu từ tự nhiên có một lượng lớn trứng bị hao hụt trong quá trình đánh bắt và vận chuyển, làm ảnh hưởng đến sức sinh sản của tôm mẹ và chất lượng ấu trùng
Kể từ năm 1998 đến nay, trường Đại Học Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu và sản xuất giống tôm càng xanh với mô hình nước xanh cải tiến và đã thu được kết quả thành công, tôm giống rất khỏe có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện bất lợi của
môi trường (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003)
Nhằm hoàn thiện hơn về quy trình sản xuất giống tôm càng xanh, Nguyễn Thanh
Phương và ctv., (2006), đã tiến hành nghiên cứu sản xuất tôm càng xanh dựa trên
nguồn tôm bố mẹ thu từ tự nhiên, ao nuôi thương phẩm và tôm bố mẹ nuôi vỗ Kết quả cho thấy số ấu trùng của tôm tự nhiên đạt cao nhất từ 7.950 - 25.859 ấu trùng/tôm cái, tôm nuôi vỗ có số ấu trùng từ 9.308 - 23.626 ấu trùng/tôm cái và thấp nhất ở nguồn tôm nuôi thương phẩm Chu kì ương khoảng 30 ngày Tỷ lệ sống của
ấu trùng tôm nuôi vỗ (76,6%) cao hơn so với nguồn tôm thu từ tự nhiên (51,3%) và
ao nuôi thương phẩm (62%)
Tiếp đến, năm 2008, Trần Thị Thanh Hiền đã tiến hành sản xuất tôm càng xanh theo quy trình nước xanh cải tiến có bổ sung vitamin C vào thức ăn, mật độ ấu trùng 50 con/lít Tỷ lệ sống và biến thái của ấu trùng tăng lên khi bổ sung vitamin C Ngoài ra khả năng chịu đựng của ấu trùng cũng được cải thiện Tôm được cho ăn thức ăn chứa 2000mg vitamin C/kg thức ăn cho tỷ lệ sống và số lượng postlarvae cao nhất (78,9%)
Hiện nay, rất nhiều vấn đề liên quan đến tôm càng xanh đã và đang tiếp tục được nghiên cứu, góp phần quan trọng vào nâng cao hiệu quả sản xuất
Trang 222.4 Vấn đề sử dụng trùn quế trong thủy sản
Trùn quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae,
ngành ruột khoan Chúng thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại tập trung với quần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài trùn địa phương sống trong đất Trùn quế là một trong những giống trùn đã được thuần hóa, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp với các quy mô vừa và nhỏ Hiện nay các vùng lân cận thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long đang rộ lên với nghề nuôi trùn quế Theo Phan Thị Bích
Trâm và ctv., (2007) trùn quế là loài dễ nuôi, mắn đẻ, dễ thu hoạch, nhất là có hàm
lượng đạm rất cao (69,3%), so với các vật chất khác được xem là nguồn bổ sung đạm quý giá cho gia cầm và động vật thủy sản
Trùn quế và phân trùn tươi hiện đang được sử dụng phổ biến làm thức ăn, xử lý ao nuôi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản và cũng bắt đầu được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhằm ứng dụng rộng rãi hơn trong thủy sản, đặc biệt từ nguồn đạm giàu acid amin sẽ mở ra hướng phát triển mới trong ương giống tôm và các loại cá
con (Phan Thị Bích Trâm và ctv., 2007) Qua thực nghiệm của người nuôi tôm sú ở
làng biển Hòa Hiệp, xã Xuân Thịnh (Sông Cầu) đã cho thấy, sử dụng trùn quế làm thức ăn tươi sống cho tôm sú đã mang lại những lợi ích hơn hẳn các loại thức ăn công nghiệp như: cung cấp hàm lượng protein, lipit, khoáng chất cho tôm nuôi, giúp tôm hấp thụ tốt hơn các loại thức ăn khác; Từ đó rút ngắn được thời gian nuôi, tăng sức đề kháng cho tôm, giúp tôm khỏe mạnh hơn, giảm hệ số thải thức ăn và giảm sự
ô nhiễm môi trường nuôi (baophuyen.com.vn, truy cập 15/ 01/2012)
Nguyễn Văn Minh và ctv., (2010) đã tiến hành phân tích thành phần vi sinh vật
trong dịch trùn quế, kết quả phân tích được 10 chủng vi khuẩn oxy hóa amon và 7 chủng vi khuẩn oxy hóa nitrate Qua phân tích chọn lọc tìm ra được 3 chủng vi khuẩn oxi hóa amon và 2 chủng vi khuẩn oxi hóa nitrate có hoạt tính cao và có tiềm năng ứng dụng làm probiotic xử lý nitrate trong nuôi trồng thủy sản
Một khía cạnh khác trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Minh và ctv.,(2010), thí
nghiệm tiến hành trên 15 mẫu trùn và phân trùn quế, kết quả phân lập được 40
chủng Bacillus, từ 40 chủng thu nhận được 7 chủng có tiềm năng, thuộc 6 loài: B
subtilis, B polyfermenticus, B pumilus, B licheniformis, B flexus ,B thuringensis
Kết quả cho thấy 7 chủng trên đều có hoạt tính sinh học cao, vừa có khả năng đối kháng với nhiều vi khuẩn thường gây bệnh cho động vật thủy sản, trong đó có
nhóm Vibrio (V.harveyi, V parahaemolyticus, V alginolyticus), vừa có khả năng
sinh emzyme ngoại bào (amylase, protease, cellulase và lipase) Nhóm vi khuẩn
Trang 23phá vỡ các phân tử lớn như protein và chất béo Khi các dòng vi khuẩn Bacillus sp
được thêm vào ao nuôi thường xuyên và ở mật độ cao, nó sẽ phân hủy các chất hữu
cơ nhanh hơn những ao tự nhiên không có bổ sung vi khuẩn Vi khuẩn Bacillus sp
sẽ khử đạm, làm giảm chất thải hữu cơ và sử dụng nitrate khi thiếu oxi, đặc biệt vi
khuẩn phát huy hiệu quả ở nền đáy ao (Moriarty et al., 2005, trích dẫn bởi Phó Văn
Nghị, 2011)
Từ thực tế sử dụng trùn quế tươi gặp không ít khó khăn như: khả năng lưu trữ không quá một ngày ở nhiệt độ thường, hàm lượng đạm và vitamin giảm dần theo thời gian nên rất khó lưu trữ Do đónhiều nghiên cứu về các chế phẩm sinh học từ trùn quế được tiến hành như dịch trùn quế Promin, bột trùn, BIO-T, các sản phẩm này có thời gian sử dụng từ 6 - 10 tháng và có một ưu điểm nổi trội của những chế phẩm này là vẫn giữ nguyên mùi trùn tươi, các chất dinh dưỡng không bị mất đi hoặc biến chất theo thời gian (Võ Thị Hạnh, 2009 (“chế phẩm sinh học từ trùn quế”, khoahoc.com.vn, truy cập 10/02/2012))
Theo Phan Thị Bích Trâm và ctv., (2009), khi sử dụng chế phẩm bột trùn quế thủy
phân trong ương giống tôm sú cho thấy thức ăn chế biến chứa 50,5% bột trùn quế
thủy phân cho chất lượng tôm PL 15 tốt hơn thức ăn nhập ngoại Frippak Điều này
mở ra một triển vọng cho việc sản xuất thức ăn cho hậu ấu trùng tôm sú từ trùn quế, giúp chủ động sản xuất thức ăn trong nước thay thế hàng ngoại nhập đồng thời góp phần phát triển mô hình nuôi trùn quế phục vụ nuôi trồng thủy sản
Bên cạnh sử dụng trùn quế tươi thì phân trùn cũng được ứng dụng rộng rãi trong thủy sản Đặc biệt trong việc gây màu nước ở những ao nuôi tôm sú thâm canh lâu năm do bị suy giảm dinh dưỡng thì phân trùng cho hiệu quả khá cao Phân trùn có tác dụng bổ sung chất hữu cơ, khoáng cho đất, có giá trị cải tạo đất như điều hoà pH trong đất, tăng độ xốp, giảm độc tố trong đất, ngoài ra vi sinh vật trong phân trùn quế có khả năng tiêu diệt những loại nấm khuẩn có hại trong đất (trunque.net, truy cập 15/01/2012) Trong mùa mưa các yếu tố môi trường trong ao nuôi thâm canh rất khó quản lí, sự rửa trôi gây nên độ đục cao, hạn chế sự quang hợp của tảo và để khắc phục tình trạng trên nên gây màu nước bằng chế phẩm BIOCOMPOST (có nguồn gốc từ phân trùn quế tươi), (agroviet.gov.vn, truy cập 15/01/2012) Từ đó giảm được việc sử dụng thuốc và hóa chất, đồng thời giảm được rủi ro mầm bệnh bộc phát trong suốt chu kì nuôi
Đồng thời, khi tôm nuôi được 1 tháng tuổi nếu cho ăn bổ sung chế phẩm BIOZYM (sản phẩm thủy phân từ trùn quế tươi) liều lượng 1kg/50 – 60 kg thức ăn sẽ giúp tôm tăng sức đề kháng và chống chịu với các biến đổi khắc nghiệt của thời tiết (agroviet.gov.vn, truy cập 15/01/2012)
Trang 24Từ những kết quả nghiên cứu, ứng dụng thành công trùn quế và các sản phẩm từ trùn quế trong thủy sản có thể thấy được những lợi ích thiết thực được mang lại từ trùn quế đối với nghề nuôi thủy sản hiện nay