CIF, CIP sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nước với nước ngoài.Nhờ có hoạt động bảo hiểm trong nước các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ởnước ngoài, nói cách khác là khôn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Sau khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nềnkinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô củanhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bướcphát triển mạnh mẽ Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh hoà nhập với nềnkinh tế toàn cầu đang tiến theo hướng hội nhập ở mức độ cao Đến hết tháng 3năm 2000 trên cả nước có 2.405 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký trên 35,959 tỉUSD và vốn thực hiện đạt trên 16 tỉ USD Vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh quacác năm: Nếu như thời kỳ 1991 - 1995 chiếm 24,44% từ 1996 đến nay chiếmkhoảng 23,92% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh
tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảithiện cán cân thanh toán quốc tế Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội(GDP) đạt ở mức tương đối cao: Từ năm 1992-1997 tốc độ tăng trưởng bìnhquân là 8,5%, năm 1997 là 8,2%, năm 1998 giảm đột ngột xuống còn 5,8%, năm
1999 giảm chỉ còn 4,8%, mục tiêu năm 2000 là 5,5%-6% nhưng qua từng quý đãvượt chỉ tiêu và cả năm đạt sấp xỉ 6,7% Lạm phát giảm liên tục từ ba con sốxuống còn một con số hiện nay Cùng với sự mở cửa của nền kinh tế, các quan hệthương mại quốc tế cũng ngày càng được mở rộng, hoạt động xuất nhập khẩuhàng hoá cũng ngày một gia tăng Nếu như kim ngạch xuất khẩu năm 1999 đạt11,523 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 11,636 tỷ USD thì sang năm 2000kim ngạch xuất khẩu đã đạt 14,3 tỷ USD tăng 24,1% và kim ngạch nhập khẩu đạt15,2 tỷ USD tăng 30,63% so với năm 1999
Do hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh nên nhu cầu bảo hiểm đối vớihàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn và do hoạt động bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu đã trở thành tập quán trong hoạt động ngoại thương nên nghiệp vụ nàyvẫn là nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệpbảo hiểm Mặt khác, trao đổi buôn bán hàng hoá xuất nhập khẩu hiện nay vẫnđược vận chuyển chủ yếu bằng đường biển (khoảng 80% khối lượng hàng hoá)
do ưu điểm của loại hình vận chuyển này Vì vậy, việc phát triển và hoàn thiệncác vấn đề về nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệpbảo hiểm nói riêng và trong toàn ngành bảo hiểm nói chung, nhất là trong điềukiện thị trường trong nước và quốc tế có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biểnđược ra đời, triển khai từ rất sớm và rất phát triển ở nhiều nước trên thế giới.Song ở Việt Nam hiện nay khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này còn gặp rấtnhiều khó khăn và nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết đặc biệt là về vấn đề
Trang 2nâng cao hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ Vậy làm thế nào để giải quyết nhữngvấn đề đó ? Nội dung của chuyên đề này sẽ bổ sung thêm một số giải pháp tíchcực nhằm hoàn thiện, phát triển và nâng cao hiệu quả trong quá trình kinh doanhnghiệp vụ bảo hiểm này.
Trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)được sự định hướng của các thầy cô giáo trong bộ môn bảo hiểm cùng với sựđộng viên khuyến khích của các cán bộ công ty PJICO, em đã mạnh dạn chọn đề
tài: “Nâng cao hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex” để
làm luận văn tốt nghiệp của mình
Kết cấu của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm ba chương:
Chương I : Những vấn đề chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển
Chương II : Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty cổ phần bảohiểm Petrolimex (PJICO)
Chương III : Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển ở PJICO trong thời gian tới
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo CN-Nguyễn Thị Chính đã trực tiếp hướngdẫn đề tài, các thầy cô trong bộ môn bảo hiểm cùng toàn thể các cán bộ côngnhân viên công ty bảo hiểm PJICO đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho emhoàn thành luận văn này một cách tốt đẹp
Là một sinh viên năm cuối, mặc dù được trang bị những kiến thức cơ bảnsong do trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nênluận văn không tránh khỏi được những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiếnđóng góp chân thành của các thầy cô cùng toàn thể các bạn để luận văn này đượchoàn thiện hơn /
Trang 3NỘI DUNGCHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
I SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1 Trên thế giới:
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử rất lâu đời Nó ra đời và phát triển cùng với
sự phát triển của hàng hoá và ngoại thương Khoảng thế kỷ V trước công nguyên,vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển người ta biết tránhtổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiềuthuyền khác nhau Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá.Đến thế kỷ thứ XII thương mại và giao lưu hàng hoá bằng đường biển giữa cácnước phát triển Nhiều tổn thất lớn xảy ra trên biển vì khối lượng và giá trị củahàng hoá ngày càng tăng, do thiên tai, tai nạn bất ngờ, cướp biển gây ra làmcho giới thương nhân lo lắng nhằm đối phó với các tổn thất nặng nề có khả năngdẫn tới phá sản họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh Nếu hành trình gặpphải rủi ro gây ra tổn thất toàn bộ thì các thương nhân được xoá nợ, nếu hànhtrình may mắn thành công thì ngoài vốn vay họ còn phải trả chủ nợ một khoảntiền lãi với lãi suất rất cao Lãi suất cao và nặng nề này có thể coi là hình thứcban đầu của phí bảo hiểm
Năm 1182 ở Lomborde - Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá đã ra đời,trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghitrong đơn Từ đó hợp đồng bảo hiểm, người bảo hiểm đã ra đời với tư cách như
là một nghề riêng độc lập
Năm 1468 tại Venise nước Ý đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải đã rađời Sự phát triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triểnmạnh mẽ của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước, hiệp ước quốc
tế liên quan đến thương mại và hàng hải như: Mẫu hợp đồng bảo hiểm củaLloyd's 1776 và Luật bảo hiểm của Anh năm 1906 (MiA - Marine insurance Act1906), công ước Brucxen năm 1924, Hague Visby 1986, Hămbua năm 1978,Incoterms 1953,1980,1990,2000 Các điều khoản về bảo hiểm hàng hải cũng rađời và ngày càng hoàn thiện
Nói về bảo hiểm hàng hải không thể không nói tới nước Anh và Lloyd's.Nước Anh là một trong những nước có sự phát triển hiện đại về thương mại vàhàng hải lớn nhất trên thế giới Có thể nói lịch sử phát triển của ngành hàng hải
Trang 4và thương mại thế giới gắn liền với sự phát triển của nước Anh, thế kỷ XVIInước Anh đã có nền ngoại thương phát triển với đội tàu buôn mạnh nhất thế giới
và trở thành trung tâm thương mại và hàng hải của thế giới Do đó nước Anhcũng là nước sớm có những nguyên tắc, thể lệ hàng hải và bảo hiểm hàng hải.Năm 1779, các hội viên của Lloyd's đã thu thập tất cả các nguyên tắc bảo hiểmhàng hải và quy thành một hợp đồng chung gọi là hợp đồng Lloyd's Hợp đồngnày đã được Quốc hội Anh thông qua và được sử dụng ở nhiều nước cho đến1982.Từ ngày 1/1/1982, đơn bảo hiểm hàng hải mẫu mới đã được Hiệp hội bảohiểm London thông qua và được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới hiệnnay
Không chỉ riêng bảo hiểm hàng hải, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nềnkinh tế thế giới, các loại hình bảo hiểm cũng phát triển hết sức mạnh mẽ để đápứng yêu cầu phát triển kinh tế và mọi mặt của đời sống xã hội, văn hoá và giaolưu quốc tế
Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩucho công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo giá FOB,
CF và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm
Từ năm 1965 - 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đốingoại trong đó có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Từ sau 1970 Bảo Việt cóquan hệ tái bảo hiểm với Liên Xô (cũ), Ba Lan, Triều Tiên Trước đó Bảo Việtchỉ có quan hệ tái bảo hiểm với Trung Quốc
Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và mởrộng phạm vi hoạt động Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nước xãhội chủ nghĩa cũ thì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám định,tái bảo hiểm với hơn 40 nước trên thế giới Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào hoạtđộng, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận chuyểnbằng đường biển Gần đây, để phù hợp với sự phát triển thương mại và ngànhhàng hải của đất nước, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung mới - Quy tắcchung 1990 (QTC-1990) cùng với Luật Hàng hải Việt Nam Quy tắc chung này
là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
Trang 5Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh
mẽ, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định thu hút vốnđầu tư nước ngoài thì việc đa dạng hoá các loại hình kinh doanh bảo hiểm là mộtđòi hỏi thiết thực Để đáp ứng yêu cầu cấp bách trên, Nghị định 100/CP củachính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được ban hành ngày 18/12/1993
đã tạo điều kiện cho nhiều công ty bảo hiểm ra đời và phát triển Hiện nay với sựgóp mặt của 10 công ty bảo hiểm gốc trong cả nước, thị trường bảo hiểm ViệtNam đã bắt đầu phát triển với sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty, nghiệp vụbảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vẫn là một nghiệp vụ truyền thống mà các nhàbảo hiểm Việt Nam vẫn duy trì và phát triển với các biện pháp, chiến lược, sáchlược giành thắng lợi trong cạnh tranh
II SỰ CẦN THIẾT, TÁC DỤNG VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1 Khái niệm :
Ta có thể định nghĩa: Bảo hiểm chính là một sự cam kết bồi thường củangười bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đốitượng bảo hiểm do những rủi ro đã thoả thuận gây ra với điều kiện người đượcbảo hiểm góp cho người bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm Trongnghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thì người được bảo hiểm có thể làngười mua hoặc người bán tuỳ theo điều kiện thương mại và điều kiện cơ sở giaohàng quy định trong hợp đồng mua bán mà hai bên đã thoả thuận với nhau Đốitượng bảo hiểm ở đây chính là hàng hoá đã được mua bảo hiểm
2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển :
Ngành bảo hiểm đã ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà conngười không thể khống chế được Nếu có những rủi ro xảy ra mà không có cáckhoản bù đắp thiệt hại kịp thời của các nhà bảo hiểm, đặc biệt là những rủi romang tính thảm hoạ gây ra tổn thất rất lớn thì chủ tàu và chủ hàng gặp rất nhiềukhó khăn về tài chính trong việc khắc phục hậu quả do các rủi ro đó gây ra Vìvậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển trở thành một nhu cầu rất cần thiết và nó có những tácdụng sau:
Thứ nhất, giảm bớt rủi ro cho hàng hoá do hạn chế tổn thất nhờ tăng cườngbảo quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất Thứ hai, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích cho nềnkinh tế quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước Khi cácđơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu nhập hàng theo giá FOB, CF, xuất theo giá
Trang 6CIF, CIP sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nước với nước ngoài.Nhờ có hoạt động bảo hiểm trong nước các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ởnước ngoài, nói cách khác là không phải xuất khẩu vô hình.
Thứ ba, khi các công ty có tổn thất hàng hoá xảy ra sẽ được bồi thường một
số tiền nhất định giúp họ bảo toàn được tài chính trong kinh doanh Số tiền chibồi thường của các công ty hàng năm là rất lớn chiếm khoảng 60%-80% doanhthu phí bảo hiểm
Thứ tư, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên tham gia bảo hiểm đã trở thànhnguyên tắc thể lệ và tập quán trong thương mại quốc tế Nên khi hàng hoá xuấtnhập khẩu gặp rủi ro gây ra tổn thất các bên tham gia sẽ được công ty bảo hiểmgiúp đỡ về mặt pháp lý khi xảy ra tranh chấp với tàu hoặc các đối tượng có liênquan
3 Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển :
Do đặc điểm của vận tải biển tác động đến sự an toàn cho hàng hoá đượcchuyên chở là rất lớn Vì vậy vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển càng được khẳng định rõ nét :
Một là, hàng hoá xuất nhập khẩu phải vượt qua biên giới của một hay nhiềuquốc gia, người xuất khẩu và nhập khẩu lại ở xa nhau và thường không trực tiếp
áp tải được hàng hoá trong quá trình vận chuyển do đó phải tham gia bảo hiểmcho hàng hoá Ở đây, vai trò của bảo hiểm là người bạn đồng hành với ngườiđược bảo hiểm
Hai là, vận tải đường biển thường gặp nhiều rủi ro tổn thất đối với hàng hoá
do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên như: mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ,mất cắp, cướp biển, bão, lốc, sóng thần vượt quá sự kiểm soát của con người.Hàng hoá xuất nhập khẩu chủ yếu lại được vận chuyển bằng đường biển đặc biệt
ở những nước quần đảo như Anh, Singapore, Nhật, Hồng Kông do đó phảitham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
Ba là, theo hợp đồng vận tải người chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm về tổnthất của hàng hoá trong một phạm vi và giới hạn nhất định Trên vận đơn đườngbiển, rất nhiểu rủi ro các hãng tàu loại trừ không chịu trách nhiệm, ngày cả cáccông ước quốc tế cũng quy định mức miễn trách nhiệm rất nhiều cho ngườichuyên chở (Hague, Hague Visby, Hamburg ).Vì vậy các nhà kinh doanh phảitham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
Bốn là, hàng hoá xuất nhập khẩu thường là những hàng hoá có giá trị cao,những vật tư rất quan trọng với khối lượng rất lớn nên để có thể giảm bớt thiệthại do các rủi ro có thể xảy ra, việc tham gia bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
Trang 7Năm là, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã có lịch sử rất lâu đời do đóviệc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển đã trở thành một tập quán, thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại thương.Như vậy, việc tham gia bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển là rất quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò của nó trongthương mại quốc tế.
III NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1 Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển :
1.1 Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển.
- Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua hợp đồnggiữa người mua và người bán với nội dung về: số lượng, phẩm chất, ký mã hiệu,quy cách đóng gói, giá cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phí bảohiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán
- Trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có sự chuyển giao quyền sở hữu
lô hàng hoá xuất nhập khẩu từ người bán sang người mua
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia,phải chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch tuỳ theo quy định, thông lệ củamỗi nước Đồng thời để vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảohiểm theo tập quán thương mại quốc tế Người tham gia bảo hiểm có thể là ngườimua hàng (người nhập khẩu) hay người bán hàng (người xuất khẩu) Hợp đồngbảo hiểm thể hiện quan hệ giữa người bảo hiểm và người mua bảo hiểm đối vớihàng hoá được bảo hiểm Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyểnnhượng lại cho người mua hàng, để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất
có thể khiếu lại đòi người bảo hiểm bồi thường
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương tiệnkhác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển.Người vận chuyển hàng hoá đồng thời cũng là người giao hàng cho người mua
Vì vậy người chuyên chở là bên trung gian phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóchàng hoá đúng quy cách, phẩm chất, số lượng từ khi nhận của người bán đến khigiao cho người mua hàng
Quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó cóbốn bên chủ yếu là: người bán (bên xuất khẩu), người mua (bên nhập khẩu),người vận chuyển và người bảo hiểm Vì vậy, cần phải phân định rõ ràng trách
Trang 8nhiệm của các bên liên quan và khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá các bênliên quan phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình
1.2 Trách nhiệm của các bên liên quan.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua baloại hợp đồng:
ro cần thiết để đưa hàng hoá tới địa điểm quy định (nhóm điều kiện D: DAF,DES, DEQ, DDU, DDP) Trong đó thông dụng nhất là điều kiện FOB, CFR vàCIF
Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện
cụ thể mà có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Có những điều kiệngiao hàng mà người bán không có trách thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểmcho hàng hoá Như vậy, tuy bán được hàng nhưng dịch vụ vận chuyển và bảohiểm sẽ do người mua đảm nhận (điều kiện FOB) Có trường hợp giao hàng theođiều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hàng hoá, người bán còn có trách nhiệmthuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá (điều kiện CIF) Thực tế, cáctập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận chuyển, bảo hiểm khi giao hàng theo điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bán hàng còn giành cho
họ dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng
Trang 9theo điều kiện FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận chuyển vàbảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bán hàngtheo gía CIF, người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm Như vậy
sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận tải đường biển và ngành bảohiểm của quốc gia đó
Nói chung, trách nhiệm của các bên liên quan được phân định như sau:
- Trách nhiệm của người bán (bên xuất khẩu): phải chuẩn bị hàng hoá theođúng hợp đồng trong mua bán ngoại thương về số lượng, chất lượng, quy cách,loại hàng, bao bì đóng gói và tập kết hàng đến cảng tới ngày nhận, thông báotàu đến nhận chuyên chở, giao hàng cho tàu khi qua lan can an toàn mới hết tráchnhiệm về những rủi ro tai nạn đối với hàng hoá Ngoài ra, người bán phải làm cácthủ tục hải quan, kiểm dịch, lấy giấy chứng nhận kiểm định phẩm chất, đóng góibao bì phải chịu được điều kiện vận chuyển bốc dỡ thông thường Cuối cùng,người bán phải lấy được vận tải đơn sạch Nếu bán hàng theo điều kiện CIFngười bán còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho lô hàng hoá sau đó ký hậu vàođơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua
- Trách nhiệm của người mua (bên nhập khẩu): nhận hàng của người chuyênchở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợpđồng mua bán ngoại thương, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toángiao nhận hàng với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây lên (nếucó), nếu có sai lệch về số lượng hàng đã nhập khác với hợp đồng mua bán nhưngđúng với hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối vớingười bán nếu phẩm chất, số lượng hàng hoá được nhận có sai lệch với vận tảiđơn thì người mua căn cứ vào biên bản trên bảo lưu quyền khiếu nại với chủphương tiện chuyên chở Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểmcho hàng hoá nếu mua hàng theo giá CF và mua bảo hiểm, thuê tàu trả cước phívận chuyển hàng hoá nếu mua hàng theo gía FOB hay nhận lại chứng từ bảohiểm do người bán chuyển nhượng nếu mua hàng theo giá CIF
-Trách nhiệm của người vận chuyển: chuẩn bị phương tiện chuyên chở theoyêu cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy địnhtheo hợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế thì tàu chở hàngbắt buộc phải tham gia bảo hiểm thân tàu và P and I Người vận chuyển còn cótrách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng Vận đơn (Bill of Loading) là mộtchứng từ vận chuyển hàng hải trên biển do người vận chuyển cấp cho người gửihàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận chuyển, người gửi hàng
và người nhận hàng Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đây chỉ quan tâm đến hai
Trang 10loại cơ bản là: vận đơn hoàn hảo (Clean B/L) hay còn gọi là vận đơn sạch và vậnđơn không hoàn hảo (Unclean B/L) Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm vớinhững rủi ro xảy ra đối với hàng hoá theo quy định và phải có trách nhiệm bảo
vệ, chăm sóc cho lô hàng hoá chuyên chở trong hành trình từ cảng đi đến cảngđích
- Trách nhiệm của người bảo hiểm: có trách nhiệm với những rủi ro đượcbảo hiểm gây ra cho lô hàng hoá tham gia bảo hiểm, người bảo hiểm cũng cótrách nhiệm kiểm tra các chứng từ liên quan đến hàng hoá, hành trình vận chuyển
và bản thân tàu chuyên chở Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm củabảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổnthất và đòi người thứ ba nếu họ gây ra tổn thất này
2 Các loại rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
2.1 Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Rủi ro trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên hoặcnhững mối đe doạ nguy hại, khi xảy ra sẽ gây lên tổn thất cho đối tượng đượcbảo hiểm Ví dụ như : tàu đắm, hàng mất, hàng bị đổ vỡ, hư hỏng Rủi ro trongxuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển có nhiều loại, căn cứ vàonguồn gốc phát sinh có thể phân rủi ro thành những loại sau:
* Thiên tai : Thiên tai là những hiện tượng tự nhiên mà con người không thểchi phối được như : biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần
* Tai hoạ của biển: là những tai hoạ xảy ra đối với con tàu ở ngoài biểnnhư : tàu bị mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, tàu bị lật úp, mất tích nhữngrủi ro này được gọi là những rủi ro chính
* Các tai nạn bất ngờ khác: là những thiệt hại do các tác động ngẫu nhiênbên ngoài, không thuộc những tai hoạ của biển nói trên Tai nạn bất ngờ khác cóthể xảy ra trên biển nhưng nguyên nhân không phải là một tai hoạ của biển, cóthể xảy ra trên bộ, trên không trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá, giaonhận, lưu kho, bảo quản hàng như : hàng hoá bị vỡ, lát, hấp hơi, thiếu hụt, mấttrộm, mất cắp, không giao hàng những rủi ro này được gọi là những rủi ro phụ
* Rủi ro do bản chất hoặc do tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm hoặcnhững thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm chễ
Theo nghiệp vụ bảo hiểm thì những rủi ro của hàng hoá xuất nhập khẩu vận
Trang 11* Rủi ro thông thường được bảo hiểm: là những rủi ro được bảo hiểm mộtcách bình thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc Đây là những rủi ro mangtính bất ngờ ngẫu nhiên xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm như: thiêntai, tai hoạ của biển, tai nạn bất ngờ khác tức là bao gồm cả rủi ro chính và rủi rophụ
* Rủi ro bảo hiểm riêng: là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì phảithoả thuận riêng, thoả thuận thêm chứ không được bồi thường theo các điều kiệnbảo hiểm gốc Loại rủi ro này gồm : rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố đượcbảo hiểm theo điều kiện riêng
* Rủi ro không được bảo hiểm: là những rủi ro không được người bảo hiểmnhận bảo hiểm hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trườnghợp Đó là các rủi ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra hoặc các thiệt hại donội tỳ, bản chất của hàng hoá, do lỗi của người được bảo hiểm, thiệt hại mànguyên nhân trực tiếp là chậm trễ, rủi ro có tính chất thảm hoạ mà con ngườikhông lường trước được, quy mô, mức độ và hậu quả của nó
Tóm lại, các rủi ro được bảo hiểm phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổnthất Việc phân nguyên nhân trực tiếp hay nguyên nhân gián tiếp có vai trò rấtquan trọng để xác định rủi ro gây ra tổn thất có phải là rủi ro được bảo hiểm haykhông Những tổn thất nào có nguyên nhân trực tiếp là rủi ro được bảo hiểm gây
ra mới được bồi thường
2.2 Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển:
Tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là những hư hỏng, thiệthại của hàng hoá được bảo hiểm do rủi ro gây ra
Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có hai loại tổn thất là tổn thất bộ phận
và tổn thất toàn bộ:
* Tổn thất bộ phận là tổn thất mà một phần của đối tượng được bảo hiểmtheo một hợp đồng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại Tổn thất bộ phận cóthể là tổn thất về số lượng, trọng lượng, thể tích hoặc giá trị
* Tổn thất toàn bộ tức là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo hợp đồng bảohiểm bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn nhưlúc mới bảo hiểm nữa Một tổn thất toàn bộ có thể là tổn thất toàn bộ thực tế haytổn thất toàn bộ ước tính:
- Tổn thất toàn bộ thực tế là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị mất mát, hưhỏng hay bị phá huỷ toàn bộ, không lấy lại được như lúc mới bảo hiểm nữa
Trang 12Trong trường hợp này, người bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ giá trị bảo hiểmhoặc số tiền bảo hiểm.
- Tổn thất toàn bộ ước tính tức là thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểmchưa tới mức tổn thất toàn bộ nhưng đối tượng bảo hiểm bị từ bỏ một cách hợp lý
vì tổn thất toàn bộ thực tế xét ra là không thể tránh khỏi hoặc những chi phí đềphòng, phục hồi tổn thất lớn hơn giá trị của hàng hoá được bảo hiểm Khi đốitượng là hàng hoá bị từ bỏ, sở hữu về hàng hoá sẽ chuyển sang người bảo hiểm
và người bảo hiểm có quyền định đoạt về hàng hoá đó Khi đó, người được bảohiểm có quyền khiếu nại đòi bồi thường tổn thất toàn bộ
Căn cứ vào tính chất tổn thất và trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất được chialàm hai loại là tổn thất chung và tổn thất riêng:
* Tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành mộtcách cố ý và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏimột sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng Khi xảy ra tổn thất chung chủhàng và người bảo hiểm phải điền vào Bản cam đoan, Giấy cam đoan đóng gópvào tổn thất chung Bản cam đoan, Giấy cam đoan này được xuất trình cho chủhàng hoặc thuyền trưởng khi nhận hàng Nội dung nói chung khi xảy ra tổn thấtchung người được bảo hiểm phải báo cho công ty bảo hiểm biết để công tyhướng dẫn làm thủ tục không tự ý ký vào Bản cam đoan
* Tổn thất riêng: là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hay một số quyềnlợi của các chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu Như vậy, tổn thất riêng chỉ liênquan đến từng quyền lợi riêng biệt Trong tổn thất riêng, ngoài thiệt hại vật chấtcòn phát sinh các chi phí liên quan nhằm hạn chế những thiệt hại khi tổn thất xảy
ra, gọi là tổn thất chi phí riêng Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quảnhàng hoá để giảm bớt thiệt hại hoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp,
dỡ, gởi hàng, đóng gói lại, thay thế bao bì ở bến khởi hành và dọc đường Chiphí tổn thất riêng làm hạn chế và giảm bớt tổn thất riêng, tổn thất riêng có thể làtổn thất bộ phận hoặc là tổn thất toàn bộ Tổn thất riêng có được người bảo hiểmbồi thường hay không phụ thuộc vào rủi ro có được thoả thuận trong hợp đồngbảo hiểm hay không chứ không như tổn thất chung
3 Điều kiện bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Điều kiện bảo hiểm là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của người
Trang 13trách nhiệm của người bảo hiểm phụ thuộc vào các điều kiện bảo hiểm mà cácbên thoả thuận trong hợp đồng.
Trách nhiệm của người bảo hiểm đối với hàng hoá theo các điều kiện bảohiểm gốc của Việt Nam được quy định theo bản Quy tắc chung về bảo hiểm hànghoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển năm 1990 do Bộ Tài chính banhành Quy tắc này được xây dựng trên cơ sở điều khoản ICC ngày 1/1/1982 củaViện những người bảo hiểm London (Institute of London Underwriters - ILU)
Vì các điều kiện này được áp dụng ở hầu hết các nước trên thế giới thay thế cácđiều kiện cũ ICC-1963 và trở thành tập quán thông dụng quốc tế Nó bao gồmcác điều kiện sau:
- Institute cargo clauses C (ICC-C) - điều kiện bảo hiểm C
- Institute cargo clauses B (ICC-B) - điều kiện bảo hiểm B
- Institute cargo clauses A(ICC-A) - điều kiện bảo hiểm A
- Institute war clauses - điều kiện bảo hiểm chiến tranh
- Institute strikes clauses - điều kiện bảo hiểm đình công
3.1 Điều kiện bảo hiểm C (ICC- C)
3.1.1 Rủi ro được bảo hiểm :
- Cháy hoặc nổ;
- Tàu hay xà lan bị mắc cạn, đắm hoặc lật úp;
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, xà lan hay phương tiện vận chuyển đâm vàphải bất kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước hoặc bị mất tích;
Trang 14- Những chi phí mà người được bảo hiểm hoặc đại lý của họ đã chi nhằmphòng tránh hoặc giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá được bảo hiểm hoặc những chiphí kiện tụng để đòi người thứ ba bồi thường;
- Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản " haibên cùng có lỗi" ghi trong hợp đồng vận tải
3.1.3 Rủi ro loại trừ :
Trừ khi có thoả thuận khác, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đốivới những mất mát, hư hỏng hay chi phí gây ra bởi:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa hoặc hành động thù địch;
- Việc chiếm, bắt giữ, cầm giữ tài sản hoặc kiềm chế và hậu quả của chúng;
- Mìn, thuỷ lôi, bom hay những vũ khí chiến tranh khác đang trôi dạt;
- Đình công, cấm xưởng, rối loạn lao động hoặc bạo động;
- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng, người gây rối loạn lao độnghoặc bạo động, kẻ khủng bố hay hành động vì động cơ chính trị;
-Việc sử dụng các vũ khí chiến tranh có dùng đến năng lượng nguyên tử,hạt nhân hoặc chất phóng xạ;
- Khuyết tật vốn có tính chất đặc biệt của hàng hoá bảo hiểm;
- Hành động ác ý hay cố ý của bất cứ người nào
Trong mọi trường hợp, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối vớinhững mất mát, hư hỏng và chi phí do:
- Việc làm xấu cố ý của người được bảo hiểm;
- Chậm chễ là nguyên nhân trực tiếp;
- Tàu hay xà lan không đủ khả năng đi biển và do tàu, xà lan, phương tiệnvận chuyển hoặc container không thích hợp cho việc chuyên chở hàng hoá màngười được bảo hiểm hay người làm công cho họ đã biết về tình trạng đó vàothời gian bốc xếp hàng hoá ;
- Bao bì không đầy đủ hoặc không thích hợp;
- Hao hụt tự nhiên, hao mòn tự nhiên, dò chảy thông thường;
- Chủ tàu, người quản lý tàu hoặc thuê tàu không trả được nợ hoặc thiếuthốn về mặt tài chính gây ra
3.2 Điều kiện bảo hiểm B (ICC- B)
3.2.1 Rủi ro được bảo hiểm:
Như điều kiện C và mở rộng thêm một số rủi ro sau:
Trang 15- Động đất, núi lửa phun, sét đánh;
- Nước cuốn khỏi tàu;
- Nước biển, nước sông chảy vào tàu, xà lan, hầm hàng, phương tiện vậnchuyển, container hoặc nơi chứa hàng;
- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trongkhi xếp hàng lên hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan
3.2.2 Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:
Như điều kiện C
3.2.3 Rủi ro loại trừ:
Như điều kiện C
3.3 Điều kiện bảo hiểm A (ICC- A).
3.3.1 Rủi ro được bảo hiểm:
Theo điều kiện này, người bảo hiểm chịu trách nhiệm về mọi rủi ro gây ramất mát hư hỏng cho hàng hoá bảo hiểm trừ những rủi ro đã được loại trừ Rủi rođược bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm này bao gồm cả rủi ro chính (tàu mắccạn, đắm, cháy, đâm va nhau, đâm va phải những vật thể khác, mất tích ) vànhững rủi ro phụ( hư hỏng, đổ vỡ, cong, bẹp, gỉ, hấp hơi, thiếu hụt, trộm cắp,không giao hàng .) do tác động ngẫu nhiên bên ngoài trong quá trình vậnchuyển, xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hoá
3.3.2.Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:
Như điều kiện B, C
3.3.3.Rủi ro loại trừ:
Như điều kiện B, C; loại trừ thiệt hại do hành động ác ý gây ra
3.4 Điều kiện bảo hiểm chiến tranh:
Theo điều kiện này, người bảo hiểm phải bồi thường những mất mát, hưhỏng của hàng hoá do:
- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung đột dân
sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào;
- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ;
- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác;
- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn
Phạm vi không gian và thời gian bảo hiểm đối với rủi ro chiến tranh hẹphơn các rủi ro thông thường Bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực khi hàng hoá được
Trang 16xếp lên tàu biển và kết thúc khi được dỡ khỏi tàu tại cảng cuối cùng hoặc khi hếthạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến cảng dỡ cuối cùng, tuỳ theo điều kiệnnào xảy ra trước Nếu có chuyển tải, bảo hiểm vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đếnkhi hết hạn 15 ngày kể từ nửa đêm ngày tàu đến tàu đến cảng chuyển tải.
Đối với rủi ro mìn và ngư lôi trách nhiệm của người bảo hiểm được mởrộng ra cả khi hàng hoá còn ở trên xà lan để vận chuyển ra tàu hoặc từ tàu vào bờnhưng không vượt quá 60 ngày kể từ ngày dỡ hàng khỏi tàu, trừ khi có thoảthuận đặc biệt khác
3.5 Điều kiện bảo hiểm đình công:
Theo điều kiện bảo hiểm này, chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hư hỏngcủa hàng hoá được bảo hiểm do:
- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người tham giagây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy;
- Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trị;
- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn
Ngời bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành động trực tiếp củanhững người đình công mà không chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hậu quảcủa đình công gây ra
3.6 Trách nhiệm của bảo hiểm về mặt không gian và thời gian:
Bảo hiểm này bắt đầu có hiệu lực kể từ khi hàng dời khỏi kho hay nơi chứahàng tại địa điểm có ghi trên hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp tục
có hiệu lực trong quá trình vận chuyển bình thường và kết thúc tại một trong cácthời điểm sau:
* Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận hànghoặc một người nào khác tại nơi nhận có ghi tên trong hợp đồng bảo hiểm;
* Khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trước khitới hay tại nơi nhận hàng ghi trong hợp đồng bảo hiểm mà người được bảo hiểmdùng làm:
- Nơi chia hay phân phối hàng hoặc
- Nơi chứa hàng ngoài hành trình vận chuyển bình thường
* Khi hết hạn 60 ngày kể từ khi hoàn thành việc dỡ hàng khỏi tàu biển tạicảng dỡ cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm
Trong quá trình vận chuyển nói trên nếu xảy ra chậm chễ ngoài sự kiểmsoát của người được bảo hiểm, tàu đi chệch hướng dỡ hàng bắt buộc, chuyển tải
Trang 17với điều kiện người được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm biết vềviệc xảy ra và phải trả thêm phí bảo hiểm nếu có yêu cầu.
4 Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
4.1 Khái niệm:
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
là một văn bản trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người thamgia bảo hiểm các tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết,còn người tham gia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm
4.2 Các loại hợp đồng:
Trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đườngbiển người ta chia ra làm hai loại hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểmchuyến và hợp đồng bảo hiểm bao:
* Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàngđợc vận chuyển từ địa điểm này đến một địa điểm khác ghi trong hợp đồng bảohiểm Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá trong phạm vi mộtchuyến Hợp đồng bảo hiểm chuyến thường được trình bày dưới hình thức đơnbảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm do người bảo hiểm cấp Đơn bảo hiểmchính là một hợp đồng bảo hiểm chuyến đầy đủ Nội dung gồm hai phần: mặttrước và mặt sau của đơn bảo hiểm Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng,tàu, hành trình Mặt sau thường ghi các điều lệ hay các quy tắc bảo hiểm củacông ty bảo hiểm Nội dung của hợp đồng bảo hiểm chuyến chủ yếu bao gồm:
- Ngày cấp đơn bảo hiểm và nơi ký kết hợp đồng bảo hiểm;
- Tên, địa chỉ, số tài khoản của người bảo hiểm và người được bảo hiểm;
- Tên hàng hoá được bảo hiểm, quy cách, số lợng, chủng loại ;
- Tên tàu, số hiệu, cờ, dung tích của tàu vận chuyển ;
- Cảng khởi hành, cảng đích, cảng chuyển tải (nếu có);
- Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm;
- Giám định viên và phương thức bồi thường
.v v
Hợp đồng bảo hiểm chuyến có thể là hợp đồng hành trình, hợp đồng thờigian, hợp đồng hỗn hợp, hợp đồng định giá hoặc hợp đồng không định giá Hợpđồng bảo hiểm chuyến thường dùng bảo hiểm cho những lô hàng nhỏ, lẻ tẻ,không có kế hoạch chuyên chở nhiều lần
Trang 18* Hợp đồng bảo hiểm bao (Hợp đồng bảo hiểm mở): là hợp đồng bảo hiểmtrong đó người bảo hiểm nhận bảo hiểm cho một khối lượng hàng vận chuyểntrong nhiều chuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường là mộtnăm) hoặc nhận bảo hiểm cho một khối lượng hàng hoá vận chuyển nhất địnhkhông kể đến thời gian Tất cả các chuyến hàng thuộc phạm vi bảo hiểm của hợpđồng bảo hiểm bao đều được bảo hiểm một cách tự động, linh hoạt và phí bảohiểm thường được trả theo thời gian thoả thuận, thường là theo tháng
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm bao gồm các vấn đề chung nhất, có tínhnguyên tắc như: nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, việc đóng gói hàng, loạiphương tiện vận chuyển, Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm vàphương thức thanh toán phí, giám định, bồi thường Trong hợp đồng phải có bađiều kiện cơ bản sau:
- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hoá sẽ đợc bảo hiểm
- Điều kiện về giá trị bảo hiểm
- Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí
Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi ích cho cả người bảo hiểm và người đượcbảo hiểm Người bảo hiểm đảm bảo thu được một khoản phí bảo hiểm trong thờihạn bảo hiểm Người được bảo hiểm vẫn được người bảo hiểm chấp thuận bảohiểm ngay cả khi hàng đã xếp lên tàu vận chuyển rồi mà chưa kịp thông báo bảohiểm Hợp đồng bảo hiểm bao dùng để bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩuthường xuyên khối lượng lớn vận chuyển làm nhiều chuyến Điều khoản huỷ bỏhợp đồng bảo hiểm quy định cho phép một bên có thể huỷ bỏ hợp đồng hoặc bất
kỳ một phần nào của hợp đồng với điều kiện phải thông báo trước (thường là 30ngày)
4.3 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm được in sẵn thành mẫu thường bao gồm 2 mặt: mặttrước gồm các thông tin về người bảo hiểm, người được bảo hiểm và đối tượngbảo hiểm; mặt sau in sẵn các quy định cơ bản về bảo hiểm Mẫu của các nướckhác nhau có thể khác nhau song hiện nay hầu hết các nước, các công ty đều sửdụng mẫu đơn bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm London từ tháng 4 năm 1982theo quy định của ICC-1982 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm bao gồm:
- Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản ở ngân hàng của người bảo hiểm và ngườiđược bảo hiểm
Trang 19- Tên hàng hoá được bảo hiểm, số lượng, trọng lượng, loại bao bì, cáchđóng gói
- Loại tàu chuyên chở: tên tàu, tuổi tàu, cờ tàu, trọng tải, dung tích
- Các xếp hàng lên tàu
- Nơi đi, nơi đến, nơi chuyển tải
- Ngày gửi hàng
- Thời gian khởi hành và thời gian cả hành trình
- Điều kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm
- Nơi giám định tổn thất, nơi thanh toán bồi thường
- Ký tên, đóng dấu
Những nội dung trên được ghi tóm tắt trên đơn bảo hiểm cấp cho mỗichuyến hàng tham gia bảo hiểm Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm còn ghi các điềukhoản về quyền và trách nhiệm của mỗi bên trong đó có một số nội dung cơ bảnnhư sau:
4.3.1 Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của lô hàng.Giá trị thực tế của lô hàng có thể là giá hàng hoá (giá FOB) cũng có thể bao gồm: giá hàng hoá, cước phí vận chuyển, phí bảo hiểm và các chi phí liên quan khác Công thức xác định:
V = C + I + FTrong đó: V- là giá trị bảo hiểm của hàng hoá
C- là giá hàng tại cảng đi (giá FOB)I- là phí bảo hiểm
F- là cước phí vận tảiNgoài ra để đảm bảo quyền lợi của mình, người được bảo hiểm có thể bảohiểm thêm cả khoản lãi dự tính do việc xuất nhập khẩu mang lại Khi xuất nhậpkhẩu theo giá CIF hoặc CIP thì theo tập quán giá trị bảo hiểm sẽ tính thêm 10%lãi dự tính Như vậy khi xuất nhập khẩu theo giá CIF thì:
V = 110% * CIFhoặc xuất theo giá CIP thì:
V = 110% * CIP
F C CIF
Trang 20Trong đó: R - tỷ lệ phí bảo hiểm
4.3.2 Số tiền bảo hiểm:
Số tiền bảo hiểm là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do người đượcbảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm
Về nguyên tắc, Số tiền bảo hiểm chỉ có thể nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảohiểm Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm thì phần lớn hơn đó sẽkhông được bảo hiểm Ngược lại, nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểmtức là người được bảo hiểm tự bảo hiểm lấy một phần thì người bảo hiểm cũngchỉ bồi thường trong phạm vi số tiền bảo hiểm đã được ghi trong hợp đồng Nếuđối tượng bảo hiểm được bảo hiểm trùng, tức là cùng một rủi ro, một giá trị bảohiểm nhưng lại được bảo hiểm ở nhiều công ty bảo hiểm khác nhau thì tráchnhiệm của tất cả các công ty bảo hiểm cũng chỉ giới hạn trong phạm vi số tiềnbảo hiểm Trong xuất nhập khẩu nếu số tiền bảo hiểm chỉ bằng giá trị hoá đơnhay giá FOB hoặc giá CFR thì người được bảo hiểm chưa bảo hiểm đầy đủ giá trịhay nói cách khác là bảo hiểm dưới giá trị
4.3.3 Phí bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho ngườibảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả thuận gây lên.Phí bảo hiểm thường được tính toán trên cơ sở xác suất của những rủi ro gây ratổn thất hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất của nhiều năm trên một loại hàng hoáđược bảo hiểm nhằm đảm bảo trang trải tiền bồi thường và có lãi Như vậy phíbảo hiểm được tính toán trên cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm và phụ thuộc vào số tiềnbảo hiểm hoặc giá trị bảo hiểm Để lập công thức tính phí bảo hiểm cần có cácchỉ tiêu sau:
R : là tỷ lệ phí bảo hiểm
I : là phí bảo hiểm
A : là số tiền bảo hiểm
V : là giá trị bảo hiểm
Thì : I = R * A (nếu A < V)
Hoặc I = R * V (nếu A = V)
Đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam hiện nay thì phí bảo hiểm đượctính theo công thức sau: I = R * CIF
Trang 21-Loại hàng hoá: hàng hoá dễ bị tổn thất như dễ đổ vỡ, dễ bị mất cắp thì tỷ
lệ phí bảo hiểm cao hơn
-Loại bao bì, phương thức đóng gói hàng hoá
-Phương tiện vận chuyển: xem xét một số chi tiết liên quan đến tàu vậnchuyển như tên tàu, quốc tịch, loại tàu, tuổi tàu
-Hành trình vận chuyển và các thiết bị cảng tại các cảng tàu cập bến
-Điều kiện bảo hiểm càng rộng thì rủi ro càng nhiều do đó phí bảo hiểmtăng lên
Tỷ lệ phí bảo hiểm thường xuyên được xem xét, điều chỉnh lại một cáchđịnh kỳ trên cơ sở những hậu quả tổn thất cuả người được bảo hiểm trong kỳtrước cũng như tình hình thực tế Điều này được gọi là định phí theo kết quả, vìvậy để giữ được tỷ lệ phí thấp việc đề phòng và hạn chế rủi ro gây ra tổn thất làrất quan trọng
Hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực ngay sau khi phí bảo hiểm được trả,người bảo hiểm có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu người được bảo hiểmkhông thực hiện đúng nghĩa vụ trả phí bảo hiểm hoặc có quyền từ chối bồithường khi rủi ro xảy ra
5 Khiếu nại đòi bồi thường trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
5.1 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Khi phương tiện chuyên chở bị tai nạn và đe doạ đến sự an toàn cho hànghoá của người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông
R 1
F C CIF
a) (1
* R 1
F C
Trang 22báo cho các cơ quan chức năng nơi gần nhất như cơ quan hàng hải, cơ quan bảohiểm để các cơ quan này có biện pháp phối hợp theo dõi, phòng bị cho tàu vàhàng hoá Nếu được thông tin hay phát hiện thấy thực tế hàng hoá bị tổn thất thìngười được bảo hiểm cần làm ngay các công việc sau:
-Thông báo cho người bảo hiểm biết và nếu thấy tình hình hàng hoá tổn thấthoặc nghi ngờ có tổn thất thì cần làm giấy yêu cầu đề nghị người giám định ngay.Việc giám định hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất phải do người bảo hiểm tiếnhành theo đơn đề nghị của người được bảo hiểm Nếu vụ tổn thất không đượcgiám định viên của người bảo hiểm giám định thì sẽ không được chấp nhận bồithường
- Thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất Thực ra, việc đềphòng và hạn chế tổn thất cho hàng hoá nói chung trong hợp đồng bảo hiểm là đểchỉ những trường hợp hàng hoá bị rủi ro (thuộc phạm vi bảo hiểm như: cháy, nổ,mắc cạn ) đe doạ tàu khi tàu chở hàng đang trên đường hành trình hoặc neo đậutại bến cảng dọc đường
- Bảo lưu quyền khiếu nại cho người bảo hiểm tức là đơn khiếu nại ngaybên gây ra tổn thất hàng hoá và gọi là khiếu nại người thứ ba, người đứng ngoàihợp đồng bảo hiểm Ở đây cần lưu ý nếu người thứ ba là chủ tàu, người chuyênchở hoặc chủ kho hàng đều có quy định riêng về thời gian cho phép khiếu nạitheo luật trong nước, luật quốc tế hay các văn bản dưới luật
Việc bảo vệ tài sản trước những tình huống có nguy cơ thuộc phạm vi tráchnhiệm của hợp đồng bảo hiểm đều đòi hỏi sự nỗ lực của cả hai bên và khi đóchưa cần xét đến biện pháp giải quyết bồi thường của người bảo hiểm Xuất phát
từ những đặc điểm này, người bảo hiểm có quy định việc người bảo hiểm thamgia vào các biện pháp cứu hộ và bảo vệ hàng hoá đều không thể coi là dấu hiệucủa sự khước từ hay chấp nhận việc từ bỏ hàng hoá
5.2 Thủ tục khiếu nại đòi bồi thường.
Khiếu nại là sự thỉnh cầu hay yêu cầu người bảo hiểm bồi thường trên cơ sởnhững chứng cứ do người được bảo hiểm đưa ra Hồ sơ khiếu nại để đòi ngườibảo hiểm bồi thường gồm nhiều loại giấy tờ khác nhau những phải chứng minhđược:
- Người khiếu nại có lợi ích bảo hiểm;
- Hàng hoá đã được bảo hiểm;
- Tổn thất thuộc một rủi ro được bảo hiểm;
- Mức độ tổn thất;
Trang 23- Thực hiện nguyên tắc thế quyền để người bảo hiểm có thể đòi được ngườithứ ba bồi thường
Hồ sơ khiếu nại đòi bồi thường phải bao gồm các loại giấy tờ sau đây:
1- Đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (bản gốc)
2- Vận đơn đường biển (bản gốc) và hợp đồng thuê tàu (nếu có)
3- Hoá đơn thương mại
4- Hoá đơn về các chi phí khác (nếu có)
5- Giấy chứng nhận trọng lượng, số lượng
6- Biên bản kết toán nhận hàng với tàu
7- Phiếu đóng gói
8- Văn bản, giấy tờ liên quan tới việc đòi người thứ ba bồi thường và trả lời(nếu có)
9- Kháng nghị hàng hải hoặc nhật ký hàng hải
10- Thư khiếu nại có ghi rõ số tiền yêu cầu bồi thường
11- Biên bản bất thường về hàng hoá vận chuyển
12- Biên bản giám định
Sau khi kiểm tra chứng từ và thanh toán bồi thường, mọi khoản khiếu nại vàquyền khiếu nại của người được bảo hiểm đối với người thứ ba đều được chuyểncho người bảo hiểm mà giới hạn là số tiền đã bồi thường Người được bảo hiểmmuốn khiếu nại tổn thất toàn bộ ước tính cho hàng hoá được bảo hiểm, phải gửithông báo từ bỏ hàng cho người bảo hiểm.Thông báo phải đưa ra không chậmtrễ, với mục đích để cho người bảo hiểm có cơ hội giảm thiểu hay ngăn ngừa tổnthất (như bán hàng dọc đường) Thông báo từ bỏ hàng phải làm thành văn bản vàtrong mọi trường hợp phải cho biết ý định của người được bảo hiểm là từ bỏkhông điều kiện mọi quyền lợi về hàng hoá được bảo hiểm cho người bảo hiểm.Nếu người bảo hiểm chấp nhận thông báo từ bỏ hàng nghĩa là người bảo hiểmchấp nhận trách nhiệm bồi thường như bồi thường tổn thất toàn bộ thực tế và cóquyền sở hữu phần còn lại của hàng hoá Việc từ bỏ hàng không được thay đổisau khi người bảo hiểm chấp nhận thông báo từ bỏ hàng Tuy nhiên, trước khingười bảo hiểm chấp nhận thông báo từ bỏ hàng, người được bảo hiểm phải cónhững biện pháp tích cực nhằm ngăn ngừa và hạn chế tổn thất Nếu người bảohiểm không chấp nhận từ bỏ hàng, các quyền lợi của người được bảo hiểm tronghợp đồng bảo hiểm vẫn không thay đổi
Thời hạn khiếu nại với người bảo hiểm là hai năm kể từ ngày có tổn thấthoặc phát hiện tổn thất Tuy nhiên, bộ hồ sơ khiếu nại phải gửi đến công ty bảo
Trang 24hiểm trong vòng 9 tháng kể từ khi có tổn thất để người bảo hiểm còn thực hiệnquyền truy đòi các bên có liên quan đến vụ tổn thất.
6 Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
6.1 Giám định tổn thất:
Giám định tổn thất là việc làm của các chuyên viên giám định của ngườibảo hiểm hoặc của các công ty giám định được người bảo hiểm uỷ quyền, nhằmxác định mức độ và nguyên nhân của tổn thất làm cơ sở cho việc bồi thường.Giám định tổn thất được tiến hành khi hàng hoá bị tổn thất, hư hỏng, đổ vỡ, thiếuhụt, giảm phẩm chất ở cảng đến hoặc trên đường hành trình và do người đượcbảo hiểm yêu cầu Những tổn thất do mất hàng, giao thiếu hàng hoặc không giaohàng thì không cần phải giám định và cũng không thể giám định được Do đó,người được bảo hiểm phải có nghĩa vụ đưa ra những bằng chứng chứng minh vềnguyên nhân và mức độ của những tổn thất này Sau khi giám định, người giámđịnh sẽ cấp chứng thư giám định Chứng thư giám định gồm hai loại: Biên bảngiám định và giấy chứng nhận giám định được gửi cho người được bảo hiểmtrong vòng 30 ngày
Người được bảo hiểm có thể tham gia ý kiến với giám định viên để thôngnhất về tỷ lệ tổn thất hàng hoá Trong trường hợp đôi bên không nhất trí được thì
có mời một bên trung gian làm giám định viên độc lập Biên bản giám định làchứng thư quan trọng trong việc đòi bồi thường, vì vậy khi hàng đến cảng đến cótổn thất phải yêu cầu giám định ngay (không muộn hơn 60 ngày kể từ ngày dỡhàng khỏi tàu) Cơ quan giám định phải là cơ quan được chỉ định trong hợp đồngbảo hiểm hoặc cơ quan được người bảo hiểm uỷ quyền
6.2 Bồi thường tổn thất.
6.2.1 Nguyên tắc: Các công ty bảo hiểm của Việt nam tính toán và bồi thường
tổn thất trên cơ sở các nguyên tắc sau:
- Bồi thường bằng tiền chứ không phải bằng hiện vật Đồng tiền bồi thường
là đồng tiền đã được thoả thuận trong hợp đồng, nếu không có thoả thuận thì nộpphí bằng đồng tiền nào sẽ được bồi thường bằng đồng tiền đó
- Về nguyên tắc, trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm
vi số tiền bảo hiểm Tuy nhiên, khi cộng tiền tổn thất với các chi phí: cứu hộ,giám định, đánh giá và bán lại hàng hoá bị tổn thất, chi phí đòi người thứ ba bồithường, tiền đóng góp vào tổn thất chung thì dù có vượt quá số tiền bảo hiểmngười bảo hiểm vẫn bồi thường dựa trên quy định trong điều khoản đã thoả thuậncủa hợp đồng bảo hiểm
Trang 25- Khi thanh toán tiền bồi thờng, người bảo hiểm có thể khấu trừ nhữngkhoản thu nhập của người được bảo hiểm trong việc bán hàng và đòi người thứba.
6.2.2 Cách tính toán bồi thường tổn thất:
* Đối với tổn thất chung:
Khi có tổn thất chung xảy ra chủ tàu có quyền chỉ định một công ty hay mộtchuyên viên giám định tính toán tổn thất chung, phân bổ tổn thất chung cho cácquyền lợi trên tàu Các quyền lợi, lợi ích trên tàu bao gồm: tàu, hàng và cước phí.Nhiệm vụ của chuyên viên tính tổn thất chung là trên cơ sở chứng từ giấy tờ cóliên quan xác định những hy sinh và những chi phí nào được công nhận là tổnthất chung để tính toán phân bổ cho chủ tàu, các chủ hàng,cước phí đóng góptrên cơ sở "Bảng phân bổ tổn thất chung" Cách tính toán và phân bổ tổn thấtchung tiến hành như sau:
-Xác định tỷ lệ đóng góp (chỉ số phân bổ) vào tổn thất chung :
-Tính số tiền phải đóng góp của từng quyền lợi:
Mức đóng
Giá trị chịu phân bổ
Tỷ lệ phân bổtổn thất chung
Số tiền đóng góp vào tổn thất chung sẽ được người bảo hiểm bồi hoàn chocác chủ hàng nếu có bảo hiểm mà không phụ thuộc vào điều kiện bảo hiểm Nếu
số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị đóng góp thì người bảo hiểm chỉ chịu tráchnhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị đóng góp
* Đối với tổn thất riêng: Tổn thất riêng có thể là tổn thất toàn bộ hay tổn thất bộphận:
Trang 26- Nếu là tổn thất toàn bộ thực tế thì người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ sốtiền bảo hiểm hay giá trị bảo hiểm Khi đó số tiền bồi thường bằng số tiền bảohiểm hoặc giá trị bảo hiểm.
-Nếu là tổn thất toàn bộ ước tính, khi người được bảo hiểm thông báo từ bỏhàng cùng với các thủ tục cần thiết mà người bảo hiểm chấp thuận thì sẽ đượcbồi thường toàn bộ và ngược lại nếu người được bảo hiểm không thông báo từ bỏhàng hay người bảo hiểm không chấp thuận thì chỉ được bồi thường như tổn thất
tố biến động về giá cả trên thị trường hay nói cách khác coi như giá cả khôngbiến động kể từ lúc bắt đầu bảo hiểm cho đến khi tính toán bồi thường tổn thất.Việc tính toán bồi thường tổn thất bộ phận ở Việt nam thường xảy ra các trườnghợp sau:
Bồi thường tổn thất do đổ vỡ, hư hỏng, thiếu hụt, giảm phẩm chất có biênbản giám định chứng minh Trong trờng hợp này số tiền bồi thường là:
STBT = Tỷ lệ tổn thất * Số tiền bảo hiểm
T l t n th t ây chính l m c gi m giá tr th đây chính là mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ị thương mại ghi trên biên bản giám ương mại ghi trên biên bản giám ng m i ghi trên biên b n giám ại ghi trên biên bản giám ảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám
nh N u biên b n giám nh không ghi m c gi m giá tr th ng m i m ch ghi tr ng đây chính là mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giámị thương mại ghi trên biên bản giám ảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám đây chính là mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giámị thương mại ghi trên biên bản giám ức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ị thương mại ghi trên biên bản giám ương mại ghi trên biên bản giám ại ghi trên biên bản giám à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ỉ ghi trọng ọng
l ượng, số lượng hàng hoá bị thiếu hụt: ng, s l ố lượng hàng hoá bị thiếu hụt: ượng, số lượng hàng hoá bị thiếu hụt: ng h ng hoá b thi u h t: à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ị thương mại ghi trên biên bản giám ụt:
STBH = Trọng lượng(Số lượng) hàng hoá thiếu hụt * STBH
Trọng lượng(Số lượng) hàng hoá theo HĐ
Bồi thường mất nguyên kiện: Bồi thường mất nguyên kiện thường xảy ratrong các trường hợp như: tàu giao thiếu hàng hoặc không giao hàng, các kiệnhàng bị tổn thất toàn bộ trong khâu xếp dỡ, vận chuyển trong trường hợp nàynếu các kiện hàng có đơn giá thì:
Trang 27STBT = Số kiện hàng bị mất * Đơn giáNếu các kiện hàng không có đơn giá thì bồi thường như trường hợp tổn thất
về số lượng, trọng lượng như trên
Bồi thường các chi phí: các chi phí được người bảo hiểm bồi thường baogồm: Chi phí tố tụng, chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất - đó là chi phí đượcchi ra nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm tổn thất hoặc để bảo vệ quyền lợi của hànghoá được bảo hiểm hoặc những chi phí liên quan tới việc đòi bồi thường củangười thứ ba; Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm
6.3 Miễn giảm bồi thường:
* Miễn giảm bồi thường là một hình thức từ chối bồi thường trên cơ sở một
số tiền được chỉ định theo tỷ lệ phần trăm trong tổng giá trị bồi thường Miễngiảm bồi thường có hai loại:
-Miễn giảm không khấu trừ: Tức là khi tổn thất xảy ra, nếu mức độ tổn thấtđạt tỷ lệ phần trăm quy định thì người bảo hiểm bồi thường toàn bộ tổn thất -Miễn giảm có khấu trừ: Tức là người bảo hiểm sẽ khấu trừ không bồithường một tỷ lệ nhất định khi tổn thất đạt mức trên quy định
* Mục đích của việc miễn giảm bồi thường là:
- Người bảo hiểm không phải bồi thường những tổn thất quá nhỏ so vớitổng giá trị bảo hiểm, số tiền bồi thường khi đó có thể không tương xứng choviệc khiếu nại và giải quyết bồi thường về thời gian và chi phí
- Loại trừ những tổn thất của các loại hàng hoá có tính chất đặc biệt thường
dễ bị hao hụt trong quá trình vận chuyển
- Dành một tỷ lệ không bồi thường để người được bảo hiểm khi xảy ra tổnthất sẽ coi như cùng người bảo hiểm có trách nhiệm gánh vác một phần tổn thất.Hiện nay, do có sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường bảo hiểm nên các công
ty bảo hiểm ít khi sử dụng quy định miễn giảm bồi thường để giữ khách hàng vàchỉ áp dụng trong những trường hợp hàng hoá mang tính chất đặc biệt và thườngxuyên bị tổn thất
Trang 28CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở PJICO
I KHÁI QUÁT VỀ PJICO VÀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
1 Khái quát về PJICO.
1.1 Quá trình hình thành:
Xuất phát từ quan điểm đổi mới của Đảng, chủ trương phát triển nền kinh tếnhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhànước Đồng thời cũng xuất phát từ chính sách mở của phát triển thị trường bảohiểm Việt nam, công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex gọi tắt là PJICO
(PETROLIMEX JOINT-STOCK INSURANCE COMPANY) được thành lập theo:
Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh bảo hiểm số 06-TC/GCNngày 27/05/1995 của Bộ Tài chính; Giấy phép thành lập số 1873/GP-UB ngày08/06/1995 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội và Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh số 060256 ngày 15/06/1995 của uỷ ban kế hoạch (nay là Sở kế hoạch
và Đầu tư) Thành phố Hà Nội
PJICO là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, vớitổng số vốn góp ban đầu là 55 tỷ VND do 7 cổ đông sáng lập và một cổ đôngtham gia góp vốn (Liên hiệp đường sắt Việt Nam), ngoài ra một phần do pháthành cổ phiếu trên thị trường:
B ng 1: V n góp c a các c ông v o công ty c ph n b o hi m Petrolimex n m ảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ố lượng hàng hoá bị thiếu hụt: ủa các cổ đông vào công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex năm đây chính là mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ần bảo hiểm Petrolimex năm ảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ểm Petrolimex năm ăm
4 Tổng công ty thép Việt Nam
(VSC)
Nguồn số liệu: Phòng tổ chức cán bộ
Trang 29PJICO được thành lập ngày 27/05/1995 và chính thức đi vào hoạt động từngày 15/06/1995 với thời gian hoạt động là 22 năm kể từ ngày cấp giấy phép, hếtthời hạn sẽ được phép xin gia hạn Như vậy, công ty cổ phần bảo hiểmPetrolimex ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng, to lớn trong chủtrương đa dạng hoá các thành phần kinh tế nói chung của Đảng và Nhà nước ta,đồng thời minh chứng cho sự chuyển đổi một cách cơ bản thị trường bảo hiểmViệt Nam từ độc quyền sang tự do cạnh tranh có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
và cũng chính từ đây thị trường bảo hiểm Việt Nam chuyển sang một giai đoạnmới
1.2 Cơ cấu tổ chức.
Ngay sau khi được cấp giấy phép thành lập và đăng ký kinh doanh, công ty
đã nhanh chóng triển khai phát triển bộ máy tổ chức, mạng lưới kinh doanh bảohiểm tại khu vực Hà Nội và trên phạm vi cả nước Ban đầu, từ 8 cán bộ côngnhân viên tại trụ sở Hà Nội đến cuối năm 1995 công ty đã thành lập 6 phòng bantại văn phòng công ty và 3 chi nhánh tại Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh.Đến nay công ty đã xây dựng được môt đội ngũ gồm hơn 200 CBCNV làm việctại 10 phòng ban, 6 văn phòng đại diện khu vực trên địa bàn thành phố Hà Nội, 9chi nhánh tại các tỉnh, thành phố như: TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng, ĐàNẵng, Nghệ An, Khánh Hoà, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình cùng 8văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố: Hà Tĩnh, Quảng Nam, Kiên Giang,
An Giang, Cà Mau, Thanh Hoá, Hà Tây, Đắc Lắc Ngoài ra còn hàng trăm cáctổng đại lý, đại lý và cộng tác viên bảo hiểm trên toàn quốc.Với mạng lưới tổchức kinh doanh như vậy, PJICO trong những năm qua không ngừng phát triển:Doanh thu tăng, thị phần mở rộng, uy tín ngày càng được nâng cao, đời sốngCBCNV ngày cành được cải thiện Từ đó góp phần vào quá trình phát triển vàhội nhập thị trường bảo hiểm Việt Nam với thị trường bảo hiểm thế giới
Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động công ty
bảo hiểm PJICO
Trang 30(Bộ máy quản lý của PJICO được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến
-chức năng):
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TỔNG GI M ÁM ĐỐC
CN Hải phòng
P.BH Thanh hoá
CN Nghệ an
P.BH
Hà tĩnh
CN Quảng bình
CN
Đ n à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ẵng
P.BH Quảng nam
CN Khánh hoà mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám CN
S i gòn à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám
CN Cần thơ
P.BH Kiên giang
Ban Ttra -P chế
Trang 31Trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm, với một cơ cấu tổ chức bộmáy chặt chẽ, gọn nhẹ, linh hoạt làm việc đạt hiệu quả cao, ngoài việc khai thácphát triển khách hàng, liên kết hợp tác với các công ty bảo hiểm trong nướcPJICO còn không ngừng củng cố và mở rộng mối quan hệ hơp tác với các tổchức, các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm trên toàn thế giới Điều đó được thểhiện thông qua việc PJICO là thành viên chính thức của Hiệp hội bảo hiểm ViệtNam, có quan hệ với các tập đoàn bảo hiểm, tái bảo hiểm lớn như: Munich Re,Swiss Re, Hartfort Re, Cologue Re, West of England công ty giám định WillisCoroon - London và nhiều nước trên thế giới
1.3 Một số kết quả mà PJICO đạt được từ khi thành lập.
Ngay sau khi ra đời, PJICO đã nhanh chóng triển khai kinh doanh cácnghiệp vụ bảo hiểm gốc cả về chiều rộng và chiều sâu Số lượng nghiệp vụ ngàycàng tăng thêm và đa dạng hoá Tới nay, công ty đã thực hiện trên 40 nghiệp vụđáp ứng nhu cầu đa dạng về bảo hiểm của khách hàng Về kinh doanh bảo hiểmgốc trong những năm đầu, công ty hầu như chỉ tiến hành bảo hiểm cho các kháchhàng trong cổ đông, đến nay trên 70% doanh thu phí của công ty là từ các kháchhàng ngoài cổ đông Công ty đã bảo hiểm và đồng bảo hiểm nhiều công trình lớn
có giá trị hàng trăm triệu đôla Mỹ như khách sạn DAEWOO, toà nhà HITC, cáccông trình cầu đường (cầu Đuống, cầu Đà Rằng, cầu Hàm Rồng, đường quốc lộ
1, đường quốc lộ 5, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc xuyên Á ), công trìnhthuỷ điện Sông Hinh Sau hơn 5 năm hoạt động PJICO đạt được một số thànhtựu được thể hiện ở bảng số liệu dưới đây:
- Về doanh thu: Được sự ủng hộ nhiệt tình của các khách hàng trong cổ
đông cùng với sự chú trọng đặc biệt trong khâu khai thác khách hàng mớingoài cổ đông nên doanh thu qua các năm tăng nhanh và ổn định với tốc độtăng trưởng bình quân năm khoảng 39% Đối tượng phục vụ của PJICO là các
cá nhân, tập thể, các tổ chức cơ quan doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế Hiện nay đối tượng phục vụ là các khách hàng ngoài cổ đông chiếm tỷtrọng lớn (trên 70% doanh thu phí bảo hiểm gốc) Điều đó chứng tỏ rằngPJICO đã tạo được niềm tin và có uy tín với khách hàng Từ đó không ngừngcủng cố và mở rộng mối quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững trong kinh doanh
Trang 32- Lợi nhuận và chi trả cổ tức: Kể từ khi thành lập tính đến ngày 31/12/2000công ty đã tạo ra được gần 60 tỷ đồng tiền lợi nhuận trước thuế và trên 30 tỷđồng tiền lợi nhuận sau thuế Có thể nói rằng, đây là dự án có tính khả thi cao,đáp ứng được sự mong mỏi của các cổ đông tham gia góp vốn Hàng năm, saukhi đã nộp thuế đầy đủ cho nhà nước, công ty đã chia cổ tức cho các cổ đông ởmức ổn định bình quân ở mức 1,2%/ tháng cao gấp 1,2 - 2 lần lãi suất tiền gửingân hàng Tổng số tiền cổ tức đã chia trong những năm qua khoảng 26 tỷ đồngtương đương với trên 70% vốn cổ phần mà các cổ đông đóng góp Dự kiến năm
2001 sẽ thu hồi lại được toàn bộ số vốn góp ban đầu
- Bảo toàn và phát triển vốn: Sự tăng trưởng của PJICO không chỉ thể hiệnthông qua lợi nhuận mà còn thể hiện thông qua sự tích luỹ vốn trong hơn 5 nămhoạt động vừa qua nguồn vốn chủ sở hữu được bảo toàn và phát triển Vốn kinhdoanh không ngừng được bổ xung thêm bằng các quỹ dự phòng nghiệp vụ Đếnngày 31/12/2000 số dư luỹ kế các quỹ dự phòng là trên 70 tỷ đồng và nâng vốnkinh doanh của công ty lên gần 130 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần vốn góp ban đầu củacác cổ đông
- Thuế nộp ngân sách : Công ty bảo hiểm PJICO luôn thực hiện đầy đủ vàlàm tốt nghĩa vụ nộp ngân sách đối với nhà nước Mặc dù mới ra đời và cũngkhông được hưởng sự ưu đãi nào của nhà nước nhưng sau 6 năm hoạt động công
ty đã đóng góp cho ngân sách nhà nước gần 40 tỷ đồng
- Là một doanh nghiệp trẻ, lại hoạt động dưới mô hình hoàn toàn mới công ty cổ phần, tham gia vào lĩnh vực kinh doanh đầy khó khăn- kinh doanh bảohiểm, thị trường còn nhỏ, mang nặng tính chất độc quyền nhà nước và sự baocấp Nhưng với ý trí tự lực tự cường, quyết tâm phấn đấu của toàn thể cán bộcông nhân viên cùng với sự giúp đỡ của các ban ngành, PJICO không ngừngvươn lên nhằm chiếm giữ thị phần, nâng cao uy tín của mình Sự ra đời và hoạtđộng của công ty đã tạo ra công ăn việc làm cho hàng trăm lao động tại khu vực
mẻ-Hà Nội và tại địa bàn công ty có chi nhánh Đời sống cán bộ công nhân viênkhông ngừng được chăm lo và cải thiện Thu nhập bình quân của cán bộ côngnhân viên trong toàn công ty năm sau cao hơn năm trước và tới nay đã đạtkhoảng trên 1,7 triệu đồng/ người/tháng
Với tất cả những kết quả đạt được như trên ta có thể khẳng định rằng:Việc thành lập công ty cổ phần bảo hiểm Ptrolimex- một dự ấn đầu tư dài hạncủa các cổ đông - cho tới nay đã vừa đạt hiệu quả tài chính vừa đạt hiệu quả kinh
tế xã hội
Trang 332 Vài nét về thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở Việt Nam hiện nay.
Nền kinh tế Việt Nam cũng như trong khu vực, trong năm vừa qua đã có
dấu hiệu phục hồi và phát triển tác động tích cực đối với toàn ngành bảo hiểmViệt Nam Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã tăng cường bám sát kháchhàng hơn, tích cực khai thác những khách hàng quen thuộc và những khoảngtrống của thị trường Trong thời gian qua trình độ của các nhân viên bảo hiểmViệt Nam đã được nâng lên rõ rệt qua nhiều khoá đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ởtrong nước cũng như ở nước ngoài, bắt kịp với trình độ chung của khu vực vàtrên thế giới, do vậy việc tư vấn giúp đỡ khách hàng lựa chọn tham gia bảo hiểmcũng như khai thác dịch vụ đã thuận lợi hơn Sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữacác doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, vai trò củahiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã được khẳng định Việc tuyên truyền quảng cáo
đã được các doanh nghiệp chú trọng hơn trước rất nhiều trong đó hình thức hộinghị khách hàng vẫn được đánh giá là hình thức tuyên truyền quảng cáo mang lạihiệu quả nhất Thị trường đã có 10 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, một sốdoanh nghiệp đã tiến hành khai thác thêm các nghiệp vụ và tích cực triển khaicác sản phẩm bảo hiểm mới (nghiệp vụ Bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm tráchnhiệm dân sự chủ doanh nghiệp ) Vì vậy, nên thị trường bảo hiểm Việt Namtrong thời gian vừa qua hoạt động tương đối đa dạng và sôi động Tất cả các yếu
tố trên đã tác động tích cực tới thị trường bảo hiểm Việt Nam: Tổng doanh thuphí bảo hiểm trên toàn thị trường đạt khoảng 2.934 tỷ VND, ước tính cả năm
2000 chiếm 0,66% GDP tăng 41,89% so với cùng kỳ năm trước Đây là mức caonhất trong những năm qua, trong đó tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 1.827 tỷVND tăng 14,69% so với năm 1999, các nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng mạnhnhư bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, cháy và rủi ro đặc biệt, thăm dò và khaithác dầu khí, xây dựng - lắp đặt, với mức tăng khoảng 15%-20% so với năm
1999 Tổng phí bảo hiểm nhân thọ đạt 1.117 tỷ VND tăng 230,78% so với năm
1999, hiện có năm công ty với trên 10.000 nhân viên và đại lý cùng với 40 loạihình nghiệp vụ khác nhau Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đều códoanh thu phí cao hơn năm trước, một số doanh nghiệp có mức tăng trưởngtương đối cao như Bảo Minh tăng 21,5%, PJICO tăng 21%, PTI tăng 57,8%
Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm hàng hoáxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trong năm 2000 đạt tốc độ tăngtrưởng tương đối tốt so với năm 1998, 1999 Kim ngạch tham gia bảo hiểm củatoàn thị trường tăng khoảng 85% trong khi phí bảo hiểm tăng gần 30% so vớinăm 1999 trong đó bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu tăng 29,20%, bảo hiểm hàng
Trang 34hoá xuất khẩu tăng 35,92% Sự ra tăng kim ngạch bảo hiểm và phí bảo hiểmtrong thời gian qua là do nhiều yếu tố như: Kim ngạch xuất nhập khẩu của cảnước tăng, chủ yếu ở các mặt hàng nhập khẩu như xăng dầu, sắt thép, máy mócthiết bị và xuất khẩu dầu thô, hàng dệt may, giầy dép, hải sản, chè Trongkhai thác bảo hiểm hàng hoá, sự cạnh tranh giữa các nhà bảo hiểm tuy diễn ra gắtnhưng các doanh nghiệp bảo hiểm đã nâng cao chất lượng dịch vụ về nhiều mặtnhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong cả nước và phần nào đã tạolòng tin trên thị trường nên kết quả thị phần kim ngạch xuất nhập khẩu tham giabảo hiểm tăng đáng kể, cụ thể trong năm 2000 kim ngạch hàng hoá xuất nhậpkhẩu tham gia bảo hiểm đạt tỷ lệ gần 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hànghoá của cả nước (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2000 đạt 29,5 tỷUSD) cao hơn so với giai đoạn từ 1995-1998 bình quân chỉ chiếm gấn 14% tổngkim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá.
B ng 3: B o hi m h ng hoá nh p kh u to n th tr ảng 3: Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ảng 3: Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ểm hàng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ àng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ập khẩu toàn thị trường từ ẩu toàn thị trường từ àng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ị trường từ ường từ ng t ừ
11.14436,35
11.4783,00
11.390-0,77
11.5000,97
15.20032,17
2.37023,71
2.132-10,04
2.1882,66
2.2005,10
4.36298,27
7.108,89-19,90
7.874,0310,76
8.5007,95
10.89229,20
Trang 35B ng 4: B o hi m h ng hoá xu t kh u to n th tr ảng 3: Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ảng 3: Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ểm hàng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ àng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ất khẩu toàn thị trường từ ẩu toàn thị trường từ àng hoá nhập khẩu toàn thị trường từ ị trường từ ường từ ng t ừ
7.25633,16
9.14526,.03
9.3612,36
11.25020,18
14.30027,11
220.6823,71
271.8223,17
357.5031,52
528.7547,91
909.4572
1.323,6546,20
1.527,6114,41
2.668,0674,66
3.034,6513,74
4.124,735,92
7.035,3296,96
8.873,1897,03
9.003,596,18
10.721,2595,3
13.390,593,64
Nguồn số liệu: Báo cáo tổng kết BHHH toàn thị trường - VINARE
Từ bảng số liệu ta thấy, tỷ lệ kim ngạch hàng hoá tham gia bảo hiểm tăngcao hơn so với tốc độ tăng trưởng về phí bảo hiểm do nhiều yếu tố ảnh hưởngnhư: cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu, sự lựa chọn điều kiện bảo hiểm của kháchhàng để bảo hiểm hàng hoá của mình, sự cạnh tranh của các công ty bảo hiểm vídụ: Trong 6 tháng đầu năm 2000 kim ngạch nhập khẩu xăng dầu là rất lớn chiếm
tỷ trọng 13,25% tổng kim ngạch nhập khẩu (do giá xăng dầu thế giới tăng cao),với mặt hàng này thường chỉ bảo hiểm theo điều kiện (điều khoản) chở dầu dời,một vài doanh nghiệp còn bảo hiểm rủi ro thiếu hụt nhưng tỷ lệ phí bảo hiểm ápdụng rất thấp trung bình chỉ khoảng 0,09% hay gạo xuất đi Phillipin tỷ lệ phí bảohiểm chỉ bằng 50% phí đi Iraq
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là một trong những nghiệp vụ truyềnthống của hầu hết các công ty kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trườngbảo hiểm Việt Nam Hiện nay với sự tham gia kinh doanh nghiệp vụ này củamười công ty làm cho quá trình cạnh tranh diễn ra hết sức sôi động và gay gắt.Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường không những giảm mạnh
mà các công ty còn không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng,với vai trò là người tư vấn và là nhà bảo hiểm cho khách hàng tham gia bảohiểm Hầu hết các công ty bảo hiểm hiện nay đều rất coi trọng việc giữ lại sốlượng khách hàng tham gia bảo hiểm cũ thông qua tái tục hợp đồng hàng năm
Trang 36đồng thời tích cực chủ động tìm kiếm và khai thác khách hàng mới trong mọilĩnh vực, mọi thành phần kinh tế Trình độ, năng lực nghiệp vụ của cán bộ côngnhân viên bảo hiểm ngày một nâng cao giúp cho quá trình tư vấn, phân tích đánhgiá rủi ro, đưa ra các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất có hiệu quả Bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thường bảo hiểm lô hàng hoá có giá trị rất lớn vìvậy việc tái bảo hiểm là vô cùng quan trọng Gần đây các công ty kinh doanhnghiệp vụ này đã phân tích đúc rút kinh nghiệm trong công tác tính toán mức giữlại và nhượng tái hợp lý Họ đã chọn ra được thị trường tái bảo hiểm và các nhànhận tái bảo hiểm có uy tín trên thế giới như: Munich Re, Swiss Re hay một sốthị trường tái bảo hiểm của Nhật Bản và London Do vậy uy tín các công ty bảohiểm gốc của Việt Nam ngày càng tăng và tạo được sự tín nhiệm, tin cậy củakhách hàng tham gia bảo hiểm
Tuy nhiên, tình hình cạnh tranh vẫn diễn ra rất quyết liệt, nguồn dịch vụ
từ các khách hàng là đối tác xuất nhập khẩu của các tổng công ty và các công tylớn vẫn là những "điểm nóng" cho dù trong qúa trình khai thác hay tái tục hợpđồng, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn đang phải chịu những sức ép về nhiều khíacạnh từ phía khách hàng như: yêu cầu giảm tỷ lệ phí, hạ mức khấu trừ, mở rộngphạm vi bảo hiểm ngoài thông lệ, áp dụng các mẫu đơn khác với tập quán thịtrường hoặc đưa thêm nhiều điều khoản bổ sung, thậm chí có những điều khoảnrủi ro bảo hiểm có thể thuộc vào một đơn bảo hiểm hoàn toàn riêng biệt cho loạihình bảo hiểm khác Có những trường hợp dịch vụ được tái tục nhưng có nhiềudoanh nghiệp bảo hiểm cùng mời chào với các bảng chào phí khác nhau gây rakhó khăn chung cho toàn bộ thị trường và sự lựa chọn của khách hàng Một sốdịch vụ khi tái tục đã thay đổi người bảo hiểm còn một số dịch vụ lại được kháchhàng lựa chọn theo phương thức đồng bảo hiểm nhằm tận dụng ưu thế của tínhcạnh tranh và phần lớn là mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm nước ngoài
Từ bảng số liệu ta thấy, hàng hoá nhập khẩu do các doanh nghiệp bảo hiểm ViệtNam khai thác được chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, bình quân từ 1995-2000 khoảng21,7% tổng kim ngạch hàng năm, lượng hàng hoá chủ yếu tham gia bảo hiểm tạinước ngoài Nếu chỉ tính phí bảo hiểm bình quân theo kim ngạch bảo hiểm tạiViệt Nam các năm qua và nếu 100% tổng kim ngạch nhập khẩu được bảo hiểmthì trong 6 năm từ năm 1995-2000 phí bảo hiểm hàng nhập rơi vào tay các nhàbảo hiểm nước ngoài khoảng 200 triệu USD, bình quân 33,3 triệu USD/năm.Tương tự như trên ta thấy giá trị kim ngạch hàng hoá xuất khẩu đựơc bảo hiểmtại Việt Nam còn quá nhỏ bé, bình quân giai đoạn 1995-2000 khoảng 4,03% tổngkim ngạch hàng năm- số còn lại 95,97% hay bình quân 9,08% tỷ USD kim ngạchxuất khẩu hàng năm được bảo hiểm ở nước ngoài với số phí bảo hiểm khoảng35-40 triệu USD/ năm Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
Trang 37nước bởi vì phí bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thất thu bình quân là khoảng
70 triệu USD năm dẫn đến làm thất thu thuế đối với nhà nước gần 2,8 triệu USD/năm đồng thời mất nguồn chi quản lý, dự trữ bồi thường khoảng 14 triệu USD vàmất đi nguồn vốn đầu tư lớn từ các doanh nghiệp bảo hiểm cho nền kinh tế xãhội
Bảng 5: Tình hình bồi thường nghiệp vụ BHHHXNK của các DNBHVN
n v : 1.000 USDĐơng mại ghi trên biên bản giám ị thương mại ghi trên biên bản giám
Bồi thường Tỷ lệ
bồi thường (%)
Ngu n : Báo cáo t ng k t BHHH to n th trồn : Báo cáo tổng kết BHHH toàn thị trường của VINARE à mức giảm giá trị thương mại ghi trên biên bản giám ị thương mại ghi trên biên bản giám ường của VINAREng c a VINAREủa các cổ đông vào công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex năm
Tổng phí bảo hiểmTình hình tổn thất hàng hoá được bảo hiểm vẫn tiếp tục gia tăng mặc dù cácnhà bảo hiểm gốc luôn luôn áp dụng nhiều biện pháp đề phòng và hạn chế tổnthất Tỷ lệ bồi thường trung bình giai đoạn 1995-2000 theo năm nghiệp vụ lên tới77,79% riêng năm 1999 xấp xỉ 90% và ngay trong 6 tháng đầu năm 2000 đã liêntiếp xảy ra những vụ tổn thất rất lớn cho hàng hoá như: tổn thất chung của tàu
“APEX” trên hành trình từ BOTANG về TP HCM tháng 04/2000 bị hỏng máytrị giá khoảng 700.000 USD, hàng hoá trên tàu “EVELYN” bị đắm tàu tại lưu
Trang 38vực Aden ngày 19/05/2000 trên hành trình từ cảng Novorossiysk (Biển đen) vềcảng TP HCM trị giá khoảng 1 triệu USD, tổn thất trên tàu “HAIRONG” bị đắmtại Trung quốc ngày 12/06/2000 do đâm va với tàu “JOINT MIRIAN” trên hànhtrình từ Trung Quốc về TP HCM trị giá khoảng 1.018.375 triệu USD Với ba vụtổn thất trên ước tính tổng số tình đó có thể phải bồi thường đã chiếm 40%-45%phí bảo hiểm khai thác được trong 6 tháng đầu năm 2000 Mặt khác, những tổnthất thường xuyên xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm thông thường chiếmkhoảng 30%-35% phí bảo hiểm, như vậy kết quả kinh doanh về nghiệp vụ thờigian qua của toàn bộ thị trường không mấy khả quan Tỷ lệ bồi thường về tổnthất hàng hoá luôn luôn ở mức cao chủ yếu do ảnh hưởng của các vụ tổn thất lớnnhư tàu chở hàng bị cháy, mắc cạn, đâm va, mất tích Nếu như các nhà bảohiểm gốc vẫn tiếp tục không có những biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thấtchặt chẽ hơn nữa trong khâu khai thác (đánh giá và phân tích rủi ro) trong thờigian tới thì kết quả kinh doanh nghiệp vụ rất khó có thể được nâng lên Bướcsang năm 2001 để kết quả kinh doanh nghiệp vụ đạt hiệu quả tốt các doanhnghiệp cần dùng mọi biện pháp ngăn ngừa tổn thất hàng hoá và tăng cường khaithác thêm dịch vụ Dự kiến phí bảo hiểm hàng hoá của thị trường năm 2001 tăngkhoảng 15%-20% so với năm 2000
II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PTROLIMEX (PJICO)
1 Công tác khai thác bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO.
Hoạt động khai thác là một khâu quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảohiểm nói chung và lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển nói riêng Tuy còn nhiều hạn chế so với các công tybảo hiểm nước ngoài và một số doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam rất lớn mạnhnhư Bảo Việt, Bảo Minh nhưng công ty bảo hiểm PJICO trong thời gian qua đã
nỗ lực cố gắng vượt qua những khó khăn trong điều kiện hầu hết các mối quan hệvới khách hàng mới được thiết lập và còn ít ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của cáckhách hàng trong cổ đông Các khách hàng lớn và lâu năm còn chưa có hoặc nếu
có thì chỉ nhận được bảo hiểm phần nào trong tổng giá trị hàng hoá trong ngoạithương Việc xây dựng và phát triển một thị trường bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu ổn định, lâu dài chính là mục tiêu được đặt ra trong hoạt động khaithác của PJICO Hoạt động khai thác phải có kế hoạch, chiến lược hết sức cụ thể
và chặt chẽ Nó phải được dựa trên cơ sở các số liệu, chỉ tiêu về kim ngạch xuất
Trang 39nhập khẩu của các mặt hàng cũng như kế hoạch xuất nhập khẩu của từng đơn vịkinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá Đối với khách hàng cũ, công ty luôn luônphải đảm bảo giữ uy tín, thuyết phục tái tục hợp đồng hướng dẫn mua bảo hiểmđúng thời hạn và bảo hiểm hàng nhập theo gía FOB, CF hay kim ngạch hàng xuấttheo giá CIF Các khách hàng cũ mà có ít rủi ro xảy ra tổn thất, tăng cường cácbiện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất thì PJICO có thể điều chỉnh lại tỷ lệ phícho phù hợp nhằm thiết lập mối quan hệ lâu dài với họ Đối với khách hàng tiềmnăng PJICO sẽ có các phương pháp chào phí riêng dưới nhiều hình thức nhằmkhuyến khích, thu hút họ tham gia bảo hiểm tại công ty Ngoài ra chất lượngphục vụ khách hàng và chất lượng quản lý cũng được PJICO không ngừng nângcao làm tăng thêm uy tín của mình với thị trường bảo hiểm trong nước Công tácnghiên cứu thị trường, mở rộng và phát triển đại lý, cộng tác viên cũng được chútrọng nhằm nắm bắt đựơc các thông tin từ khách hàng, từ thị trường, từ đó có kếhoạch khai thác một cách hiệu quả và triệt để
Quy trình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của PJICO - banhành kèm theo quyết định của Tổng giám đốc PJICO số 113/BH-HH/95 ngày15/07/1995 bao gồm 2 khâu cơ bản
- Một là : Quá trình khai thác bảo hiểm
- Hai là : Quá trình cấp đơn bảo hiểm
1.1 Quá trình khai thác bảo hiểm: Quá trình khai thác được chia ra làm 2
bước:
Trước hết là phải nắm vững kim ngạch các mặt hàng và số lượng hàng hoá nhậpkhẩu hàng năm từ các nguồn vốn xuất nhập khẩu của các đơn vị xuất nhập khẩu(nguồn vốn trung ương, địa phương, viện trợ, tự có, vay nợ ) để xây dựng kếhoạch thu phí trong năm, cụ thể là đầu năm thông qua các đơn vị xuất nhập khẩu
để nắm số liệu kế hoạch xuất nhập khẩu của từng đơn vị Trên cơ sở đó xác định
số kim ngạch sẽ qua bảo hiểm để xây dựng kế hoach thu phí bảo hiểm trong năm
đó của từng kkhách hàng theo mặt hàng Trong số kim ngạch xuất khẩu củakhách hàng cần tách riêng kim ngạch của từng khu vực theo giá CIF, CF và FOB
để lập kế hoạch thu phí sát với thực tế Sau đó chuẩn bị hợp đồng bảo hiểm để kýkết với khách hàng hàng năm
hàng nhập về của từng khách hàng qua đó đối chiếu kim ngạch qua bảo hiểm đểnắm được khối lượng hàng về thực tế nhằm kịp thời điều chỉnh kế hoạch thu phíđầu năm đã xây dựng Đôn đốc khách hàng mua bảo hiểm theo đúng thời hạn đãquy định và mua bảo hiểm hết phần kim ngạch hàng nhập về theo giá FOB và CF
Trang 40hay kim ngạch hàng xuất đi theo giá CIF Thường xuyên quan hệ với khách hàng
để khai thác những nguồn hàng nhập hoặc kế hoạch nhập bổ xung hoặc ngoài kếhoạch nhằm tranh thủ bảo hiểm và chuẩn bị tài liệu để chào phí Phải đi sâu tìmhiểu rõ tính chất và quy cách đóng gói thích hợp của các lô hàng xuất nhập khẩu
để áp dụng các điều kiện bảo hiểm thích hợp theo tập quán và quy định, Nắmvững các mặt hàng có tỷ trọng lớn trong kim ngạch nhập qua đó phân tích ảnhhưởng của các nhân tố đối với số phí thu Thu thập đầy đủ và nghiên cứu cácthông tin về bảo hiểm như các quy tắc, tỷ lệ phí, điều khoản bảo hiểm của thịtrường nước ngoài để khi cần có thể đề nghị các văn bản của ta hoặc giải thích
và sử dụng chính những điều khoản đó khi có yêu cầu của khách hàng Kết hợpvới bộ phận bồi thường để tính được kết quả bảo hiểm đối với từng khách hàngtheo năm nghiệp vụ để kịp thời đề xuất ý kiến điều chỉnh tỷ lệ phí cho thích hợpnhằm đáp ứng yêu cầu của công tác kinh doanh và phù hợp với từng đối tượngbảo hiểm Cuối năm chuẩn bị đầy đủ số liệu để họp khách hàng thông báo tìnhhình tham gia bảo hiểm, nêu những ưu nhược điểm trong năm qua và những vấn
đề cần khắc phục cho năm tới của từng khách hàng nhằm hạn chế được nhầm lẫn,sai sót và tổn thất cho hàng hoá, qua đó giúp PJICO làm tốt công tác giám định,
đề phòng và hạn chế tổn thất, bồi thường đối với hàng hoá được bảo hiểm và đòingười thứ ba Phối hợp chặt chẽ với các phòng liên quan như Tài vụ, Tái bảohiểm, phối hợp để giải quyết kịp thời các vướng mắc trong khâu thu phí bảohiểm, phân tán rủi ro liên quan đến nghiệp vụ gốc và điều chỉnh kế hoạch thu phíbảo hiểm trong năm đó Xây dựng văn bản, thể lệ giám định bảo hiểm, khuyếnmại và bồi thường tổn thất
1.2 Quá trình cấp đơn bảo hiểm: quá trình cấp đơn bảo hiểm ở PJICO có sự
khác nhau đối với hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu
1.2.1 Đối với hàng hoá nhập khẩu, bao gồm 4 bước sau:
Bước 1 : Kiểm tra chứng từ liên quan.
Khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của khách hàng (giấy này làm theohình thức một đơn bảo hiểm) phải được kiểm tra xem chứng từ có hợp lệ không?Một giấy yêu cầu bảo hiểm được coi là hợp lệ phải có đủ những yêu cầu sau:
Trên giấy yêu cầu phải kê khai rõ ràng tất cả các đề mục đã in sẵn trênđơn Trong trường hợp khai thiếu những đề mục như: số B/L, ký mã hiệu, trọnglượng, số kiện (do chưa được thông báo đầy đủ) thì vẫn chấp nhận cấp đơnnhưng yêu cầu khách hàng phải bổ sung ngay khi nhận được thông báo
Nếu thiếu một trong những đề mục cơ bản như: số tiền bảo hiểm (trị giáhàng FOB hoặc C&F), tên tàu vận chuyển, ngày khởi hành, cảng đi và điều kiện