Tuy nhiên, mặc dù các doanh nghiệp BHNT trong những năm qua đã có nhiều biệnpháp nhằm đẩy mạnh khả năng khai thác sản phẩm của mình, nhưng nhìn chung số lượng sản phẩmbán được vẫn chưa c
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù đãluôn luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn luôn có nguy cơ gặp phải những rủi
ro bất ngờ xảy ra Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân, ví dụ như :các rủi ro do môi trường thiênnhiên như bão lụt, động đất, rét, hạn, sương muối, dịch bệnh…;các rủi ro do sự tiến bộ phát triểnkhoa học và kỹ thuật như tai nạn ôtô, hàng không, tai nạn lao động ;các rủi ro do môi trường xãhội như hoả hoạn, bạo lực…
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trongcuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, sức khoẻ bị giảm sút, làm ngưng trệ sản xuất và kinhdoanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân…làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế – xã hộ nóichung
Để đối phó với các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soátcũng như khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra Trong số đó, Bảo hiểm được coi là một biện pháptích cực nhất trong việc hạn chế rủi ro, giảm thiểu tổn thất Bên cạnh các loại hình bảo hiểm nhưBHXH và BHYT, ngày càng có nhiều người dân trên toàn thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêngtham gia vào các loại hình bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại, trong đó đặc biệt là bảohiểm nhân thọ(BHNT)
Trên thế giới, loại hình BHNT đã phát triển hàng thế kỷ và cho đến nay đã có hàng trăm sảnphẩm BHNT ra đời, góp phần phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng hoá của khách hàng Ở ViệtNam, Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt ) đã cho ra mắt loại hình bảo hiểm nhân thọ vàotháng 8/1996 và cho đến nay đã đạt được những bước tiến lớn: chiếm 54% thị phần, tốc độ tăngtrưởng doanh thu phí bảo hiểm đạt 64,8% trong năm 2001 và cũng là doanh nghiệp duy nhất cómạng lưới đại lý phủ khắp các tỉnh thành Các sản phẩm của Bảo Việt đã đáp ứng được phần lớnnhu cầu của khách hàng và được khách hàng tín nhiệm, tin tưởng tham gia Từ giữa năm 1999,Chính Phủ cho phép mở cửa thị trường BHNT đã xuất hiện thêm các doanh nghiệp BHNT lớn, cóvốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, trên thị trường có 5 doanh nghiệp BHNT, trong đó chỉ có 1doanh nghiệp Nhà Nước là Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), còn lại là 4 doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Sự xuất hiện này đã tạo ra sự cạnh tranh toàn diện với tốc độ cao giữacác doanh nghiệp BHNT và góp phần thúc đẩy thị trường BHNT của Việt Nam ngày càng pháttriển Dưới sức ép cạnh tranh, các công ty BHNT không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng khai thácsản phẩm BHNT để thu hút khách hàng và mở rộng thị phần Nhìn chung những phương thức cạnhtranh lành mạnh của các công ty đều đem lại lợi ích cho khách hàng, sẽ khuyến khích ngày càngnhiều người tham gia bảo hiểm
Tuy nhiên, mặc dù các doanh nghiệp BHNT trong những năm qua đã có nhiều biệnpháp nhằm đẩy mạnh khả năng khai thác sản phẩm của mình, nhưng nhìn chung số lượng sản phẩmbán được vẫn chưa cao, đặc biệt là các sản phẩm bảo hiểm Nhân thọ trọn đời, số tiền bảo hiểm còn
hạn chế, hình thức thu phí còn nhiều bất cập Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Một số biện
pháp nhằm đẩy mạnh công tác khai thác sản phẩm bảo hiểm An Khang Trường Thọ của Bảo Việt Nhân Thọ Hà Nội ” sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng khai thác sản phẩm
Bảo hiểm trọn đời trên thị trường Việt Nam và một số giải pháp để thúc đẩy công tác khai thác sảnphẩm Bảo hiểm An Khang Trường Thọ của BVNTHN nhằm góp phần nâng cao số lượng sản phẩm
Trang 2bảo hiểm An Khang Trường Thọ được bán, đưa sản phẩm Bảo hiểm An Khang Trường Thọ trởthành một sản phẩm quen thuộc và được ưa thích của người dân Việt Nam
Đề tài này được hoàn thành dựa trên bài giảng của TS Nguyễn Văn Định và sự hướng dẫn của
TH S Phạm Thị Định Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Mặc dù rất cố gắng, tuy nhiên donhững hạn chế về mặt lý luận và đặc biệt là về thực tiễn nên không thể tránh khỏi những thiếu sótnhất định, em rất mong nhận được sự tham khảo và góp ý của các thầy, cô và các bạn, những aiquan tâm đến vấn đề này để bài viết được hoàn thiện hơn
Hà Nội ngày 26/11/2002
Sinh viênTrịnh Thanh Huyền
Trang 3PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHNT
I>KHÁI QUÁT VỀ BHNT
1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BHNT
Ở mỗi quốc gia, trong mọi thời kỳ, con người luôn được coi là lực lượng sản xuất chủ yếu,
là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội Song trong lao động sản xuất cũng như trongcuộc sống hàng ngày, những rủi ro :tai nạn, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm, già yếu v v vẫn luôntồn tại và tác động đến nhiều mặt của cuộc sống con người Vì vậy, vấn đề mà bất kỳ xã hội nàocũng quan tâm là làm thế nào để khắc phục được những hậu quả của rủi ro nhằm đảm bảo cho cuộcsống con người Thực tế đã có rất nhiều biện pháp được áp dụng như: phòng tránh, cứu trợ, tiếtkiệm v v nhưng bảo hiểm luôn được đánh giá là một trong những biện pháp hữu hiệu Có rấtnhiều loại hình bảo hiểm ra đời với mục đích giúp con người khắc phục được những rủi ro, giảmthiểu tổn thất và ổn định cuộc sống, đặc biệt là loại hình BHNT
BHNT là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong đó ngườibảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm ) một số tiền nhấtđịnh khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến mộtthời điểm nhất định) còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn Nói cách khác,BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của conngười
Đối tượng tham gia BHNT rất rộng, bao gồm mọi người ở các lứa tuổi khác nhau Lịch sử
ra đời của BHNT khá sớm
Hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583, do công dân London là ôngwilliam Gybbon tham gia Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trongnăm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh
Năm 1759, công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Philadenphia (Mỹ) Công ty này đến nay vẫncòn hoạt động, nhưng lúc đầu nó chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên ở nhà thờ của mình.Năm
1762, công ty BHNT Equitable ở nước Anh được thành lập và bán bảo hiểm nhân thọ cho mọingười dân
Ở châu Á, các công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản Năm 1868 công ty bảo hiểmMeiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, 2 công ty khác là: Kyoei và Nippon ra đời và pháttriển cho đến ngày nay
Trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất, năm 1985 doanh thu phí BHNTmới chỉ đạt 630,5 tỷ đôla, năm 1989 đã lên tới 1.210,2 tỷ và năm 1993 con số này là 1647 tỷ, chiếmgần 48% tổng phí bảo hiểm Hiện nay có năm thị trường BHNT lớn nhất thế giới là: Mỹ, Nhật Bản,CHLB Đức, Anh và Pháp
2.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA BHNT
Dịch vụ BHNT là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến các sự kiện xảy ra trong cuộc sốngcủa con người Do đó, BHNT có những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 4Thứ nhất, BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro: Đây là một trong nhữngđặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với bảo hiểm phi nhân thọ Thật vậy, mỗi người muaBHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm, ngược lạingười bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợibảo hiểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiền bảo hiểm được trảkhi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng Hoặc sốtiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chếtsớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm Số tiền nàygiúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chiphí giáo dục con cái…Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro Tínhchất tiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kếhoạch và có kỷ luật Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với hình thức tiết kiệm khác ở chỗ,người mua bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiềnrất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ Có nghĩa là khi người được bảohiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn bảo hiểm được ấn định, những người thân của họ sẽnhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm Điều đó thể hiện rõ tínhchất rủi ro trong BHNT.
Thứ hai, BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm:Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắcphục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính chongười tham gia, thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích Mỗi mục đích được thể hiện khá rõtrong từng loại hợp đồng Hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốnhoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng giađình hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác…Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhaunên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm
Thứ ba, các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp: Tính đa dạng và phức tạptrong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay các sản phẩm của nó Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọcũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10năm Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau vể số tiền bảo hiểm, phươngthức đóng phí, độ tuổi của người tham gia…Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữacác bên cũng rất phức tạp Khác với các bản hợp đồng bảo hiêm phi nhân thọ, trong mỗi hợp đồngBHNT có thể có 4 bên tham gia (ngưòi bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham giabảo hiểm
và người được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm)
Thứ tư, phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí kháphức tạp: Theo tác giả Jean-Claude Harrari “sản phẩm BHNT không gì hơn chính là kết quả củamột tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng” Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải
bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng…Nhưng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT (tính phíBHNT), một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào: độ tuổi của người được bảo hiểm, tuổi thọ bìnhquân của con người, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia bảo hiểm phương thức thanh toán, lãi suấtđầu tư, tỷ lệ lạm phát …
Trang 5Thứ năm, BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định Ởcác nước kinh tế phát triển, BHNT ra đời và phát triển hàng trăm năm nay Ngược lại có một sốquốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò
và lợi ích của nó Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu đểBHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế xã hội phát triển
Những điều kiện về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sảnphẩm quốc nội tính bình quân một đầu người dân, mức thu nhập của dân cư, tỷ lệ lạm phát củađồng tiền, tỷ giá hối đoái…
Những điểu kiện về xã hội bao gồm: Điều kiện về dân số, tuổi thọ bình quân của người dân, trình
độ học vấn, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh
Ngoài điều kiện kinh tế – xã hội thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự
ra đời và phát triển của doanh nghiệp BHNT Thông thường ở các nước, luật kinh doanh bảo hiểm,các văn bản,quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển Luật bảohiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: tài chính, đầu tư, hợp đồng,thuế Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT Chẳng hạn ởmột số nước phát triển như: Anh, Pháp, Đức , Nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho BHNTbằng cách có chính sách thuế ưu đãi Mục đích là tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tựmình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ nhà nước Mặt khác, còn đẩymạnh được quá trình tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm để từ đó có vốn dài hạn đầu tư chonền kinh tế Cũng vì những mục đích trên, mà một số nước Châu Á như: Ấn Độ, Hồng Kông,Singapore…không đánh thuế doanh thu đối với các sản phẩm BHNT Sự ưu đãi này là đòn bẩy tíchcực để BHNT phát triển
3.VAI TRÒ CỦA BHNT TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ – XÃ HỘI
Bản chất của Bảo Hiểm nói chung và BHNT nói riêng như chúng ta đã biết, không chỉnhằm ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra, gây tổn thất về người và tài sản của xã hội, mà cònnhằm tạo ra dự phòng tài chính cần và đủ để bồi thường tổn thất ấy,góp phần ổn định sản xuất, đờisống kinh tế-xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy BHNT phát triển rất nhanh, doanh thu phíbảo hiểm ngày càng tăng Vai trò của BHNT không chỉ thể hiện trong từng gia đình và đối với từng
cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống, giảm bớt khó khăn vể tài chính khi gặp phải rủi ro,
mà còn thể hiện rõ trên phạm vi toàn xã hội Trên phạm vi xã hội, BHNTgóp phần thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm trong dân cư, kìmhãm lạm phát…từ đó góp phần thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển Những vai trò to lớn củaBHNT được biểu hiện cụ thể dưới những hình thức sau:
Thứ nhất, đối với người dân, BHNT góp phần ổn định cuộc sống cho các cá nhân và giađình, là chỗ dựa tinh thần cho người được bảo hiểm Mặc dù trong thời đại ngày nay, khoa học kỹthuật đã phát triển cao, nhưng rủi ro bất ngờ vẫn có thể xảy ra và thực tế đã chứng minh rằng nhiều
cá nhân và gia đình trở nên khó khăn, túng quẫn khi có một thành viên trong gia đình, đặc biệtthành viên đó lại là người trụ cột bị chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn Khi đó, gia đình phải chi phímai táng, chôn cất, chi phí nằm viện, thuốc men, chi phí phẫu thuật và bù đắp những khoản thuthường xuyên bị mất đi Khó khăn hơn là một loạt các nghĩa vụ và trách nhiệm mà người chết chưa
Trang 6kịp hoàn thành như: trả nợ, phụng dưỡng bố mẹ già, nuôi dạy con cái ăn học…Dù rằng hệ thốngbảo trợ xẫ hội và các tổ chức xã hội có thể trợ cấp khó khăn, nhưng cũng chỉ mang tính tạm thờitrước mắt, chưa đảm bảo được lâu dài về mặt tài chính Tham gia BHNT sẽ phần nào giải quyếtđược những khó khăn đó.
Thứ hai, thông qua dịch vụ BHNT, một dịch vụ có đối tượng tham gia rất đông đảo, cácnhà bảo hiểm thu được phí để hình thành quỹ bảo hiểm, quỹ này được sử dụng chủ yếu vào mụcđích bồi thường, chi trả và dự phòng Khi nhàn rỗi, nó sẽ là nguồn vốn đầu tư hữu ích góp phầnphát triển và tăng trưởng kinh tế Nguồn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn, mà còn gópphần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động
Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới, những tiến bộ khoa học đã góp phần đẩy nhanh quátrình phát triển sản xuất, nâng cao đời sống kinh tế xã hội, kéo dài tuổi thọ của dân cư Tuổi thọtăng thể hiện đời sống vật chất tinh thần cao Đây là điều đáng mừng, song nó cũng đặt ra cho xãhội, trước hết là nguồn ngân sách Nhà nước một số vấn đề cần được quan tâm giải quyết Đó làviệc phải dành một khoản kinh phí ngân sách ngày càng tăng tương ứng với mức tăng dân số vàtuổi thọ để giải quyết các chế độ đảm bảo xã hội, nhất là đối với những người già yếu, không nơinương tựa Do vậy, phần vốn ngân sách đầu tư cho phát triển ít nhiều nhất định sẽ bị ảnh hưởng.Nhằm khắc phục ảnh hưởng ấy, nhiều nước trên thế giới đã dùng biện pháp khác để bổ sung vốnđầu tư phát triển Đó là mở rộng thị trường BHNT, huy động mọi tầng lớp dân cư tham gia muaBHNT dài hạn Đây được coi là biện pháp hỗ trợ ngân sách Nhà nước trong việc đảm bảo sinh hoạtbình thường cho những người già yếu, những người mất sức bên cạnh các khoản phúc lợi xã hộicủa Nhà nước và là nguồn vốn bổ sung cho ngân sách Nhà nước trong việc đầu tư phát triển sảnxuất, tạo công ăn việc làm, giữ gìn trật tự và ổn định xã hội Chẳng hạn, ở Mỹ, trong tổng số vốnđầu tư phát triển sản xuất hiện nay thì 30% là vốn huy động được từ các quỹ BHNT Ở Đức ngàynay, người hưu trí còn có khoản thu thêm từ quỹ BHNT bổ sung cho thu nhập tuổi già của mình vàkhoản này chiếm 20% thu nhập hàng tháng của họ
Hơn nữa hoạt động đầu tư cũng chi phối chiến lược thiết kế sản phẩm và tính phí bảo hiểmcủa công ty và đóng một vai trò nhất định trong quan hệ với khách hàng Lợi nhuận thu được từhoạt động đầu tư sẽ quyết định đến các sản phẩm bảo hiểm của công ty Nếu thu nhập của hoạtđộng đầu tư cao sẽ giúp sản phẩm đưa ra hấp dẫn hơn đối với khách hàng về phí, về lãi đầu tư…trong khi tỷ lệ lãi đầu tư thấp có thể làm cho các sản phẩm kém cạnh tranh và có thể dẫn đến mấtkhách hàng
Thứ ba, BHNT là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở cáctầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lạm phát Xét về mặt sảnphẩm, tất cả sản phẩm của BHNT đều có khả năng chống lại ảnh hưởng của lạm phát vì khi tínhphí bảo hiểm, công ty bảo hiểm đã áp dụng một tỷ lệ chiết khấu phí (lãi kỹ thuật), phần lãi này sẽ
bù đắp lại phần trượt giá Khi tham gia BHNT, khách hàng có thể yên tâm về giá trị đồng tiền vìkhi tham gia bảo hiểm, số tiền nộp phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (NTGBH) khôngphải là tiền “chết” mà là tiền “đẻ” ra tiền Số phí bảo hiểm mà NTGBH đóng được công ty bảohiểm đem đầu tư và lãi đầu tư được trả lại cho NTGBH dưới hình thức chiết khấu phí (tính lãi chophí bảo hiểm đóng ), ngoài ra còn dưói hình thức lãi chia (bảo tức ) Thông thường, do thực hiện đadạng hoá đầu tư nên lãi suất đầu tư của các Cty BHNT thường cao hơn lãi suất tiết kiệm tiền gửi
Trang 7Ngân Hàng (và cao hơn tỷ lệ lạm phát), như vậy NTGBH được hưởng lãi suất dương từ số phíđóng, tức là bảo toàn và tăng được giá trị của khoản tiền đóng phí bảo hiểm Một điều cũng cầnlưu ý là, khi tham gia bảo hiểm và đóng phí định kỳ, không phải toàn bộ số phí đóng phải chịu ảnhhưởng của lạm phát tương ứng với thời hạn bảo hiểm mà từng phần phí đóng sẽ chịu ảnh hưởngtrong những thời hạn khác nhau Qua đó, chúng ta thấy vai trò to lớn của BHNT trong việc kìmhãm lạm phát
Thứ tư, BHNT còn góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt xã hội như: tạo thêm công ănviệc làm cho người lao động, tăng vốn đầu tư cho việc giáo dục con cái, tạo ra một nếp sống đẹp,tiết kiệm có kế hoạch….Trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ, các công ty BHNT muốn pháttriển sản phẩm và mở rộng thị trường của mình thì phải cần đến một hệ thống đại lý có quy mô lớn
để giúp tuyên truyền, tư vấn và phân phối các sản phẩm BHNT của doanh nghiệp đến khách hàng.Nhờ đó mà những người không có việc làm, gồm nhiều thành phần :các bạn thanh niên rất trẻ,những người đang tạm nghỉ việc, những người chưa tìm được việc làm, những người chưa hài lòngvới công việc của mình …đến với công ty BHNT đã tìm cho mình được một công việc thích hợpvới mức lương xứng đáng và họ cũng bị cuốn hút cùng với sự phát triển của BHNT
Khi tổ chức các dịch vụ BHNT, các công ty BHNT còn cần một số lượng lớn các nhân viên sửdụng máy vi tính, nhân viên thống kê, kế toán…vì đối tượng và phạm vi rộng, thời gian dài, chonên phát triển dịch vụ này sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Thực tế số lượngtrong thời gian vừa qua tại Việt Nam cũng như kinh nghiệm ở các nước khác cho thấy, lực lượngđại lý BHNT sẽ phát triển rất nhanh trong thời gian tới Cán bộ làm việc trong hệ thống Bảo Việttại thời điểm đầu năm 1998 khoảng 2000 người, trong khi đó đến tháng 6 năm 1998, tức là chỉ hơnmột năm sau khi bắt đầu tuyển những đại lý đầu tiên và bảy tháng sau khi có những chính sách hỗtrợ công tác phát triển mạng lưới đại lý, Trung tâm Đào tạo đã cấp chứng chỉ tủ tiêu chuẩn cho
1300 người Còn ở Mỹ, có gần 2 triệu lao động làm việc trong ngành bảo hiểm, ở Hồng Kông với
số dân 6 triệu người, có tới 20.000 người làm ở các công ty bảo hiểm Những số liệu nêu trên chothấy việc xây dựng và phát triển lực lượng đại lý, nhân viên của các doanh nghiệp BHNT đã tạođược việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần ổn định anh ninh, trật tự cho xã hội và tăngtrưởng kinh tế cho đất nước
Như vậy có thể nói BHNT vừa là nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển, vừa là công cụ kìmhãm lạm phát hữu hiệu, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt khó khăn cho cá nhân
và gia đình người gặp rủi ro, nhằm góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm và ổn định đờisống kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia Do vậy, đối với những quốc gia vai trò đảm bảo xã hội củaNhà nước còn chưa mạnh thì cần đẩy mạnh dịch vụ BHNT dài hạn vì nó góp phần hỗ trợ cho ngânsách Nhà nước giải quyết được một số khó khăn vể kinh phí đảm bảo xã hội và đầu tư phát triển
tế có 3 loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản :
Trang 8-Bảo hiểm trong trường hợp tử vong;
-Bảo hiểm trong trường hợp sống ;
-Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp
Ngoài ra các công ty BHNT trên thế giới còn triển khai bổ sung một số điều khoản vào cácloại hình BHNT nói trên nhằm mục đích tăng thêm quyền lợi cho khách hàng để lôi kéo họ, cạnhtranh với các đối thủ khác, thực hiện đa dạng hoá sản phẩm cho phù hợp với các điều kiện của công
ty Việc làm này hoàn toàn không phải đơn giản Thực chất, các điều khoản bổ sung không phải làBHNT, vì không phụ thuộc vào sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người, mà là bảo hiểmcác rủi ro khác có liên quan đến cuộc sống của con người Đôi khi người tham gia bảo hiểm cũngthấy rất cần thiết phải tham gia để bổ sung cho hợp đồng cơ bản
4.1.Bảo hiểm trong trường hợp tử vong
Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia thành 2 nhóm:
4.1.1_Bảo hiểm tử kỳ: (còn gọi là bảo hiểm tạm thời hay bảo hiểm sinh mạng có thời hạn): Được
ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thời gian đã quy định của hợp đồng Nếu cái chết khôngxảy ra trong thời gian đó thì người được bảo hiểm không nhận được bất cứ khoản phí nào từ số phíbảo hiểm đã đóng Điều đó, cũng có nghĩa là người bảo hiểm không phải thanh toán số tiền bảohiểm cho người được bảo hiểm Ngược lại, nếu cái chết xảy ra trong thời gian có hiệu lực của hợpđồng, thì người bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởngquyền lợi bảo hiểm được chỉ định
*Đặc điểm chung:
-Thời hạn Bảo hiểm luôn luôn xác định;
-Quyền lợi và trách nhiệm mang tính tạm thời;
-Mức phí Bảo hiểm thấp nhất vì không phải lập nên quỹ tiết kiệm cho người được Bảo hiểm
*Mục đích :
-Bảo đảm các chi phí mai táng, chôn cất, hồi hương
-Bảo đảm cuộc sống cho gia đình và người thân trong một thời gian ngắn
-Giúp gia đình trả nợ và thanh toán các khoản tiền vay thế chấp
Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hoá thành các loại hình sau:
-Bảo hiểm tử kỳ cố định: có mức phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm cố định, không thay đổi trongsuốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng Mức phí thấp nhất và người bảo hiểm không thanh toánkhi hết hạn hợp đồng Hợp đồng hết hiệu lực nếu sau ngày gia hạn hợp đồng không nộp phí bảohiểm Loại này chủ yếu nhằm thanh toán cho các khoản nợ tồn đọng trong trường hợp người đượcbảo hiểm bị tử vong
-Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục: loại này có thể được tái tục vào kết thúc hợp đồng và không yêu cầu
có thêm bằng chứng nào về sức khỏe của người được bảo hiểm, nhưng có sự giới hạn về độ tuổi(thường độ tuổi tối đa là 65) Tại lúc tái tục, phí bảo hiểm tăng lên vì độ tuổi của người được bảohiểm lúc này tăng lên
-Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: Đây là loại hình bảo hiểm tử kỳ cố định nhưng cho phép ngườiđược bảo hiểm có sự lựa chọn chuyển đổi một phần hay toàn bộ hợp đồng thành một hợp đồng bảo
Trang 9hiểm nhân thọ trọn đời hay BHNT hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi họp đồng đang còn hiệulực Phí bảo hiểm được tính dựa trên hợp đồng BHNT trọn đời hay hỗn hợp mới theo độ tuổi củangười có hợp đồng.
Loại hợp đồng này phát hành như một sự bảo chứng cho khoản tiền vay Đồng thời nó còn nhằmthực hiện yếu tố tiết kiệm trong tương lai của người được bảo hiểm
-Bảo hiểm tử kỳ giảm dần: đây là loại hình bảo hiểm mà có một bộ phận của số tiền bảo hiểm giảmhàng năm theo một mức quy định Bộ phận này giảm tới 0 vào cuối kỳ hạn hợp đồng Loại hìnhnày đáp ứng nhu cầu của người tham gia, khi họ phải nợ một khoản tiền phải trả dần
-Bảo hiểm tử kỳ tăng dần: Loại này được phát hành nhằm giúp người tham gia bảo hiểm có thểngăn chặn được yếu tố lạm phát của đồng tiền
-Bảo hiểm thu nhập gia đình: Loại hình bảo hiểm này nhằm đảm bảo thu nhập cho 1 gia đình khikhông may người trụ cột trong gia đình bị chết
-Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên: Loại hình bảo hiểm này cũng nhằm tránh yếu tố lạm phát củađồng tiền Đảm bảo các khoản thanh toán của công ty bảo hiểm cho gia đình không may có ngườiđược bảo hiểm bị chết, tương ứng với số tiền bảo hiểm khi mới ký hợp đồng
-Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện: Điều kiện ở đây là việc thanh toán trợ cấp chỉ được thực hiện khingười được bảo hiểm bị chết, đồng thời người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định tronghợp đồng phải còn sống
4.1.2_Bảo hiểm nhân thọ trọn đời : (Bảo hiểm trường sinh) Loại hình bảo hiểm này cam kết bảo
hiểm cho người tham gia bảo hiểm đến khi chết
*Đặc điểm chung:
-Thời gian không xác định;
-Số tiền bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết bất cứ lúc nào;
-Phí bảo hiểm của loại hình này thường cao hơn bảo hiểm tử kỳ vì người được bảo hiểm chắc chắn
sẽ chết;
-Loại hình bảo hiểm này thường đóng phí nhiều lần và số phí bảo hiểm đóng mỗi lần không thayđổi
*Mục đích :
-Đảm bảo cuộc sống của gia đình và người thân sau cái chết của người được bảo hiểm;
-Giữ gìn tài sản cho thế hệ sau;
-Mua sắm tài sản cho gia đình và người thân theo kế hoạch đã định trước;
-Là mục đích tiết kiệm
Hiện nay loại hình bảo hiểm này thường có các loại hợp đồng sau:
-BHNT trọn đời phi lợi nhuận
-BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhuận: Loại này thường ứng với một số tiền bảo hiểm nhấtđịnh nào đó
-BHNT trọn đời đóng phí liên tục, mức đóng phí mỗi lần bằng nhau
-BHTN trọn đời đóng phí một lần
Trang 10-BHNT trọn đời quy định số lần đóng phí bảo hiểm
4.2.Bảo hiểm trong trường hợp sống (còn gọi là bảo hiểm sinh kỳ )
Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trả những khoản chiđều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm.Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ mộtkhoản tiền nào
Loại hình bảo hiểm này trước đây được triển khai theo 2 hướng:
-Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý: nhưng lâu nay người ta bỏ vì nó giống với gửi tiền tiết kiệm.-Bảo hiểm trợ cấp định kỳ, còn gọi là bảo hiểm hưu trí tự nguyện (bảo hiểm niên kim nhânthọ)
*Đặc điểm:
-Thời hạn bảo hiểm có thể xác định, có thể không xác định
+Nếu không xác định gọi là niên kim nhân thọ trọn đời
+Nếu xác định gọi là niên kim nhân thọ tạm thời
-Phí bảo hiểm chỉ nộp 1 lần
-Số tiền bảo hiểm được trả nhiều lần (trợ cấp định kỳ)
*Mục đích:
-Đảm bảo cuộc sống khi về già;
-Giảm nhẹ gánh nặng phụ thuộc vào con cái và phúc lợi xã hội Người tham gia bảo hiểm thường lànhững người bước vào độ tuổi về hưu
Loại hình bảo hiểm này phù hợp với những người khi về hưu hoặc những người khôngđược hưởng tiền trợ cấp hưu trí từ BHXH đến độ tuổi tương ứng với tuổi về hưu đăng ký tham gia,
để được hưởng những khoản trợ cấp định kỳ hàng tháng Vì vậy, tên “Bảo hiểm trợ cấp hưu trí”,
“Bảo hiểm tiền hưu”, “Niên kim nhân thọ”…được các công ty bảo hiểm vận dụng hết sức linhhoạt
-Thời hạn bảo hiểm luôn luôn xác định
-Số tiền bảo hiểm được trả 1 lần khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra (chết, hết hạn hợp đồng ngườiđược bảo hiểm vẫn còn sống)
-Phí bảo hiểm nộp định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn hợp đồng
*Mục đích:
-Thực hành tiết kiệm từ ngân sách gia đình để tạo lập quỹ giáo dục con cái và mua sắm tài sản…-Dùng làm vật vay thế chấp, thậm chí vay ngay trên hợp đồng bảo hiểm
Trang 11-Bảo trợ cuộc sống của người thân.
Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro nên hầu hết cácloại hợp đồng, các loại bảo hiểm khác nhau đều được tham gia chia lãi Khách hàng của loại hìnhbảo hiểm này là đông nhất và có thể ở mọi lứa tuổi
4.4.Các điều khoản bổ sung
Các điều khoản bổ sung cho BHNT là rất cần thiết để tiến hành đa dạng hoá sản phẩm vìnếu tách riêng các điều khoản bổ sung thì mức phí rất thấp, không đáng kể Vì vậy nếu triển khai
bổ sung cho loại hình BHNT, mặc dù mức phí co tăng lên đôi chút nhưng khách hàng cảm giácmình được hưởng nhiều quyền lợi hơn vì vậy họ tham gia đông hơn
Nếu khéo léo thiết kế sản phẩm phù hợp thì những điều khoản bổ sung này là một trong những yếu
tố thực hiện cạnh tranh của BHNT
Những điều khoản bổ sung cho 3 loại hình BHNT bao gồm:
-Điều khoản bổ sung bảo hiểm nằm viện và phẫu thuật:có nghĩa nhà bảo hiểm cam kết trả các chiphí nằm viện và phẫu thuật cho người được bảo hiểm khi họ bị ốm đau, thương tích Tuy nhiên nếungười được bảo hiểm tự gây thương tích, tự tử, mang thai, sinh nở …thì không được hưởng quyềnlợi bảo hiểm Mục đích của điều khoản này nhằm trợ giúp người tham gia giảm nhẹ gánh nặng chiphí trong điều trị phẫu thuật, đặc biệt trong các trường hợp ốm đau,thương tích bất ngờ
-Điều khoản bổ sung bảo hiểm tai nạn: Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí trong điều trị thương tật,
từ đó bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị chết hoặc thương tích của người được bảo hiểm.Điều khoản bảo hiểm này có đặc điểm là bảo hiểm khá toàn diện các hậu quả tai nạn như: Ngườiđược bảo hiểm bị tàn phế,thương tật toàn bộ, thương tích tạm thời và bị tai nạn sau đó bị chết.Những trường hợp tự thương, tai nạn do nghiện rượu, ma tuý, tự tử …sẽ không được hưởng quyềnlợi bảo hiểm
-Điều khoản bổ sung bảo hiểm sức khoẻ :Thực chất của điều khoản này là nhà bảo hiểm sẽ cam kếtthanh toán khi người được bảo hiểm bị các chứng bệnh hiểm nghèo như: đau tim, ung thư, suy gan,suy thận, suy hô hấp…Mục đích tham gia bảo hiểm ở đây nhằm có được những khoản tài chínhnhất định để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn và góp phần giải quyết, lo liệu các nhucầu sinh hoạt ngay trong thời gian điều trị
Ngoài ra, trong một số hợp đồng BHNT, các nhà bảo hiểm còn đưa ra những điểm bổ sungkhác như :hoàn phí bảo hiểm, miễn thanh toán phí khi bị tai nạn, thương tật…nhằm tăng tính hấpdẫn để thu hút người tham gia
Mặc dù mức phí cao hơn, nhưng các hợp đồng BHNT có các điều khoản bổ sung đã đáp ứng đượcnhu cầu đa dạng của ngươì tham gia bảo hiểm
II.MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA SẢN PHẨM BHNT
1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA SẢN PHẨM BHNT
Bảo hiểm là một loại hình dịch vụ, vì vậy nó mang những đặc điểm chung của các sảnphẩm dịch vụ, ngoài ra sản phẩm bảo hiểm cũng có những đặc điểm riêng biệt Chính vì những đặcđiểm chung và đặc điểm riêng này nên sản phẩm bảo hiểm được xếp vào loại sản phẩm “đặc biệt”.Bảo hiểm nhân thọ, một mặt nó cũng là một loại hình bảo hiểm do đó nó cũng mang những nét
Trang 12chung của bất kỳ sản phẩm bảo hiểm nào, nghĩa là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng mang nhữngđặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ và những đặc điểm riêng của sản phẩm bảo hiểm Nhữngđặc điểm chung của sản phẩm dịch vụ là:
+Là sản phẩm vô hình: Khi mua bảo hiểm, mặc dù khách hàng nhận được các yếu tố hữu hình đó
là những tờ giấy trên đó in biểu tượng của doanh nghiệp,in tên gọi của sản phẩm, in những nộidung thoả thuận …nhưng khách hàng không thể chỉ ra được màu sắc, kích thước, hình dáng haymùi vị của sản phẩm.Khách hàng cũng không thể “dùng thử” ngay thứ hàng hoá mà họ vừa mua,khách hàng chỉ có thể hình dung ra sản phẩm thông qua sự mô tả và sự hiểu biết của người đại lý.Khi mua sản phẩm bảo hiểm, người mua chỉ nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảmbảo vật chất trước các rủi ro, vì vậy có thể nói sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm vô hình
+Là sản phẩm không thể tách rời và không thể cất trữ: Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời – tức
là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ bảo hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó ( quá trình cung ứng
và quá trình tiêu thụ là một thể thống nhất ) Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm cũng không thể cấttrữ được – có nghĩa là khả năng thực hiện dịch vụ bảo hiểm vào một thời điểm nào đó sẽ không thểcất vào kho dự trữ để sử dụng vào một thời điểm khác trong tương lai Điều này hoàn toàn khácbiệt với sản phẩm hữu hình Đa số các sản phẩm hữu hình có thể sản xuất với số lượng lớn sau đóđược lưu trữ trong kho bán dần Còn các sản phẩm dịch vụ thì không thể cất trữ được
+Tính không đồng nhất: Dịch vụ bảo hiểm cũng như các dịch vụ khác, chủ yếu được thực hiện bởicon người Nhìn chung, chất lượng phục vụ của một cá nhân nào đó tại các thời điểm khác nhau làkhác nhau, với các khách hàng khác nhau là khác nhau.Chất lượng phục vụ này phụ thuộc vào tìnhtrạng sức khoẻ, các yếu tố xung quanh Ngoài ra, giữa các cá nhân khác nhau, chất lượng phục vụcũng khác nhau
+Là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền: Mặc dù trước khi tung một sản phẩm nào đó ra thịtrường, các doanh nghiệp bảo hiểm đều phải đăng ký sản phẩm để nhận được sự phê chuẩn của cơquan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm Tuy nhiên, việc phê chuẩn này chỉ mang tínhnghiệp vụ kỹ thuật chứ không mang tính bảo hộ bản quyền Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng saochép các dạng sản phẩm của các nước, thậm chí của đối thủ cạnh tranh một cách máy móc, trừ tênmình Vì vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, các doanh nghiệp bảo hiểm phải có các biện pháp nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ
Bên cạnh đó, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng có những đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm, đó là:+Là sản phẩm không mong đợi : Điều này thể hiện ở chỗ, đối với các sản phẩm mang tính bảohiểm thuần tuý, mặc dù đã mua sản phẩm – nhưng khách hàng đều không muốn rủi ro xảy ra đểđược doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm Bởi vì rủi ro một khi đã xảy ra thìđồng nghĩa với thương tích, thiệt hại thậm chí là mất mát, do đó số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểmbồi thường, chi trả khó có thể bù đắp được Đặc tính này cũng làm cho việc giới thiệu, chào bánsản phẩm trở nên vô cùng khó khăn
+Là sản phẩm có chu trình sản xuất ngược: Đối với các sản phẩm khác, căn cứ vào chi phí thực tế
có thể tính được giá thành, giá bán của sản phẩm, qua đó thấy ngay được kết quả hoạt động Nhưngđối với sản phẩm bảo hiểm, việc xác định giá bán hoàn toàn dựa trên các số liệu giả định về các tổnthất xảy ra trong quá khứ do đó tại thời điểm bán sản phẩm chưa thể xác định ngay được kết quả
Trang 13hoạt động do thực tế xảy ra có thể không như dự kiến, đặc biệt nếu thiệt hại xảy ra trầm trọng, tổnthất liên tục.
+Là sản phẩm có hiệu quả xê dịch: Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp có quyền thuphí của người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm; sau đó nếu có các sự kiện bảo hiểmxảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm mới phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường hay chi trả Do vậy, vớiviệc thu phí trước, nếu không có hoặc ít rủi ro xảy ra, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn
dự kiến Ngược lại, nếu rủi ro xảy ra với tần suất hoặc quy mô lớn hơn dự kiến, doanh nghiệp bảohiểm có thể thua lỗ
Về phía khách hàng, hiệu quả từ việc mua sản phẩm cũng mang tính xê dịch – không xácđịnh Điều này xuất phát từ việc không phải khách hàng nào tham gia bảo hiểm cũng “được nhận”
số tiền chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm ( trừ trường hợp mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọmang tính tiết kiệm ) Nói cách khác, khách hàng chỉ thấy được “tác dụng” của sản phẩm khi sựkiện bảo hiểm xảy ra với họ
Ngoài những đặc điểm trên, sản phẩm BHNT cũng có những đặc trưng riêng sau:
+Thời hạn bảo hiểm dài, thường là 5 năm, 10năm, 20 năm hoặc suốt cả cuộc đời
+Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạnkhác nhau lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi người thamgia…
+ Các sản phẩm BHNT thường là những sản phẩm bán lẻ là chủ yếu
2.ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ TRỌN ĐỜI
Nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời là nhóm sản phẩm bảo hiểm truyền thống, mang tính tiết kiệm và đã có mặt trên thị trường thế giới từ gần 100 năm Do cũng là sản phẩm bảohiểm nên nhóm sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời vẫn mang đầy đủ những đặc tính của sản phẩm dịch vụ và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ như đã nêu trên Bên cạnh đó, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời cũng có một số đặc điểm riêng khác các nhóm sản phẩm nhân thọ khác, đó là:
-Sản phẩm bảo hiểm này có thời hạn bảo hiểm không xác định trước Phương châm của người bảo hiểm ở đây là: “Bảo hiểm đến khi chết” Tuy nhiên, có một số trường hợp loại hình bảo hiểm này còn đảm bảo chi trả cho người được bảo hiểm ngay cả khi họ sống đến 100 tuổi
-Số tiền bảo hiểm được chi trả bất cứ khi nào người được bảo hiểm bị tử vong
-Do thời hạn bảo hiểm dài nên phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xảy ra, nên số tiền bảo hiểm chắc chắn phải chi trả
-Phí bảo hiểm có thể đóng theo nhiều hình thức như đóng một lần, hoặc đóng định kỳ.Đối với trường hợp phí nộp một lần thì phí thuần trong trường hợp này cũng được tính theonguyên lý cân bằng giữa (số thu) và (số chi) tại thời điểm tham gia bảo hiểm
Công thức tính phí thuần trong trường hợp này như sau:
b x
m
j x
l
i
d f
)1(1
Trang 14Trong đó:
Sb : Số tiền bảo hiểm
lx : số người sống ở độ tuổi người tham gia bảo hiểm
i : lãi suất kỹ thuật
n : Thời hạn bảo hiểm
d(x+j-1) : Số người chết ở độ tuổi (x+j -1) đến (x+j)
m : là độ tuổi cuối cùng của bảng tỉ lệ tử vong sử dụng tính phíĐối với trường hợp phí thuần nộp hàng năm trong bảo hiểm nhân thọ trọn đời, việc tính phívẫn dựa trên nguyên tắc cơ bản là cân bằng thu-chi
Ta có công thức tính phí thuần năm như sau:
b j k
j x i
m
j x
i l
i
d f
) 1 ( 1
) 1 ( 1
0
1
) 1 (
x c d
i l
l f f