1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang đài loan của công ty cổ phần đầu tư và thương mại

95 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 419,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khái niệm cơ bản: Trong khoảng 20 năm trở lại đây việc đưa lao động của một quốc gia rakhỏi phạm vi của nước đó để làm việc đã trở nên quen thuộc với số lượng ngàycàng tăng.Đó là

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, với xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, ViệtNam đang trên đà đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - chính trị nhằm tìm kiếm chomình một chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế

Hoạt động xuất nhập khẩu hiện nay đang được đặc biệt chú trọng bởi nómang lại cho nền kinh tế - xã hội nước ta những bước chuyển mới với hiệu qủa

rõ rệt Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: gạo, càphê, giày dép, thuỷ sản, may mặc thì hoạt động xuất khẩu lao động lại đặc biệtđược quan tâm trong thời gian gần đây Đảng và Nhà nước ta đã coi hoạt độngxuất khẩu là một hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần phát triển nguồn nhân lực,giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người laođộng, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc

tế giữa nước ta với các nước

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xuất khẩu lao động còn gặpphải những khó khăn, thách thức mới Nhu cầu về việc làm của người lao động

và lợi ích quốc gia đòi hỏi Nhà nước và chính bản thân người lao động phải cónhững cố gắng, giải pháp riêng để không ngừng nâng cao hiệu qủa và mở rộngchương trình làm việc với người nước ngoài để ngày càng có thêm nhihều thịtrường mới để xuất khẩu lao động đạt kết qủa cao

Để đi sâu nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động, em đã chọn đề tài

"

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài Loan của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại" làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của

mình Nội dung chuyên đề được chia làm 3 chương:

Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu lao động

Chương II: Thực trạng xuất khẩu lao động ở Công ty cổ phần Đầu tư

và Thương mại.

Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu

lao động ở Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại trong những năm tới.

Trang 2

Đây là một đề tài khá mới mẻ nên trong quá trình tìm hiểu, xây dựng đềtài em đã gặp không ít khó khăn, nhưng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo

TS Thân Danh Phúc, cùng với các anh chị ở phòng xuất khẩu lao động và

chuyên gia của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại, cũng như qua quá trìnhtìm tòi các tài liệu phục vụ cho chuyên đề, em đã xây dựng nên một chuyên đềhoàn chỉnh Tuy nhiên, với thời gian, trình độ còn hạn chế và kinh nghiệm thực

tế chưa nhiều, em mong có sự góp ý của các thầy cô giáo về những thiếu sót emmắc phải

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2005

Sinh viên thực hiện

Phạm Diễm Ngọc

Trang 3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

I NỘI DUNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:

1 Một số khái niệm cơ bản:

Trong khoảng 20 năm trở lại đây việc đưa lao động của một quốc gia rakhỏi phạm vi của nước đó để làm việc đã trở nên quen thuộc với số lượng ngàycàng tăng.Đó là do sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có nhữngchuyển biến về chất và không đoòng đều giữa các nước dựa trên cơ sở phát triểnmạnh của khoa học kỹ thuật.Thực tế cho thấy, sức lao động của các quốc gia có

dư thừa lao động đến giai đoạn hiện nay đã được xem như là một loại hàng hoá

có thể mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho ngân sách quốc gia

Do vậy để nghiên cứu về xuất khẩu lao động trước hết cần phải tìm hiểu và làm

rõ các khái niệm có liên quan:

- Nguồn lao động: Là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi lao

động (không kể những nguời mất khả năng lao động) và những ngưòi ngoài tuổilao động nhưng thực tế có tham gia lao động Nguồn lao động bao gồm nhữngngười từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi)

- Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay

đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vậnđộng của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, laođộng cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sảnxuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.Có thể nói lao động là yếu tố quyếtđịnh cho mọi hoạt động kinh tế

- Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người

trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của conngười, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội Trong nềnkinh tế hàng hoá sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị

Trang 4

có tư duy, có đời sống tinh thần Thông qua thị trường lao động, sức lao độngđược xác định giá cả Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầucủa thị trường Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động(tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu laođộng, giá cả sức lao động sữ trở nên cao hơn.

- Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử

dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trườnglao đông Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc phảithông qua thị trường lao động Về mặt thuật ngữ, "Thị trưòng lao đông" thựcchất phải được hiểu là "Thị trường sức lao động" để phù hợp với khái niệm của

tổ chức lao động quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế,

nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán,trao đổi và thuê mướn sức lao động Trên thị trường lao động, mối quan hệ đượcthiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động.Qua đó, cung-cầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiềncông lao động cũng ảnh hưởng tới cung- cầu lao động

+ Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mứcgiá có thể chấp nhận được Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể muađược hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặtra

Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá

cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng

+ Cung lao động: là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhậnđược ở mỗi mức giá nhất định Giống như cầu và lượng cầu, đường cung laođộng mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giáđặt ra Cung lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả Khi giá cả tăng thì lượngcung lao động tăng và ngược lại

Trang 5

Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủyếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động Nó chịu sự tác động, điều tiết của cácquy luật kinh tế thị trường Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhậpkhẩu lao động từ đod cần phải xác định chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất lượnglao động hợp lý Mặt khác, bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều laođộng càng tốt Do vậy, muốn cho loại hàng hoá đặc biệt này chiếm đựơc ưu thếtrên thị trường lao động, bển cung phải có sự chuẩn bị và đầu tư để được thịtrường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số lượng, cơ cấu và chấtlượng lao động cao.

Thị trường lao động nước ta hiện nay tuy đã hình thành song phạm vi cònnhỏ hẹp Để phù hợp với sự phát triển quá nhanh của nguồn lao động trước hếtthị trường lao động phải được mở rộng cả trong và ngoài nước, đồng thời tạođiều kiện cho người lao động có quyền bình đẳng, tự do tìm việc làm, thuêmướn lao động theo pháp luật

- Di dân quốc tế: Di dân quốc tế được hiểu là quá trình di chuyển lao

động từ nước này sang nứoc khác để tìm việc làm Nếu xét theo khía cạnh dân

số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế Do đó,việcđưa nguời lao động đi làm việc ở nước ngoài chính là tham gia vào quá trình didân quốc tế, nó không nằm ngoài những quy luật chung Việc đưa người laođộng đi làm việc ở nước ngoài tuân theo những hiệp định giữa hai quốc gia, đaquốc gia hoặc theo công ước quốc tế, tuỳ từng trường hợp khác nhau mà nóđược xếp nằm trong giới hạn nào

- Xuất khẩu lao động:

Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về xuất khẩulao động Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao động thông qua khái niệmcủa tổ chức lao động quốc tế ( ILO) như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt độngkinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia

Trang 6

trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hượp pháp quy định được

sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động

Phân loại xuất khẩu lao động:

Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:

Lao động có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đãđược đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nướcngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian

và chi phí để tiến hành đào tạo nữa

Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việcchưa được đào tạo một loại nghề nào cả Loại lao động này thích hợp với nhữngcông việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cầnphải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng

Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:

Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sangcác nước đang phát triển để thu ngoại tệ Trường hợp này không phải là chảymáu chất xám mà là đầu tư chất xám có mục đích Việc đầu tư nhằm một phầnthu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần kháclớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kỹ thuậtbậc cao ở nước ngoài v.v để thu ngoại tệ

Nhóm các nước đang phát triển: có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặcbậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảmbớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước

2 Các hình thức xuất khẩu lao động:

Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả người laođộng và phía Nhà nước Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước ta đã khôngngừng đưa ra những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người lao động có

cơ hội đi làm việc ở nước ngoài Ngày 17 tháng 7 năm 2003 Chính phủ đã banhành Nghị định số 81/2003/NĐ-CP quy định chi tiết về việc đưa người Việt

Trang 7

Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Tại điều 3 khoản 2 Nghị định nàyquy định rõ các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm viẹec có thời hạn

ở nước ngoài, trong đó bao gồm các hình thức cơ bản sau:

2.1 Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động theo hợp đồng ký kết với bên nước ngoài:

Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu cụthể về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính Các doanh nghiệp, tổ chức kinh

tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước ngoài sẽ tiếnhành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn Để đảm bảo đúng yêu cầu củamình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trước khi lao động sanglàm việc

2.2 Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài.

Bên nước ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đưa điđồng bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công vàlao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc Sau khi công trình kết thúc thì cũngchấm dứt hợp đồng đối với người lao động, vì thế xuất khẩu lao động theo hìnhthức khoán khối lượng công việc thường không ổn định, tâm lý của người laođộng dễ bị chán nản, không tận tâm với công việc

2.3 Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với người sử dụng lao động ở nước ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá nhân):

Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tượnglao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc Có nhữngyêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệmsản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ cần người laođộng có trình độ giản đơn

Ngoài những hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nướcngoài, hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ cũng đã trở nên phổ biến hơn ở Việt

Trang 8

Nam Thông qua các tổ chức kinh tế của ta, người lao động được cung ứng chocác tổ chức kinh tế nước ngoài dưới những hình thức:

- Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Các khu chế xuất, khu công nghiệp

- Các tổ chức, cơ quan ngoại giao tại Việt Nam

3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động:

Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt

được hiệu quả đó ( Hiệu quả = kết quả - chi phí ) Có hai loại hiệu quả là hiệu

quả kinh tế và hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt được về mặtkinh tế, còn hiệu quả xã hội là hiệu quả đạt được về mặt xã hội Đây là kháiniệm chung để đánh giá hiệu quả, tuy nhiên khi đi vào từng lĩnh vực cụ thể thìviệc đánh giá hiệu quả không đơn giản chút nào, đặc biệt là trong lĩnh vực xuấtkhẩu lao động này Bởi vì để có thể đánh giá chính xác, đầy đủ và đúng hiệu quảkinh tế xã hội ở từng thị trường cụ thể thì chúng ta cần phải đánh giá toàn bộ,toàn diện một cách tổng hợp những kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong quátrình hoạt động đó, đồng thời, phải xem xét hiệu quả của nó trên cơ sở lợi íchchung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nước ta Qua đó một lần nữa thấy rõhơn việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài trong mối liên hệ chung của nềnkinh tế đất nước quan trọng như thế nào bởi lẽ kết quả cuối cùng của lĩnh vựcnày được chuyển từ chu trình này sang một chu trình khác, từ ngành này sangngành khác, từ nước này sang nước khác Với quan điểm như vậy, đánh giáhiệu quả của lĩnh vực này không thể giống như việc đánh giá hiệu quả của mộtquá trình kinh doanh cụ thể trong nước mà không có phần phức tạp hơn nhiều

Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của xuất khẩu lao động

3.1 Lợi ích kinh tế đạt được

a Số lượng lao động được giải quyết việc làm trong năm:

Công thức tính:

L = Lc + Lx - Ln

Trang 9

Trong đó:

L : Số lao động được giải quyết việc làm trong năm

Lc : Số lao động từ năm trước vẫn còn đang tiếp tục

Lx : Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm

Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nước trong năm

Ý nghĩa của chỉ tiêu:

Chỉ tiêu này nêu ra được chi tiết kết quả đạt được trong một năm qua củacông tác xuất khẩu lao động Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực nàyđối với việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không phải bỏvốn đầu tư để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng lao độngcủa đất nước ( mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người lao độngnày không phải tất cả đều thuộc diện thất nghiệp)

b Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động:

Công thức tính:

P = Yj ( j = 1 đến n )

Yj = Xij Kj

Trong đó:

P : Mức thu của nhà nước

Y: Mức thu của nhà nước ở mỗi thị trường

n : Số thị trường đưa lao động sang

j : Nước đưa lao động sang

K : Tỷ số hối đoái quy đổi ra ngoại tệ quy ước

X : Thuế thu nhập mỗi người phải đóng

Ý nghĩa chỉ tiêu:

Chỉ tiêu này cho biết số tiền nhà nước thu được thông qua xuất khẩu laođộng Vấn đề ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa tolớn Tất cả các hoạt động có thể đem về ngoại tệ cho đất nước cần được khuyến

Trang 10

thuận lợi cho các hoạt động thu ngoại tệ như phát triển du lịch, cung ứng tàubiển, dịch vụ hàng không, tổ chức gia công hàng xuất khẩu và đưa lao động đilàm việc ở nước ngoài là những hình thức thích hợp với hàng triệu người laođộng dư thừa hiện nay Khả năng hợp tác lao động với nước ngoài của nước ta làrất lớn, nếu chúng ta biết tổ chức và khai thác hết những tiềm năng đó trongquan hệ kinh tế đối ngoại thì sẽ thu đựơc nguồn ngoại tệ đáng kể thúc đẩy sảnxuất phát triển.”

c Mức tiết kiệm đầu tư vào việc làm của chính phủ:

Công thức tính:

Mtk = mdt L

Trong đó:

Mtk : Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo ra việc làm

m dt : Mức đầu tư trung bình tạo ra một chỗ làm việc mới

L : Số người có việc làm thường xuyên ở nước ngoài

Ý nghĩa chỉ tiêu:

Cho biết mức độ tiết kiệm không phải bỏ vốn đầu tư tạo ra chỗ làm việcmới ở trong nước và đồng nghĩa với việc tăng thêm nguồn vốn đầu tư cho giảiquyết việc làm

d Giá trị hàng hoá do người lao động đưa về:

Công thức tính:

G = Hj ( j = 1 đến n )

Hj = ∑ hij Nj

Trong đó:

G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về

H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về

h : Giá trị hàng hoá trung bình của một người lao động đem về

N : Số người gửi hàng hoá về trong năm

Trang 11

g: Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài bổ sung vào thu nhập quốc dân:

P : Các khoản phải nộp của mỗi người lao động

V : Thu nhập của người lao động sau khi đã khấu trừ phần phải nộp

k : Tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ

Ngoài các chỉ tiêu có thể lượng hoá được để so sánh nói trên còn có một

số chỉ tiêu khác cũng có thể lượng hoá được như số lao động có nghề được đàotạo nâng cao trình độ, mức tiết kiệm chi phí đào tạo trên một người lao động song nói chung còn ở mức thấp Một số khía cạnh khác như việc du nhập kỹ

Trang 12

tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế phản ánh hiệu quả về mặt xã hội.

3.2 Chi phí bỏ ra:

Bao gồm có các chi phí cho người lao động trong lĩnh vực tham gia, chiphí cho bộ máy quản lý, tổ chức tuyển mộ, đưa đi và quản lý ở nước ngoài, xử lýcác công việc sau khi đưa người lao động hết hạn trở về nước, tiền nộp phạt chonước bạn do người lao động tự ý bỏ hợp đồng

Chi phí về mặt xã hội có ý kiến cho rằng còn có những tiêu cực do laođộng gây ra ở nước ngoài Song những cái đó là yếu tố chủ quan có thể khắcphục được nếu có biện pháp và chính sách thích hợp

II Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế:

Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia,đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển Hoạt động này đem lại lợi íchcho tất cả các bên tham gia: bên xuất khẩu lao động, bên nhập khẩu lao động vàbản thân người lao động

1 Xét trên góc độ vĩ mô:

1.1 Với nước xuất khẩu lao động:

Nước xuất khẩu lao động có lợi về nhiều mặt trong đó đặc biệt là các lĩnhvực: Kinh tế, xã hội, quan hệ đối ngoại

- Về kinh tế: Xuất khẩu lao động có vai trò đặc biệt trong hoạt động kinh

tế Trước hết, nó góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người laođộng Có thẻ nói, xuất khẩu lao động giữ một vị trí rất quan trọng trong chươngtrình việc làm quốc gia, nếu không nói là chủ yếu trong chiến lược giải quyếtviệc làm, đây là một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhànước ta đặt ra tới năm 2010 sẽ xoá hết đói nghèo Kinh nghiệm từ một số nướccho thấy, xuất khẩu lao động là một giải pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp

có hiệu quả cao Theo ILO, tính đến năm 1999 có 920 triệu người trên thế giớithất nghiệp và thiếu việc lam Trong đó, các nước thuộc khối G7 có khoảng 45

Trang 13

triệu lao động thất nghiệp Điều đó đã gây nên tình trạng giảm sút tăng trưởngkinh tế cao.Để khắc phục tình trạng này, các nước đã thành công bằng sử dụnggiải pháp xuất khẩu lao động.

Bên cạnh những đóng góp trên, xuất khẩu lao động còn đem lại nguồn thungoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế dovậy rút ngắn khoảng cách giàu- nghèo giữa nước phát triển và nước đang pháttriển

Xuất khẩu lao động cũng là một kênh đem lại một nguồn thu nhập quantrọng cho đất nước Theo ước tính, số lao động xuất khẩu năm 2004 đã gửi vềcho gia đình khoảng 1,5 tỷ USD, bình quân mỗi lao động khoảng 3.750 USDhay 302,5 USD một tháng, cao gấp nhiều lần phần dôi ra sau khi trừ đi chi tiêucho ăn uống của lao động trong nước Một tỷ rưỡi USD tuy chưa thấm tháp gì sovới Philippines (số tiền gửi qua kênh chuyển tiền chính thức là trên 7 tỷ USD,còn theo ước tính của ADB tính thêm cả kênh chuyển tiền không chính thức thìtổng số lên đến 14 – 21 tỷ USD, chiếm 32%GDP của nước này), nhưng đãchiếm khoảng 3,3% GDP của cả nước và tương đương với nguồn vốn ODA giảingân trong năm

- Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số

người trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến5,6% và số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuấtkhẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ýnghĩa Trong mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi năm

đã lên đến trên dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng 400 nghìn ngườiViệt Nam đang làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ Song nếu sovới Philippines có cùng số dân và số người trong tuổi lao động như Việt Nam thìkết quả trên còn thấp hơn rất nhiều Năm 2004, nước này đã có 1 triệu lao động

đi làm việc ở nước ngoàI, đưa Philippines vượt qua Mexico trở thành nước xuấtkhẩu lao động lớn nhát thế giới Cho đến nay, nước này có khoảng 8 triệu lao

Trang 14

động làm việc ở 56 nước, đông nhất là tại Mỹ, ả Rập Saudi, Malayxia, Canada,Nhật Bản…

Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội dothất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học tậpđược phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang bị

- Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh

vực xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cungứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn, tao

ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Cung cấp cho nhau những thông tin quantrọng về những vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm hai bêncùng có lợi Sự đa dạng hoá các quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng thôngqua hợp tác về lao động sẽ tạo điêù kiện mở rộng hơn nữa các quan hệ hợp táckhác

1.2 Với nước nhập khẩu lao động:

Nước nhập khẩu lao động thu được những lợi ích đáng kể như: cung cấp

đủ số lao động bù đắp vào các ngành thiếu hụt, khai thác có hiệu qủa tiềm năngcủa đất nước Đồng thời, mở rộng quan hệ và uy tín với nước có lao động, khaithác kinh nghiệm, kiến thức, tác phong lao động và cung ccáh quản lý của nướckhác, mở rộng nhu cầu thị trường trong nước

Ngoài ra xuất khẩu lao động cũng góp phần giả quyết nhu cầu lao độngđặc biệt là trong các lĩnh vực mà lao động địa phương ít tham gia tại nước tiếpnhận lao động

2 Xét trên góc độ vi mô:

2.1 Với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lao động:

- Xuất khẩu lao động là một bộ phận của xuất khẩu do vậy các doanhnghiệp tham gia trong lĩnh vực này phải tìm hiểu kỹ về nền văn hoá, phong tụctập quán của nước nhập khẩu, đây là tiền đề tốt trong quá trình hội nhập quốc tế

Trang 15

- Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động là đã tham gia hiệu quả vàochương trình quốc gia giải quyết việc làm đồng thời thực hiện một phần thoảthuận hợp tác giữa hai chính phủ.

- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động làm ăn có hiệu quả sẽ thực hiện nghĩa

vụ với ngân sách Nhà nước

Tuy nhiên một vấn đề bức xúc đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay đó làtình trạng ngày càng có nhiều lao động không thực hiện hợp đồng đã ký.Việcnày có thể gây ảnh hưởng lớn đối với uy tín của doanh nghiệp cũng như sự ổnđịnh trên thị trường hiện tại và tiềm năng

2.2 Với bản thân người lao động:

- Người đi xuất khẩu lao động có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi đóinghèo cải thiện mức sống của bản thân và gia đình

- Người lao động có thể tiếp thu kỹ năng làm việc, quản lý, tích luỹ trình

độ tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn để tự tạo việc làm sau khi về nước

III MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA PHILIPPINE VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:

1 Khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động:

Hiện nay có rất nhiều người Philippine đi làm việc ở nước ngoài do nhiềunước có nhu cầu về lao động Tuy nhiên nếu không có những chính sách cụ thểcủa Chính phủ thì người lao động có thể bị đưa đi không chính thống và có thể

bị bóc lột 10 năm trước đây Philippine đã đặt tất cả các vấn đề lên bàn để xemxét với mục đích làm sao tạo điều kiện để nguời lao động được đi làm việc ởnước ngoài một cách thuận lợi.Trong đó làm rõ vai rò của Chính phủ và các bên

có liên quan

Ở Philippine nhiệm vụ của Nhà nước là tối đa hoá lợi ích của người laođộng Việc này khó được thực hiện ở khu vực tư nhân Với chính sách hiện nayngười dân tin tưởng rằng Chính phủ luôn bảo vệ quyền lợi của người lao động ởnước ngoài và cố gắng giảm thiểu chi phí đối với bản thân họ, cho gia đình họ

và cho đất nước

Trang 16

Philippine có cơ chế là phải tạo mọi điều kiện và thủ tục một cách rõ ràng,đầy đủ, có hệ thống đối với tất cả những người lao động có hợp đồng làm việc ởnước ngoài Đồng thời cần bảo vệ họ một cách đầy đủ để giảm thiểu sự lạmdụng, khai thác cả trước, trong và sau quá trình làm việc tại nước ngoài.

2 Việc cấp giấy phép kinh doanh:

Thách thức lớn đối với Chinh phủ trong việc cấp giấp phép kinh doanh làlàm thế nào để hấp dẫn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham giavào thị trường này

Chính phủ Philippine thực hiện một chính sách rất nghiêm khắc trong việcquy định số vốn ban đầu và số lượng lao động mà doanh nghiệp xuất khẩu trongnăm đầu tiên hoạt động,dựa vào đó Chính phủ có thể cấp giấy phép cho họ vớicác thờ hạn khác nhau Bên cạnh đó Chính phủ cũng quản lý khoản tiền ký quỹkhi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh cho các mục đích: nếu doanh nghiệpkhông đảm bảo đưa lao động đi hoặc đưa lao động đi nhưng không đảm bảođiều kiện cho họ hoặc thu phí của người lao động quá cao hoặc khi Chính phủphát hiện doanh nghiệp đã thu lợi quá mức so với mức trung bình làm cho ngườilao động không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng khi chưa hết thời hạn thì khôngcần phải chờ đợi gì, Chính phủ sẽ điều tiết khoản tiền này để trả lại cho ngườilao động

Kinh nghiệm thực tế cho thấy cả Chính phủ, chủ sử dụng lao động vàngười lao động đều có "danh sách đen" Tức là danh sách liệt kê những doanhnghiệp hoạt động có vấn đề, không theo đúng các quy định qua đó họ sẽ biết và

cố gắng tránh những khó khăn, phiền toái xảy ra khi thực hiện hợp đồng

3 Hệ thống thưởng phạt:

Chính phủ rất quan tâm các hoạt động khen thưởng và đưa ra các mứcthưởng cho các doanh nghiệp làm tốt Khi làm các thủ tục khen thưởng, cácdoanh nghiệp không cần phải xuất trình hợp đồng vì họ đã được xác nhận và đã

có kết quả thanhf công của người lao động Điều quan trọng là nếu doanh

Trang 17

nghiệp nào thành công sẽ được Chính phủ đưa vào danh sách khen thưởng Điềunày rất có ích cho doanh nghiệp vì nếu như một công ty hoặc một quốc gia nàocần tìm hiểu các doanh nghiệp tốt thì Chính phủ giới thiệu với họ danh sách cácdoanh nghiệp có uy tín Như vậy doanh nghiệp sẽ có điều kiện kinh doanh tốthơn, cũng như doanh nghiệp sẽ có điều kiện để gia hạn giấy phép dễ dàng hơn.Danh sách các doanh nghiệp hoạt động tốt và có uy tín cũng được đưa lên cácbáo cáo của Chính phủ.

4 Các dịch vụ cung cấp cho người lao động làm việc ở nước ngoài:

Để đảm bảo phúc lợi cho người lao động Chính phủ Philippine đã có cácdịch vụ hỗ trợ như sau:

- Ngoài các cán bộ phúc lợi làm việc tại đại sứ quán, chúng tôi xây dựngcác trung tâm cung cấp dịch vụ ngay tại khu vực có người lao động làm việc ởcác trung tâm, hàng ngày có các bác sĩ, cán sự xã hội làm việc và hỗ trợ chongười lao động

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về những người lao động đang làmviệc nước ngoài tại đại sứ quán Philippine ở mỗi nước nơi có lao động đế làmviệc là rất quan trọng, vì qua đó cơ quan quản lý mới biết cụ thể người lao độngđang ở đâu và làm việc gì trên cơ sở đó mới quan tâm họ sâu sát được Việcđăng ký danh sách này có tác dụng giảm thiểu các rủi ro với người lao động Đểlàm được việc này, các doanh nghiệp cần phải thông báo với người lao độngrằng khi sang đến nước ngoài, họ phải đến đại sứ quán Philippine ở đó để đăng

ký và cung cấp cho họ địa chỉ và thông tin về đaị sứ quán để người lao độngbiết

- Xây dựng mạng liên kết điện tử kết nối với hiệp hội người lao độngPhilippine Thông qua mạng này các ngân hàng cũng giúp người lao độngchuyển tiền về nước cho gia đình Như vậy việc đưa lao động sang nước ngoàilàm việc không chỉ đơn giản tạo việc làm mà còn đem laị lợi ích cho nhiềungành khác có liên quan

Trang 18

- Để tăng cường bảo vệ người lao động không bị môi giới đưa đi bất hợppháp hoặc chịu nhiều khó khăn thiệt thòi chúng tôi đã lập chiến dịch thông tinđại chúng để tuyên truyền cho tất cả người dân biết thực trạng về vấn đề đưa laođộng đi làm việc ở nước ngoài và địa chỉ các doanh nghiệp đáng tin cậy Cũngnhư chiến dịch chống việc đưa người và tuyển người bất hợp pháp Đây là vaitrò mang tính quản lý Nhà nước, đòi hỏi các bộ có liên quan, đặc biệt là Bộ Laođộng cần tham gi avào hoạt động này.

- Để thu hút người lao động trở về đất nước, Chính phủ đã tạo điều kiệncho họ thông qua chương trình đào tạo lại, chương trình nhà ở, chương trình họcbổng cho con em họ

- Có chính sách ưu tiên những người lao động ra nước ngoài làm việc hơn

là những người đi du lịch như miễn thuế sân bay, thuế du lịch cho họ

5 Vấn đề tạo uy tín cho chất lượng giáo dục:

Kinh nghiệm 30 năm cho thấy ngày càng có nhiều khó khăn trong lĩnhvực đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Đó là vấn đề cạnh tranh Chính vìvậy vấn đề đặt ra là cần xây dựng và quảng bá về chất lượng người lao động củachúng ta Muốn vậy trước tiên phải xác định người lao động ở nước mình có thểlàm được những việc gì Sau đó tăng cường đào tạo để nâng cao chất lượng vàtăng tính cạnh tranh Bên cạnh đó cũng cần trang bị ngoại ngữ cho người laođộng Cho đến nay tiếng Anh vẫn là ngoại ngữ cần đầu tư Một số đối tác ở cácnước, họ yêu cầu phải có xác nhận về tay nghề mà người lao động cần phải đápứng

6 Hiệp hội các doanh nghiệp và phương thức hoạt động:

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân có tiếng nói cũng nhưcùng phối hợp với Chính phủ đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, họthành lập các hiệp hội của các doanh nghiệp tư nhân Hiệp hội này có hệ thốngthống nhất từ trên xuống dưới Tất cả các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc

ở nước ngoài đều gia nhập hiệp hội lao động ngoài nước Philippine Bên cạnh

Trang 19

các hiệp hội chung còn có các hiệp hội chuyên môn như Hiệp hội lao động làmviệc ngoài khơi, Hiệp hội xuất khẩu lao động vui chơi giải trí , hoặc có nhữnghiệp hội theo vùng, khu vực Ví dụ như Hiệp hội xuất khẩu lao động Nhật Bản,Hiệp hội xuất khẩu lao động Hồng Kông Hiện nay, ở Philippine có khoảng 30-

40 hiệp hội lớn, nhỏ

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI

I THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐÀI LOAN:

1 Giới thiệu đất nước Đài Loan:

Đài Loan là hòn đảo đẹp nằm cách bờ biển Đông Nam lục địa Trung Hoakhoảng 160 km.Nó được ngăn cách với tỉnh Phúc Kiến của lục địa Trung Hoa

Trang 20

bởi eo biển Đài Loan Phí Nam hòn đảo này cách phía Bắc Phillipine 350 km.Phí Bắc Đài Loan cách Tây - Nam Nhật Bản 1.070 km.

Đài Loan bao gồm 64 đảo lớn nhỏ của quần đảo Bành Hồ và 21 đảokhác Tổng diện tích khu vực này trên 35.960 km2 (chưa kể vùng đất khai hoanglấn biển)

Khí hậu Đài Loan là khí hậu cận nhiệt đới ở phía Bắc và nhiệt đới ở phíaNam.Thời tiết nóng nhất là từ tháng 6 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bìnhkhoảng 25-28 C Lượng mưa rất dồi dào Nửa phía Bắc của đảo mưa lớn kéo dài

từ đầu tháng 10 đến tháng 3 năm sau Trong khi đó khu vực phía Nam đảo lại

ấm áp về mùa đông Tình hình thời tiết sẽ ngược lại, vào mùa hè khi gió mùaTây - Nam đem mưa đến phía Nam thì thời tiết lại nóng, khô đều ở phía Bắc

Dân số Đài Loan có trên 23 triệu người Thủ phủ là Đài Bắc, nơi có mật

độ dân số cao nhất, tiếp sau đó là thành phố Cao Hùng ở phía Nam Gần 60%dân số Đài Loan tập trung ở 4 thành phố lớn: Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung vàĐài Nam

Đài Loan sử dụng tiếng phổ thông (tiếng Hoa) trong ngôn ngữ hànhchính Tuy nhiên tiếng Phúc Kiến và tiếng Hẹ được sử dụng khá phổ biến tronggiao tiếp hàng ngày

Tôn giáo thịnh hành ở Đài Loan là Phạt giáo với khoảng 4,9 triệu phật tử.Bên cạnh đó Thiên Chúa giáo cũng có ảnh hưởng rất lớn với gần 30 vạn tín đồ,

và hơn 40 vạn tín đồ đạo Tin lành Đạo Hồi cũng đã xuất hiện ở Đài Loan

Đài Loan có vị trí địa lý khá gần Việt Nam Từ Hà Nội hoặc Thành phố

Hồ Chí Minh đi Đài Loan chỉ mất khoảng 3-4h Bay Do đó thời tiết, khí hậucũng khá gần với thời tiết, khí hậu của miền Bắc Việt Nam Về phong tục, tậpquán, sinh hoạt của người Đài Loan cũng có những nét tương đồng với nước ta,cũng mang sắc thái của nền văn hoá Á Đông

2 Thực trạng lao động nước ngoài tại Đài Loan:

Trang 21

Để giảm bớt tình trạng thiếu nhân lực, từ năm 1989, Đài Loan chính thứcnhận lao động nước ngoài vào làm việc Nền kinh tế tăng trưởng ở mức trên 6%

và tỷ lệ thất nghiệp dao động ở mức 3% trong hàng chục năm (riêng năm 2001

tỷ lệ này trên 4%), cùng với việc phát triển mạnh cơ sở hạ tầng, Đài Loan phảiđối mặt với sự khan hiếm nhân lực đặc biệt trong ngành xây dựng

Trong hơn 10 năm gần đây, thanh niên Đài Loan không còn thích thú vớinghề xây dựng và sản xuất, họ hướng vào các hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ

Để đáp ứng yêu cầu về lao động cho phát triển kinh tế và trật tự hoá việc

sử dụng lao động nước ngoài, tháng 5 năm 1992, Đài Loan đã công bố LuậtDịch vụ việc làm Theo điều 43 luật này, Đài Loan cho nhận lao động nướcngoài với các ngành nghề như sau:

- Chuyên gia và cán bộ kỹ thuật

- Hoa kiều hoặc người nước ngoài giữ trách nhiệm quản lý các công ty cóvốn đầu tư nước ngoài tại Đài Loan

- Cán bộ giảng dạy tại các trường đại học hoặc các cơ sở giáo dục

- Giáo viên dạy tiếng nước ngoài

- Huấn luyện viên và vận động viên thể dục thể thao

- Công việc về tôn giáo, nghệ thuật và biểu diễn

- Người giúp việc gia đình và khán hộ công

- Nhân lực trong các công trình xây dựng và phát triển kinh tế

- Các công việc theo dự án riêng của cơ quan quản lý trung ương, do tínhchất công việc đặc biệt, trong nước thiếu nhân tài làm công việc đó, về nghiệp

vụ đúng là có nhu cầu thuê người nước ngoài làm

Bảng 1: Lao động nước ngoài làm việc tại

Đài Loan phân theo quốc gia

Năm Indonesia Malaysia Philippin Thái Lan Việt Tổng

cộng

Trang 22

Nguồn: Văn phòng Kinh tế – Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc

Khởi đầu, chỉ các công ty hoạt động trong các dự án công cộng đượcchính quyền cho phép ký hợp đồng nhận lao động nước ngoài Những năm gầnđây, quy mô lao động nước ngoài được làm việc tại Đài Loan dao động trongkhoảng từ 320.000 - 350.000 lao động/năm.Trong đó: sản xuất chế tạo chiếm53,09%; xây dựng chiếm 11,44%; giúp việc gia đình và khán hộ công chiếm35,11%; thuyền viên chiếm 0,36%

3 Chính sách của Đài Loan với lao động nước ngoài:

Lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan được điều chỉnh bởi một hệthống luật pháp tương đối đâỳ đủ và thống nhất Một số điểm cần lưu ý bao gồmcác nội dung sau:

3.1 Thời hạn hợp đồng:

Trang 23

Theo điều 43, Luật Dịch Vụ việc làm, người lao động được tuyển dụnglàm công việc trong thời gian tối đa là 3 năm (người có nhu cầu tiếp tục đượctuyển dụng, chủ sử dụng phải xin phép gia hạn).

3.2 Tiền lương:

Tiền lương cơ bản cho mỗi lao động đã được điều chỉnh nhiều lần, hiệnnay là 15.840 NT$/tháng, nếu cộng thêm tiền làm thêm giờ mức lương bìnhquân là 20.000 NT$/tháng Đương nhiên lương cơ bản của người lao động nướcngoài và người lao động bản địa là không giống nhau và cũng khác nhau khi làm

ở các lĩnh vực khác nhau Mức lương này có thể được điều chỉnh tuỳ thuộc vào

sự phát triển của nền kinh tế

3.3 Chi phí ăn, ở của lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan:

Chủ sử dụng lao động Đài Loan được khấu trừ từ tiền lương của lao độngViệt Nam chi phí ăn và ở với mức tối đa là 4000 NT$/tháng, mức khấu trừ này

có thể được điều chỉnh trong giới hạn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa chủ sửdụng lao động và người lao động

Lao động làm việc trong lĩnh vực khán hộ công và giúp việc gia đìnhkhông phải áp dụng quy định khấu trừ trên đây

3.4 Bảo hiểm:

Người lao động tham gia bảo hiểm lao động và bảo hiểm y tế trong đó:

- Bảo hiểm lao động: Chủ chịu 70%, người lao động chịu 20% và chínhquyền trợ cấp 10%

- Bảo hiểm y tế: Chủ sử dụng chiu 60%, người lao động trả 30% và chínhquyền trợ cấp 10%

Trang 24

Những người sống ở Đài Loan đủ hoặc trên 183 ngày trong thuế iên thìnộp 6% thu nhập như người bản địa.

3.7 Quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động:

Lao động nước ngoài được phép tham gia công đoàn, nhưng không đượcbầu là cán bộ công đoàn

Người lao động nước ngoài làm việc ở các doanh nghiệp có thể bị huỷ bỏhợp đồng lao động trong những trường hợp sau:

- Khi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị thua lỗ, chủ sử dụng có thểcho lao động thôi việc, hoặc (nếu có thể) chuyển tới chủ khác Nhưng chủ laođộng phải thông báo trước cho lao động nước ngoài về ý định đó và phải cấptiền bôì thường cho họ

- Nếu lao động nước ngoài phạm lỗi hoặc phạm luật dẫn tới việc ngừnghợp đồng lao động, người chủ có thể cho thôi việc mà không phải báo trước và

có quyền từ chối không thanh toán tiền bồi thường

3.8 Nghỉ phép, nghỉ lễ và nghỉ việc:

Đối với các ngành công nghiệp không được luật tiêu chuẩn lao động điềuchỉnh, việc bố trí nghỉ phép và nghỉ việc được quyết định giữa người chủ vớingười lao động và như đã nói ở hợp đồng với ngành công nghiệp phải tuân theo

Trang 25

quy định của luật tiêu chuẩn lao động thì phải tuân theo những nguyên tắc sauđây:

- Phải có tối thiểu một ngày nghỉ trong một tuần làm việc

Nghỉ phép: Vì lý do đặc biệt, người lao động có thể xin phép không

hưởng lương và có thể được chấp thuận nếu có người thay thế công việc hoặckhi nghỉ phép không ảnh hưởng gì tới quá trình sản xuất Yêu cầu nghỉ phépphải được viết thành văn bản gửi những người có trách nhiệm Thời gian nghỉkhông quá 14 ngày 1 năm

Nghỉ ốm: Do bị ốm, tai nạn hoặc những lý do cần phải chữa chạy, người

lao động có thể yêu cầu nghỉ ốm Nghỉ ốm không nằm viện không được quá 30ngày mỗi năm

- Nếu bị tai nạn lao động thì được nghỉ phép để chữa trị

3.9 Những trường hợp không được cấp giấy phép lao động và cho thôi việc:

Với những tình huống sau đây có thể không được cấp giấy phép lao độnghoặc cho về nước

- Những người mang theo gia đình sống với nhau

- Những người tay nghề không đủ để hoàn thành nhu cầu của công việcnhư giấy phép họ đã xin

- Những người không đạt sức khỏe khi kiểm tra

- Những người đã có gia đình, có thai hoặc sinh đẻ khi đang lao động tạiĐài Loan

- Những người vi phạm các quy định khi làm các thủ tục cấp giấy phép

3.10 Đổi nơi làm việc:

Không được giải quyết nếu không được phép trước của Uỷ ban Lao động.Đổi chủ lao động không được thực hiện khi không xin phép trước của Uỷban Lao động

Làm thêm việc bên ngoài phải có giấy phép của Uỷ ban Lao động

Trang 26

Lao động nước ngoài không được vi phạm hợp đồng lao động đã thỏthuận giữa họ và chủ sử dụng lao động, như việc nghỉ không xin phép quá 3ngày.

Lao động nước ngoài phải tuân theo mọi pháp luật, quy chế và những quyđịnh công cộng của Đài Loan

Trong trường hợp có khiếu nại về công việc đối với chủ sử dụng lao độngthì người lao động nước ngoài có thể báo cáo với Trung tâm Tư vấn lao độngnước ngoài để khiếu nại về chủ sử dụng lao động của mình

II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM:

Trong 4 năm qua, hệ thống cơ chế, chính sách về xuất khẩu lao động vàchuyêngia tiếp tục được hoàn thiện Đặc biệt thông qua triển khai thí điểm môhình liên thông xuất khẩu lao động ở Hải Dương và Phú Thọ, đến nay đã có trên

50 tỉnh, thành phố có lao động đi làm việc ở nước ngoài ( có 15 tỉnh, thành phốđưa đi được trên 1000 lao động trong một năm) Trong 4 năm, cả nước đã được

224 ngàn người lao động đi làm việc ở nước ngoài (đạt 73% so với kế hoạch 5năm) Cùng với chính sách của Nhà nước, nhiều địa phương đã có giải pháp hỗtrợ người lao động về vay vốn, dạy nghề, phí làm thủ tục, hộ chiếu và khám sứckhoẻ

1 Số lượng và cơ cấu xuất khẩu lao động:

1.1 Số lượng lao động:

Tổng kết qua 4 năm thực hiện xuất khẩu lao động, chúng ta đã đưa đi 224ngàn lao động và chuyên gia Riêng năm 2004 đã có 67.447 lao động Việt Namlàm việc tại nước ngoài và lượng kiều hối chuyển về nước đạt mức 1,65 tỷUSD

Cục quản lý lao động ngoài nước cho biết, năm 2004 tại Đài Loan có trên

33000 người lao động Việt Nam làm việc Tuy nhiên tình trạng lao động bỏ hợpđồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp ngày càng nhiều, dẫn tới việc phía ĐàiLoan ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam Để khắc phục tình trạng này Cục đã

Trang 27

đưa ra một số giải pháp nhằm chấn chỉnh công tác tuyển chọn, đào tạo giáo dụcđịnh hướng, quản lý lao động ở nước ngoài của các doanh nghiệp, đồng thờicùng với Ban quản lý lao động Việt Nam tại Đài Bắc phối hợp với phía ĐàiLoan tìm kiếm, vận động để đưa số lao động bất hợp pháp này về nước.

Kể từ khi đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaixia tháng 4/2002đến nay, đã có gần 80.000 lao động làm việc tại đất nước này Đây là thị trườnglao động lớn thứ hai sau Đài Loan Tuy nhiên việc đưa lao động sang Malaixiagiảm sút hơn trước, do năm ngoái một số công nhân phải về nước trước thời hạn

do mất việc và đến đầu năm nay phía Malaixia tạm ngừng tiếp nhận lao độngnước ngoài nói chung để lập lại kỷ cương rong việc tiếp nhận và sử dụng laođộng nước ngoài làm việc tại Malaixia

Việc Malaixia ngừng tiếp nhận lao động nước ngoài trong lúc này cũng làthời điểm tốt để các doanh nghiệp Việt Nam làm tốt công tác đào tạo, chuẩn bịnguồn lao động để khi bạn có nhu cầu trở lại là có thể đáp ứng được ngay Tuynhiên Malaixia vẫn tiếp nhận những lao động đã có lệnh cấp visa, cho nên doanhnghiệp vẫn tiếp tục đưa số lao động có điều kiện này đi làm việc

Đến nay đã có hơn 52.000 tu nghiệp sinh Việt Nam đang làm việc tại HànQuốc Đặc biệt có khoảng 3000 lao động đang làm việc theo Luật lao động mớicủa Hàn Quốc Bộ Lao động, thương binh và xã hội đã lập 10 trường đào tạotiếng Hàn và giáo dục định hướng cho người lao động trước khi sang làm việctại Hàn Quốc Thời gian tới, phía Hàn Quốc sẽ giúp đỡ Việt Nam trong việccung cấp giáo trình và giáo viên đào tạo tiếng Hàn cũng như phong tục tập quán,lối sống sinh hoạt của Hàn Quốc

Nhật Bản là thị trường cao cấp tiếp nhận lao động của ta theo chế độ tunghiệp sinh, chi phí cao nhưng chỉ tiêu thấp Năm 2004 cả nước chỉ đưa đượchơn 2000 lao động, thấp nhất trong số 4 thị trường chủ yếu của Việt Nam

Trang 28

Bảng 3: Kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1996 đến nay.

có nghề

Tiền gửi về (USD)

Năm 2004: Xuất khẩu gần 68.000 lao động và chuyên gia

trong đó: Thị trường Đài Loan: 37.740 lao động

Thị trường Malaixia: 14.560 lao động Thị trường Lào: 6.660 lao động

Thị trường Hàn Quốc: 4.770 lao động Thị trường Nhật Bản: 2.750 lao động

6 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 31.000 lao động và chuyên gia, đạt 44,28% kế hoạch năm Cụ thể:

Đài Loan: 15.759Malaysia: 7.779 Hàn Quốc: 3.275 Nhật Bản: 1.769 Anh: 66

Ảrập thống nhất: 153Các nước khác: 2.474

Trang 29

1.2 Cơ cấu lao động xuất khẩu:

Hiện nay lao động Việt Nam đã có mặt ở hơn 40 nước trên thế giới, chủyếu làm việc trong các ngành nghề khác nhau như: Sỹ quan thuỷ thủ, thuyềnviên đánh cá, công nhân, giúp việc gia đình, chăm sóc bệnh nhân

1.2.1 Cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính:

Nguồn lao động xuất khẩu của nước ta từ trước tới nay chủ yếu là namgiới Nam giới chiếm 84,5% trong tổng số lao động xuất khẩu của ta từ giaiđoạn 1992-2002 vì các thi trường tiếp nhận lao động yêu cầu lao động trong cácngành công nghiệp nặng và một số ngành nghề đòi hỏi sức khoẻ tốt Mặt kháccác chính sách xuất khẩu lao động của ta có phần chưa rộng mở đối với lao động

nữ đi xuất khẩu như các nước trong khu vực như Phillipine một nước có tỷ lệ laođộng nữ xuất khẩu cao nhất trong khu vực ( vì họ còn cho phép lao động nữ làmcác công việc ở Việt Nam còn cấm) Lao động nữ của ta đi làm việc ở nứocngoài do những đặc điểm giới tính cũng như tập quán dân tộc và chị em đềuchưa có điều kiện tiếp xúc với nước ngoài, mặt khác lại hạn chế về trình độngoại ngữ nên họ thường phải chịu những thiệt thòi trong quá trình làm việc ởnước ngoài Trong thời gian đầu chúng ta thường xuất khẩu lao động sang cácthị trường đòi hỏi sức khoẻ như Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Âu nên

tỷ lệ lao động là nữ thấp trong tổng số lao động xuất khẩu Từ năm 2000 trở đichúng ta mở rộng thị trường mới đưa lao động đi làm giúp việc gia đình ởMalaixia, Đài Loan thì tỷ lệ lao động nữ tăng lên rõ rệt, lao động nữ đã chiếm tỷ

lệ 24,18% trong tổng số lao động

Trang 30

Bảng 4: Số lượng cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính

1.2.2 Cơ cấu lao động xuất khẩu theo ngành nghề:

Thực hiện chủ trương của Chính phủ là hạn chế đưa lao động phổ thông

đi xuất khẩu, Bộ Lao động thương binh - xã hội đã chỉ đạo hướng dẫn các công

ty mở rộng việc ký kết các hợp đồng đưa lao động có nghề Kết quả cho thấy, sốlao động có nghề của Việt Nam tăng lên rõ rệt Nếu năm 1992 chủ yếu là laođộng phổ thông thì số lao động có nghề năm 1993 tăng lên 25%, năm 1995 tănglên 40% và hiện nay đạt gần 70% trong tổng số người đi là có nghề Đối với một

số thị trường, chúng ta đã cung ứng 90-100% lao động có nghề như Cooet, Libi,Angola, Nhật Bản, Cộng hoà Séc Còn một số lao động khi đưa đi chưa có nghềnhưng hầu hết trong các hợp đồng đã ký, bên nhận cung ứng lao động đều thựchiện việc đào tạo nghề cho người lao động thông qua các hình thức đào tạo 3tháng theo chương trình do Bộ Lao động thương binh - xã hội quy định rồi mới

sử dụng những lao động này vào công việc

Năm 2004, xuất khẩu lao động và chuyên gia sang Đài Loan lên tới37.740 người

Trang 31

trong đó: Giúp việc gia đình - chăm sóc người bệnh chiếm 52,51%

Điện tử chiếm 6,81%

Cơ khí sản xuất chiếm 25,86%

Xây dựng chiếm 0,25%

Thuyền viên đánh cá chiếm 8,79%

2 Chất lượng lao động xuất khẩu:

Theo đánh giá chung, lao động xuất khẩu của Việt Nam có khả năng làmviệc, chăm chỉ, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật tiên tiến và lao động sáng tạo,lao động có chuyên môn kỹ thuật đã tăng đáng kể

Bên cạnh những lợi thế vốn có ấy, lao động Việt Nam còn có rất nhiềuhạn chế, biểu hiện ở các vấn đề sau:

2.1 Về sức khoẻ:

Do xuất phát điểm kinh tế, Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo vàđông dân nên phần lớn lực lượng lao động ở nước ta chưa đủ điều kiện về sứckhoẻ để đảm bảo cho công việc của họ ở nước ngoài được liên tục, trôi chảy vớimức lương hợp lý Đây là khó khăn đầu tiên khi tuyển dụng lao động cho xuấtkhẩu

2.2 Về tác phong:

Cơ chế kế hoạch hoá tập trung tồn tại ở nước ta trong một thời gian dài đã

có ảnh hưởng lớn và in sâu vào tâm trí người lao động do vậy lề lối và tác phongcủa người lao động là chậm chạp và tinh thần trách nhiệm chưa cao Có thể coiđây là yếu kém lớn nhất khi tiếp nhận lao động Việt Nam

2.3 Về trình độ, tay nghề:

Lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài chủ yếu đã qua đào tạo tuynhiên vẫn chưa thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của chủ sử dụng lao động do hạnchế về năng lực chuyên môn, khả năng giao tiếp, không có khả năng ngoạingữ,

ít hiểu biết về các yếu tố như văn hoá, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt

Trang 32

cũng như hệ thống pháp luật của nước sở tại Ngoài ra người lao động Việt Namcòn rất thiếu về kinh nghiệm làm việc.

3 Hình thức và các tổ chức tham gia xuất khẩu lao động:

3.1 Hình thức xuất khẩu lao động:

Hiện nay, xuất khẩu lao động nước ta có thể có các hình thức sau: Hơpđồng cung ứng lao động, hợp đồng sử dụng chuyên gia, hợp đồng nhận thầucông trình, hợp đồng lao động vừa học vừa làm, hợp đồng nhận thầu nhận khoánkhối lượng hợp tác chia sản phẩm, hợp đồng liên doanh giữa các tổ chức kinh tếViệt Nam với tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước ngoài, hợp đồng lao độnggiưã người Việt Nam với tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài, cung ứng laođộng trực tiếp theo yêu cầu của các công ty nước ngoài thông qua hợp đồng laođộng

Trong đó, các doanh nghiệp được cấp giấy phép xuất khẩu lao động phảichủ động tìm kiếm thị trường, tự mình ký kết với bên nước ngoài để tiến hànhlàm thủ tục đưa lao động xuất khẩu dựa trên chính sách của Nhà nước, đồng thờidoanh nghiệp cũng có trách nhiệm nếu hợp đồng không được thực hiện như kýkết

Nếu doanh nghiệp nào có giấy phép xuất khẩu lao động mà trong vòng 18 thángkhông xuất khẩu được 100 lao động trở lên đi làm việc ở nước ngoài thì bị thuhồi giấy phép

3.2 Các tổ chức tham gia xuất khẩu lao động:

Các tổ chức được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài baogồm:

- Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động

- Doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài

có sử dụng lao động Việt Nam

- Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động ViệtNam

Trang 33

Ngoài ra còn có doanh nghiệp thuộc cơ quan trung ương, các tổ chức như:Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội liên hiệpphụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binhViệt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam và cácdoanh nghiệp thuộc phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.

Hiện nay có 128 doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào hoạt động cungứng nguồn lao động sang thị trường Đài Loan song do tình trạng lao động bỏtrốn ngày càng nhiều nên đã có một số doanh nghiệp bị tạm đình chỉ việc xuấtkhẩu lao động sang thị trường này Bộ Lao động cũng tiến hành cảnh báo 16doanh nghiệp đưa lao động sang làm việc tại Đài Loan có tỷ lệ bỏ hợp đồngtương đối cao và các công ty này phải báo cáo kết quả việc khắc phục tình trạng

bỏ hợp đồng của doanh nghiệp mình, nếu không có biện pháp hữu hiệu cải thiệntình hình lao động bỏ trốn, Bộ Lao động thương binh - xã hội sẽ tiếp tục thựchiện các biện pháp xử lý thích hợp

III THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA CONTREXIM-TM:

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về việc sắp xếp đổi mới và nâng caohiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Đầu tư xây dựng và xuất nhập khẩuViệt Nam - Contrexim Holdings đã tiến hành đánh giá lại thực trạng về mô hình

tổ chức kinh doanh của công ty, những thành quả đã đạt được và đề ra phương

án sắp xếp, cơ cấu lại bộ máy tổ chức của Công ty trình Chính phủ và Bộ Xâydựng Ngày 30/7/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 929/QĐ-TTgphê duyệt mô hình " Công ty mẹ - Công ty con" Theo đó, tổ hợp Contrexim baogồm 26 đơn vị thành viên chia làm 2 khối: Khối các đơn vị hạch toán độc lậpgồm 9 đơn vị và khối các đơn vị hạch toán phụ thuộc gồm 17 đơn vị

Contrexim Holdings hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, tưvấn thiết kế, lập, thẩm định các dự án đầu tư, thực hiện xây lắp và kinh doanhcác công trình dân dụng, công nghiệp, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị Ngoài

ra, Contrexim Holdings còn sản xuất và cung cấp vật liệu xây dựng và trang trí

Trang 34

nội thất, xuất nhập khẩu thiết bị, vật liẹu xây dựng và các loại hàng hoá khác;đào tạo, xuất khẩu lao động, công nhân kỹ thuật và nhận thầu công trình nướcngoài Ngoài việc thực hiện chức năng quản lý, điều hành các Công ty, đơn vịtrực thuộc thì Contrexim Holdings còn thực hiện trực tiếp một số hoạt động kinhdoanh thưoưng mại, xuất nhập khẩu và xuất khẩu lao động đi các nước Nhữnghoạt động này đã mang lại cho Contrexim một nguồn thu đáng kể.

Ban lãnh đạo Công ty nhận thấy rằng cần phải có một hướng đi đúng đắnnhằm đẩy mạnh và tạo điều kiện chủ động cho những hoạt động này phát triểnhơn nữa Do đó Contrexim Holdings đã có chủ trương trình Bộ Xây dựng vềviệc sáp nhập phòng xuất nhập khâủ và phòng xuất khẩu lao động cùng vớitrung tâm đào tạo thành một đơn vị thành viên hạch toán độc lập Công ty cổphần Đầu tư và Thương mại (Contrexim-TM) được thành lập với mục đích thựchiện các hoạt động về thương mại và xuất nhập khẩu một cách sâu hơn, tuynhiên các hoạt động này đã có từ trước và đã đạt được những thành công đáng

kể Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bước đầu một cáchvững chắc

Về hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia đã đạt được kết quả cụthể như sau:

1 Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động:

Xuất khẩu lao động trong những năm gần đây là một lĩnh vực kinh doanhmới được chú trọng nên đã gạp không ít khó khăn Tuy vậy, qua kết quả đạtđược thì xuất khẩu lao động đã mang lại một mức lợi nhuận rất lớn, lớn hơn rấtnhiều lần so với các hoạt động khác dù doanh thu là nhỏ hơn Có được như vậy

là do hoạt động xuất khẩu lao động không những giải quyết công ăn việc làmcho người lao động mà còn giúp người lao động mang lại một nguồn thu nhậplớn từ các nước phát triển hơn Ngày càng có nhiều người lao động đi xuất khẩulao động ra nước ngoài, vì vậy Contrexim- TM đã có được một kết quả đáng kể.Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Trang 35

Bảng 5: Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động của công ty Contrexim- TM

Đơn vị : Triệu đồngSố

TT Chỉ tiêu

Năm1999

Năm2000

Năm2001

Năm2002

Năm2003

Nguồn: Phòng Hành chính tổng hợp Công ty Contrexim-TM

Qua bảng số liệu trên cho thấy:

- Về doanh thu: Năm 1999 Công ty chỉ đạt 310 triệu đồng, do đây là

những năm đầu của hoạt động xuất khẩu lao động và chưa thực sự được chútrọng Năm 2000 tăng so với năm 1999 là 179%, tương ứng với số tiền là 555triệu đồng Đây là mức tăng đáng kể so với năm trước do Công ty đã nhận thấytầm chiến lược và đẩy mạnh hoạt động này Năm 2001, có xu hướng giảm vềdoanh thu so với năm 2000 là 18,25%, tương ứng với số tiền là 158 triệu đồng

Có sự giảm sút này là do sự biên động về kinh tế của một số nước đã ảnh hưởngtrực tiếp đến các nước tiếp nhận lao động ở nước ngoài Nhu cầu tiếp nhận laođộng nước ngoài ở một nsố nước giảm xuống do nhiều doanh nghiệp bị phá sản,thu hẹp sản xuất Còn tại các thị trường trọng điểm như Đài Loan, Nhật Bản,Hàn Quốc, nhiều ngành nghề đã bị lao động các nước khác chiếm lĩnh

Sau biến động kinh tế của năm 2001 thì năm 2002,2003 doanh thu lại tăngcao Doanh thu 2002 tăng so với 2001 là 300,28% tương ứng với số tiền là 2.113triệu đồng, năm 2003 tăng so với năm 2002 là 30,14% tương ứng với số tiền là

853 triệu đồng Có sự tăng trưởng đáng kể như vậy là do người lao động đã thực

sự nhận thấy lợi ích từ xuất khẩu lao động, bên cạnh đó là sự chú trọng vào phát

Trang 36

- Về lợi nhuận: Song song với sự gia tăng của doanh thu thì lợi nhuận

cũng tăng qua các năm, chỉ có năm 2001 có giảm so với năm 2000 do doanh thugiảm Và các năm 2002, 2003 lại có sự tăng vọt

Cụ thể: Lợi nhuận năm 2000 tăng so với năm 1999 là 96,18% tương ứngvới số tiền là 285 triệu đồng Năm 2001 giảm so với năm 2000 là 12,18% tươngứng với số tiền là 47 triệu đồng Năm 2002 tăng so với năm 2001 là 225,66%tương ứng với số tiền là 765 triệu đồng Năm 2003 tăng so với năm 2002 là31,52% tương ứng với số tiền là 348 triệu đồng

- Về chi phí: Cùng với sự tăng, giảm của doanh thu và lợi nhuận qua các

năm, chi phí cũng có sự thay đổi tương ứng Năm 1999, chi phí là 209 triệuđồng; năm 2000 là 479 triệu đồng; đến năm 2001 giảm xuống 368 triệu đồng;năm 2002, 2003 lại tăng cao đến 1.726 triệu đồng và 2.231 triệu đồng

- Về nộp ngân sách Nhà nước: xuất khẩu lao động là hoạt động đã đóng

góp cho Ngân sách Nhà nước một mức khá cao trong các năm 2002, 2003 Năm

1999 chỉ đạt 46 triệu đồng, năm 2000 là 138 triệu đồng Đến năm 2001 có giảmxuống do doanh thu của hoạt động này giảm, còn 98 triệu đồng Năm 2002,

2003 do doanh thu tăng cao nên mức nộp ngân sách Nhà nước cũng tăng lên tới

2 Về số lượng, cơ cấu và thị trường xuất khẩu lao động:

Từ năm 1999 đến nay, thị trường lao động quốc tế đang suy giảm mạnh,cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu lao động ngày càng gay gắt Tuy nhiên sau

Trang 37

gần 2 năm thực hiện Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 1 năm 2003 củaChính phủ, công tác xuất khẩu lao động đã đạt được một số kết quả quan trọngbước đầu Đến nay cả nước đã có 159 doanh nghiệp được Bộ Lao động Thươngbinh và Xã hội cấp giấy phép xuất khẩu lao động Thị trường xuất khẩu lao động

đã mở rộng ra với gần 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Nhà nước đã xâydựng được một hệ thống các cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ, ổn định vàduy trì thị trường đã có, mở thêm một số thị trường mới và tăng cường quy môđưa lao động đi làm việc ở nước ngoài

Cùng với sự phát triển chung của toàn ngành, xuất khẩu lao động ởContrexim- TM đã khai thác hiệu qủa bốn thị trường chính, đó là: Cộng hoàPalau, Nhật Bản, Đài Loan và Malaixia Kết quả cụ thể của từng thị trường đượcthể hiện qua bảng số liệu sau:

Trang 38

Bảng 6: Kết qủa hoạt động xuất khẩu lao động phân theo thị trường:

Số TT Thị trường

Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003

Số ngườiđi

D.thu(tr.đ)

Sốngười đi

D.thu(tr.đ)

Sốngười đi

D.thu(tr.đ)

Sốngười đi

D.thu(tr.đ)

Sốngười đi

D.thu(tr.đ)

Trang 39

* Thị trường Palau: Cộng hoà Palau là quần đảo nằm ở bắc Thái Bình

Dương, vĩ tuyến 7,30 bắc, kinh tuyến 134,39 đông, đông nam Phillipin Trước đâyPalau là lãnh thổ thuộc Mỹ quản lý, nhưng từ năm 1994 là quốc gia có liên kết tự

do với Hoa Kỳ Palau chưa có luật lao động nhưng có nhiều lao động nước ngoài.Chính quyền Palau tôn trọng các hợp đồng ký kết giữa chủ sử dụng lao động vớingười lao động cũng như bên cung ứng lao động và lấy hợp đồng làm cơ sở để giảiquyết nếu tranh chấp xảy ra

Từ năm 1999 đến nay, thị trường Palau đã trở thành thị trường truyền thốngcủa Contrexim - TM Số người đi qua các năm có sự khác nhau, do đó doanh thuthay đổi theo số lượng người đi Tuy nhiên tính doanh thu trên một người đi là khá

ổn định Riêng năm 1999, doanh thu trên một người là 8,857 triệu đồng có cao hơn

so với các năm sau: năm 2000 là 6,44 triệu đồng/người; năm 2001 và năm 2002 là

6 triệu đồng/người; năm 2003 là 6,11 triệu đồng/người

Doanh thu từ thị trường Palau là khá cao và rất ổn định qua các năm Vì vậyđây là thị trường mà Contrexim - TM tiếp tục khai thác mạnh trong những năm tới

* Thị trường Nhật Bản: Thị trường này chủ yếu tiếp nhận lao động Việt Nam

đi tu nghiệp và thực tập kỹ thuật (gọi chung là tu nghiệp sinh) Tu nghiệp sinh ViệtNam sang tu nghiệp tại Nhật Bản theo nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó cólĩnh vực dệt, may, điện tử và xây dựng chiếm tỷ lệ lớn

Số người đi qua các năm là rất nhỏ, năm 1999 không có người đi, năm 2000chỉ có 23 người đi và ngày càng giảm mạnh Năm 2001 là 9 người, năm 2002 là 5người và năm 2003 có tăng lên 30 người Doanh thu trên 1 người đi năm 2000 là12,39 triệu đồng/người, đây là con số khá cao, nó có giảm qua các năm tiếp theo;năm 2001 là 11,56 triệu đồng, năm 2002 là 11,6 triệu đồng và năm 2003 tăng vọtlên tới 26,73 triệu đồng Sở dĩ năm 2003 có sự tăng vọt như vậy là do trong đó có

số tiền đặt cọc của 14 người lao động đang trong thời gian hợp đồng đã bỏ trốn

Trang 40

So với thị trường Palau thì thị trường Nhật Bản đem lại doanh thu trên mộtngười đi lớn hơn Tuy nhiên một khó khăn lớn cho bên xuất khẩu lao động là tại thịtrường này số lượng lao động bỏ trốn là khá cao Riêng năm 2003 , trong tổng sốlao động xuât đi đã có tới 14 người bỏ trốn Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng xuất khẩu lao động và uy tín của Công ty với phía đôí tác Trong thời gian tới,việc ổn định thị trường Nhật Bản đang là một thử thách lớn cho ngành xuất khẩulao động Việt Nam nói chung và xuất khẩu lao động của Contrexim - TM nói riêng.

* Thị trường Đài Loan: Bắt đầu từ năm 2001, Contrexim - TM mới xuấtkhẩu lao động sang Đài Loan Đây là thị trường có một số thuận lợi cơ bản đối vớilao động Việt Nam:

- Môi trường sống và làm việc rất tốt, phong tục tập quán có nhiều nét tươngđồng với Việt Nam, vị trí địa lý không xa

- Cơ cấu ngành nghề đa dạng và có nhu cầu lao động ở mọi lĩnh vực

- Thu nhập của người lao động khá cao so với khu vực khác

Từ các lợi thế đó mà Contrexim - TM đã có được số lượng người đii đáng

kể Năm 2001 là 27 người đi, đem lại doanh thu 135 triệu đồng Bình quân doanhthu trên 1 người đi là 5 triệu đồng/người Năm 2002 là 336 người đi, với doanh thu

là 2.418 triệu đồng, bình quân là 7,2 triệu đồng/người Năm 2003 có 286 người đi,với doanh thu là 1.630 triệu đồng, bình quân là 5,7 triệu đồng/người

Tuy doanh thu trên 1 người đi thấp, nhưng với số lượng người đi lớn dẫn đếntổng doanh thu từ thị trường này là rất cao Điều đó cho thấy, việc tiếp tục khai thácthị trường này là tất yếu Nhưng cũng cần phải quan tâm tới việc ổn định thịtrường, bởi tại thị trường này trong năm 2002 có 59 lao động bỏ trốn và năm 2003

là 16 người Đây cũng là khó khăn lớn cần phải giải quyết trong thời gian tới

* Thị trường Malaixia: Đay là thị trường mới của Contrexim - TM Đến năm

2003 mới có 78 lao động được đưa đi làm viêc tại thị trường này, đem lại doanh thu

là 322 triệu đồng Tính ra doanh thu bình quân trên 1 lao động đi là 4,13 triệu đồng

Ngày đăng: 12/06/2016, 20:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1996 đến nay. - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang đài loan của công ty cổ phần đầu tư và thương mại
Bảng 3 Kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1996 đến nay (Trang 28)
Bảng 4: Số lượng cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang đài loan của công ty cổ phần đầu tư và thương mại
Bảng 4 Số lượng cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính (Trang 30)
Bảng 6: Kết qủa hoạt động xuất khẩu lao động phân theo thị trường: - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang đài loan của công ty cổ phần đầu tư và thương mại
Bảng 6 Kết qủa hoạt động xuất khẩu lao động phân theo thị trường: (Trang 38)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w