Thị trường đầu vào được hiểu là khả năng cung ứng các yếu tố cho sản xuất như nguyên vật liệu, sức lao động, nguồn vốn, công nghệ.Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thị trường đầu
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Xu thế phát triển mạnh mẽ của hoạt động thương mại quốc tế đã mở
ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhậpkhẩu của Việt Nam đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới do sự cạnhtranh ngày càng gay gắt và quyết liệt trên thị trường thế giới Hiện nay thủcông mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu đem về cho đất nướcnhiều ngoại tệ nhất Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của ViệtNam năm 1999 đạt 111 triệu $, năm 2002 đạt 237 triệu $ Theo dự báo củacác chuyên gia thì kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ tiếp tục tăng donhu cầu về các sản phẩm thủ công mỹ nghệ trên thế giới có xu hướng tăngtrong những năm tới Mặc dù hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cónhiều lợi thế xuất khẩu nhưng thực tế kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của chúng ta còn quá nhỏ bé so với nhu cầu trên thị trường thếgiới chỉ chiếm 0,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới Nguyên nhân dothị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ bé, hầu nhưcác doanh nghiệp mới chỉ chú ý đến mở rộng thị trường xuất khẩu mà chưađẩy mạnh xuất khẩu theo chiều sâu Trước tình hình đó việc phát triển thịtrường luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu đối với các doanh nghiệp kinhdoanh xuất khẩu, thị phần càng lớn thì khối lượng sản phẩm tiêu thụ củadoanh nghiệp càng lớn sẽ làm tăng lợi nhuận và vị thế cạnh tranh chodoanh nghiệp
Trong thời gian thực tập đã giúp em nhận thức rõ tầm quan trọng củaviệc phát triển thị trường xuất khẩu đối với các doanh nghiệp kinh doanh
xuất khẩu Chính vì vậy em đã chọn đề tài: " Một số biện pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty XNK BAROTEX"
cho luận văn tốt nghiệp này
Trang 2Nội dung luận văn tốt nghiệp của em gồm 3 chương:
Chương I- Công tác phát triển thị trường đối với doanh nghiệp
kinh doanh xuất khẩu
Chương II- Thực trạng hoạt động xuất khẩu và công tác phát triển
thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công
ty XNK BAROTEX
Chương III- Phương hướng và biện pháp phát triển thị trường hàng
thủ công thủ công mỹ nghệ của Công ty XNKBAROTEX
Cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo - Thạc sỹ.Nguyễn Liên Hương cùng toàn thể cán bộ phòng kế hoạch thị trườngcủaTổng Công ty XNK BAROTEX đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thànhluận văn tốt nghiệp của mình
Hà Nội, ngày 25 tháng0 5 năm 2003
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN LINH GIANG
Trang 3CHƯƠNG I: CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU.
I- TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ.
1 Tầm quan trọng của xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trên phạm vi quốc tế, đem lại hiệuquả lớn cho nền kinh tế của mỗi quốc gia Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủyếu cho nhập khẩu, xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhậpkhẩu Từ năm 1995 trở lại đây bình quân nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩuđáp ứng được đến 90% ngoại tệ cho nhập khẩu
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tếhướng ngoại: xuất khẩu làm thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng theohướng cớ lợi nhất Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình côngnghiệp hoá ở nước ta là phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại
Xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành liên quan phát triển.Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, khai thác tối đasản xuất trong nước
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mớithường xuyên năng lực sản xuất trong nước Xuất khẩu đòi hỏi các doanhnghiệp phải luôn đổi mới, hoàn thiện công tác quản lý sản xuất kinh doanh,nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân dosản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra nguồn vốn đểnhập khẩu máy móc thiết bị, vật phẩm tiêu dùng phục vụ cho sản xuất vàđời sống của nhân dân Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các mối quan hệkinh tế đối ngoại thông qua việc phân công lao động quốc tế
Trang 4Qua những phân tích trên, ta thấy đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn
đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Thị trường xuất khẩu.
2.1 Khái niệm.
Thị trường vốn là một phạm trù gắn liền với nền kinh tế hàng hoá Thịtrường của doanh nghiệp được phân chia thành thị trường đầu vào và thịtrường đầu ra Thị trường đầu vào được hiểu là khả năng cung ứng các yếu
tố cho sản xuất như nguyên vật liệu, sức lao động, nguồn vốn, công nghệ.Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thị trường đầu ra chính làthị trường xuất khẩu, thị trường xuất khẩu được định nghĩa như sau:
Thị trường xuất khẩu bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn nằmngoài biên giới quốc gia cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵnsàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốnđó
2.2 Phân loại.
Việc phân loại thị trường xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp có thểlựa chọn tốt hơn các phương thức kinh doanh đối với từng thị trường cụthể Có một số tiêu thức giúp cho phân loại thị trường xuất khẩu như sau:
* Căn cứ vào mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với khách hàng, cóthị trường xuất khẩu trực tiếp và thị trường xuất khẩu gián tiếp
- Thị trường xuất khẩu trực tiếp là thị trường mà doanh nghiệp trựctiếp tiến hành hoạt động kinh doanh xuất khẩu vào thị trường mà khôngqua trung gian xuất nhập khẩu
- Thị trường xuất khẩu gián tiếp xuất hiện khi doanh nghiệp không cóquyền hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp mà phải thông qua cáctrung gian như đại lý xuất khẩu, hãng xuất khẩu trong nước hay nướcngoài
Trang 5* Căn cứ vào thời gian thiết lập mối quan hệ với khách hàng có thịtrường truyền thống và thị trường xuất khẩu mới.
- Thị trường xuất khẩu truyền thống là thị trường mà doanh nghiệp đã
có quan hệ làm ăn trong một thời gian lâu dài và khá ổn dịnh
- Thị trường mới là thị trường doanh nghiệp mới thiết lập mối quan hệlàm ăn và có nhiều tiềm năng phát triển
* Căn cứ vào mặt hàng xuất khẩu có: thị trường xuất khẩu hàng maymặc, thị trường xuất khẩu hàng nông sản, thị trường xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ,
Việc phân chia theo mặt hàng chỉ có ý nghĩa trong phân tích kinh tế vàcác doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nhiều mặt hàng
* Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu của chính phủ: thị trường hạnngạch và thị trường phi hạn ngạch Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về
số lượng, chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu với mục đích bảo vệ sảnxuất trong nước Đối với thị trường có hạn ngạch doanh nghiệp cần phảixin hoặc mua hạn ngạch, xuất hàng theo hạn ngạch được cấp Đối với thịtrường phi hạn ngạch doanh nghiệp không bị giới hạn về số lượng hàngxuất, doanh nghiệp có thể xuất khẩu hàng hoá với số lượng tuỳ theo khảnăng của mình và nhu cầu của người mua
* Căn cứ vào mức độ quan trọng của thị trường: thị trường xuất khẩuchính và thị trường xuất khẩu phụ
Nếu trong kinh doanh xuất khẩu doanh nghiệp chỉ dựa chủ yếu vàomột thị trường thì rủi ro sẽ cao hơn là xuất khẩu sang nhiều thị trường Do
đó, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần phải đa dạng hoá thịtrường trong đó có thị trường xuất khẩu chính và thị trường xuất khẩu phụ
* Căn cứ vào vị trí địa lý: thị trường được phân chia theo khu vực vàtheo nước Việc phân chia này phụ thuộc vào đặc tính của từng thị trường.Phân chia thị trường theo lãnh thổ, khu vực là rất quan trọng ví nó liên
Trang 6quan đến việc để ra các chính sách, chiến lược kinh doanh của doanhnghiệp.
Các tiêu chí phân loại khác:
* Căn cứ vào hình thức sản xuất hàng xuất khẩu có thị trường xuấtkhẩu hàng gia công và thị trường xuất khẩu hàng tư doanh Doanh nghiệp
có thể kết hợp hai hay nhiều tiêu thức phân loại trên để xác định cụ thể thịtrường cho mình khi xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh
Ngoài ra còn có thể phân loại thị trường theo tính cạnh tranh củadoanh nghiệp có thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thịtrường cạnh tranh không hoàn hảo Hoặc có thể phân loại thị trường thànhthị trường đầu ra, thị trường đầu vào
3 Các yếu tố cấu thành thị trường xuất khẩu.
Giống như thị trường nội địa, thị trường xuất khẩu của doanh nghiệpcũng bao gồm các yếu tố cung, cầu và giá cả Các yếu tố này thường biếnđộng rất phức tạp do quy mô của thị trường rất rộng lớn và chịu tác độngcủa nhiều yếu tố khác Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhậpkhẩu cần phải nắm bắt được đặc điểm của nó khi ra quyết định kinh doanh
* Cung: Cung của thị trường thế giới về một mặt hàng nào đó baogồm hàng hoá của các nhà cung ứng nội địa và các nhà cung ứng nướcngoài khác Số lượng các nhà cung ứng thường rất lớn với nhiều mặt hàngnên độc quyền cung ứng hầu như không xảy ra trên thị trường Để cạnhtranh với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường lớn hơn các nhà cung ứng đưa
ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau với các phương thức cung ứng đầyhấp dẫn đối với người tiêu dùng Với những nước công nghiệp phát triểncác nhà cung ứng sẽ dựa vào lợi thế về vốn, công nghệ nên họ chủ yếu xuấtkhẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao
Trang 7Với những nước đang phát triển các nhà cung ứng của các nước nàychủ yếu cung cấp những sản phẩm chứa nhiều hàm lượng lao động, tàinguyên
Ở Việt Nam hầu hết các nhà cung ứng là các doanh nghiệp mới kinhdoanh xuất nhập khẩu chưa có uy tín trên thị trường quốc tế nên chịu sức
ép rất lớn từ các nhà cung ứng nước ngoài đặc biệt là Trung Quốc và cácnước Đông Nam Á do phần lớn các sản phẩm xuất khẩu của Việt Namtrùng với các nước này và sức cạnh tranh của chúng ta yếu hơn Vì vậynâng cao sức cạnh tranh cho các nhà xuất khẩu Việt Nam là mục tiêu hàngđầu khi hội nhập kinh tế thế giới
* Cầu về một mặt hàng là tập hợp những nhu cầu, mong muốn củakhách hàng về hàng hoá đó mà các khách hàng này có khả năng và sẵnsàng trả tiền để thoả mãn các nhu cầu đó Cầu về hàng hoá trên thị trườngrất lớn và có thể được phân chia thành các loại sau: Cầu của nhà sản xuất,cầu của các nhà kinh doanh thương mại và cầu của người tiêu dùng cuốicùng
Do khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, rất nhiều sản phẩm cókhả năng thay thế nhau ra đời, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến vòngđời sản phẩm và nhu cầu về mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh.Ngoài ra nhu cầu về một loại sản phẩm trên các thị trường khác nhau cũngrất khác nhau do ảnh hưởng của các yêú tố văn hoá, xã hội, điều kiện tựnhiên, trình độ phát triển, ở mỗi quốc gia là khác nhau
* Giá cả: Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với mỗi loại hàng hoánhất định trên thị trường, giá đó phải là giá của những giao dịch thôngthường không kèm theo bất kỳ một điều kiện thương mại đặc biệt và thanhtoán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi Trong thực tế, giá cả quốc tế của mỗiloại hàng hoá biến động rất phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tốkhác nhau như:
Trang 8+ Nhân tố chu kỳ: đó là sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế.+ Khách hàng: tác động lên giá cả bởi khả năng mua của họ, sự bằnglòng mua, vị trí của sản phẩm trong lối sống của họ, giá cả của sản phẩmthay thế.
+ Cạnh tranh: bao gồm cạnh tranh giữa người bán với người bán,người mua với người mua và người bán với người mua Cạnh tranh thườnglàm cho giá cả hàng hoá rẻ hơn Thông thường cạnh tranh tác động lên giá
cả dưới góc độ số lượng các doanh nghiệp kinh doanh cùng một mặt hàng,quy mô của các doanh nghiệp, sự khác biệt sản phẩm của doanh nghiệp và
vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
+ Nhân tố cung cầu:là những nhân tố quan trọng tác động trực tiếpđến lượng cung cấp hoặc khối lượng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trường
do đó có ảnh hưởng rất lớn đến biến động giá trên thị trường
+ Lạm phát: Lạm phát làm cho đồng tiền mất giá, do vậy mà ảnhhưởng đến giá cả hàng hoá của một quốc gia trong hoạt động kinh doanhxuất nhập khẩu
+ Nhân tố thời vụ: tác động đến giá cả theo tính thời vụ của sản xuất
và lưu thông
Ngoài các yếu tố trên, giá cả quốc tế của hàng hoá còn chịu tác độngcủa các yếu tố khác như chính sách của chính phủ, tình hình an ninh, chínhtrị của các quốc gia,
4 Vai trò của thị trường xuất khẩu đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường có vị trí trung tâm trong quátrình kinh doanh của các doanh nghiệp Thị trường luôn là mục tiêu mà mỗidoanh nghiệp mong muốn xâm nhập và chiếm lĩnh lấy
Trang 9Thị trường xuất khẩu là một bộ phận trong thị trường nói chung củadoanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, thịtrường xuất khẩu giữ vai trò chủ đạo thể hiện qua:
* Thị trường xuất khẩu quyết định mục tiêu của doanh nghiệp: Hầuhết mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận, lợi nhuận đảm bảocho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Để thực hiện được mục tiêu đódoanh nghiệp phải giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm mà thị trường làyếu tố then chốt Số lượng sản phẩm tiêu thụ càng nhiều khả năng pháttriển của doanh nghiệp càng cao bởi vì khi đó quy mô sản xuất của doanhnghiệp được mở rộng làm chi phí sản xuất giảm do lợi thế theo quy mô Dovậy đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá thì việc thâm nhập và mởrộng thị trường xuất khẩu là điều tiên quyết dẫn đến thành công của doanhnghiệp
* Thị trường xuất khẩu phản ánh tình hình kinh doanh của doanhnghiệp Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá
và dịch vụ Vì vậy khi nhìn vào thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp ta
có thể thấy tình hình phát triển, mức độ tham gia vào thị trường quốc tế củadoanh nghiệp cũng như quy mô sản xuất kinh doanh và khả năng phát triểntrong thời gian tới
* Thị trường xuất khẩu trực tiếp điều tiết, hướng dẫn việc sản xuấtkinh doanh các mặt hàng xuất khẩu
Để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, doanh nghiệp cần phảigiải quyết tốt mục tiêu: thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng để từ đótăng khả năng tiêu thụ sản phẩm Việc quyết định cung ứng sản phẩm gì,bằng phương thức nào, cho ai là do nhu cầu của thị trường quyết định.Chính sách khách hàng trên thị trường xuất khẩu sẽ định hướng cho chínhsách về sản phẩm xuất khẩu, chính sách giá cả, những hoạt động xúc tiến,
Từ đó doanh nghiệp sẽ phải xây dựng kế hoạch sản xuất, thu mua hàng của
Trang 10mình cho phù hợp và đề ra các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, nâng caohiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp Như vậy thị trường quyết định đếntừng quyết định kinh doanh của doanh nghiệp và các doanh nghiệp muốnthành công đều phải thích ứng tốt với thị trường.
* Thị trường xuất khẩu là nơi kiểm tra đánh giá các chương trình kếhoạch quyết định kinh doanh của doanh nghiệp: thông qua tình hình tiêuthụ sản phẩm, khả năng cạnh tranh và vị trí của sản phẩm trên thị trườngxuất khẩu doanh nghiệp sẽ đánh giá được mức độ thành công của các chiếnlược kinh doanh từ đó đưa ra những phương hướng phát triển cho tươnglai
II- NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU.
1 Sự cần thiết của việc phát triển thị trường xuất khẩu đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Nền kinh tế thị trường hết sức năng động và khốc liệt mà ở đó cácdoanh nghiệp bị cuốn vào vòng quay của sự phát triển không ngừng Doanhnghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trên thị trường theo đuổi rấtnhiều mục tiêu tuỳ theo từng thời điểm và vị trí cạnh tranh của doanhnghiệp trên thương trường Song mục tiêu cơ bản và lâu dài của doanhnghiệp vẫn là lợi nhuận, thế lực và an toàn Ba mục tiêu này được thực hiệnthông qua khả năng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường, thịtrường càng lớn thì khối lượng hàng hoá được tiêu thụ càng lớn Do vậyphát triển thị trường là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp đạt được thànhcông trong kinh doanh, tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh hấp dẫn màthị trường đem lại
Trong nhiều trường hợp như cạnh tranh trong nước quá gay gắt hoặcnhu cầu nội địa nhỏ bé thì việc đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường quốc tế cóthể thu được hiệu quả cao Phát triển thị trường xuất khẩu sẽ đem lại cho
Trang 11các doanh nghiệp khả năng khai thác tối đa lợi thế so sánh do sản xuấttrong nước đem laị Quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường rất khắcnghiệt, nó đào thải tất cả các doanh nghiệp không theo kịp sự phát triển củathị trường Và một trong các cách hữu hiệu nhất đối với các doanh nghiệpxuất khẩu là phát triển thị trường Việc phát triển thị trường xuất khẩu giúpcho doanh nghiệp tăng thị phần, tăng doanh số bán, lợi nhuận và đặc biệt làtăng uy tín sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường tạo điều kiện cho sựphát triển trong tương lai.
Phát triển là quy luật của mọi hiện tượng kinh tế - xã hội, chỉ có pháttriển thì doanh nghiệp mới tồn tại vững chắc, phù hợp với xu thế chung củathời đại Phát triển thị trường chính là mục tiêu, chỉ tiêu tổng hợp phản ánh
sự phát triển của các doanh nghiệp
2 Nội dung của công tác phát triển thị trường xuất khẩu.
2.1 Các phương hướng phát triển thị trường xuất khẩu.
a Phát triển thị trường theo chiều rộng.
Phát triển thị trường theo chiều rộng có nghĩa là doanh nghiệp cố gắng
mở rộng thị trường tăng thị phần sản phẩm bằng các khách hàng mới.Phương thức này được doanh nghiệp sử dụng trong các trường hợp
- Thị trường hiện tại của doanh nghiệp đang có xu hướng bão hoà
- Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại còn thấp
- Rào cản về chính trị, luật pháp quá lớn đối với doanh nghiệp trên thịtrường hiện tại
- Doanh nghiệp có đủ tiềm lực để mở rộng thêm thị trường mới, tăngdoanh thu, lợi nhuận
Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể hiểu theo 3 cách:
- Theo tiêu thức địa lý: Quy mô thị trường của doanh nghiệp được mởrộng
Trang 12- Theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp thường đưa ra những sảnphẩm mới có tính năng phù hợp với khách hàng ở thị trường mới thoả mãnđược tốt nhất nhu cầu của họ Các doanh nghiệp khi mở rộng thị trườngthường áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu của kháchhàng.
- Theo tiêu thức khách hàng: Doanh nghiệp kích thích, khuyến khíchcác nhóm khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm của mình, đó có thể là kháchhàng của đối thủ cạnh tranh, có thể là khách hàng tiềm năng của doanhnghiệp
Muốn thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần phải nhanh nhạytrong việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng và hành vi mua hàng của họ,điểm, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có được chiến lược Công ty hiệuquả nhất
b Phát triển thị trường theo chiều sâu.
Phát triển thị trường theo chiêu sâu là doanh nghiệp cố gắng tăng khảnăng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại Phát triểnthị trường theo chiều sâu thường được các doanh nghiệp sử dụng khi:
+ Thị trường hiện tại có nhiều tiềm năng để phát triển mà doanhnghiệp chưa khai thác hết
+ Sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại là khá lớn.+ Sản phẩm của doanh nghiệp có uy tín trên thị trường
Phát triển thị trường theo chiều sâu cũng được hiểu theo 3 cách:
- Theo tiêu thức địa lý: Doanh nghiệp cố gắng bán thêm hàng hoá vàothị trường hiện tại bằng việc sử dụng hữu hiệu các công cụ marketing chiêu
dụ khách hàng, đánh bật đối thủ cạnh tranh và có thể tiến tới độc chiếm thịtrường
- Theo tiêu thức khách hàng: là việc doanh nghiệp nỗ lực bán thêmsản phẩm của mình vào nhóm khách hàng của doanh nghiệp, biến nhóm
Trang 13khách hàng đó trở thành khách hàng thường xuyên và trung thành củamình.
- Theo tiêu thức sản phẩm: Doanh nghiệp khi phát triển thị trườngtheo chiều sâu thường cải tiến mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng sảnphẩm hoặc đa dạng hoá sản phẩm và tăng cường các dịch vụ kèm theo
2.2 Nội dung công tác phát triển thị trường xuất khẩu.
Công tác phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp được thựchiện theo quy trình sau:
a Nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường là điều kiện cần thiết để phát triển kinh doanhđúng hướng, là xuất phát điểm để mọi doanh nghiệp xác định và xây dựngcác chiến lược, kế hoạch kinh doanh, nâng cao khả năng thích ứng với thịtrường của các sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh
Mặt khác, do chu kỳ sống của sản phẩm cũng như nhu cầu của kháchhàng luôn thay đổi nên để thành công lâu dài doanh nghiệp phải nhạy bénnắm bắt nhu cầu mới của khách hàng trên thị trường
Việc tiếp cận kinh doanh ở thị trường xuất khẩu chịu ảnh hưởng bởicác yếu tố như:
+ Môi trường vĩ mô: chính sách xuất nhập khẩu của chính phủ trong
và ngoài nước, mức thuế, hạn ngạch,
+ Văn hoá phong tục tập quán và thói quen tiêu dùng của khách hàng.+ Ngôn ngữ, phong cách, lối sống con người,
Nghiên cứu thị trường tức là nghiên cứu các yếu tố trên để biết rõthuận lợi và khó khăn cho việc tiếp cận
Nghiên cứu thị
trường
Lập chiến lược phát triển thị trường
Thực hiện chiến lược phát triển thị trường
Kiểm tra và đánh giá kết quả việc thực hiện chiến
Trang 14Quá trình nghiên cứu thị trường được tiến hành theo trình tự sau:+ Phát hiện vấn đề và xác định mục đích nghiên cứu.
+ Thu thập thông tin: Thu thập tại bàn và điều tra thị trường: thu thậptại bàn là hình thức thu thập thông tin từ các nguồn có sẵn như tạp chí,Internet
Điều tra thị trường tức là doanh nghiệp đi khảo sát thị trường, dự hộichợ, chào hàng, bán hàng trực tiếp,
+ Phân tích đánh giá thị trường: Đó chính là việc dựa vào thông tin thịtrường thu thập được để xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đối với
kế hoạch, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Sự phân tích đánh giánày phải dựa trên cơ sở nguồn lực của doanh nghiệp hiện có Để thực hiệnphân tích, đánh giá thị trường doanh nghiệp thường sử dụng ma trậnSWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội , nguy cơ)
+ Dự báo thị trường: Trên cơ sở phân tích thị trường doanh nghiệp cóthể đưa ra các dự báo về thị trường như tổng mức nhu cầu của thị trường,
cơ cấu sản phẩm trong tương lai, biến động của thị trường trong tươnglai,
b Lập chiến lược phát triển thị trường.
Sau khi nghiên cứu thị trường doanh nghiệp tiến hành lập chiến lượcphát triển thị trường theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu
- Chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu : Thường được các doanhnghiệp sử dụng khi thị trường hiện tại có xu hướng bão hoà về sản phẩmcủa doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có thế mạnh về tài chính và uy tíntrên thương trường
- Chiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu được doanh nghiệp
sử dụng khi thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại còn thấp dokhách hàng chưa thấy thoả mãn nhu cầu hoặc chưa thấy lợi ích của sảnphẩm
Trang 15Tuỳ theo điều kiện của từng thị trường và vị thế cạnh tranh của doanhnghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược mở rộng thị trường haychiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu hoặc đồng thời phát triển thịtrường theo cả chiều rộng và chiều sâu Chiến lược phát triển thị trường củadoanh nghiệp thể hiện qua sơ đồ sau:
Thị trường
Sản phẩm hiện tại Thẩm thấu thị trường Phát triển thị trườngSản phẩm mới Phát triển sản phẩm Đa dạng hoá sản phẩmDoanh nghiệp cần lập ra chiến lược phát triển thị trường từ ngắn hạn,trung hạn đến dài hạn để thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực
Nội dung của chiến lược phát triển thị trường phải phù hợp với tìnhhình kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm chiến lược phát triển sảnphẩm, chiến lược với đối thủ cạnh tranh, chiến lược phân phối sản phẩm,chất lượng giá cả, chiến lược quảng cáo khuyến trương sản phẩm, chiếnlược phát triển vốn, nguồn nhân lực
c Thực hiện chiến lược phát triển thị trường.
Trên thực tế nhiều doanh nghiệp thường chỉ chú trọng đề ra các chiếnlược kinh doanh mà ít quan tâm tổ chức thực hiện chiến lược Việc thựchiện chiến lược khẳng định sự đúng đắn của việc lập chiến lược và đó làkhâu thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Hoạt động thực hiện chiến lượcphát triển thị trường của doanh nghiệp bao gồm các bước sau:
+ Xem xét lại mục tiêu, thực trạng thị trường, nguồn lực của doanhnghiệp và chiến lược phát triển thị trường Từ đó doanh nghiệp có thể cónhững điều chỉnh cho phù hợp với thực tế
+ Sau khi xác định sự đúng đắn của mục tiêu chiến lược doanh nghiệpthực hiện phân phối nguồn lực hợp lý cho từng chiến lược bộ phận nhưchiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược khuyếch trương sản phẩm,
Trang 16chiến lược phát triển kênh phân phối Việc phân phối nguồn lực hiệu quả
là cơ sở để thực hiện mục tiêu chiến lược một cách hiệu quả nhất
+ Sử dụng các chính sách, công cụ để thực hiện chiến lược phát triểnthị trường, thông thường doanh nghiệp sử dụng chính sách marketing hỗnhợp bao gồm chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối và khuyếch trươngsản phẩm
Tóm lại, thực hiện chiến lược phát triển thị trường trước hết doanhnghiệp phải huy động được nguồn lực doanh nghiệp bao gồm vốn và nguồnnhân lực, thứ hai là sử dụng hài hoà các chính sách marketing - mix
d Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển thị trường.
Sau khi thực hiện chiến lược doanh nghiệp cần kiểm tra lại hệ thốngmục tiêu chiến lược để có những điều chỉnh thích hợp nếu cần thiết Ngoài
ra cần có tiêu chuẩn đánh giá kết quả phát triển thị trường như qui mô và sựtăng trưởng, sức hấp dẫn của thị trường từ sức ép hay đe doạ khác nhau, vịtrí của sản phẩm trên thị trường
Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá là xác định những kết quả thựchiện được so với chiến lược phát triển thị trường của doanh nghiệp vànhững hạn chế trong thực hiện chiến lược từ đó tìm ra nguyên nhân vàphương hướng phát triển cho những chiến lược sau này
III- CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1 Biện pháp đối với bản thân doanh nghiệp.
* Đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm thị trường
Trong hoạt động xuất khẩu vấn đề tìm kiếm thị trường, bạn hàng xuấtkhẩu giữ vai trò quan trọng hàng đầu đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp
Để mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu doanh nghiệp phải luôn chútrọng đến hoạt động nghiên cứu thị trường Qua đó doanh nghiệp nắm bắtđược nhu cầu về chủng loại, số lượng, kiểu dáng, chất lượng hàng hoá,
Trang 17những thay đổi trong thị hiếu, hành vi tiêu dùng của khách hàng và biếtđược thông tin về các đối thủ cạnh tranh.
* Lựa chọn chiến lược phát triển thị trường
Tuỳ theo nguồn lực của doanh nghiệp và đặc điểm của mỗi thị trường
mà doanh nghiệp lựa chọn chiến lược phát triển cho phù hợp Có 4 cáchlựa chọn mà các doanh nghiệp thường sử dụng như sau:
Đưa sản phẩm mới đáp ứngnhu cầu thị trường hiện tạiThị trường mới Xâm nhập mở rộng
thị trường mới
Đưa sản phẩm mới đáp ứngnhu cầu thị trường mới
Công ty không nên chỉ sử dụng một biện pháp phát triển thị trườngtrên mà có thể kết hợp hai hay nhiều biện pháp
* Sử dụng công cụ marketing - mix
+ Chiến lược với sản phẩm
Khi đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài các doanh nghiệp nên sửdụng chính sách thích nghi sản phẩm Đó là việc đổi mới sản phẩm để thoảmãn các nhu cầu và thị hiếu của thị trường nước ngoài Trên thực tế mộtsản phẩm được coi là mới nếu như sản phẩm đó chưa được sản xuất hoặcgiới thiệu tại thị trường nước ngoài
Các doanh nghiệp bắt buộc phải liên tục đổi mới sản phẩm của mình
vì hầu như tất cả các sản phẩm đều có một chu kỳ sống nhất định và đôi khi
vì sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế
đã dẫn đến thay đổi nhu cầu ở thị trường nước ngoài Quá trình đổi mới sảnphẩm diễn ra khác nhau ở các doanh nghiệp khác nhau tuỳ thuộc vào đặcđiểm của sản phẩm và thị trường mục tiêu của mỗi doanh nghiệp Từ đódoanh nghiệp có chính sách về sản phẩm mới cho mỗi thị trường về chất
Trang 18lượng, chủng loại, bao gói, nhãn hiệu, dịch vụ chính sách về sản phẩm mới
có thể chia theo 3 cách:
+ Sản phẩm cũ nhưng lần đầu tiên đưa đến thị trường mới này
+ Sản phẩm được cải tiến về mẫu mã, nhãn hiệu, chất lượng, dịch vụ.+ Sản phẩm đựơc chế tạo hoàn toàn mới
Đây là một trong các cách sử dụng để phát triển thị trường bằng cáchchiếm lĩnh khách hàng nhiều hơn ở thị trường hiện tại hoặc thị trường mới.+ Chiến lược giá cả: Nguyên lý của chính sách giá ở thị trường xuấtkhẩu và thị trường nội địa là không khác nhau tức là phải làm cho kháchhàng thấy được họ đã nhận được giá trị tương ứng với số tiền mà họ bỏ ra
và đồng thời doanh nghiệp phải thu được lợi nhuận ngắn hạn và dài hạn.Tuy nhiên, chính sách giá trên thị trường xuất khẩu phức tạp hơn nhiều vì
bị chi phối bởi nhiều yếu tố hơn như chi phí, thị trường , mức độ cạnhtranh, sự kiểm soát và quản lý ở nước ngoài, tỷ giá hối đoái, kinh tế, chínhtrị Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu có thể sử dụng các loạichính sách giá sau:
- Chính sách giá linh hoạt
- Chính sách giá theo chu kỳ sống của sản phẩm
Chính sách giá "hớt váng", chính sách giá "xâm nhập", chính sách giá
"giới thiệu"
- Chính sách giá theo thị trường
- Chính sách giá theo chi phí vận chuyển
- Chính sách hạ giá và chiếu cố giá
+ Chiến lược phân phối sản phẩm
Phương cách chuyển hàng hoá tới tay người tiêu dùng là cả một nghệthuật kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt trong nền kinh tế với xuhướng toàn cầu hoá như hiện nay thì hoạt động phân phối sản phẩm củadoanh nghiệp trở nên đa dạng và linh hoạt hơn Chính sách phân phối là
Trang 19việc sử dụng hợp lý các kênh phân phối, tuỳ từng địa điểm thị trường, đặcđiểm tính chất của sản phẩm, điều kiện vận chuyển mà doanh nghiệp lựachọn kênh phân phối cho phù hợp Có 2 kiểu kênh phân phối, kênh phânphối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp.
- Ở kênh phân phối trực tiếp: sự buôn bán trực tiếp diễn ra giữa nhàsản xuất và người tiêu dùng Kênh này được sử dụng trong trường hợpdoanh nghiệp phát triển đủ mạnh tiến tới tổ chức bán hàng trực tiếp để có
cơ hội nắm bắt và kiểm soát thị trường
- Kênh phân phối gián tiếp: là hình thức phân phối qua các trung gian
để xuất khẩu ra nước ngoài Đây là loại kênh mà các doanh nghiệp khi mớitham gia vào thị trường quốc tế thường sử dụng với ưu điểm là ít phải đầu
tư, hạn chế rủi ro có thể xảy ra ở nước nhập khẩu nhưng có nhược điểm làkhông trực tiếp nắm bắt thông tin từ phía khách hàng nên không thích ứngnhanh với biến động của thị trường
+ Chiến lược xúc tiến
Xúc tiến bao gồm các hoạt động quảng cáo, khuyến mại, xúc tiến bánhàng, hội chợ triển lãm, quan hệ với công chúng Chính sách xúc tiến giúpcho doanh nghiệp tìm kiếm nhiều bạn hàng, nắm bắt thông tin về kháchhàng và đối thủ cạnh tranh Đó là một công cụ chiếm lĩnh thị trường rất hữuhiệu của các doanh nghiệp hiện nay
* Đối với nguồn lực của doanh nghiệp
Để phát triển thị trường thì các kế hoạch, chiến lược muốn thực hiệnđược phải có nguồn lực của doanh nghiệp Vì vậy việc ổn định và pháttriển nguồn vốn, nguồn nhân lực, trình độ quản lý, kinh nghiệm kinh doanh
sẽ đảm bảo cho việc phát triển thị trường đạt hiệu quả Để sử dụng hiệu quảcác nguồn lực đó doanh nghiệp cần có kế hoạch phân bổ chúng một cáchhợp lý cho từng mục tiêu chiến lược
Trang 202 Biện pháp đối với khách hàng.
Đặc điểm nhu cầu và mong muốn của các khách hàng có thể rất khácnhau tại những thị trường khác nhau
* Đối với phát triển thị trường theo chiều rộng
Giai đoạn đầu của việc phát triển thị trường theo chiều rộng kháchhàng còn ít và nhu cầu đặt hàng khá nhỏ, mang tính thăm dò là chính Việckhách hàng mới có quan hệ lâu dài với doanh nghiệp hay không phụ thuộcrất lớn vào mức độ thoả mãn với lô hàng đầu Trong trường hợp này doanhnghiệp cần tạo ra hình ảnh tốt về doanh nghiệp thông qua hoạt động quảngcáo, khuyếch trương về doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp,doanh nghiệp cũng có thể sử dụng biện pháp đa dạng hoá kinh doanh vàđưa các sản phẩm mới để thâm nhập vào thị trường mới này với các dịch
vụ đi kèm
* Đối với trường hợp phát triển thị trường theo chiều sâu
Khách hàng mà doanh nghiệp hướng tới để tác động bao gồm cáckhách hàng hiện tại, khách hàng của các đối thủ cạnh tranh và các kháchhàng chưa sử dụng sản phẩm đó Để tăng thị trường của mình doanh nghiệpcần có các biện pháp sau:
+ Doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp như quảng cáo, khuyếchtrương sản phẩm, cung cấp các dịch vụ trước và sau khi bán đối với cáckhách hàng hiện tại chưa thấy được lợi ích của sản phẩm hoặc chưa đượcthoả mãn nhu cầu hoặc có nhu cầu về sản phẩm đó
+ Doanh nghiệp có thể sử dụng biện pháp phát triển sản phẩm đối vớithị trường đang có xu hướng bão hoà về sản phẩm hiện tại để tăng khả năngcạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường này, thông qua việc cải tiếnmẫu mã, chất lượng, kiểu dáng sản phẩm và các dịch vụ đi kèm
+ Đối với khách hàng của đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp cần cho
họ thấy được sự khác biệt, những ưu thế giữa sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 21và các đối thủ cạnh tranh Trong khi đó để thuyết phục các khách hàngchưa sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp, chính sách xúc tiến cần tậptrung vào gợi mở nhu cầu của họ.
3 Biện pháp đối với đối thủ cạnh tranh.
Để phát triển thị trường xuất khẩu doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu
kỹ về đối thủ cạnh tranh như sản phẩm, mức độ thoả mãn nhu cầu củakhách hàng về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm mà đối thủ cạnhtranh cung ứng, các kiểu chiến lược marketing hỗn hợp mà đối thủ sử dụng
về sản phẩm, giá cả, kênh phân phối quảng cáo, xúc tiến bán Từ đó doanhnghiệp có thể xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh trên thị trường Cómột số chiến lược thường được sử dụng như:
* Chiến lược tấn công trực diện: Là kiểu chiến lược mạnh mẽ nhấttheo chiến lược này doanh nghiệp triển khai tất cả các hoạt động marketing
có thể để tấn công đối thủ như hoàn thiện sản phẩm, tạo cho sản phẩm củamình sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, giảm thiểu chi phí để có thể
hạ giá, thiết lập hệ thống kênh phân phối hoàn hảo và các hoạt động xúctiến khuyếch trương mạnh mẽ Kết quả của chiến lược này phụ thuộc vào
sự bền bỉ của cả 2 bên Tuy nhiên, nó đòi hỏi hãng thách thức phải có sứccạnh tranh hơn hẳn đối thủ cạnh tranh
* Chiến lược tấn công mạn sườn: đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm rađược những điểm yếu của các đối thủ cạnh tranh để tấn công vào đó và làmnổi bật mình lên ở những điểm mà đối thủ yếu như về chất lượng, mẫu mã,dịch vụ đi kèm sản phẩm, giá cả
* Chiến lược tấn công đường vòng: là chiến lược cạnh tranh gián tiếptránh được sự đối đầu giữa doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh Biệnpháp của doanh nghiệp sử dụng là thực hiện đa dạng hoá sản phẩm
Ngoài ra còn có các chiến lược khác như chiến lược tấn công bao vây,chiến lược tấn công du kích
Trang 22IV- CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG.
Doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh trên thị trường thường chịutác động của nhiều yếu tố Thông thường các yếu tố này được chia ra làm 2nhóm: - Nhóm các yếu tố khách quan
- Nhóm các yếu tố chủ quan
1 Các yếu tố khách quan.
Các yếu tố khách quan là các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp nhưkhách hàng, các đối thủ cạnh tranh, luật pháp, chính trị các doanh nghiệpkhông thể điều khiển chúng theo ý muốn của mình mà chỉ có thể cố gắngthích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của chúng, nâng cao vịthế của doanh nghiệp trên thương trường
* Các yếu tố văn hoá xã hội
Yếu tố văn hoá xã hội là yếu tố mà bất kỳ doanh nghiệp nào khi thâmnhập vào thị trường nước ngoài đều phải nghiên cứu Trong đó yếu tố vănhoá đầu tiên cần quan tâm là văn hoá tiêu dùng của khách hàng vì đây làyếu tố quyết định đến việc mua hàng và lợi ích khi tiêu dùng hàng hoá củakhách hàng Tại các quốc gia khác nhau văn hoá tiêu dùng cũng rất khácnhau
Sau khi nghiên cứu văn hoá tiêu dùng sẽ gợi ý cho doanh nghiệp nênkinh doanh mặt hàng gì, ở thị trường nào?
Bên cạnh việc nghiên cứu về văn hoá tiêu dùng, doanh nghiệp cũngkhông thể bỏ qua quy mô dân số của thị trường, độ tuổi, cơ cấu gia đình,các tổ chức xã hội, thu nhập của dân cư, các yếu tố này giúp cho doanhnghiệp phân chia thị trường thành các đoạn và chọn ra những đoạn phù hợpnhất để khai thác và thu lợi nhuận
* Môi trường chính trị, pháp luật
Yếu tố chính trị, pháp luật có tác động rất lớn đến hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp Môi trường chính trị trong nước và nước
Trang 23ngoài ổn định là điều kiện thuận lợi để cho doanh nghiệp tiến hành các hoạtđộng kinh doanh Yếu tố luật pháp cũng chi phối nhiều đến khả năng mởrộng thị trường của các doanh nghiệp Trong khi tham gia vào hoạt độngthương mại quốc tế, các nhà doanh nghiệp cần lưu ý đến:
- Các quy định và luật pháp của Việt Nam về hoạt động xuất nhậpkhẩu như thuế, thủ tục hải quan, quy định về mặt hàng xuất khẩu, quản lýngoại tệ
- Các hiệp ước và hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia
- Quy định về xuất nhập khẩu của các nước mà Việt Nam có quan hệlàm ăn
- Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế liên quan đến mua bán hànghoá quốc tế như Incoterm 2000, luật bảo hiểm quốc tế, vận tải quốc tế,
* Môi trường kinh tế: bao gồm các yếu tố như tốc độ phát triển kinh
tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, thuế quan Đây là các yếu tố chủ yếu tác độngđến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế của một quốc giatăng trưởng hay giảm sút sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, khả năngtiêu dùng của dân cư, qua đó tác động đến khả năng mở rộng hay thu hẹpthị trường của doanh nghiệp Thực tế cho thấy nhu cầu nhập khẩu của Mỹgiảm nhiều khi nước này lâm vào khủng hoảng sau thảm hoạ 11-9 Trongkhi lạm phát và sự ổn định tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinhdoanh và khả năng thành công của từng chiến lược, từng thương vụ cụ thể,thì hệ thống thuế sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh bằng giá cả
* Các yếu tố tự nhiên và công nghệ
Các yếu tố này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu củadoanh nghiệp
+ Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các nước sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến chi phí vận tải, thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp
Trang 24đồng và do vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn nguồn cung ứng, mặthàng được mua, khối lượng xuất khẩu trong từng chuyến.
+ Vị trí địa lý của các nước cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn cácnguồn hàng, chẳng hạn như việc nhập khẩu khối lượng lớn hàng hoá từ cácnước vùng biển sẽ có chi phí vận chuyển thấp hơn
+ Thời gian để thực hiện hợp đồng có thể bị kéo dài do một trận bão.+ Sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép các nhà kinh doanhnắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin với khối lượng lớn
sẽ làm thuận lợi cho việc giao dịch, ký kết hợp đồng
* Các yếu tố cơ sở hạ tầng
Các yếu tố cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu.+ Hệ thống cảng biển, mức độ trang bị, độ sâu của các cảng biển sẽảnh hưởng đến khối lượng của từng chuyến tàu, tốc độ của các phương tiệnvận tải sẽ ảnh hưởng đến tốc độ thực hiện hợp đồng Hệ thống cảng biểnđược trang bị hiện đại cho phép giảm bớt thời gian bốc dỡ, thủ tục giaonhận cũng như đảm bảo an toàn cho hàng hoá xuất nhập khẩu
+ Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đặc biệt làhoạt động ngân hàng cho phép các nhà kinh doanh thuận lợi hơn trong việcthanh toán, huy động vốn, bảo đảm lợi ích cho các nhà xuất khẩu bằng cácdịch vụ thanh toán qua ngân hàng như thanh toán theo phương thức L/C.+ Hệ thống bảo hiểm và kiểm tra chất lượng cho phép hoạt động xuấtnhập khẩu được thực hiện một cách an toàn hơn đồng thời giảm bớt mức
độ thiệt hại trong trường hợp rủi ro xảy ra
Trang 25- Ý chí, tư tưởng của ban lãnh đạo.
Khả năng kinh doanh ở mỗi thị trường có độ may rủi khác nhau vàmỗi nhà lãnh đạo có thể chấp nhận mức độ rủi ro khác nhau và điều nàyảnh hưởng đến quyết định lựa chọn cơ hội kinh doanh Những người lãnhđạo có tính tiên phong, ưa đổi mới, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm thườngthích chinh phục những thị trường mới
- Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Yếu tố này cho thấy sức mạnhcủa doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn, khả năng phân phối quản lý
có hiệu quả các nguồn vốn Thông thường các doanh nghiệp có tiềm lực vềtài chính thì việc tiến hành các hoạt động kinh doanh sẽ có nhiều thuận lợihơn, đặc biệt là đối với việc mở rộng thị trường của doanh nghiệp
- Sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp:
Sản phẩm là đối tượng được trực tiếp tiêu dùng, được đánh giá về chấtlượng, mẫu mã nên nó chính là nhân tố quyết định khiến người tiêu dùngmua sản phẩm Để mở rộng thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp trướchết phải có chất lượng, kiểu dáng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.Nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi vì vậy doanh nghiệp cần phải nắmbắt được thị hiếu của họ để cung ứng những sản phẩm thoả mãn được yêucầu đó
- Khả năng kiểm soát, chi phối nguồn hàng:
Khả năng kiểm soát nguồn cung cấp hàng hoá ảnh hưởng đến đầu vàocủa doanh nghiệp và tác động mạnh đến kết quả hoạt động kinh doanhcũng như ở khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm Việc kiểm soát chi phốitốt nguồn hàng sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp chủ động về nguồn hàng, antâm về chất lượng hàng hoá, số lượng hàng hoá, đảm bảo tín độ giao hàngcho khách Nguồn cung cấp ổn định còn giúp doanh nghiệp giảm chi phí,
ổn định được giá đầu vào, đảm bảo chữ tín trong kinh doanh
- Con người và tiềm lực vô hình của doanh nghiệp:
Trang 26Nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự thành côngcủa mỗi doanh nghiệp vì chính con người trực tiếp tham gia vào hoạt độngsản xuất và kinh doanh, thực hiện các chiến lược thị trường của doanhnghiệp Bên cạnh yếu tố con người tiềm lực vô hình cũng ảnh hưởng rấtlớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, đó là những ấn tượng tốttrong khách hàng về hình ảnh, uy tín, nhãn mác và vị thế của doanh nghiệptrên thị trường.
V- HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN.
1 Đặc điểm
Thủ công mỹ nghệ là mặt hàng thuộc các làng nghề truyền thống nênthường chứa đựng trong nó những yếu tố văn hoá đặc sắc của từng dân tộc.Mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng thể hiện qua sắc thái của mỗi sảnphẩm, chính điều này tạo nên sự độc đáo, khác biệt giữa các sản phẩm thủcông mỹ nghệ ở các quốc gia khác nhau
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ thường mang tính thẩm mỹ cao nhờ néttinh xảo và độc đáo thể hiện qua kiểu dáng, hoa văn, đường nét trên mỗisản phẩm Chúng được tạo ra nhờ sự khéo léo của những người thợ thủcông sản xuất bằng tay là chủ yếu nên sản phẩm này rất phong phú về mẫu
mã, kiểu dáng song chất lượng thường không đồng đều, khó tiêu chuẩnhoá
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu tạinhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang đậm bảnsắc văn hoá Việt Nam Cùng với sự mở rộng giao lưu văn hoá, kinh tế vớicác nước trên thế giới, mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã cómặt trên nhiều nước Châu Âu, Châu Á, Nam Mỹ, Châu Úc, và đã khẳngđịnh được chỗ đứng trên thị trường quốc tế
Trang 272 Vai trò của hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hàng năm đã đem về cho đất nướcmột lượng ngoại tệ lớn và không ngừng tăng lên qua các năm Kim ngạchxuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam năm 1999 mới chỉ là 111triệu USD, đến năm 2000 đã tang lên 237 triệu USD, năm 2002 đạt 300triệu USD Theo dự đoán của các chuyên gia thì kim ngạch xuất khẩu mặthàng này sẽ tiếp tục tăng lên 500 triệu trong các năm tới Đặc biệt đây là 1trong 10 mặt hàng xuất khẩu đem lại cho đất nước nhiều ngoại tệ nhất, trên
cả hạt tiêu và hạt điều
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đem lại một lượng lớn công ăn việclàm, giải quyết tình trạng dư thừa lao động nhất là lao động nông thôn, giúpnông dân có thêm thu nhập nâng cao đời sống
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ góp phần đẩy mạnh giao lưu vănhoá giữa Việt Nam và thế giới Ngoài ra việc đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàngnày trong mấy năm gần đây đã khôi phục các làng nghề truyền thống gópphần bảo tồn và phát triển những di sản văn hoá dân tộc
Như vậy phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ khôngchỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn có ý nghĩa văn hoá, xã hội to lớn Vì vậycần phải có những biện pháp phù hợp nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánhcủa mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong những năm tới
Trang 28CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU BAROTEX
I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU BAROTEX - VIỆT NAM
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Tháng 4/1971 Công ty Xuất nhập khẩu BAROTEX được thành lập(tách ra từ Công ty Xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ) Công ty ra đờicùng với bao biến đổi lớn lao của đất nước, trong suốt quá trình đó Công tyBAROTEX không ngừng được củng cố và phát triển để đáp ứng những yêucầu của thị trường trong cơ chế mới
Ngay từ những ngày đầu được thành lập một mặt Công ty Xuất nhậpkhẩu mây tre đan vừa củng cố tổ chức, xây dựng cơ sở vật chất, mặt khácCông ty luôn phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ xuất nhập khẩu hàng mây tre
do Nhà nước giao Công ty lúc đó là đơn vị quốc doanh duy nhất được Nhànước giao nhiệm vụ làm đầu mối thu mua hàng mây tre ở phía Bắc và xuấtkhẩu ra thị trường thế giới
Năm 1980, Công ty xuất nhập khẩu mây tre được đổi tên thành TổngCông ty xuất nhập khẩu mây tre
Năm 1995, theo Quyết định số 388/HĐBT về việc đăng ký lại doanhnghiệp Nhà nước, tổng Công ty xuất nhập khẩu mây tre đổi tên thành TổngCông ty xuất nhập khẩu mây tre Việt Nam, tên giao dịch quốc tế làBAROTEX, trụ sở E6 - Thái Thịnh - Đống Đa - Hà Nội Hiện nay vớichính sách khuyến khích xuất khẩu nhiều mặt hàng của Nhà nước, Công ty
đã mở rộng mặt hàng xuất khẩu của mình như gốm sứ sơn mài, hàng nông
Trang 29sản, giầy thể thao bên cạnh các mặt hàng mây tre đan truyền thống Trảiqua hơn 30 năm hoạt động và phát triển, Công ty đã thiết lập được mạnglưới kinh doanh trên thị trường quốc tế, trải đều trên khắp các châu lục:Châu á, Châu Âu, Châu Mỹ, Úc Với một nguồn năng lực năng động cótrình độ, kết hợp với những kinh nghiệm kinh doanh trong thời gian qua,Công ty đang có nhiều tiềm năng để phát triển hơn nữa.
2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty.
Là một doanh nghiệp Nhà nước, do Bộ Thương mại thành lập và trựctiếp quản lý, Công ty Xuất nhập khẩu BAROTEX Hà Nội là một pháp nhânhoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế của một doanh nghiệp độc lập, cótài khoản tại ngân hàng và có con dấu riêng Vì vậy Công ty có những chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Chức năng: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầucủa thị trường trong và ngoài nước Các mặt hàng xuất khẩu của Công tybao gồm: hàng mây tre đan, hàng cói, gốm sứ sơn mài, thêu ren, nông sản,giầy thể thao
Các mặt hàng nhập khẩu bao gồm các loại vật tư nguyên liệu phục vụcho xuất khẩu như xi măng, sắt thép, các loại hoá chất dùng cho sản xuấthàng thủ công mỹ nghệ
Trang 30+ Công ty có thể lập đại diện, chi nhánh, các cơ sở vật chất trong vàngoài nước.
+ Tham gia hội chợ, triển lãm, quảng cáo trong và ngoài nước
3 Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Bộ máy tổ chức của Công ty Xuất nhập khẩu BAROTEX được tổchức theo kiểu trực tuyến
Kiểu tổ chức này đã tăng cường sự trao đổi thông tin giữa giám đốc,các phòng ban và các chi nhánh, tạo nên một sự đoàn kết thống nhất trongtập thể Công ty
Nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty như sau:
+ Phòng tổ chức: Có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên quan đếnquản lý nhân sự, thưởng, các chế độ chính sách
+ Phòng kế hoạch thị trường: Có nhiệm vụ nghiên cứu thị trườngtrong và ngoài nước, thực hiện tiếp thị và các hoạt động đối ngoại tạo môitrường kinh doanh cho Công ty
+ Phòng kế toán tài chính: Quản lý vốn, hạch toán kinh tế, kiểm traviệc sử dụng tài sản, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ động trong kinhdoanh
+ Phòng kiểm toán: Kiểm tra sổ sách kế toán
+ Phòng hành chính quản trị: Làm các công việc về tổ chức bộ máy,công tác cán bộ, đào tạo, tổ chức phong trào thi đua
+ Phòng quản lý nhà đất: Quản lý và cho thuê nhà
+ Khối phòng chuyên doanh gồm 5 phòng chuyên doanh
CD1: Kinh doanh mặt hàng mây tre đan
CD2: Xuất khẩu mặt hàng gốm sứ
CD3: Xuất khẩu mặt hàng thêu ren
CD4: Xuất khẩu mặt hàng sơn mài
CD5: Xuất khẩu mặt hàng gỗ mỹ nghệ, bàn ghế
Trang 31Xuất khẩu tổng hợp gồm tổng hợp 6 và tổng hợp 7 xuất khẩu các mặthàng thủ công mỹ nghệ, nông sản, giày dép.
Phòng nhập khẩu: Nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất
Trang 32CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TỔNG CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU BAROTEX
Khối kinh doanh
Chuyên doanh mây tre
- thủ công mỹ nghệ
Kinh doanh tổng hợp
Các chi nhánh trực thuộc Công ty
Chi nhánh Hải Phòng Xí nghiệp giầy thể Chi nhánh Đã Nẵng Chi nhánh S i Gònà
Trang 344 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty.
4.1 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 1999-2002
Mặc dù trong thời gian qua, tình hình kinh doanh của Công ty cónhiều biến động, kim ngạch xuất nhập khẩu bị giảm nhưng Công ty đã lấymục tiêu hiệu quả kinh doanh đặt lên hàng đầu và kinh doanh có lãi
Bảng 1: Các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu Đơn vị 1999 2000 Năm 2001 2002
Kim ngạch XNK 1.000$ 21.530 19.858 16.140 15.500
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Nhìn chung doanh thu và lợi nhuận của Công ty khá ổn định mặc dùkim ngạch xuất nhập khẩu giảm trong mấy năm qua Điều này chứng tỏCông ty đang hoạt động kinh doanh có hiệu quả Để đạt được kết quả nàytrong bối cảnh thị trường thế giới cạnh tranh ngày càng quyết liệt trước hết
là do sự cố gắng của cán bộ công nhân viên trong Công ty, ngoài ra cònphải kể đến chính sách tiết kiệm chống lãng phí, giảm được chi phí sảnxuất và kinh doanh
Là một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty luôn nghiêm chỉnh chấphành nộp ngân sách Nhà nước Năm 1999 khoản nộp ngân sách đạt 3,4 tỷđồng, năm 2000 tăng lên 6 tỷ và tiếp tục tăng trong 2 năm sau đạt 8,3 tỷđồng năm 2001 và 8,5 tỷ đồng năm 2002 Lợi nhuận của Công ty khôngngừng tăng trong 3 năm từ 1999 đến 2001 nếu như năm 1999 lợi nhuậncủa Công ty chỉ đạt 589 triệu đồng thì năm 2000 đã đạt mức 2 tỷ đồng tức
là bằng 1,4 tỷ so với năm 1999, con số này tiếp tục tăng lên 2,17 tỷ năm2001
Năm 2002 lợi nhuận giảm nhẹ đạt 2 tỷ đồng kim ngạch xuất khẩugiảm, tuy nhiên Công ty vẫn đảm bảo khoản nộp ngân sách cho Nhà nước
Trang 35đạt 8,5 tỷ đồng góp phần đáng kể vào việc tăng thu cho ngân sách Nhànước.
4.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công ty.
Bảng số 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1999-2002
n v : 1000 USDĐơn vị: 1000 USD ị: 1000 USD
Nguồn: Tổng Công ty xuất nhập khẩu BAROTEX
Kim ngạch xuất khẩu của Công ty mấy năm qua từ năm 1999 đến
2002 đều bị giảm Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu của Công ty đạt 16.124triệu USD, năm 2000 giảm 5,8% còn 15.190 triệu USD, tiếp tục giảmxuống còn 12.364 triệu USD và 12.000 triệu USD năm 2002
Nguyên nhân của sự giảm sút kim ngạch xuất khẩu trong mấy nămqua là do một số thị trường truyền thống của Công ty là Liên bang Nga,Séc, Hungary, Hàn Quốc giảm sút Ngoài ra cạnh tranh trên thị trường càngquyết liệt đặc biệt là cạnh tranh với các nước trong khu vực châu Á nhưTrung Quốc, Singapore, Philipine
Bảng 3: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Công ty
n v : 1.000 USDĐơn vị: 1000 USD ị: 1000 USD
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Trang 36Mặt hàng xuất khẩu của Công ty bao gồm 3 nhóm chính, đó là nhómhàng mây tre đan - thủ công mỹ nghệ, giầy thể thao và nhóm tổng hợp (nôngsản và hàng khác) trong đó mặt hàng mây tre đan - thủ công mỹ nghệ là sảnphẩm truyền thống của Công ty Kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này lớn
và chiếm tỷ trọng cao nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Công ty
Năm 1999, mặt hàng mây tre đan - thủ công mỹ nghệ có kim ngạch6,3 triệu USD, tăng lên 8,5 triệu USD vào năm 2000 chiếm tỷ lệ 56,4%tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp tục tăng lên 58,2% năm 2001, đến năm
2002 giảm xuống còn 52,5% song vẫn giữ vị trí chủ lực trong các mặt hàngxuất khẩu của Công ty
Mặt hàng giầy thể thao của Công ty cũng đang có chiều hướng pháttriển và có tỷ trọng tăng đều qua các năm Năm 1999 mặt hàng này chiếm19,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, đến năm 2001 đã tăng lên 32,8% với kimngạch đạt 4 triệu USD, và tiếp tục tăng lên 4,6 triệu USD năm 2002 đạt38,3% tổng kim ngạch xuất khẩu Kết quả này cho thấy mặt hàng giầy thểthao có vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu củaCông ty và có nhiều tiềm năng để phát triển
Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Công ty thìviệc mở rộng các mặt hàng xuất khẩu luôn là mục tiêu phát triển của Công
ty Việc xuất khẩu thêm các mặt hàng như nông sản đã góp phần tăng kimngạch xuất khẩu cho Công ty Tuy nhiên, mặt hàng này có kim ngạchkhông ổn định và còn thấp, mới chỉ chiếm 9% kim ngạch xuất khẩu năm
2001 và 9,2% năm 2002 Trong thời gian tới Công ty sẽ mở rộng thêm mặthàng xuất khẩu bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhằm tăng nhanhkim ngạch xuất khẩu của Công ty
Trang 37Bảng 4: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty
Đơn vị: 1.000 USD
Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Nhật Bản 2.000 12,4 3.300 21,7 2.986 24,2 2.222 18,5 Đài Loan 2.020 12,5 600 3,9 3.989 32,3 4.615 38,5 Hàn Quốc 3.305 20,5 2.800 18,4 24 0,2 1,08 0,05 Tây Ban
Nguồn: Tổng Công ty xuất nhập khẩu BAROTEX
Thị trường xuất khẩu của Công ty khá rộng lớn gồm khoảng 40 nướctrên khắp các châu lục
* Tại thị trường Châu Á: Châu Á là thị trường lớn nhất của Công tyvới kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 54% trong đó Nhật Bản, Đài Loan,Hàn Quốc là những bạn hàng truyền thống có kim ngạch nhập khẩu lớnnhất trong khu vực này Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu của Công ty sangHàn Quốc đạt 3,3 triệu USD, Đài Loan đạt 2 triệu USD, Nhật Bản 2 triệuUSD, kim ngạch xuất khẩu sang 5 thị trường này chiếm 45,4% tổng kimngạch xuất khẩu của Công ty và chiếm hầu hết kim ngạch xuất khẩu sangthị trường Châu Á, một số thị trường như Trung Quốc, Iran, Arập, Ấn Độ
có kim ngạch không đáng kể
Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản tăng lên 3,3 triệuUSD, kim ngạch xuất khẩu sang Đài Loan giảm đột ngột chỉ còn 0,6 triệuUSD, kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc giảm còn 2,8 triệu USD Tuy
Trang 382001 và 2002 kim ngạch xuất khẩu sang Đài Loan tăng mạnh trong khi haithị trường Nhật Bản và Hàn Quốc giảm nhập khẩu, Nhật bản giảm còn 2,2triệu USD, Hàn Quốc giảm mạnh còn còn 1.080 USD năm2002.
Mặc dù vậy tỷ trọng xuất khẩu sang 3 thị trường này vẫn rất cao, đạt56,7% năm 2001 và 57% năm 2002 tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty.Tuy các thị trường Trung Quốc, Singapore, A rập xêut, Iran, Israel,
Ấn Độ có kim ngạch nhập khẩu còn nhỏ bé chỉ chiếm khoảng 3,5% songđây là những thị trường có nhu cầu lớn về mặt hàng thủ công mỹ nghệ màCông ty cần đẩy mạnh xuất khẩu trong những năm tới
* Tại thị trường châu Âu: Công ty có kim ngạch xuất khẩu sang thịtrường châu Âu khá lớn, kim ngạch xuất khẩu bình quân từ năm 1999 đến
2002 đạt 42,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty
Thị trường châu Âu của Công ty bao gồm các nước: Anh, Pháp, Ý,Đan Mạch, Thuỵ Điển, Nauy, Hà Lan, Đức, Liên bang Nga, Tây Ban nha,
Bồ Đào Nha, Thuỵ sỹ, Bỉ, Bungary, Rumani, Séc, Trong đó Liên bangNga, Hungary, Cộng hoà Séc, Tây Ban Nha, Ý vốn là thị trường truyềnthống của Công ty song gần đây xuất khẩu của Công ty sang các thị trườngnày bị giảm, đặc biệt xuất khẩu sang Liên Ban Nga giảm mạnh do nhữngbiến động trên thị trường nước này Năm 2000 xuất khẩu sang Nga còn đạt2,6 triệu USD, đến năm 2001 giảm xuống chỉ còn 153.000 USD Tại thịtrường các nước Tây Ban Nha, Ý, Pháp kim ngạch xuất khẩu của Công tychưa ổn định, mặc dù nhu cầu về mặt hàng thủ công mỹ nghệ và nông sản
ở khu vực Châu Âu là rất lớn song thị phần của Công ty ở thị trường nàycòn nhỏ bé, năm 1999 kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang thị trườngChâu Âu đạt 7,6 triệu USD, tăng lên 8 triệu USD năm 2000, hai năm 2001
và 2002 giảm xuống còn 4 triệu USD Trong những năm tới mục tiêu củaCông ty là đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa vào khu vực thị trường Châu Âu
Trang 39bằng việc phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá các mặthàng xuất khẩu.
* Thị trường Châu Mỹ của Công ty có các nước Chilê, Argentina,Brazil, Mỹ, Canada Trong đó kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang Chilêkhá ổn định và tăng đều qua các năm, đạt 123.000 USD năm 1999, tăng lên150.000 USD năm 2001 và tiếp tục tăng 210.000 USD năm 2002, chiếm1,8 tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty Mỹ và Canada là các thị trườngmới của Công ty với kim ngạch xuất khẩu còn thấp song có xu hướng tănglên trong những năm tới
Năm 1999 xuất khẩu của Công ty vào Mỹ mới chỉ đạt 20.000 USDvới tỷ trọng 0,12% kim ngạch xuất khẩu, năm 2002 tăng lên 158.000 USDvới tỷ trọng 1,3% kim ngạch xuất khẩu của Công ty Thị trường Châu Mỹtheo dự đoán của các chuyên gia là có nhiều tiềm năng phát triển vì vậyCông ty cần phải biết khai thác thị trường này một cách có hiệu quả bằngcách đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu và tăng cường xúc tiến thương mạivới các nước trong khu vực này
* Thị trường Châu Phi của Công ty
Tại thị trường Châu Phi, Công ty mới chỉ xuất khẩu sang Angêri vàTuynidi với kim ngạch rất nhỏ bé chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng kim ngạchxuất khẩu của Công ty Thị trường này còn khá mới mẻ với Công ty, Công
ty cần nghiên cứu xuất khẩu các mặt hàng phù hợp với nhu cầu của kháchhàng ở thị trường Châu Phi
* Thị trường Châu Úc (Australia)
Kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang Châu Úc mới chỉ đạt 0,3%tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty Con số này còn quá nhỏ bé so vớinhu cầu ở thị trường này
Qua phân tích tình hình xuất khẩu của Công ty ta thấy mặt hàng xuấtkhẩu của Công ty đã được mở rộng, khá đa dạng và phong phú Xuất khẩu
Trang 40nhiều loại hàng hoá sẽ giúp Công ty phân tán được rủi ro kinh doanh, tăngkhả năng thâm nhập vào thị trường mới của Công ty Hiện nay Công ty cómột mạng lưới thị trường trên toàn thế giới, ngoài các thị trường truyềnthống như Nhật Bản, Đài Loan, Ý, Tây Ban Nha, hàng năm Công ty luôn
mở rộng thêm các thị trường mới Mặc dù số lượng thị trường khá lớnnhưng giá trị xuất khẩu sang từng thị trường chưa cao so với nhu cầu ngàycàng tăng trên các thị trường Do vậy, để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩutrong những năm tới, Công ty cần phải xây dựng cho mình chiến lược pháttriển thị trường cùng với việc đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu
II- PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÔNG TY GIAI ĐOẠN 1999-2002.
1 Kết quả hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giai đoạn 1999-2002.
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty
n v : 1.000 USDĐơn vị: 1000 USD ị: 1000 USD
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Thủ công mỹ nghệ là mặt hàng truyền thống trong nhiều năm qua với
tỷ trọng cao nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Công ty Năm 1999kimngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty đạt 6,3 triệuUSD Đến năm 2000 tăng 34,8% đạt 8,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 56,3%