Với mục tiêu gắn liền với lý luận khoa học và thực tiễn qua quá trìnhthực tập thại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng hạ, được sự giúp đỡ củaban lãnh đạo, của cán bộ nhân viên phòng ki
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động của Ngân hàng gắn liền với cơ chế quản lý kinh tế việcchuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước đòi hỏi hoạt động của Ngân Hàng phải là đòn bảy kinh tế, là công
cụ kiềm chế và đầy lùi lạm phát nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Hệ thống Ngân hàng đã được cải tổ và hoạt động có hiệu quả, đóng vai trònòng cót trên thị trường tiền tệ Chiến lược kinh tế của Nhà nước đã chỉ rõ
“Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tiền tệ nhằm thực hiệntốt các mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2010”
Chức năng nhiệm vụ to lớn trên của Ngân hàng đặt ra cho ngân hàngphải kành mạnh về tài chính, vững chắc về quản lý của mình Hoạt động củangân hàng chủ yếu là huy động vôn và sử dụng nguồn, nên việc nghiên cứunghiệp vụ khai thác vốn nhằm nâng cao hịêu quả sản xuất kinh doanh củangân hàng luôn là vấn đề đặt ra trong công tác quản lý của cán bộ lãnh đạongân hàng
Với mục tiêu gắn liền với lý luận khoa học và thực tiễn qua quá trìnhthực tập thại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Láng hạ, được sự giúp đỡ củaban lãnh đạo, của cán bộ nhân viên phòng kinh doanh và phòng kế toán, đồngthời có sự góp ý kiến tận tình của cô giáo Trần Thị Thuý Sửu, tôi đã cân nhắc
và chọ đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ khai thác vốn
tại chi nhánh Ngân Hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Láng Hạ.”
I / Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và nghịquyết đạt hội VII Đảng bộ thành phố Hà Nội về phát triển kinh tế nisc ta theotheo hướng CNH − HĐH, duy trì nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ
9− 10% hàng năm Việt Nam cần huy động vốn lớn chiếm từ 25 − 30% GDP.Trong đó nguồn ngân hàng đóng vai trò to lớn đáp ứng nhu cầu về vốn củanền kinh tế
Nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa có sự điều tiết của nhà nướ, nhu cầu về vốn là rất lớn để thực hiện côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Vì vậy vấn đề cần thít đặt ra là, một mặt ra
Trang 2sức tận khai mọi nguồn vốn có thể có trong nước đến mức cao nhất, coi đây lànguồn vốn có tính chất cơ bản cho sự phát triển, mặt khác thu hút một cách cóhiệu quả nguồn vốn từ nước ngoài để bổ xung cho việc thiếu hụt của nguồnvốn trong nước.
Để tồn tại và phát triển Ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ phải có chiếnlược phát triển nguồn vốn có sức hấp dẫn và phong phú đủ sức cạnh tranh trênthị trường, trước tình hình đó đề tài đã được lựa chọn nghiên cứu
II/ Mục đích nghiên cứu
+ Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ khai thác vốn
+ Phân tích thực trạng nghiệp vụ khai thác vốn tại ngân hàng nôngnghiệp Láng Hạ và có định hướng cho những năm tới
+ Nêu lên những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao khả năng đápứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế của các ngân hàng thương mại nói chung
và ngân hàng nông nghiệp nói riêng, trong mối quan hệ hài hoà với cácphương thức tạo vốn khác
III/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1/ Đối tượng nghiên cứu
Ngiên cứu những nội dung chủ yếu của nghiệp vụ khai thác vốn tại chinhánh ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ
2/ Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của nghiệp vụ khai thác vốn đối với hạotđộng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàngnông nghiệp Láng Hạ nói riêng, mối quan hệ của nghiệp vụ này với sự pháttriển của nền kinh tế, từ đó rút ra những mặt hạn chế, nêu lên những kiến nghịnhằm hoàn thiện và mở rộng nghiệp vụ khai thác vốn tại ngân hàng nôngnghiệp Láng Hạ
Về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu nghiệp vụ khia thác vốn trongđiều kiện thứ tế hiện nay và đề ra phương hướng trong thời gian tới
IV/ Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử trên cơ sở các học thuyết kinh tế, đặc biệt là học thuyết chính
Trang 3trị Mac LêNin: Sử dụng phương pháp chỉ số, phương pháp so sánh khái quáthoá và phương pháp tổng hợp Sử dụng số liệu thống kê và mô hình ướclượng để luận chứng.
V/ Những đóng góp mới của đề tài:
− Đề tài đã làm sáng tỏ những luận cứ khoa học mang tính lý luận thựctiễn về hoạt động tạo vốn của ngân hàng thương mại trong cơ chế thị trường
− Đề tài đã phân tích và chứng minh được thực trạng về hoạt động tạovốn của ngân hàng nông nghiệp Láng hạ và những vấn đề tồn tại cần đượctiếp tục giải quyết để hoàn thiện trong tương lai
− Đề tài đã đưa ra những giải pháp về vĩ mô, vi mô để nhằm hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả của hoạt động tạo vốn của ngân hàng thương mại nóichung và ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ nói riêng
VI/ Danh mục các từ viết tắt trong bài viết này
− NH: Ngân hàng
− NHTM: Ngân hàng thương mại
Chương I: Những vấn đề cơ bản về nghiệp vụ khai thác vốn của ngânhàng thương mại
I/ Khái niệm cơ bản về vốn
2/ Vốn nhân lực
Trang 4Vốn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà một người lao độngtích luỹ được Nó được đánh giá cao vì có tiềm năng đem lại thu nhập trongtương lai Cũng như vốn vật chất, vốn nhân lực là kết quả đầu tư trong quákhứ với mực đích tạo ra thu nhập trong tương lai.
3/ Vốn tài chính
Vốn tài chính không phải là tài sản hữu hình Nó không thể trực tiếptham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ mặc dù chúng được sửdụng để mua các yếu tố dùng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ
Như vậy sự kết hợp hài hoà giữa vốn nhân lực, vốn vật chất và vốn tàichính giúp cho các doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra những sản phẩm cầnthiết cho xã hội Bất cứ một quá trình sản xuất nào cũng cần phải có vốn Vốn
là khâu mắt xích quan trọng đầu tiên của một quá trình sản xuất và lưu thônghàng hoá
Vốn tài chính được thể hiện dưới các hình thức tiền tệ Tiền tệ trong tuỹnghiệp vụ của Ngân hàng, tiền tồn quỹ tại các đơn vị và các tổ chức kinh tế,tiền tiết kiệm trong dân cư Nguồn vốn này rất phong phú và đa dạng nhưngchúng ta chưa khai thác hết để phục vụ cho việc phát triển kinh tế
II/ Vốn và các hình thức tạo vốn của ngân hàng thưong mại trong nềnkinh tế thị trường
1/ Khái niệm cơ bản về vốn của Ngân hàngthương mại
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NH tạo lậphoặc huy động, dùng để cho vay, đầu tư hoặc hiện các dịch vụ kinh doanhkhác
Thực chất, nguồn vốn NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạmthời sản xuất trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà người chủ
sở hữu chúng gửi vào NH với các mục đích khác nhau Hay nói cách khác, họchỉ có quyền sở hữu còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho
NH, để rồi ngân hàng phải trả lại cho họ một khảon thu nhập Và như vậyngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại dưới hình thức tiền
tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích tích mọi hoạtđộng kinh tế phát triển Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định đến
Trang 5sự tồn tại và hoạt động kh của ngân hàng nông nghiệp Nhìn chung, vốn chiphối toàn bộ các hoạt động của ngân hàng thương mại.
2/ Két cấu và tính chất vốn kinh doanh của NHTM
2.1/ Vốn tự có
Vốn tự có củan NHTM là những giá trị tiền tệ của NHTM tạo lập được,thuộc sở hữu của ngân hàng Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổngnguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi mới thànhlập một ngân hàng Do tích chất thường xuyên ổn định của vốn tự có, ngânàhng có thể chủ động sử dụng vào các mục đích khác nhau như; trang bị cơ sởvật chất, tạo tái tài sản cố định (văn phòng, kho tàng, trang thiết bị ) phục vụcho bản thân Ngân hàng, cho vay và đặc biệt là tham gia đầu tư, góp vốn liêndoanh Mạt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảmbảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trườnghợp Ngân hàng gặp nhiều thua lỗ Nó còn là một trong những căn cứ quyếtđịnh đến quy mô và khối lượng vốn huy động của Ngân hàng (theo pháp lệnhngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính quy định vốn huy độngkhông được vượt quá 20 lần vốn tự có) Như vậy, quy mo và sự tăng trưởngcủa vốn tự có sẽ quyết định đến năng lực và ưu thế phát triển của NH Về bảnchất, vốn tự có là một bộ phận của tài sản nợ, mà mỗi thành phần của nó gắnliền với một loại nghiệp vụ nhất định
Vốn tự có của NHTM gồm những thành phần cơ bản sau:
- Vố cơ bản là vốn pháp định - vốn điều lệ Trong đó mức vốn phápđịnh là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập Ngân hàng do pháp luật quyddịnh Khác với vốn pháp định, vốn điều lệ lại là vốn do các cổ đông đónggóp và được ghi vào trong điều lệ hoạt động của Ngân hàng và theo quy địnhtối thiểu phải bằng vốn pháp định Đối với các Ngân hàng tư Ngân hàngân,đây là vốn sở hữu riêng của doanh nghiệp và được hìNgân hàng thàNgânhàng sau một quá trìNgân hàng tích tụ tập trung vốn lại, đối với các Ngânhàng quốc doanh được phép hoạt động trên cơ sở vốn ban đầu do ngân sáchcấp Vốn điều lệ của các Ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp dướihình thức mua cổ phiếu, còn với Ngân hàng liên doanhlà sự góp vốn từ cácbên liên doanh
Trang 6- Vố tự có bổ sung: Vốn của các NHTM không ngừng được tăng lêntheo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung Vố tự có bổ sung bao gồm:
+ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, có mục đích tăng cường vốn tự cóban đầu
+ Quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ
+ Ngoài các quỹ trên, vốn tự có bổ sung còn bao gồm phần lợi nhuậnchưa phân bổ hoặc các quỹ nghiệp vụ khác như: Quỹ phát triển kỹ thuậtnghiệp vụ Ngân hàng, quỹ phúc lợi, khen thưởng, khấu hao
2.2 Vốn huy động
Vốn lưu động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từcác tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông quá quá trình thực hiệncác nghiệp vụ tín dụng, thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và đượclàm vốn để kinh doanh
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau,Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có tráchnhiệm hoàn trả cả gốc và lãi đến kỳ hạn (đối với tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi
họ có nhu cầu rút vốn để chi trả (đối với tiền gửi không có kỳ hạn) Vốn huyđộng đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh củaNHNN
Vốn huy động luôn biến động, nên Ngân hàng không được phép sửdụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý đểđảm bảo khả năng thanh toán Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi: tiền gửi tại NHTM bao gồm tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửikhông kỳ hạn
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là khoản tiền gửi mà người sử dụng có thể rút rabằng séc hay tiền mặt để có thể sử dụng chúng báat cứ lúc nào và Ngân hàngphải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng Tiền gửi không kỳ hạn có mức lãisuất thấp hoặc không được trả lãi và bao gồm hai loại:
Trang 7i Tiền gửi thanh toán: Đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn trước hếtđược sử dụng để tiến hành thanh toán, chi trả bằng vốn trên tài khoản vãnglai Thông thường tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền có thời hạn và lãi suất cao
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vai trò trung gian giữa tiền gửi thanh toán vàtiền gửi tiết kiệm Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, Ngân hàng có thể sửdụng phần lớn tồn khoản vào kinh doanh Chính vì vậy, các ngân hàngThương mại luôn tìm cách đa dạng hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụngnhiều kỳ hạn khác nhau với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhucầu của mọi khách hàng
- Tiền gửi tiết kiệm
Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân người lao độngchưa sử dụng vào tiêu dùng Họ gửi vào Ngân hàng với mục đích tích luỹ tiềnmột cách an toàn và hưởng lãi từ số tiền đó Tiền gửi tiết kiệm là một dạngđặc biệt để tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhâ Trên thực tế, trong nền kinh
tế thị trường tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai loại hình tiết kiệm sau:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi có thể rút ra bất cứlúc nào nhưng không được sử dụng vào các công cụ thanh toán để chi trả chongười khác
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khoản tiền gửi có sự thoả thuận vềthời hạn gửi và có rút tiền, có mức lãi suất cao hơn với tiền gửi không kỳ hạn
- Các nguồn huy động khác:
Bên cạnh phương thức nhận tiền gửi, các Ngân hàng Thương mại cònphát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu Thực chát các nghiệp vụ này làNgân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng từ có giá Trong
đó, chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu
là loại phiếu nợ trung và dài hạn Hai loại phiếu này được Ngân hàng pháthành từng đợt, tuỳ theo mục đích với sự chấp nhận của Ngân hàng trung ươnghoặc hội đồng chứng khoán quốc gia
Tổng huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi tráiphiếu Ngân hàng, các Ngân hàng Thương mại phải trả lãi suất cao hơn so vớilãi suất huy động.Nhgiệp vụ này cjỉ được tiến hành khi Ngân hàng thiếu vốn
mà vốn tự có và vốn huy động không đủ trang trải Như vậy, khi huy động
Trang 8vốn dưới hình thức này, cac Ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định
về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động, khi
đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến các ngân hàng sẽ dừng việc huy động(bán) kỳ phiếu, trái phiếu
Tóm lại vốn huy động là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanhcủa các NHTM Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồnvốn của Ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh củaNgân hàng, NHTM tuân thủ theo quy luật về mức vốn huy động tối đa khôngđược vượt quá 20 lần vốn tự có, đồng thời mở tài khoản tiền gửu tại NHNN
để duy trì ở đó khối lượng bắt buộc Song nếu một Ngân hàng kinh doanh tiền
tệ có hiệu qảu thì không những nguồn lợi của Ngân hàng được tăng lên màcòn làm cho uy tín của nó trên thị trường cũng tăng theo, chính vì thế nguồnvốn huy động vào Ngân hàng ngày càng tăng theo, mở rộng quy mô hoạtđộng để phục vụ cho phát triển kinh tế
2.3 Vốn đi vay
Vốn đi vay là quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng Thương mại vớiNHNH, hoặc giữa các NHTM với nhau hay các tổ chức tín dụng khác CácNHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi Ngân hàng
đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ hoạt động vốn, hay nói cáchkhác Ngân hàng tạm thời thiếu vốn khả dụng Trong trườn hợp vốn vay trên
mà không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của NHTM thì NHTM sẽ đivay của NHNN
Tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay NHTMđược chia thành hai loại: Vốn vay ngắn hạn bổ sung, vay để thanh toán và vay
để tái cấp vốn
+ Vốn vay ngắn hạn bổ sung là hình thứcmmà NHTM xin vay vốnnganứ hạn bổ sung của mình Trong hình thức này, các Ngân hàng chỉ đượcvay khi còn hạn mức dụng hoặc trong hạn mức tín dụng mà Ngân hàng đãthoả thuận
+ Vố vay để thanh toán: Các Ngân hàng Thương mại vay Ngân hàngnhà nước nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanh toán (thời hạn vaythường ngắn)
Trang 9+ Tái cấp vốn Ngân hàng nhà nước cho Ngân hàng Thương mại vaytrên cơ sở chứng từ có giá Các chứng từ phải đảm bảo tính hợp lệ, hợp phápđảm bảo an toàn Tái cấp vốn gồm hai hình thức:
i Cho vay chiết khấu: Ngân hàng nhà nước nhận các chứng từ có giá
mà NHTM đã chiết khấu trước đây để thực hiện các nghiệp vụ giống như cácNHTM đã làm Tuy nhiên, việc cho vay tái chiết khấu đôiư với Ngân hàngThương mại đã được giứoi hạn trong mức cho phép (hạn mức tía chiéetkhấu) để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước
ii Cho vay bản đảm: là hình thức các NHTM đem các chứng từ có giáđến Ngân hàng nhà nước để làm vật tư bảo đảm xin vay vốn Căn cứ trên tổngmệnh giá các chứng từ có giá làm vật tư bảo đảm, Ngân hàng nhà nước sẽ chovay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo chính sách quản lý giá của Ngân hàng nhànức trong từng thời kỳ
Vốn vay Ngân hàng nhà nức là quan hệ trực tiếp giữa các NHTM nằmtrong sự điều tiết của chính sách tiền tệ Khi Ngân hàng nhà nước sử dụngcông cụ thị trường mở mua bán các trái phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn, hệ thốngngân hàng Thương mại phải chịu sự kiểm soát gắt gao của Ngân hàng nhànước
2.4 Vốn khác
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM cũng tạo được mộtkhoản vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoảntiền gửi séc bảo chi, sséc định mức và các khoản tiền phong toả do Ngân hàngchấp nhận hối phiếu Thương mại Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tàikhoản này nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng, nên được coi là tiền nhànrỗi
Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một lượng vốnđáng kể trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tíndụng khác, nhận vận chuyển cho một kách hàng hoặc một dự án đầu tư Doviệc phát tiến được thực hiện theo tiến độ công việc, nên Ngân hàng còn cóthể sử dụng tạm thời tồn khoản đó vào kinh doanh
3 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh Ngân hàng
Trang 103.1 Vốn là cơ sở để Ngân hàng Thương mại tổ chức mọi hoạt độngkinh doanh
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanhđược thì phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết đinhjkhả năng kinh doanh Riêng đối với Ngân hàng, vốn là cơ sở để Ngân hàng tổchức mọi hoạt động kinh doanh của mình Nói cách khác, NHTM không cóvốn thì không thực hiện được các nghiệp vụ kinh doanh Bởi vì dặc trưng củaNgân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là phương tiệnkinh doanh chủ yếu của NHTM Ngân hàng là đơn vị tổ chức kinh doanh loạihàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và trên thịtrường chưngs khoán (thị trường vốn dài hạn) Những Ngân hàng nhiều vốn
là những Ngân hàng có thế mạnh trong kinh doanh Chính vì thế, có thể nóivốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của Ngân hàng Do đó, ngoàivốn ban đầu cần thiết (tức là đủ vốn theo điều lệ luật định) thì Ngân hàng phảithường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt độngkinh doanh của mình
3.2 Vốn của Ngân hàng sẽ quyết định quy mo hoạt động tín dụng vàcác hoạt động khác của Ngân hàng
Vốn của Ngân hàng sẽ quyết định đến việc mở rộng hay thu hẹp khốilượng tín dụng Thông thường, nếu so với các Ngân hàng lớn thì Ngân hàngnhỏ có khoản mục đầu tư cho vay kém đã dạng hơn, phạm vi cho vay của cácNgân hàng này cũng nhỏ hơn Trong khi, các Ngân hàng lớn cho vay được tạicác thị trường trong vùng, thậm chí trong nước và quốc tế, thì các Ngân hàngnhỏ bị giới hạn về phạm vị hoạt động hẹp, mà chủ yếu trong cộng đồng.Thêm vào đó, do khả năng hạn hẹp nên các Ngân hàng nhỏ không phản ứngnhạy bén với sự biến động của lãi suất gây khả năng thu hút vốn đầu tư từcác tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế Nếu khả năng của Ngân hàng
đó dồi dào, thì chắc chắn Ngân hàng sẽ mở rộng thị trường tín dụng và cácdịch vụ Ngân hàng
Thật vậy, trong nền kinh tế thị trường, để mở rộng quy hoạt động đòihỏi các Ngân hàng lớn phải đủ lớn trên thị trường là điều trọng yếu Uy tín đóphải được thể hiện trước hết ở khả năng thanh toán chi trả cho khách hàng,
Trang 11khả năng thanh toán càng cao thì vốn khả dụng của Ngân hàng càng lớn Vìvậy loại trừ nhân tố khác, khả năng thanh toán của Ngân hàng tỷ lệ thuận vớivốn của Ngân hàng nói chung và vốn khả dụng nói riêng Với tiềm năng vốnlớn, Ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô hoạt động ngày càng
mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranhcó hiệu quả nhằm vừa giữ uy tín,vừa nâng cao thanh thế của Ngân hàng trên thương trường
3.3 Vốn của Ngân hàng quyết định năng lực cạnh tranh
Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹthuật hiện đại của Ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Đồngthời, với khả năng vốn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mởrộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khốilượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết địnhmức lãi suất vừa phải trả cho khách hàng Điề đó sẽ thu hút ngày càng nhiềukhách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng nhanh chóng và Ngânhàng có nhiều thuận lợi trong kinh doanh Đây cũng là điều kiện bổ sungthêm vốn tự có của Ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất và quy mô hoạtđộng của Ngân hàng trên mọi lĩnh vực
Đồng thời, vốn ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năngtài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là chovay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh trên thị trườngchứng khoán Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phântán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho Ngân hàng đồngthoì tăng sức cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường
4 Các hình thức tạo vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường Các NHTM làm nhiệm vụ vay tiền (hầu hết từ những gửi tiền) và chovay hoặc đầu tư với mục đích hưởng lợi qua lãi suất Đây là công việc củamột trung gian tài chính, đóng vai trò giữa người có vốn và người cần vốn.Quá trình tạo lập vốn của các NHTM được thực hiện dưới các hình thức sau:
4.1 Tạo vốn qua huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân của nó có thể rút tiền hoặc trả tiền chobên thứ ba bằng cáhc phát hành séc hoặc công cụ thanh toán không dùng tiềnmặt khác
Trang 12Đối với khách hàng, việc dễ dàng chuyển nhượng được xem như làmột yếu tố quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với số vốn dùng vào mục đíchgiao dịch chỉ là thứ yếu Do vây, loại tiền gửi này được mệnh danh là tiền gửitheo yêu càu không đem lại lãi suất cụ thể ở Việt Nam tiềng gửi thuộc loạinày được thể hiện dưới các hình thức như tài khoản tiền gửi không kỳ hạn củacác tổ chức kinh tế và tài khoản tiền gửi cá nhân Do tỷ trọng thanh toánkhông dùng tiền mặt ở Việt Nam còn quá thấp, để khuyến khích việc thựchiện thanh toán qua Ngân hàng, các NHTM ở Việt Nam đã tiến hành trả lãicho tiền gửi này (0,5% đối với tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của các đơn
vị, tổ chức kinh tế và tiền gửi cá nhân) Trong tương lai gần, khi nhu cầuthanh toán của dân cư phát triển, dịch vụ thanh toán của Ngân hàng sẽ thaythế, khuyến khích bằng lãi suất tiền gửi ở các nước phát triển loại tiền gửinày chiếm một vị trí quan trọng trong kết câu nguồn vốn của NHTM
4.2 Tạo vốn qua huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.KHác với tiền gửi không kỳ hạn có số dư tăng giảm phụ thuộc vào tìnhhình sản xuất kinh doanh của chủ tài khoản, công tác quản lý tiền mặt củaNgân hàng, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm mang tính nhạy cảm rấtcao đối với lãi suất Quá trình tạo vốn này được thực hiện dưới hai hình thứcsau:
+ tiền gửi có kỳ hạn
Mức lãi suất đối với các chứng chỉ tiền gửi có thể cố định hoặc linh hịattuỳ theo sự lựa chọn của khách hàng và đối với các chứng chỉ có lãi suất linhhoạt, khách hàng có thể gửi thêm tiền trước hạn định Các chứng chỉ tiền gửi
đã được đa dạng hoá nhằm đáp ứng được sự cạnh tranh trong huy động vốncủa các Ngân hàng Ví dụ: Các chứng chỉ tiền gửi với mệnh giá cao do Ngânhàng lớn phát hành có thể chuyển nhượng được, và chính những người muachứng khoán đã tạo ra một thị trường phụ cho các chứng chỉ này Như vậy,Ngân hàng có thể thu hút vốn thanh toáừ các nhà đầu tư lớn, mà lẽ ra các nhàđầu tư này đã có thể đầu tư vào trái phiếu kho bạc hay vào thị trường tiền tệ.Các chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng tốt này thường được cáccông ty, quỹ hưu trí và các tổ chữc chính quyền đầu tư với khối lượng lớn và
Trang 13được giao dịch trên thị trường chứng khoán thứ cấp, trước hạn định thanhtoán.
ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi(kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) đã xuất hiện với các thời hạn 3 tháng, 6tháng, 9 tháng Tuy mới được sử dụng trong hai năm trở lại đây, song hìnhthức huy động đã ngày càng phát huy vai trò trong việc tạo vốn của các Ngânhàng Trên thực tế, tỷ trọng huy động vốn bằng hình thức phát hành kỳ phiếuNgân hàng chiếm một tỷ lệ tương đối so với các hình thức huy động khác
+ tiền gửi Ngân hàng
Từ lâu tiền gửi tiết kiệm đã được coi là công cụ huy động vốn truyềnthống của các NHTM Vốn huy động từ các tài khoản tiết kiệm chiếm một tỷtrọng đáng kể trong tiền gửi Ngân hàng Tiền gửi tiết kiệm bao gồnm các loạisau: loại không kỳ hạn, có kỳ hạn và có kỳ hạn dài
- Tiền gửi không kỳ hạn
Thực chất đay là khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường Đối với khoảntiền gửi này, chủ tài khoản có thể rút tiền ra bất ú lúc nào mà không phải báotrước nhưng chỉ được rút bằng tiền mặt và người gửi tiền được hưởng lãi suất.Tuy nhiên, số dư tài khoản này thường không lớn, nhưng có ưu điểm lớn hơn
so với các tài khoản tiền gửi giao dịch ở chỗ số dư này ít biến động Chính vìvậy, đối vối loại tiền gửi này, các NHTM thường trả lãi giống như tiền gửikhông kỳ hạn của các tổ chức kinh tế NHTM cần tạo điều kiện mở rộng khaithác khoản vốn này
- Tiết kiệm có kỳ hạn
Các NHTM thường huy động tiết kiệm với kỳ hạn từ 3 tháng đến 1năm Về nguyên tắc, một khi khách hàng đã gửi tiền vào tài khoản này, thìkhông được rút ra (cả gốc và lãi) trừ khi đã hết hạn tiền gửi Để tăng sức cạnhtranh trong thu hút tiền gửi, một số NHTM đã cho phép khách hàng rút tiềntrước hạn, một phần trong tiền lãi là khách hàng được hưởng đã bị khấutrừ(có thể Ngân hàng không được trả lãi trong một thời điểm nào đó hoạckhách hàng chỉ được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn cho khoản thời giankhách hàng gửi tiền)
Trang 14- Tiết kiệm dài hạn: So với các loại hình tiết kiệm khác, đối với tàikhoản này, bất cứ lúc nào chủ tài khoản cũng có thể gửi tiền vào tài khoảnnày với số lượng không hạn chế nhưng chỉ được rút ra khi đến hạn Đây làloại hình tiết kiệm mà Ngân hàng cần tận dụng nhằm tạo ra nguồn vốn có tínhchất ổn định cao phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng dài hạn của mình
4.3 Tạo vốn qua phát hành chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm có mệnh giálớn
Việc huy động các chứng chỉ tiền gửi thuộc loại này có ý nghĩa quantrọng trong việc quản tài sản nợ hơn là các biện pháp để các NHTM huy độngvốn Chẳng hạn, ở Mỹ các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn hơn100.000USD hoặc nhiều hơn đã trở thành công cụ đáng chú ý trong việc quản
Xuất phát từ thực tế kách quan: những người mua chứng chỉ tiền gửinày rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất Để huy động vốn nhằm đáp ứngcác nhu cầu thanh toán hay nhu cầu về tín dụng, các Ngân hàng Thương mại
có thể đưa ra các mức lãi suấtcao hơn so với các loại chứng chỉ tiền gửi khác
4.4 Tạo vốn qua đi vay
Các khoản vay ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động củacác NHTM không chỉ về quy môđơ thuần mà chủyêú mang ý nghĩa như làmột biện pháp quản lý các mục tài sản nợ Các Ngân hàng có thể đi vay từnhiều nguồn khác nhau:
+ Vay Ngân hàng nhà nước Hình thức thường gặp là vay tái chiết khấuvới vai trò là người cho vay cuối cùng, Ngân hàng nhà nước vay từ các tổchức tín dụng khác luôn cho các Ngân hàng Thương mại vay với một giánhất định - đó là lãi suất tái chiết khấu Lãi suất tái chiết khấu được Ngânhàng nhà nước sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, tuỳ theo yêuc ầuđièu tiết của nền kinh tế mà lãi suất này có thể cao hay thấp Các NHTM có
Trang 15thể vay NHNN khi có nhu cầu, nhưng hầu hết các nước Ngân hàng nhà nướcđều không cho phép các NHTM lạm dụg khả năng đó bằng công cụ như hanjchế mức tái chiết khấu Tuy nhiên đay alf giải pjháp cuối cùng của NHTMtrong công tác điều hành kinh doanh
+ Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Đó là khoản vay thông thườn màcác NHTM vay lẫn nhau trên thị trường tiền tệ
Tuy nhiên, các NHTM thường sử dụng tới hai giải pháp trên trong cáctrường hợp sau:
- Thứ nhất, Các Ngân hàng thườn chỉ vay từ các Ngân hàng nhà nướckhi không còn giải pháp nào khác nhằm tránh việc sử dụng tối đa hạn ức chiếtkhấu, mà qua đó có thể gây sự chú ý của Ngân hàng nhà nước
- Thứ hai, khi một khách hàng tốt trả một khoản nợ cũ và yêu cầu vaytiếp một khoản khác mà bị từ chối vì Ngân hàng đang gặp khó khăn về vốnthì có thể Ngân hàng sẽ mất vĩnh viễn khách hàng đó vào tay các đối thủ cạnhtranh
4.5 Tạo vốn qua phát hành trái phiếu
Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ dài hạn trên thị trường vốn dướihình thức giấy nhận nợ do các tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn,trong đó cam kết trả lãi và gốc cho người mua hoặc người sở hữu trong mộtthời gian cố định Về phía người mua trái phiếu Ngân hàng là giấy chứngnhận giấy đầu tư vốn và quyền được hưởng thu nhập của người mua trên sốtiền mua trái phiếu của Ngân hàng
Thực chất, hình thức tạo vốn dã giúp cho các Ngân hàng Thương mạichủ độg trong việc huy động vốnđể thực hiện các dự án đâù tư dài hạn và vốnnày có tính chất ổn định cao về thời gian sử dụng và lãi suất
Theo kinh nghiệm tại Đức, trái phiếu Ngân hàng được phát hành vớimức lãi suất cố định và mức lãi suất này được xác định theo mưc lãi suất trênthị trường vốn tại thời điểm phát hành Hầu hết các trái phiếu Ngân hàng đềuđược đưa vào các giao dịch chính thức hay giao dịch tự do trên một hay nhiều
sở giao dịch chứng khoán Đức Do đó những người đầu tư vào trái phiếuNgân hàng có thể thu hồi vốn vào bất cứ lúc nào Chính vì vậy, điều đó không
Trang 16chỉ tạo điều kiện cho Ngân hàng trong việc thu hút vốn mà còn thuận lợi cho
cả khách hàng
Ngoài ra kinh nghiệm cho thấy: việc huy động vốn từ trái phiếu Ngânhàng khá phổ biến ở các nước, nó được xuất hiện và phát triển từ các nướcChâu Âu trong những năm 1960 của thế kỷ XX và ngày nay các giao dịch đãphát triển với quy mô quốc tế bao gồm nhiều Ngân hàng và Công ty tài chínhtham gia Nghiệp vụ huy động vốn qua trái phiếu đã đem đến cho Ngân hàngnhững khoản lợi nhuận cao bởi khả năng “tiêu thụ” các khoản vốn huy độngnày đã được nhanh chóng chuyển đến các nước đang “khát vốn” để phát triển
ở Châu á, Nam Mỹ
4.6 Các hình thức tạo vốn khác
NHTM có thể sử dụng thu hút vốn từ các nguồn vốn nhàn rỗi, từ cáchoạt động uỷ thác về các dịch vụ xã hội như dịch vụ: câu lạc bộ giáng sinh,nghỉ hè và các kế hoạch khác được mệnh danh là các “Câu lạc bộ tiết kiệm”.Các kế hoạch này được tạo ra để khuyến khích những người tiết kiệm ký thácmỗi tuần một số tiền nhất định tại Ngân hàng Số tiền này sau một thời giannhất định sẽ là một số tiền đủ lớn để người giữ tiền có thể trang trải được cáckhoản chi phí cho các khảon dịch vụ trên
III Vai trò của NHTM trong chiến lược tạo vốn
NHTM là một tổ chức đặc biệt Điểm đặc biệt là : vừa tổ chức tài chínhtrung gian và là tổ chức tài chính thông thường Khi đóng vai trò tổ chứctrung gian, NHTM thực hiện vai trò thu hút các nguồn vốn trong nền kinh tế
để thực hiện các hoạt động của các chủ thể khác thiếu vốn dưới các hinh fthứcnhư tín dụng đầu tư Còn khi đóng vai trò tổ chức tài chính thông thường thìcác NHTM thực hiện vai trò làm người môi giới để người thừa vốn và ngườithiếu vốn trực tiếp gặp nhau thông qua các hình thức như môi giứoi chứngkhoán, thực hiện cho thuê trọn gói
Đối với nền kinh tế nước ta hiện nay, khi mà hệ thống tài chính cònkém phát triển, chủng loại các tổ chức còn nghèo nàn, quy mô của các tổ chức
đó còn nhỏ bé, hoạt động chưa phong phú thì có thể nói vai trò của NHTMđối với nền kinh tế là rất lớn Vai trò nổi bật nhất của NHTM hiện nay là gópphần tạo vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho việc đạt được các mục tiêu
Trang 17phát triển đến năm 2010 và các năm tiếp theo mà Đảng và Nhà nước đã đặt
ra
1 Tạo điều kiện gia tăng tích luỹ cho nền kinh tế, thu hút các khoảnvốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, làm gia tăng dầu tư cho nền kinh tế
Tích luỹ và tiêu dùng là hai hoạt động đối lập nhau, đều có nguồn gốc
từ thu nhập Ngoài yếu tố quy mô của thu nhập, tiêu dùng trước tiên phụthuộcvào nhu cầu cuộc sống và kế đến lựi ích của tích luỹ Mục đích cuối cùng củatích luỹ là tiêu dùng cho tương lai
Tích luỹ của công chúng có thể tồn tại dưới các hoạt động của tài sản
nợ của NHTM Đó là các khoản tiết kiệm hoặccác khoản đầu tư vào trái phiếuNgân hàng Một khi hiệu quả hoạt động của Ngân hàng cao, lãi suất huy độngthoả đáng thì tích luỹ của công chúng qua Ngân hàng sẽ gia tăng do lợi íchcủa tích luỹ so với lợi ích của tiêu dùng Bên canh yếu tố lãi suất có tính chấtkích thích, chất lượng hoạt động của NHTM: thanh toán chi trả nhanh, đảmbảo thuận tiện an toàn thì không những tích luỹ của cong chúng tập trung vàoNgân hàng mà các khoản vốn này là nguồn vốn giúp cho Ngân hàng thực hiệncác khoản mục đầu ra bên tài sản có tạo nên đầu tư cho kinh tế
2 Tạo điều kiện chuyển tải một cách tối ưu vốn tích luỹ thành vốn đầu
tư cuối cùng cho nền kinh tế
NHTM tạo đềi kiện và môi trường thích hợp cho đầu tư tài chính trựctiếp NHTM tham gia vào quá trình phát hành chứng khoán cho thị trường, vàtrở thành cầu nối trực tiếp giữa người thừa vốn và người thiếu vốn trên thịtrường
Chủ động thu hút vốn tích luỹ và vốn chi tiêu có tính chất nhà rỗi trongnền kinh tế và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Khi nền kinh tế có nhu cầuvốn đầu tư, hiệu quả các vốn đầu ra cao và an toàn thì ngân hàng chủ độngtăng huy động vốn và ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, Ngân hàng sẽ giảmcác khoản huy động hoặc chuyển vốn đầu tư sang cho vay tiêu dùng Chủđộng điều tiết và phân phối vốn đầu tư trong nền kinh tế Ngân hàng sẽ đầu tưvốn vào những ngành nghề phát triển và thu hút vốn đầu tư đối với nhữngngành nghề suy thoái
IV Hiệu quả nghiệp vụ khai thác vốn
Trang 18Hiệu quả nghiệp vụ khai thác vốn là Ngân hàng phải đảm bảo sử dụngkết hợp hài hoà các nguồn vốn có được sao cho việc sử dụng các nguồn vốn
đó mang lại hiệu quả cao nhất
Hoạt động nói trên của Ngân hàng là hoạt động cân đối vốn, là côngviệc rất cần thiết đối với mọi Ngân hàng, là một biện pháp nghiệp vụ, là công
cụ quả lý của các nhà lãnh đạo Ngân hàng
2 Công th c tính ( i v i Ngân h ng Láng H n m 2000) ứ đố ớ à ạ ă
1 Tiền gửi tiết kiệm 110
3
1 Vốn bảo đảm thanh toán 531
2 Tiền gửi của các tổ chức kinh
1 Sơ lược về quá trình hình thành
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng nong nghiệp)
là doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàngđối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước,
Trang 19làm uỷ thác các nguồn vốn trung và dài hạn, ngắn hạn của chính phủ, các tổchức kinh tế, xã hội, cá nhân trong và ngoài nước, thực hiện tín dụng tài trợchủ yéu cho nông nghiệp và nông thôn Ngân hàng nông nghiệp được thànhlập theo Quyết định số 400 - Công ty ngày 14/11/1990 của Chủ tịch hội đồng
bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ).m nông nghiệp là một pháp nhân baogồm hội sở (trung tâm điều hành), các chi nhánh, văn phòng đại diện đượcNhà nước cấp vốn lần đầu 200 tỷ đồng vốn điều lệ (tương đương 30 triệuUSD), tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và nhữngcam kết của mình, có bản tông rkết tài sản và con dấu riêng, hoạt động trongkhuôn khổ pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính
Trước những khó khăn chung của nền kinh tế những năm đầu thập kỷ
90, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam khi mới thành lập đã phải đối đầu vớinhiều gia khó, phải “gồng mình”trước những thua lỗ trong hoạt động kinhdoanh Nhưng khi nền kinh tế đất nước đã ổn định và phát triển, đặc biệt kể từnăm 1995, Ngân hàng nông nghiệp đã không ngừng vươn lên khẳng định vịtrí của mình, hoạt động luôn có lãi và có sự tăng trưởng mạnh Đứng trướcnhững nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, nhu cầu sử dụng vốn và cácdịch vụ Ngân hàng của các doanh nghiệp ngày càng tăng, bên cạnh đó nhằm
mở rộng mạng lưới hoạt động đa dạng hoá các nghiệp vụ Ngân hàng, nângcao uy tín hiệu quả hoạt động của mình và nhận thấy vị trí trụ sở 24 Lnág Hạ
có nhiều thuận lợi Ngày 18/03/1997 Ban lãnh đạo Ngân hàng nông nghiệpViệt Nam đã quyết định thành lập chi nhánh mới trực thuộc trung tâm điềuhành Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam tại địa điểm này, chi nhánh Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (NHNN&PTNT) Láng Hạ đượchình thành trên tiền đề đó
Với tư cách là một chi nhánh trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp ViệtNam (NHNN&PTNT) Láng Hạ là một đại diện uỷ quyền của Ngân hàngnông nghiệp Việt Nam, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp củaNHNN&PTNT, chịu sửàng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi vớiNHNN&PTNT Về pháp lý, chi nhánh Láng Hạ cũng có con dấu riêng, được
ký kết các hợp đồng kinh tế, dân sự, chủ động kinh doanh, tổ chức theo phâncấp uỷ quyền của nh nông nghiệp Việt Nam
Trang 20Chi nhánh NHNN&PTNT Láng Hạ có nhiệm vụ khai thác và huy độngvốn trong và ngoài nước, huy động các nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài hạn
từ các thành phần kinh tế như: chính phủ, các tổ chức tín dụng, các doanhnghiệp, dân cư, các tổ chức nước ngoài bằng USD và VNĐ để tiến hành cáchoạt động cho vay ngắn, trung, và dài hạn, đầu tư và tham gia hoạt động trênthị trường chứng khoán
2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn
Là một Ngân hàng nông nghiệp mới được thành lập từ năm 1997 đếnnay, quy mô hoạt động của chi nhánh Láng hạ chưa lớn, nhân sự hạn chế, bởivậyphương châm của Ngân hàng là cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả và antoàn Với đội ngũ cán bộ công nhân viên chức hiện tại là 58 người phân theo
Ngay từ khi mới thành lập, chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ
đã phải chứng tỏ mình trước không ít những thuận lợi và thách thức, khókhăn
Ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn nói riêng thực hiện chấn chỉnh hoạt động tín dụng Ngân hàng nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại và
uy tín của ngành Uy tín của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ban giám đốc
Phòng tổ chức
h nh chínhà
Phòn kinh doanh Phòng thanh toán quốc tế Phòngkế toán v ngân quà ỹ
Trang 21Việt Nam được nâng cao hơn có tác dụng tích cực tới công tac thu hút kháchhàng và đa dạng hoá hoạt động của Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ
Là một chi nhánh mới được thành lập, tuy còn bỡ ngỡ non trẻ tronghoạt động, nhưng Ngân hàng có thể tranh thủ kế thừa, học hỏi những kinhnghiệm rút ra từ những thành công thất bại của các NHTM khác Thêm nữa,Ngân hàng có trụ sở đặt tại vị trí hết sức thuận tiện, trên một đại bàn sôi động,
có điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh vàdich vụ một cách đa dạng Mặt khác, các nguồn huy động từ tiền gửi của các
tổ chức tín dụng và tiết kiệm từ dân cư là rất phong phú giups cho Ngân hàng
có khả năng đáp ứng tối đa nhu cầu của doanh nghiệp cũng như dân cư
Bên canh đó, trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, Ngânhàng luôn nhận được sự chỉ đạo, giúp đỡ có hiệu quả và rất kịp thời từNHNN&PTNT Việt Nam, sự quan tâm ủng hộ của chính quyền thành phố
Một thuận lợi hết sức quan trọng nữa đối với Ngân hàng trên bình diện
vĩ mô là sự phục hồi phát triển cuả nền kinh tế thế giới và khu vực Nenè kinh
tế Việt Nam, nền kinh tế mà trước đây một vài năm trong giai đoạn khủnghoảng kinh tế của khu vực vẫn có mức tăng trưởng dương, nhịp độ tăngtrưởng kinh tế (GDP) năm 1997 đạt 6,5% và 5,8% năm 1998, tăng trưởngnông nghiệp 4,5% năm 1997 và 3% năm 1998, tăng trưởng công nghiệp năm
1997 là 14% và 11% năm 1998 thì nay dưới sự phục hồi của nền kinh tế khuvực sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển kinh tế trên tất cả cácngành, lĩnh vực hoạt động của đất nước Trong đó đặc biệt có ngành Ngânhàng, một ngành mà bản thân nó đã chịu ảnh hưởng lớn và sâu sắc nhát trongcuộc khủng hoảng kinh tế khu vực vừa qua
Một tín hiệu tốt đẹp đối với hoạt động của ngành Ngân hàng là sự đanghình thành và phát triển của thị trường chứng khoán tại Việt Nam Với haigiao dịch tại Hà Nội và thành phôd HCM và khi sở giao dịch chính thức hìnhthành thì hoạt động của nền kinh tế chắc chắn sẽ sôi động và lĩnh vực kinhdoanh trên thị trường chứng khoán sẽ đem lại tỷ phần thu không nhỏ trong thunhập và trong tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng
Bên cạnh những thuận lợi trên, Ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn cũng gặp không ít khó khăn bao gồm cả những khó khăn chung của
Trang 22ngành Ngân hàng và khó khăn riêng do đặc điểm của chi nhánh Láng Hạ khimới bắt đầu thành lập
Nhìn chung năm 1997-1998 khi Ngân hàng mới thành lập, kinh tế thủ
đo có tăng trưởng nhanh hơn với các tỉnh khác, Tuy nhiên tốc độ này đã sớm
bị chững lại Bên cạnh những thịt hại về thiên tai luc lụt, nền kinh tế còn chịu
sự tác động, chi phối của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực, tiền tệkhu vực gây tâm lý bất ổn cho khách hàng dẫn đến co hẹp về hoạt động, sựcạnh tranh giữa các Ngân hàng trong nước, Ngân hàng nước ngoài, đặc biệttại thủ đô Hà Nội cạnh tranh ngày càng quyết liệt của hơn 60 Ngân hàng trêntất cả các lĩnh vực huy động vốn, mở rộng cho vay, thanh toán, mua ngoạitệ diễn ra sôi động, gay gắt làm cho việc tìm kiếmm khách hàng hết sức khókhăn Chi nhánh Láng hạ chưa tạo được niềm tin lớn đối với các Ngân hàngđối tác nước ngoài, gây cho họ tâm lý đắn đo, nghi ngờ khi giao dịch vớiNgân hàng
Một thực tế tồn tại hiện nay là trong khi các doanh nghiệp đang hết sứccần vốn để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh thì tại các Ngân hàng lạixảy ra tình trạng ứ đọng vốn lớn mà không giải ngân được Tình trạng thiểuphát kéo dài trong năm 1999 mặc dù Ngân hàng nông nghiệp đã 5 lần hạ lãisuất trần cho vay từ 1,2%/tháng xuống còn 0,85%/tháng nhằm thực hiện chủtrương kích cầu của chính phủ, nhưng do nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tẹ khu vực nên nhìn chung cácdoanh nghiệp thiếu các dự án khả thi và do vậy việc thẩm định và cho vay trởnên khó khăn gây ứ đọng vốn cho Ngân hàng
Bên cạnh đó, quy mô hoạt động của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệpLáng hạ còn hạn chế, đội ngũ cán bộ của Ngân hàng còn chưa cập nhật cảtrong cũng như ngoại ngữ cho giao dịch với bạn bè quốc tế
II Thực trạng nghiệp vụ khai thác vốn tại chi nhánh Ngân hàng nôngnghiệp và phát triển nông thôn Láng hạ
1 Các hình thức khai thác vốn được áp dụng tại chi nhánh Ngân hàngnông nghiệp Láng hạ
Ngay từ khi thành lập Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ đã phát triểnnguồn vốn của mình để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Bằng các
Trang 23biện pháp và chính sách cụ thể, nguồn vốn của Ngân hàng nông nghiệp Láng
hạ ngày càng gia tăng với khối lượng năm sau cao hơn năm trước
Để đạt được kết quả đó Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ đã áp dụngnhững hình thức sau:
* Huy động bằng hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm
Tiết kiệm là hình thức huy động được các Ngân hàng Thương mại ápdụng từ lâu với các thời hạn và mức lãi suất quy định cho từng thời hạn đó.Trong hình thức huy động này có rất nhiều thể thức được áp dụng
+ Thể lệ tiết kiệm bằng tiền với các loại kỳ hạn: Không kỳ hạn, batháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng cũng được áp dụng rộng rãi trong thờigian đầu với mức lãi suất cao đủ sức hấp dẫn người gửi tiênf
+ Thể lệ gửi tiền tiết kiệm bằng ngân phiếu thanh toán nhằm mực đíchhuy động nguồn vốn nhàn rỗi bằng ngân phiếu thanh toán vào Ngân hàng vàtạo điều kiện cho dân chúng làm quen với “dấu hiệu giá trị” mới này
+ Thể thức huy động tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ với mục đích huyđộng nguồn vốn nhàn rỗi bằng ngoaị tệ trong dân cư vào Ngân hàng để pháttriển kinh tế
+ Thể thức huy động tiền gửi tiết kiệm gửi một nơi lĩnh tiền nhiềunớinhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong việclĩnh tiền, tạo tâm lýcho khách hàng không cần giữ tiền mặt trong người
* Huy động bằng phát hành kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích:
Phát hành kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích bằng ngoại tệ Kỳ phiếuNgân hàng có mục đích của Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ là một loại giấynhận nợ do Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ phát hành, nhằm huy độg vốnnhàn rỗi trong dân cư một cách linh hoạt, đáp ứng cho mọi chương trình, dự
án kinh tế nhất định Kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích được ghi vào thu, chibằng tiền Việt Nam và ngoại tệ (USD) Căn cứ vào tình hình nguồn vốn vàyêu cầu mở rộng tín dụng theo các dự án đầu tư cụ thể của từng chi nhánh đểtiến hành bán kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích này
* Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu để bổ sung cho nguồnvốn vay trung và dài hạn đối vơí nền kinh tế
Trang 24* Huy động bằng việc tổ chức mở dịch vụ thanh toán, khuyến khíchmọi thành phần kinh tế mở tài khoản tại các chi nhánh của Ngân hàng nôngnghiệp Tài khoản tiền gửi của các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân tại Ngânhàng được phân chia làm hai loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳhạn Đối với loại tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, Ngân hàng có thể sử dụngchúng một cách có kế hoạch có mục đích đầu tư của Ngân hàng, còn loại tàikhoản tiền gửi không kỳ hạn khách hàng chỉ sử dụng nó để được hưởngnhững tiện lợi trong thanh toán phục vụ chi trả cho các giao dịch mua bán,loại tiền gửi không kỳ hạn này chỉ có một ưu thế là lãi suất thấp nó tạo điềukiện cho Ngân hàng giảm được laĩ suất đầu vào và trên cơ sở đó tạo điều kiệnthuận lợi cho Ngân hàng có khả năng cạnh tranh trên thương trường
Ở Việt Nam, theo Nghị định 91/CP của thủ tướng chính phủ ngày25/11/1993 và quyết định 22/QĐ - NH ngày 21/2/1994 của thống đốc Ngânhàng nhà nước Việt Nam, mọi cá nhân đều có quyền mở tài khoản thanh toán
ở Ngân hàng và được sử dụng séc chi trả
Ngoài ra mới đây chính phủ mới ban hành nghị điịnh 30/CP ngày9/5/1996 về quy chế phát hành và sử dụng séc có sửa đổi một số quy định vềséc Đông thời ngân hàng nhà nước có thông tư 07/TT - NH ngày 27/12/1996hướng ddaanx viưệc thực hiện quy chế này Tuy vậy, muốn mọi cá nhân trongnền kinh tế chấp nhận và sử dụng séc còn lại cả một vấn đề khác kèm theo
2 Thực trạng nghiệp vụ kai thác vốn tại Ngân hàng nông nghiệp Láng
hạ
2.1 Tổ chức tạo vốn của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp láng Hạ
Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ hìnhthành thị trường tài chính, các trung gian tài chính mà trước hết là cácNHTM Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chyển đổi sang cơ chế thịtrường và toàn bộ hệ thống Ngân hàng ở nước ta cũng đang vận động đổi mớitheo hướng hình thành và phát triển các NHTM và các trung gian tài chínhkhác
NHNN Láng Hạ chuyên kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ Ngân hàng,tuy còn non trẻ nhưng là một Ngân hàng quốc doanh hoạt động trên địa bànrộng lớn, đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế Tính đến cuối
Trang 25năm 2000 chi nhánh đã thu hút được 3500 tài khoản tiền gửi và 60.000 kháchhàng gửi tiền tiết kiệm Mặc dù Ngân hàng nhà nước nhiều lần điều chỉnhgiảm mức lãi suất huy động nhưng tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàngvẫn tăng mạnh Đến 31/12/2000 đạt 2000 tỷ tăng 70% so với cuối năm 1999.Đạt được 143% kế hoạch đề ra
Trong đó nguồn vốn huy động từ dân cư đạt 540 tỷ chiếm 27% Tiềngửi từ các tổ chức kinh tế đạt 1230 tỷ chiếm 60,15% Tiền vay của các tổchức tín dụng và tiền gửi khác đạt 230 tỷ chiếm 12,85% Trên cơ sở tăngtrưởng nguồn vốn huy động và bám sát nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế,trong thời gian qua chi nhánh đã mở rộng đầu tư vốn tín dụng cho các thànhphần kinh tế Tổng dư nợ cho vay đến 31/12/2000 đạt 661 tỷ đồng so với năm
1999 tăng 140 tỷ bằng 127,2% đạt 86% kế hoạch đầu năm đề ra Vượt 8,2%
so với mục tiêu đề ra của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ViệtNam Bình qua dư nợ trên một cán bộ công nhân viên chức 11,4 tỷ Dư nợcho vay kinh tế quốc doanh 85,3% và ngoại tệ chiếm 43,7% tổng dư nợ Ngânhàng nông nghiệp Láng hạ đã tập trung vốn cho vay các doanh nghiệp nhànước, các ngành kinh tế mũi nhọn, các cơ sở sản xuất và hộ tư nhân kinhdoanh có hiệu quả, năng động Giúp các doanh nghiệp đứng vững trong cạnhtranh, kinh doanh có lãi góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho người laođộng, cho vay trung và dài hạn có chuyển biến mạnh mẽ Ngân hàng nôngnghiệp Láng hạ đã tăng trưởng vốn trung và dài hạn cả về số lượng dự án và
số vốn đàu tư Dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 75,2% trong tổng dư nợ
Điều nổi bật đáng quý là quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàngnông nghiệp đang từng bước chuyển đổi thích nghi để thực hiện các mục tiêukinh tế xã hội là hướng vào tạo vốn, đặc biệt là quan tâm đến huy động vốntrong và ngoài nước đáp ứng yyêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiệnđại hoá đất nước
+ Diễn biến về cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng nông nghiệp Láng Hạ.Như chúng ta đã biết, công tác huy động vốn là tiền đề thực hiện cácnhiệm vụ tiếp theo của Ngân hàng, là nền tảng, là bước cơ bản đầu tiên trongsuốt quá trình kinh doanh của Ngân hàng để mở rộng thị trường tín dụng.Chính vì vậy mà cạnh tranh, thu hút khách hàng là vấn đề sống còn đối với
Trang 26bản thân Ngân hàng Hiểu rõ như vậy nên Ngân hàng nông nghiệp Láng hạluôn cải tiến, mở rộng hình thức huy động vốn một cách linh hoạt theo xuhướng chung của thị trường: cải tiến nghiệp vụ, đổi mới phong cách giaodịch, trang bị vi tính đến từng quỹ tiết kiệm, cải tiến mẫu các giấy tờ giao dịchtạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người gửi nên nguồn vốn huy động củaNgân hàng nông nghiệp Láng hạ không ngừng tăng lên rất nhanh Ngân hàng
đã tập trung chỉ đạo phòng kế toán tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức
và cá nhân mở tài khoản và hướng dẫn thủ tục chu đáo Đồng thời cử cán bộtín dụng đến tận doanh nghiệp để mở tài khoản giao dịch ngay Ngân hàng đãthực hiện nhanh chóng chính xác, kịp thời tiền séc, ngân phiếu, không ngừngthu hút khoản tiền nhàn rỗi của khách hàng vào tài khoản Hiện nay đang thíđiểm loại hình tiết kiệm điện tử bước đầu đã mang lại sự tiện lợi cho kháchhàng và Ngân hàng tính đến cuối năm 2000, chi nhánh đã thu hút được trên
3500 tài khoản tiền gửi và 60.000 khách hàng gửi tiền tiết kiệm
Mặt khác mạng lưới của Ngân hàng không ngừng được mở rộng Đểtạo lập nguồn vốn lành mạnh, tránh hiện tượng sốc, Ngân hàng đã vận dụngchính sách lãi suất phù hợp với từng giai đoạn, vừa đảm bảo quyền lợi chongười gửi tiền Ngân hàng đã chú tâm dồn sức huy động vốn phù hợp với cơchế mới như tiết kiệm dài hạn trả lãi trước, tiết kiện xây dựng nhà ở, tiết kiệmngoại tệ, các loại trái phiếu đảm bảo giá trị theo vàng Ngoài ra khi cần Ngânhàng còn vay vốn của các tổ chức tín dụng, các đơn vị khách hàng nhằm tạolợi thế kinh doanh có hiệu quả
Bảng huy động nguồn vốn qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng Việt Nam
+ Các giải pháp tạo vốn đã được áp dụng tại NHNN Láng hạ
Nghiệp vụ khai thác vốn là nghiệp vụ chính của Ngân hàng Thươngmại nói chung, nó có tính chất quyết định đến quy mô hoạt động và thời
Trang 27lượng tín dụng, đầu tư của Ngân hàng NHTM và các tổ chức tín dụng khácđều thực hiện nghiệp vụ đi vay để cho vay Vì vậy chỉ có huy động vốn đượcnhiều thì mới có điều kiện mở rộng đầu tư mà trên cơ sở mới có doanh thu vàlợi nhuận
Vốn mà các Ngân hàng dùng để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế quốcdân dưới nhiều hình thức riêng biệt hoàn toàn phụ thuộc vào vốn mà nó huyđộng được
Như vậy, nghiên cứu các gải pháp để mở rộng việc huy động vốn trongcác lĩnh vực chính yếu nhất, trong các mặt hoạt động của Ngân hàng nhằmtìm ra những phương hướng cơ bản nhất giúp đỡ các Ngân hàng phát triển cáchoạt động của mình, vì sự phồn thịnh của nền kinh tế và của chính bản thânNgân hàng
Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước đó là vốn Muốn thực hiện thành công thì chính phủ,các tổ chức kinh tế thì Ngân hàng phải có một chiến lược khai thác vốn đápứng cho nhu cầu phát triển kinh tế
Ngành Ngân hàng nói chung và Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ nóiriêng, với vị trí trên thị trường tài chính Việt Nam dặc biệt là thu hút vốn đểphát triển kinh tế trong nước Với nhiệm vụ to lớn là huy động vốn phát triểnkinh tế, Ngân hàng đã và đang sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp khởi tăngnguồn vốn có hiệu quả hơn
- Đa dạng hoá các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm
Trong mấy năm vừa qua, mặc dù có khủng hoảng tiền tệ ở một số nướctrong khu vực nhưng nguồn tiền gửi dân cư tại hầu hết các Ngân hàng đều ổnđịnh và tăng trưởng Tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp Lán hạ, nguồntiền gửi này cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó và đã đạt được nhữngthành quả riêng Nguồn tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng ổn định trongtổng nguồn và có xu hướng tăng Tỷ trọng nguồn là 5,8% năm 1997, 9,76%năm 1998, 20,19% năm 99 thì năm 2000 là 27% Nguồn vốn tiền gửi ngàycàng được gia tăng và giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển các nghiệp vụcủa Ngân hàng mang một ý nghĩa chiến lượng trong sự nghiệp CNH-HĐH đấtnước
Trang 28NHNN Láng hạ đã có những giải pháp thích hợp uyển chuyển nhằmkết hợp hài hoà giữa lợi ích của người đi vay và lợi ích của người cho vay
Chính sách lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn bằnghình thức tiền gửi tiết kiệm Chính sách lãi suất của Ngân hàng đã điều chỉnhsát với quan hệ cung cầu và lạm phát Nói đúng hơn, chính sách lãi suất đãgiải quyết thoả đáng các mối quan hệ hư: quan hệ lãi suất tiền gửi và lãi suấtcho vay, quan hệ giữa lãi suất đồng nội tện với lãi suất ngoại tệ, quan hệ giữalãi suất cho vay ngắn hạn và lãi suất cho vay trung hạn và dài hạn
Lãi suất là một đòn bẩy quan trọng nhất trong việc huy động tiền gửi vìmục đích cuối cùng của người có tiền gửi là có được lợi tức Lãi suất huyđộng càng cao thì khối lượng tiền gửi càng lớn Tuy nhiên, mức lãi suất nàyluôn luôn bị khống chế bởi lãi suất cho vay và lãi suất trần quy định của Ngânhàng nhà nước Tuỳ trường hợp mà Ngân hàng đưa ra mức lãi suất hu độngcho phù hợp
- Khuyến khích khách hàng mở tài khoản các nhân tại Ngân hàng vàthực hiện thanh toán qua Ngân hàng
Ngày 18/4/1994 Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ký quyết định số160/HĐ - NH về việc mở tài khoản tiền gửi cá nhân NHNN Việt Nam cũng
đã có văn bản hướng dẫn và triển khai thực hiện nội dung của quyết định nàyđến tâts cả các chi nhánh trong đó có chi nhánh của NHNN Láng hạ Quyđịnh đó quy định tất cả nhân viên thuộc NHNN phải mở tài khoản tiền gửi cánhân tại Ngân hàng và toàn bộ tiền lương hàng tháng chuyển vào tài khoản
đó Khi có nhu cầu chi tiêu, chủ sở hữu viết giấy lĩnh tièn mặt hoặc séc để chitrả từ tài khoản cá nhân của mình Đây là hình thức huy động vốn mới, Ngânhàng đã tăng cường công tác quảng cáo đến từng người dân và giới tthiệu cho
họ về lợi ích của hình thức này Tuy nhiên do phong tục tập quán của dânchúng chưa quen với việc không dùng tiền mặt trong giao dịch thanh toánhàng ngày do các công cụ thanh toán đưa ra chưa đáp ứng được nhu cầu cấpthiết của dân chúng và thu nhập của dân chúng chưa có điều kiện để tích luỹnên việc mở tài khoản tiền gửi mới đạt kết quả hạn chế
- Khuyến khích các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi tại Ngânhàng
Trang 29Mục đích của việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng làkhách hàng muốn được hưởng những tiện lợi trong thanh toán: thanh toán tiềnhàng cho người bán, nhận tiền bán hàng của người mua chuyển tới và trả cáckhoản chi phí khác cho các dơn vị tổ chức kinh tế mà đơn vị có dùng dịch vụhàng hoá của họ Số dư loại tài khoản của họ rất thất thường nhưng có lợi thế
là khoản lãi cho khách hàng rất thấp và nó cũng chiếm một tỷ trọng rất lớntrong tổng nguồn vốn huy động Từ đó giúp cho Ngân hàng kéogiảm lãi suấtđầu vào, có thêm ưu thế cạnh tranh trên thị trường
Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi này đưavào hoạt động kinh doanh của mình, áp dụng các biện pháp kinh tế để khuyếnkhích khách hàng thường xuyên gửi tiền nhàn rỗi vào tài khoản thanh toán:những đơn vị tổ chức có số dư trên tài khoản này cao và thường xuyên ổnđịnh tại Ngân hàng sẽ được ưu tiên tiết giảm lãi suất tiền vay theo tỷ lệ tươngứng
Một ưu thế có tính chất quyết định đến việc huy động vốn thông quacác hình thức khuyến khích các tổ chức kinh tế mở tài khoản tiền gửi thanhtoán tại Ngân hàng là các chi nhánh của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đã
áp dụng triển khai đồng loạt máy vi tính vào công tác thanh toán liên hàngđiện tử, cải tiến chế độ luân chuyển chứng từ nội bộ, đối với thái độ phục vụkhách hàng, cải tiến công tác thu chi tiền mặt nhanh chóng thuận lợi và đápứng nhu cầu của khách hàng mọi lúc mọi nơi Đến nay công tác thanh toánliên hàng điện tử, rút ngắn thời gian chu chuyển chứng từ trước đây từ 1,2ngày còn 1-2 giờ Chuyển công tác đối chiếu liên hàng về từng cơ sở, vốnđược điều chuyển ngay trong ngày về tại NHNN Láng Hạ rồi chuyển lênNHNN Việt nam giúp cho việc điều hành vốn được thuận lợi, nhanh chóng,tăng nhanh vòng quay của vốn Nhờ có ứng dụng trên mà đã tăng lưu lượngchứng từ qua Ngân hàng
- Tăng cường khai thác vốn trung hạn thông qua phát hành kỳ phiếu vàvay nợ các tổ chức nước ngoài
Trong mấy năm gần đây do thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàngnhà nước vì vậy nguồn kỳ phiếu trái phiếu mà Ngân hàng huy động có biếnđộng mạnh Năm 1998 nguồn này đã tăng 412% so với năm 1997 và giảm chỉ
Trang 30còn 97% đến cuối năm 1999 năm 2000 giaem xuống còn 8% so với năm1999.
Năm 1998 chi nhánh có thực hiện huy động kỳ phiếu 13 tháng có mụcđích, lãi suất trả trước vì vậy nguồn kỳ phiếu của Ngân hàng đã tăng lên rấtmạnh Tuy nhiên bước sang năm 1999, bên cạnh nguồn kỳ phiếu ngắn hạn (6tháng) đã được thanh toán hết, và các loại kỳ phiếu khác như kỳ phiếu 12tháng trả lãi trước kỳ phiếu có mục đích 13 tháng của Ngân hàng, kỳ phiếu ≥
12 tháng thông thường khác phần lớn đã được Ngân hàng thanh toán hết chokhách hàng, thì nguồn huy động hộ Ngân hàng nhà nước của Ngân hàng đãhoàn thành và chuyển giao là nguyên nhân cho sự giảm Ngân hàng sút hết sứcnhanh chóng của tổng nguồn này
Lãi suất trái phiếu NHNN được tính trên cơ sở gồm lãi suất cơ bn cộngvới chỉ số trượt giá do Tổng giám đốc NHNN quyết định trong khung lãi suấtcủa Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam có hai loại: lãi suất cố địnhtrong suốt thời hạn của trái phiếu và lãi suất có điều chỉnh hàng năm cho từngđợt phát hành
Hình thức trái phiếu được đông đảo quần chúng dân cư hưởng ứng vìmột phần do lãi suất được tính toán trên cơ sở tính lãi thị trường vốn ngắn hạntại thời điểm phát hành phù hợp với chính sách lãi suất của nhà nước
Trái phiếu NHNN được dùng để thế chấp, cầm cố, để bảo lãnh vay vốntại các tổ chức tín dụng kể cả các chi nhánh trong tổ chức NHNN nếu được tổchức tín dụng cho vay chấp nhận Nó là chứng từ có giá, có khả năng chuyểnnhượng trong thời hạn lưu hành của trái phiếu Riêng loại trái phiếu có ghi tênđược phép mua bán tại thị trường chứng khoán Người chủ sở hữu có quyềnchuyển nhượng sang tên một trái phiếu tối đa là 3 lần và thực hiện tại chinhánh NHNN phát hành trên cơ sở ( giấy chuyển nhượng trái phiếu) Ngânhàng xoá tên người chủ sở hữu cũ và đăng ký lại tên chủ sở hữu mới trong sổtheo dõi của Ngân hàng
NHNN Láng Hạ đã phát hành loại kỳ phiếu có mục đích và kỳ phiếuđảm bảo theo giá trị vàng và ngoại tệ Lãi suất được trả tức là người trả chỉ trảcho Ngân hàng số tiền thấp hơn mệnh giá của kỳ phiếu, khi đến hạn ngườichủ sở hữu của kỳ phiếu, được hưởng đúng mệnh giá ghi trên kỳ phiếu đó
Trang 31Nhờ sử dụng hình thức phát hành kỳ phiếu và trái phiếu này đã tạo điều kiệncho Ngân hàng nông nghiệp có được nguồn vốn tương đối ổn định để đầu tưcho các dự án phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn củanền kinh tế
- Tăng cường huy động ngoại tệ
Những giải pháp mà NHNN Láng hạ áp dụng để thu hút vốn ngoại tệ
đó là hình thức hấp dẫn và hết sức thuận lợi đối với người gửi: tỷ giá hối đoáilinh hạot, phù hợp, gửi, rút, thu đổi ngoại tệ nhanh chóng tiện lợi, chính xác.Với những hình thức trên NHNN Láng Hạ không những thu hút nguồn vốnngọai tệ trong nước của dân cư mà còn thu hứt được ngoại tệ của các công tynước ngoài các xí nghiệp lien doanh và các cá nhân nước ngoài đang sinhsống tại Việt Nam Nguồn vốn này chiếm một tỷ trọgn nhỏ trong tổng nguồnvốn, nhưng nó giúp NHNN Láng Hạ nắm giữ được khách hàng bởi vì NHNNLáng hạ có thể phục vụ khách hàng theo yêu cầu cả về nột tệ lẫn ngoại tệphần lớn Ngân hàng huy động vốn ngoại tệ nhờ vào nguồn tiền gửi tiết kiệmngoại tệ, kỳ phiếu Ngân hàng có mục đích đảm bảo bằng ngoại tệ Khi chủ
sở hữu đến lĩnh tiền Ngân hàng có thể trả theo yêu cầu của khách hàng bằngnội tệ hay ngoại tệ Tính đến 31 -12 - 2000 nguồn vốn huy động ngoại tệ củaNHNN Láng Hạ chiếm 17,3 % trong tổng nguồn vốn huy động Để đáp ứngnhucầu vốn ngoại tệ cho các doanh nghiệp mở rộng thanh toán quốc tế
- Chiến lược khách hàng của NHNN Láng Hạ
Trong nền kinh tế thị trường, một điều kiện tiên quyết quyết định đén
sự thành công của công tác kinh doanh tại Ngân hàng đó là chiên lược conngười và chíen lược khách hàng Con người là yếu tố quan trọgn nhất tạo nênthành công Đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ trực tiếp giao dịch với khách hàngphải đáp ứng được yêu cầu mới Vì vậy trong thời gian qua Ngân hàng luônphục vụ khách hàng ngày một tốt hơn Cán bộ Ngân hàng phải giỏi về chuyênmôn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, có phong cách giao dịch phục vụ kháchhàng tốt
Ngay từ khi thnh lập chi nhánh NHNN Láng Hạ đã có nơi làm việckhang trang Các quỹ tiết kiệm đảm bảo, nhân viên làm vịec trong điều kiệnthoải mái, từ đó làm tăng năng suất lao động của nhân viên tăng thêm lòng
Trang 32tin của khách hàng vào sự phát triển của NHNN Láng Hạ, đay là một yếu tố
có tác dụng hấp dẫn khách hàng
Chiến lược khách hàng của NHNN Láng hạ xuất phát từ nhu cầu đổimới cán bộ, tăng cường đầu tư cán bộ có năng lực, có trách nhiệm tiếp cận vàphục vụ khách hàng Một mặt Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ khuyến khíchcác đơn vị phải tổ chức kinh tế gửi tiền vào tài khoản thanh toán tại Ngânhàng Mặt khác Ngân hàng khuyến khích những khách hàng lớn sản xuất kinhdoanh có hiệu quả Ngân hàng sẽ thự hiện giảm lãi suất tiền vay và trả lãi gửicao hơn cac đơn vị khác
Tuy nhiên, không vì thế mà bất cứ một khách hàng nào đến với Ngânhàng nông nghiệp Láng hạ đều được đón tiếp như nhau, trong chiến lượckhách hàng có nêu: phải phân biệt đối xử với khách hàng thiện chí, quan hệhai bên cùng có lợi, những khách hàng đến có chủ ý lừa đảo cần phải đềphòng thận trọng hơn trong giao dịch Chọn lọc khách hàng để có chính sáchđãi ngộ đối xử đúng đắn, tạo thêm uy tín và củng cố uy tín của Ngân hàngnông nghiệp Láng hạ Ngân hàng thực sự coi: “Khách hàng là thượng đế” vàlấy đó là phương châm hoạt động “đảm bảo an toàn chất lượng và hiệu quả”
2.2 Tình hình quản lý vốn tại Ngân hàng nông nghiệp Láng hạ
+ Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Hoạt động của Ngân hàng bao gồm hai khâu cơ bản đó là huy động vốn
và sử dụng vốn Việc quản lý vốn tại Ngân hàng không những bao gồm tổchức huy động thật nhiều vốn vào Ngân hàng mà còn tiến hành tìm nơi chovay và đầu tư có lợi nhất, đảm bảo nguyên tắc của Ngân hàng là “đảm bảo antoàn và hiệu quả”
Huy động vốn và sử dụng vốn là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiếtvới nhau, giải quyết mối quan hệ này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đồngvốn Thực hiện tốt công tác quản lý vốn tạo điều kiện cho thu nhập khôngngừng được nâng cao Trong quá trình kinh doanh, Ngân hàng cần phải cânđối được nguồn vốn hiện có với nhu cầu sử dụng vốn và đảm bảo hiệu quả,trên cơ sở đó mới có điều kiện bù đắp được chi phí và có lợi nhuận Nếu Ngânhàng đầu tư có trọng điểm sẽ giúp các đơn vị tổ chức làm ăn có lãi, thu nhậpcủa người lao động được nâng cao có điều kiện tích luỹ từ đó sẽ tạo tiền đề