Phùng Đức Nhật ĐT: 0918103404Email: phungducnhat@ihph.org.vn ĐÁNH GIÁ BIỆN PHÁP CAN THIỆP PHÒNG NGỪA THỪA CÂN, BÉO PHÌ HỌC SINH MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẪU GIÁO QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MI
Trang 1Viện Vệ sinh – Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: Ths.BS Phùng Đức Nhật ĐT: 0918103404Email: phungducnhat@ihph.org.vn
ĐÁNH GIÁ BIỆN PHÁP CAN THIỆP PHÒNG NGỪA THỪA CÂN, BÉO PHÌ HỌC SINH MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẪU GIÁO
QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
Phùng Đức Nhật*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Thừa cân, béo phì là vấn đề y tế công cộng nổi trội, cần được quan tâm nhiều Hiện nay, tình
trạng này không chỉ giới hạn ở người lớn mà tỷ lệ thu được ở trẻ nhỏ cũng đáng báo động Việc cung cấp các biện pháp phòng ngừa thừa cân, béo phì ở trẻ và lượng giá lại có vai trò quan trọng trong công tác đẩy lùi đại dịch này
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở trẻ đang học tại hai trường
mầm non quận 4, Tp.HCM và đánh giá tác động của biện pháp can thiệp phòng ngừa thừa cân, béo phì
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng, tiến hành qua 3 giai đoạn: điều tra cắt ngang
thu thập số liệu, can thiệp, đánh giá tác động can thiệp Thời gian thực hiện từ 6/2010-6/2011, nghiên cứu tiến hành bằng cách phát phiếu hỏi cho phụ huynh để tìm hiểu nhận định của họ về tình trạng dinh dưỡng ở trẻ
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì ghi nhận được sau can thiệp (38,6%) cao hơn ban đầu
(33,8%) Các yếu tố như giới tính, khối lớp, tốc độ ăn và ăn thức ăn chiên xào có liên quan đến tỷ lệ thừa cân, báo phì (p<0,05) Tỷ lệ kiến thức đúng của phụ huynh về dinh dưỡng và thừa cân, béo phì ở trẻ thu được sau can thiệp cao hơn ban đầu.
Kết luận: Cần duy trì các biện pháp can thiệp phòng ngừa thừa cân, béo phì đã thực hiện
Từ khóa: Thừa cân, béo phì, biện pháp can thiệp
ABSTRACT
ASSESSMENT OF INTERVENTION MEASURES TO PREVENT CHILDREN’S OVERWEIGHT AND
OBESITY IN SOME KINDERGARTENS, DISTRICT 4, HO CHI MINH CITY, 2010
Phung Duc Nhat * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 3 - 2012: 416 - 420
Background: Overweight and obesity are becoming significant public health problems that should be
paid more attention from community These issues are commonly recorded in adults, however, the children’s overweight and obesity status has been increasing at an alarming rate The intervention measures to prevent overweight and obesity status in children and assessment after conducting intervention have played an important role in debating these issues.
Objectives: To determine the children’s overweight and obesity rate studying in two kindergartens in
district 4, Ho Chi Minh city and the association between this proportion and risk fators that are likely to cause overweight and obesity The impact of intervention measures to prevent overweight and obesity should
be subsequently assessed.
Method: Community- intervention study has been implemented through three stages: cross sectional
survey to collect data, implementation of intervention, impact evaluation of intervention The study, carried
Trang 2out from June 2010 to June 2011 and was conducted by distributing questionnaires to parents so that they can seft- assess the nutrition status of their children
Results: The children’s overweight and obesity rate recorded at post-intervention was 38.6%, higher
than the pre-intervention figure (33.8%) There were association between gender, grade, eating speed, greasy food consuming and overweight and obesity rate, with p value was lower than 0.05 The proportion of parents having the right knowledge of nutrition, overweight and obesity post-intervention was higher than pre- intervention
Conclusion: Effective intervention measures to prevent overweight and obesity issues in children
should be maintained
Key words: Overweight, obesity, intervention measures
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân, béo phì hiện đang là đại dịch được thế
giới quan tâm(4) Hiện nay, thừa cân, béo phì
không chỉ là vấn đề nghiêm trọng thường gặp ở
người lớn mà tình trạng này đã mở rộng ra đến
đối tượng trẻ em và ngày càng gia tăng
Nghiên cứu tình trạng thừa cân và béo phì của
dân cư thành phố Hồ Chí Minh từ 1996 đến
2001, Trần Thị Hồng Loan ghi nhận sự gia tăng
tỷ lệ thừa cân của trẻ dưới 5 tuổi: 2,0% năm
1996; 2,1% năm 1999; 3,1% năm 2000; 3,4%
năm 2001 Riêng học sinh nhà trẻ, mẫu giáo
trong niên học 2000 - 2001 quận ven Gò Vấp có
tỷ lệ béo phì 7,9% Còn học sinh cấp I (6-11 tuổi)
ở quận 1 nội thành năm 1997 có tỷ lệ béo phì
12,2%(2)
Các chương trình can thiệp phòng ngừa thừa cân,
béo phì ở các trường mẫu giáo trong thời gian
qua cũng đã được thực hiện, tuy nhiên đánh giá
hiệu quả chương trình can thiệp này thì chưa
được quan tâm nhiều, điều này thúc đẩy chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì đang học tại
trường Sao Mai 12 (SM 12), Sao Mai 13 (SM
13)
Xác định mối liên quan giữa tỷ lệ thừa cân, béo
phì ở trẻ học tại trường SM 12, SM 13 và các yếu
tố nguy cơ liên quan tình trạng thừa cân béo phì
Đánh giá tác động của biện pháp can thiệp phòng
ngừa: dựa trên kiến thức đúng về dinh dưỡng và
thừa cân, béo phì của phụ huynh trẻ trước và sau
can thiệp tại trường SM 12
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Học sinh trường mầm non Sao Mai 12 và Sao Mai 13 tại quận 4 thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp cộng đồng
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Công thức tính cỡ mẫu:
n =
[Z 1−α /2√2 P−(1−P)−+Z 1−β√P1(1−P1)+P2(1−P2)]
(P1−P2)2
P
−
n = số đối tượng cần điều tra
= 0,05
z (1-/2) = 1,96 (tra bảng phân phối bình thường)
z (1- β ) = 1,28 (tra bảng phân phối bình
thường)
P1 là tỷ lệ thừa cân béo phì theo báo cáo của
trường mầm non Sao mai 12 tại thời điểm tháng 4/2010 là 11% => P1 = 0,11.
P2 là tỷ lệ thừa cân béo phì mong muốn đạt
được sau khi áp dụng các biện pháp phòng ngừa thừa cân béo phì vào trường mầm non Sao mai
12 là 3% => P2 = 0,03.
Ta tính được n = 210 trẻ
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu theo đơn vị trường nghiên cứu Số mẫu cần thiết được nhân 2 với số trường nghiên cứu Ta có, số mẫu nghiên cứu cho mỗi đợt là 210 x 2 = 420 trẻ
Trang 3Số lần điều tra là 02 đợt, nên tổng số mẫu là 420
x 2= 840 trẻ
Tiêu chuẩn chọn đối tượng vào nhóm
nghiên cứu
Giai đọan 1: Nghiên cứu cắt ngang đánh giá
các số liệu cơ bản ban đầu
Tiêu chuẩn chọn vào nhóm nghiên cứu:
Đối với trường: Đề nghị chọn các trường: 01
trường can thiệp (Mầm non Sao mai 12), 01
trường đối chứng (Mầm non Sao mai 13)
Có sự đồng ý tham gia của Ban giám hiệu nhà
trường, sự giới thiệu của Phòng Giáo dục quận 4
Hai trường nêu trên là hai trường có cơ sở vật
chất khá tốt, phù hợp cho việc triển khai tăng
cường vận động cho trẻ
Trường Mầm non có khoảng 45 trẻ/1 lớp mầm;
55 trẻ/1 lớp chồi; 50 trẻ /1 lớp lá (Trường Mầm
non Sao mai 12) Như vậy ta sẽ chọn ngẫu nhiên
35 trẻ trong mỗi lớp Ta chọn tổng cộng là 06 lớp
(02 mầm; 02 chồi; 02 lá) có 210 trẻ và phụ huynh
được điều tra tại trường can thiệp và tương ứng
với khoảng 210 trẻ và phụ huynh ở trường không
can thiệp
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu
theo đơn vị trường nghiên cứu Số mẫu cần thiết
được nhân 2 với số trường nghiên cứu Ta có số
mẫu nghiên cứu cho mỗi đợt là 210 x 2 = 420 trẻ
Số lần điều tra là 2 đợt nên tổng số mẫu là 420 x
2= 840 trẻ
Giai đoạn 2: Can thiệp tại trường nghiên cứu:
Truyền thông dinh dưỡng và phòng chống béo
phì trong nhà trường bằng các tài liệu truyền
thông như tờ bướm, các thông tin định kỳ dán
trên bảng thông tin tại trường, khuyến khích nhà
trường tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ
Truyền thông cho phụ huynh, khuyến khích gia đình tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ
Giai đoạn 3: Đánh giá tác động can thiệp
Định nghĩa thừa cân
“Nguy cơ thừa cân” và “thừa cân” là thuật ngữ được dùng để chỉ tình trạng trẻ em có cân nặng vượt quá mức bình thường Ở người lớn, đo lường tình trạng trên dựa vào chỉ số BMI (body mass index), ta tính bằng cách lấy cân nặng tính bằng kg chia bình phương chiều cao tính bằng mét(1).Tuy nhiên, khi tính toán trên đối tượng trẻ
em, có nhiều khuyến cáo nên sử dụng chỉ số BMI theo tuổi và giới vì tình trạng thừa cân hay béo phì của trẻ bị phụ thuộc bởi tác động của yếu tố tuổi và giới Theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới(5):
Thừa cân: >+ 1 SD (tương đương với BMI 25kg/
m2 ở tuổi 19)
Béo phì: >+ 2SD (tương đương với BMI 30 kg/
m2 ở tuổi 19)
KẾT QUẢ
Bảng 1: Tỷ lệ thừa cân, béo phì (TCBP) ở hai
trường mầm non quận 4
(n=420)
Mầm non SM 12 (n=420)
Trước điều tra (n=210) tra (n=210) Sau điều Trước can thiệp
(n=210)
Sau can thiệp (n=210)
Có 81 (38,6%) 72 (34,3%) 71 (33,8%) 81 (38,6%) Không 129 (61,4%) 138
(65,7%)
139 (66,2%) 129 (61,4%)
Tại trường mầm non SM 12, tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì sau can thiệp là 38,6% cao hơn so với tỷ
lệ thu được ban đầu (33,8%) Trong khi đó, kết quả thu được ở trường mầm non SM 13 cho thấy
tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì thu được ở lần điều tra sau 34,3% thấp hơn so với tỷ lệ ghi nhận được ban đầu (38,6%)
Bảng 2: Thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan
(trường chứng) Trường Mầm non Sao Mai 12 (trường can thiệp)
2 = 12,8, p=0,000 2 = 9,41, p=0,002
2 =4,18, p=0,124 2 =6,56, p=0,038
Trang 4Yếu tố nguy cơ Trường Mầm non Sao Mai 13
(trường chứng) Trường Mầm non Sao Mai 12 (trường can thiệp)
Bình thường 62 (60,2%) 41 (39,8%) 70 (61,4%) 44 (38,6%)
2 = 23,4, p=0,000 2 = 8,49, p=0,014 Thức ăn
chiên xào KhôngCó 50 (52,1%)79 (69,3%) 46 (47,9%)35 (30,7%) 58 (60,4%)81 (71,1%) 38 (39,6%)33 (28,9%)
2 = 6,51, p=0,011 2 = 2,63, p=0,105
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ
thừa cân, béo phì của trẻ và các yếu tố như: giới
tính, khối lớp, tốc độ ăn và thức ăn chiên xào (p
= 0,000 < 0,05)
Tại trường SM 12 (trường can thiệp): Tỷ lệ
nam bị thừa cân, béo phì ở trường SM12 chiếm
44,1% trong khi ở nữ tỷ lệ này chỉ có 24,1%
Trẻ ở lớp mầm, chồi, lá có tỷ lệ thừa cân, béo
phì lần lượt là 25,7%, 31,5% và 46,1% Những
trẻ có tốc độ ăn nhanh có tỷ lệ thừa cân, béo
phì bằng 45,1% cao hơn so với những trẻ có
tốc độ ăn bình thường (38,6%) và chậm
(20,0%)
Tại trường SM 13 (trường đối chứng): trẻ ăn
thức ăn chiên xào hàng ngày (trên 5 lần/ tuần)
bị thừa cân, béo phì chiếm 47,9% trong khi trẻ
không ăn thức ăn chiên xào và không bị thừa
cân, béo phì là 30,7%
Bảng 3: Kiến thức đúng về dinh dưỡng của phụ
huynh (n=420)
Kiến thức
dinh
dưỡng
đúng
Trước can thiệp
(n=210) Sau can thiệp (n=210)
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Có 129 61,4 152 72,04 0.25
Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đúng về dinh
dưỡng sau can thiệp là 72,04 % cao hơn so với
ban đầu (61,4%) Tuy nhiên, không tìm được
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức
dinh dưỡng đúng trước và sau can thiệp
(p=0,25 >0,05)
Bảng 4: Kiến thức đúng về thừa cân, béo phì của
phụ huynh (n=420)
Kiến thức
dinh
dưỡng
đúng
Trước can thiệp
(n=210)
Sau can thiệp (n=210)
Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)
Có 176 83,1 183 87,2 0,725
Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đúng về thừa cân, béo phì sau can thiệp là 87,2% cao hơn so với trước can thiệp (83,1%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,725 > 0,05)
BÀN LUẬN
Khảo sát lần đầu, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trường
SM 13 và SM 12 lần lượt là 38,6%; 33,8% Sau can thiệp, tỷ lệ thu được ở trường can thiệp tăng lên 38,6%, cao hơn so với ban đầu (33,8%) Điều này có thể do kiến thức về dinh dưỡng và thừa cân, béo phì của phụ huynh được cải thiện nên việc tầm soát sớm trẻ thừa cân tốt hơn
Tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ đang học ở trường mầm non SM 12 – trường can thiệp có liên quan đến các yếu tố về giới tính, khối lớp học, tốc độ ăn Trẻ nam có tỷ lệ thừa cân, béo phì
là 44,1% cao gần gấp đôi so với trẻ nữ 24,1% (p=0,002<0,005) Tình trạng thừa cân, béo phì gia tăng theo khối lớp (p=0,038< 0,05) theo đó những trẻ học lóp mầm có tỷ lệ thừa cân, béo phì (25,7%), lớp chồi (31,5%) và lớp lá (46,1%) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu “Khảo sát tình trạng dinh dưỡng và một số bệnh học đường ở các trường mẫu giáo quận 4, năm 2006” của nhóm tác giả Võ Ngọc Thúy và Phạm Lê An, với
tỷ lệ nam bị béo phì cao hơn nữ và tỷ lệ béo phì tăng theo khối lớp(3) Trẻ ăn nhanh có tỷ lệ thừa cân, béo phì bằng 45,1% cao hơn so với trẻ ăn bình thường (38,6%) và chậm (20,0%) Thói quen ăn nhanh của trẻ là yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì
Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đúng về dinh dưỡng và thừa cân, béo phì sau can thiệp cao hơn so với ban đầu Điều này cho thấy có sự chuyển biến trong nhận thức của các phụ huynh và cũng phần nào phản ánh hiệu quả của các biện pháp truyền thông như tư vấn dinh dưỡng cho phụ huynh có con bị thừa cân, béo
Trang 5phì và việc phát tờ rơi, tờ bướm Dựa trên
những kiến thức thu nhận được phụ huynh có
những biện pháp hữu hiệu để giúp trẻ như:
giảm dầu mỡ trong nấu nướng, hạn chế cho trẻ
ăn các loại thức ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn,
khuyên trẻ tăng vận động thể lực, cho trẻ vận
động ngoài trời…
KẾT LUẬN
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trường Sao Mai 13 và
Sao Mai 12 – trước can thiệp lần lượt là 38,6%
và 33,8%
Tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ đang học ở
trường mầm non Sao Mai 12 – trường can thiệp
có liên quan đến các yếu tố về giới tính, khối lớp
học, tốc độ ăn Thói quen ăn nhanh của trẻ là yếu
tố nguy cơ dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì
Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý
nghĩa thống kê giữa tình trạng thừa cân, béo phì
của trẻ với các yếu tố thuộc về gia đình trẻ: trình
độ học vấn cha, mẹ; nghề nghiệp cha, mẹ; các
thói quen ăn uống và sở thích của trẻ như: thói
quen ăn vặt, sở thích ăn thức ăn béo, thức ăn
ngọt, thức ăn nhanh (p > 0,05)
Phụ huynh có kiến thức đúng về dinh dưỡng
sau can thiệp là 72,04 % cao hơn hẳn so với
ban đầu (61,4%) Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức
đúng về thừa cân, béo phì sau can thiệp là
87,1% cao hơn so với trước can thiệp (83,1%)
Số phụ huynh có con bị thừa cân, béo phì có
kiến thức đúng về thừa cân, béo phì sau can
thiệp là 87,20%, cao hơn hẳn so với trước can
thiệp (83,81%)
KHUYẾN NGHỊ
Nhà trường cần thường xuyên cung cấp thông tin
về cân nặng, chiều cao của trẻ cho gia đình để phụ huynh cho trẻ ăn uống theo một chế độ phù hợp
Tổ chức các hoạt động tư vấn dinh dưỡng cho phụ huynh, đặc biệt là phụ huynh trẻ có vấn đề
về dinh dưỡng
Tăng các hình thức hoạt động thể dục tại các trường mầm non
Nhà trường nên dành diện tích trong khuôn viên trường để xây dựng sân chơi ngoài trời cho trẻ
Xin chân thành cám ơn sự tài trợ của Tổ chức
Y tế thế giới (WHO) trong việc thực hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 CDC Overweight children and adolescents: Recommendations to screen, assess and manage
www cdc .gov/nccdphp/dnpa/ /module3print.pdf
2 Trần Thị Hồng Loan (2003) Tình trạng thừa cân và béo phì các tầng lớp dân cư thành phố Hồ Chí Minh năm 1996-2001 Trung tâm Dinh Dưỡng thành phố Hồ Chí Minh
3 Võ Thị Ngọc Thúy, Phạm Lê An (2008) Khảo sát tình trạng dinh dưỡng và một số bệnh học đường ở các trường mẫu giáo quận 4 năm 2006 Y Học TP Hồ Chí Minh Tập 12
(1)-2008, tr.86-91.
4 WHO Controlling the global obesity epidemic http://www.who.int/nutrition/topics/obesity/en/
5 WHO Growth reference 5-19 years BMI for age http://www.who.int/growthref/who2007_bmi_for_age/en/ind ex.html