CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH Ở THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2011 Đặng Văn Chính*, Nguyễn Thị Bích Ngọc,Hồ Hữu Tính* TÓM TẮT Đặt vấn đề
Trang 1CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH Ở THỊ XÃ THỦ DẦU MỘT,
TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2011
Đặng Văn Chính*, Nguyễn Thị Bích Ngọc,Hồ Hữu Tính*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) gây ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia trên thế giới.Tuy
nhiên ở Việt Nam có ít nghiên cứu về SKTT và các yếu tố xã hội liên quan.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ hiện mắc của 6 mức độ SKTT và các yếu tố xã hội liên quan ở người
dân thị xã Thủ Dầu Một (TDM), tỉnh Bình Dương (BD).
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang dựa trên phỏng vấn trực tiếp với bảng câu hỏi GWB.
Đối tượng nghiên cứu là người dân tuổi 18-60 và sinh sống ở thị xã TDM, tỉnh BD từ 1 năm trở lên.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ người có tổng điểm GWB từ 0-60, 61-72 và 73-100, được mô tả là “ức chế
nặng”, “ức chế trung bình” và “ khỏe mạnh” lần lượt là 13,9%, 59,8% và 26,3% Tỷ lệ lo lắng về sức khỏe, hài lòng thỏa mãn, sinh lực, trầm cảm, tự kiểm soát và lo âu lần lượt là 74,7%, 99,2%, 96,1%, 71,6%, 20,9%, và 88,3%.
Kết luận: Tình trạng SKTT kém chiếm tỷ lệ cao ở nhóm đối tượng tự kiểm soát kém, lo lắng về sức khỏe
nhiều, và trầm cảm Có mối liên quan giữa SKTT với tôn giáo, hoạt động thể lực, và nơi cư ngụ.
Từ khóa: Sức khỏe tâm thần (SKTT); yếu tố xã hội; bảng câu hỏi GWB.
ABSTRACT
SOCIAL DETERMINANTS AND THE MENTAL HEALTH OF ADULT POPULATION AT THU DAU
MOT CITY, IN BINH DUONG PROVINCE IN 2011
Dang Van Chinh*, Nguyen Thi Bich Ngoc*, Ho Huu Tinh*
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 3 - 2012: 492 - 496
Background: The mental health problems affect almost all countries in the world In Vietnam, however,
there has been little research on mental health and social determinants related to it.
Objectives: To estimate the prevalence of six dimensions of mental health and to identify the relationships
between social determinants and mental health among people in Thu Dau Mot town in Binh Duong province.
Method: This was a cross-sectional survey based on direct interviews with the GWB questionnaire The
study included people aged 18-60 years living in the town at the time period of 12 months or over.
Results: The percentage of adults with total GWB score from 0 to 60, 61-72 and 73-110, described
as “severely distressed”, “moderately distressed” and “ positive well-being” are 13.9%, 59.8% and 26.3%, respectively.The mean prevalence of general health (health concern), positive well-being, vitality, depression, self-control and anxiety was 74.7%, 99.2%, 96.1%, 71.6%, 20.9% and anxiety 88.3%, respectively
Viện Vệ sinh y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: Ts Đặng Văn Chính ĐT: 0908414986 Email: dangvanchinh@ihph.org.vn
Trang 2Conclusion: The prevalence of people with low general well being is higher in adults with low self-control,
high health concern and being depressed There was a relationship between mental health and religion, physical activity and residence.
Key words: Mental health; social determinants; General Well Being (GWB).
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng sức khỏe tâm thần ảnh hưởng
đến hàng triệu người trên thế giới Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) ước tính rằng có đến 154 triệu
người mắc chứng trầm cảm và 25 triệu người bị
tâm thần phân liệt; 91 triệu người bị rối loạn do
uống rượu và 15 triệu người bị rối loạn do sử
dụng các loại dược phẩm khác (4) Có đến 50
triệu người bị động kinh, 24 triệu người bị
Alzheimer và các chứng sa sút trí tuệ khác(3)
Khoảng 877.000 người chết do tự tử mỗi năm(5)
Tại các quốc gia có thu nhập thấp, trầm cảm là
một vấn đề lớn chiếm 3,2% tổng gánh nặng
bệnh tật(2)
Ở các nước có thu nhập cao, trầm cảm chiếm
tỷ lệ cao nhất trong tổng gánh nặng bệnh tật(1)
Ước tính khoảng 23 triệu người Mỹ hiện đang
mắc chứng rối loạn nghiêm trọng hoặc rối loạn
hành vi Chi phí cho bệnh tâm thần trong cộng
đồng người Mỹ hàng năm xấp xỉ 73 tỉ đô la,
khoảng một nửa số chi phí này phản ánh sự mất
khả năng sản xuất Tương tự, khoảng 20%
người Úc bị ảnh hưởng bởi vấn đề sức khỏe tâm
thần trong khoảng thời gian 12 tháng, với hơn
25% người trẻ tuổi (18 đến 24) bị ít nhất một
dạng rối loạn tâm thần trong suốt thời kỳ này
Tác động căng thẳng của môi trường
thường dẫn đến sự bồn chồn, lo lắng, căng
thẳng, giận dữ, bực bội, ức chế và trầm cảm
Những rối loạn hành vi này có thể dẫn tới việc
tự tử, lạm dụng chất gây nghiện và những hình
thức giận dữ kích động khác
Ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về sức khỏe
tâm thần và các yếu tố xã hội liên quan Nguyên
nhân do thiếu nguồn nhân lực và công cụ đánh
giá sức khỏe tâm thần cho người dân Do đó,
mục đích của nghiên cứu này nhằm nâng cao
nhận thức và hiểu biết về tác động của các yếu
tố xã hội lên sức khỏe tâm thần và tình trạng
khỏe mạnh, sử dụng bảng tình trạng sức khỏe tổng quát (GWB) được xây dựng cho cuộc khảo sát điều tra về dinh dưỡng và sức khỏe của Mỹ
Mục tiêu
Mục tiêu 1: Ước tính tỷ lệ hiện mắc của sáu mức độ sức khỏe tâm thần bao gồm lo lắng (anxiety), ức chế (depression), lo lắng về sức khỏe (health concern), hài lòng ( satisfaction), tự kiểm soát (self-control) và đầy sức sống (vitality)
ở những người 18-60 tuổi ở thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương
Mục tiêu 2: Xác định mối liên quan giữa các yếu tố xã hội: tuổi, giới, tình trạng kinh tế xã hội, quy mô hộ gia đình, hoạt động thể lực, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hộ gia đình với sức khỏe tâm thần ở những người
18-60 tuổi ở thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang để ước tính tỷ lệ hiện mắc của sáu mức độ sức khỏe tâm thần ở người từ18-60 tuổi tại thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương Cuộc điều tra này dựa trên phỏng vấn trực tiếp về các yếu tố tình trạng kinh tế xã hội, hoạt động thể lực và tình trạng sức khỏe tâm thần Cỡ mẫu ước tính là 768 người tuổi từ 18 trở lên với kỹ thuật chọn mẫu cụm Người dân cư ngụ tại Bình Dương, tuổi 18-60 và sinh sống ở thị xã Thủ Dầu Một hơn 1 năm; từ tháng 6/2010 đến tháng 6/2011 sẽ được chọn vào nghiên cứu Khung mẫu là danh sách dân cư ở các xã phường (phường là một đơn vị quản lý xã của Việt Nam) Các cá thể là đơn vị chọn mẫu được lấy theo ngày và đáp ứng yêu cầu của nghiên cứu
Trang 3KẾT QUẢ
Đặc tính mẫu
Bảng 1: Các đặc điểm xã hội-nhân khẩu học của mẫu
nghiên cứu (n=768).
Tuổi
Học vấn
Đại học và sau đại học 106 13.8
Nghề nghiệp
Kinh tế xã hội
Họat động thể lực
Sở hữu nhà
Nơi cư trú
Đối tượng nghiên cứu có 46,1% là nam giới,
53,9% là nữ giới Hơn ¾ đối tượng nằm trong
độ tuổi từ 25-54 Người có trình độ học vấn cấp
2 và cấp 3 chiếm khoảng 65% và tỷ lệ người có
trình độ tiểu học hoặc mù chữ chiếm khoảng
23% Tỷ lệ hộ gia đình nghèo và giàu gần tương
đương nhau, khoảng 20% (bảng 1)
Bảng 2: Tỷ lệ và thang điểm tình trạng SKTT của
người dân 18-60 tuổi, thị xã TDM, tỉnh BD (n=768).
Tình trạng sức khỏe (TTSK)
Ức chế nặng 107 13.9(10.5-17.3)
Ức chế trung bình 459 59.8(55.2-64.3) Khỏe mạnh 202 26.3(21.6-31.0) Thang điểm (Điểm càng cao=TTSK càng tốt)
Lo lắng về sức khỏe
>10 (TTSK tốt hơn) 574 74.7(69.8-79.6)
Hài lòng, thỏa mãn
>5 (TTSK tốt hơn) 762 99.2(98.6-99.8)
Sinh lực
>10 (TTSK tốt hơn) 740 96.1(94.3-98.4)
Ức chế
>15 (ít ức chế hơn) 550 71.6(67.2-75.9)
Kiểm soát (kiểm soát cảm xúc)
>10 161 20.9(14.5-27.4)
Lo âu
>15 (ít lo âu hơn) 678 88.3(85.8-90.8)
Tỷ lệ người có tổng điểm GWB từ 0-60, 61-72
và 73-100, được mô tả là “ức chế nặng”, “ức chế trung bình” và “ khỏe mạnh” lần lượt là 13,9%, 59,8% và 26,3%
Tỷ lệ lo lắng về sức khỏe, hài lòng thỏa mãn, sinh lực, ức chế, tự kiểm soát và lo âu lần lượt là 74,7%, 99,2%, 96,1%, 71,6%, 20,9% và 88,3%
3 trong 6 thang điểm có điểm TTSK khỏe mạnh cao nhất là thỏa mãn (khỏe mạnh khỏe mạnh) chiếm tỷ lệ cao nhất (99,2%), thứ hai là sinh lực (96,1%) và lo âu là 88,3% Ngược lại, 3 trong 6 thang điểm có tỷ lệ TTSK khỏe mạnh thấp nhất lần lượt là tự kiểm soát (79%) (mất kiểm soát), ức chế (28,4%), và lo lắng về sức khỏe (25,3%) (Bảng 2)
Bảng 3: Tỷ lệ TTSK và các yếu tố nguy cơ ở người
18-60t tại thị xã TDM, tỉnh BD (n=768).
Đặc điểm
Khỏe mạnh Ứcc chế nặng
và trung bình
Chi-square
Trang 4Đặc điểm
Khỏe mạnh Ứcc chế nặng
và trung bình
Chi-square
Tuổi
4,5
25-34 51 25,5 149 74,5
35-44 61 29,9 143 70,1
Giới
0,1
Trình độ học vấn
Mù chữ và cấp
3,5
Đại học và sau
đại học
32 30,2 74 69,8 Tôn giáo
6,9*
Không 142 29,5 339 70,5
Nghề nghiệp Công nhân 81 27,8 210 72,2
0,8
Kinh doanh 35 24,7 107 75,3
Nội trợ 39 26,0 111 74,0
Tình trạng kinh tế xã hội
0,9 Trung bình 113 25,7 326 74,3
Hoạt động thể lực
7,1*
Trung bình 92 24,9 277 75,1
Sở hữu nhà
2,8
Nơi cư ngụ Ngoại ô (0) 65 22,0 230 78,0
4,5*
Nội thành(1) 137 29,0 336 71,0
*: p ≤0.05
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong
điểm số GWB ở các đối tượng nghiên cứu hoạt
động thể lực ít, trung bình và nhiều Tỷ lệ GWB
khỏe mạnh ở các đối tượng hoạt động thể lực ít
thì cao hơn các đối tượng hoạt động thể lực
trung bình và nhiều: 34,9% so với 24% Tỷ lệ
GWB khỏe mạnh ở các đối tượng có tôn giáo
thấp hơn các đối tượng không tôn giáo (20,9%
so với 29,5%) Tỷ lệ GWB khỏe mạnh ở các đối tượng sống ở thành thị cao hơn các đối tượng sống ở vùng ngoại ô (29% so với 22%) (Bảng 3)
Bảng 4: Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ ảnh
hưởng SKTT ở các đối tượng 18-60 tuổi tại thị xã TDM, tỉnh BD (n=768).
Tôn giáo
Hoạt động thể lực
Trung bình và nhiều 1.66 1.1-2.4 0.01
Nơi cư ngụ Ngoại thành 1 Nội thành 0.67 0.47-0.95 0.02
Bảng 4 cho thấy phân tích đa biến gồm tôn giáo, hoạt động thể lực, nơi cư ngụ và SKTT Các đối tượng có tôn giáo bị ức chế cao gấp 1,5 lần đối tượng không có tôn giáo (OR=1.57; KTC 95% = 1.1-2.2) Tương tự, các đối tượng hoạt động thể lực trung bình và nhiều bị ức chế cao gấp 1,6 lần những đối tượng ít hoạt động thể lực (OR=1.66; KTC 95% = 1.1-2.4) Những đối tượng sống ở nội thành ít bị ức chế hơn các đối tượng sống ở ngoại ô 0,67 lần
BÀN LUẬN Tình trạng sức khỏe tâm thần (GWB)
Các tiêu chuẩn tham khảo của Mỹ cho thấy 71% người trưởng thành ở trong tình trạng
“khỏe mạnh”, 15% “ức chế trung bình” và 13,5% “ức chế nghiêm trọng” Kết quả từ mẫu nghiên cứu những người trưởng thành ở một thị xã công nghiệp hóa nhanh tại Việt Nam cho thấy SKTT kém hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn của Mỹ, với 26,3% các đối tượng có mức độ
“khỏe mạnh”, 59,8% “ức chế trung bình”, và 13% “ức chế nặng” Tỷ lệ ức chế trung bình và nặng cao ở người trưởng thành trong nghiên cứu gợi ý rằng vấn đề sức khỏe tâm thần là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trong dân
số trưởng thành ở Việt Nam
Trang 5Tỷ lệ “khỏe mạnh” rất thấp ở các đối tượng
trong mẫu nghiên cứu này là do mức độ mất
kiểm soát bản thân, ức chế và lo lắng về sức
khỏe cao Các đối tượng có tôn giáo có mức độ
tự kiểm soát cao hơn những đối tượng không có
tôn giáo; tuy nhiên những đối tượng có tôn giáo
lại có tình trạng ức chế và lo lắng về sức khỏe
nhiều hơn những đối tượng không có tôn giáo
Các đối tượng hoạt động thể lực trung bình
hoặc nặng có mức độ ức chế cao hơn những đối
tượng ít hoạt động thể lực Những đối tượng
sống ở ngoại ô dễ mất kiểm soát bản thân hơn
những đối tượng sống ở khu vực nội thành
Nhận biết những điểm đáng chú ý này là quan
trọng do chúng có liên quan đến tỷ lệ bệnh tật,
tử vong và tuổi thọ
Số liệu từ mẫu nghiên cứu này trái ngược
với giả định rằng mức độ hoạt động thể lực
cao có mối liên quan chắc chắn với SKTT tốt
Điều không mong đợi này có thể do mẫu dân
số nghiên cứu có tỷ lệ cao các đối tượng là
công nhân, buôn bán nhỏ và nội trợ - là những
người có hoạt động thể lực nhiều nhưng có
tình trạng kinh tế xã hội thấp Mức độ SKTT ở
nhóm có tôn giáo thì thấp hơn có ý nghĩa so
với nhóm không có tôn giáo Tuy nhiên, lý do
dẫn đến kết quả này không rõ ràng; có thể là
do những người có tôn giáo có tình trạng căng
thẳng và mối lo lắng về sức khỏe nhiều hơn
Những đối tượng nghiên cứu sống ở nội
thành có tỷ lệ sức khỏe tốt cao hơn những
người sống ở khu vực ngoại ô Điều này có
thể được giải thích là do những người sống ở
ngoại ô có nhiều mối lo lắng về sức khỏe hơn
những người sống ở nội thành bởi vì khoảng
cách về địa lý và vị trí kinh tế xã hội thấp hơn
Những nghiên cứu trước cho thấy rằng những
người có vị trí kinh tế xã hội thấp hơn chịu
đựng nhiều vấn đề sức khỏe hơn và ít có khả
năng sử dụng các dịch vụ y tế dự phòng hoặc
phát hiện bệnh tật ở giai đoạn chưa có triệu
chứng
Đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện
trên một mẫu dân số địa phương đại diện và
đưa ra một số kết luận đại diện cũng như bộc
lộ vai trò các yếu tố xã hội liên quan đến tình trạng SKTT
Tuy nhiên, số liệu trong nghiên cứu này có nhiều hạn chế Thứ nhất, đây là thiết kế cắt ngang nên chỉ đưa ra một cái nhìn một thời điểm về tình trạng kinh tế xã hội và sức khỏe tâm thần trong dân số nghiên cứu Điều này cũng có nghĩa là khó thể thiết lập mối quan hệ nhân quả tồn tại giữa các yếu tố xã hội và sức khỏe tâm thần Thứ hai, dữ liệu trong nghiên cứu không đủ mạnh để xác định mối liên quan giữa GWB và các yếu tố nguy cơ bởi vì
cỡ mẫu nhỏ không đủ để phân tích các nhóm không đồng nhất Thứ ba, dữ liệu thu thập được trong nghiên cứu là sự tự ghi nhận qua phỏng vấn, do đó các câu trả lời có thể chỉ là
sự thể hiện mong muốn của người được phỏng vấn Cuối cùng, kết quả phải thận trọng để khái quát cho các dân số khác ở Việt Nam
Mặc dù có những giới hạn, kết quả gợi ý rằng nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này là cần thiết Cỡ mẫu lớn hơn có thể giúp làm rõ mối liên quan giữa các yếu tố xã hội, trầm cảm và sức khỏe Hiểu biết những mối quan hệ này có thể quan trọng để phát triển thành công can thiệp dự phòng và điều trị nhằm duy trì khỏe mạnh và ngăn ngừa sự tiến triển từ tình trạng lo
âu trung bình và nhẹ, ức chế và căng thẳng đến tình trạng trầm cảm nghiêm trọng ở các đối tượng nghiên cứu
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nghiên cứu cho thấy tình trạng SKTT kém chiếm tỷ lệ cao ở nhóm đối tượng tự kiểm soát kém, lo lắng về sức khỏe nhiều, và trầm cảm Hiểu biết những mối quan hệ này có thể có ý nghĩa y tế công cộng sâu sắc Vì vậy, cần xem xét các nguyên nhân dẫn đến những kết quả này và các phương tiện, phương pháp giúp đỡ nhóm đối tượng này
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hyman S et al (2006) Mental disorders In: Disease control
priorities related to mental, neurological developmental and
substance abuse disorders, 2 nd
ed Geneva, World Health Organization,:1-20.
2 Mathers CD, Loncar D (2006), Projections of global mortality
and burden of disease from 2002 to 2030, Public Library of
Science Medicine, , 3:e442.
3 World Health Organization (2006), Neurological disorders: public health challenges, Geneva, 2006.
4 World Health Organization (2002), Revised Global Burden of Disease (GBD) 2002 estimate, Geneva, 2004.
5 World Health Organization (2003), World Health Report 2003, Shaping the future, Geneva, 2003.