RỐI LOẠN CƠ XƯƠNG NGHỀ NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ỞNỮ CÔNG NHÂN TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU NĂM 2011 Lê Thị Hải Yến * , Trịnh Hồng Lân TÓM TẮT Đặt vấn đề: RLC
Trang 1RỐI LOẠN CƠ XƯƠNG NGHỀ NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở
NỮ CÔNG NHÂN TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN THỦY SẢN TỈNH BÀ
RỊA-VŨNG TÀU NĂM 2011
Lê Thị Hải Yến * , Trịnh Hồng Lân
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: RLCX là một loại bệnh lý gây ra cảm giác đau nhức, mệt mỏi cho công nhân làm việc trong
tư thế gò bó trong một thời gian dài, từ đó ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc của họ Ngành chế biến thủy sản
là ngành mà trong đó công nhân phải làm việc với tư thế đứng trong thời gian dài, vì vậy có nguy cơ mắc RLCX cao Tại Bà Rịa-Vũng Tàu các nghiên cứu về RLCX ở công nhân chế biến thủy sản chưa có, vì vậy nghiên cứu được tiến hành để tìm hiểu thực trạng cũng như tìm ra giải pháp phòng ngừa RLCX ở công nhân.
Mục tiêu: Xác định được tỷ lệ bệnh RLCX nghề nghiệp và các yếu tố liên quan ở nữ công nhân công ty
chế biến thủy sản Bà Rịa -Vũng Tàu.
Phương pháp nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 419 nữ công nhân tại công ty chế
biến thủy sản Bà Rịa-Vũng Tàu Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đóng phỏng vấn trực tiếp các nữ công nhân.
Kết quả: Tỷ lệ RLCX của công nhân rất cao lên đến 85,4% Các RLCX chủ yếu là đau nhức vai phải
(48%), vai trái (46,5%), cẳng chân phải (42,2%) và vùng thắt lưng (33,2%) Các yếu tố nguy cơ có thể làm tăng nguy cơ RLCX ở công nhân chế biến thủy sản bao gồm: độ ẩm không đạt chuẩn, thời gian làm việc, tư thế làm việc, thời gian nghỉ giữa ca, tính chất công việc
Kết luận và kiến nghị : Công ty chế biến thủy sản Bà Rịa-Vũng Tàu cần thực hiện các biện pháp sau để
cải thiện điều kiện lao động và phòng chống RLCX cho người lao động: nên tổ chức các khoảng nghỉ ngắn (5-10 phút) sau mỗi khoảng thời gian lao động khoảng 120 phút; tổ chức tập thể dục cho công nhân 10 phút/lần; tạo điều kiện cho công nhân thường xuyên thay đổi tư thế, có thể bố trí ghế ngồi cao cho công nhân trong ca làm việc
Từ khóa: Rối loạn cơ xương nghề nghiệp, công nhân chế biến thủy sản
ABSTRACT
OCCUPATIONAL MUSCULOSKELETAL DISORDERS AND RELATED FACTORS AMONG SEAFOOD PRODUCTION FEMALE WOKERS OF BARIA-VUNGTAU SEAFOOD PROCESSING
FACTORY IN 2011
Le Thi Hai Yen, Trinh Hong Lan
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 3 - 2012: 572 - 577
Background: Occupational musculoskeletal disorders (OMDs) are conditions that causes aches and pains
for workers who work with restricted posture for a long time and results in a decrease of worker’s performance Seafood processing is an industry in which workers have to work in standing posture for a long time, so they have a high possibility of acquiring OMDs In Ba Ria-Vung Tau province, there are not any studies on OMDs among seafood production workers Hence, this study is carried out to explore the prevalence of OMDs among these workers so that the authorities can figure out proper measures to prevent OMDs among them.
Objectives: Identify the prevalence of OMDs and related factors among seafood production female workers
of BaRia-VungTau seafood processing factory.
Trang 2Methods: A cross-sectional study was conducted on 419 female workers of BaRia-VungTau seafood
processing factory A structures questionnaire was used to collect data through face-to-face interviews The data was entried with Epi.Data ver 3.12 and analysed with Stata ver 10.0
Result: The proportion of OMDs of female workers was extremly high (85.4%) Main OMDs symtoms
were right shoulder pains (48%), left shoulder pains (46.5%), right leg pains (42.2%), and waist pains (33.2%) Factors that increased the risk of OMDs included high moisture, working time, working postures, breaks time between shifts, and kinds of work
Conclusion: The factory should implement following measures to prevent OMDs for their workers: short
breaks (about 5-10 minutes) should be applied between 120-minutes shifts, workers should have time to change their posture frequently, and workers should do 10-minutes exercises in each shift
Keywords: Occupational musculoskeletal disorders, seafood production workers
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Các công trình nghiên cứu trên thế giới về
rối loạn cơ xương (RLCX) cho thấy RLCX là
bệnh lý thường gặp ở những người phải làm
việc ở những tư thế lao động khó khăn, gò bó
kéo dài liên tục, trong đó tư thế thường gặp
nhất là tư thế đứng hoặc ngồi liên tục trong
nhiều giờ liền Ảnh hưởng của RLCX hiếm khi
gây ra các trường hợp tai nạn lao động nặng
hay tử vong, nhưng nó làm cho người lao động
phải chịu đựng sự đau mỏi nhiều vị trí trên cơ
thể Ở Birtish Columbia, có tới hơn 50% các vấn
đề về sức khoẻ của người lao động là do
RLCX(12,3)
Ngành chế biến thuỷ sản là ngành công
nghiệp trong đó công nhân luôn phải giữ tư thế
hai cánh tay gần như cố định để thao tác bóc
tôm hoặc các thao tác ít vận động hơn nhưng
lặp đi lặp lại nhiều lần suốt ca làm việc cũng gây
đau mỏi vai, cánh tay, cổ tay, cẳng tay, cổ và
ngón tay Điều này dẫn đến công nhân có nguy
cơ cao mắc RLCX
Tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ngành chế
biến thuỷ sản có 10 công ty với hơn 4000
người lao động Trong những năm qua, công
ty chế biến thuỷ sản Bà Rịa -Vũng Tàu chấp
hành đầy đủ việc khám sức khỏe định kỳ,
khám bệnh nghề nghiệp cho công nhân
Trong các đợt khám sức khỏe định kì, tình
trạng RLCX của công nhân chưa được thống
kê đầy đủ, trong hồ sơ khám sức khoẻ định kỳ
chỉ ghi nhận một cách chung chung một vài
triệu chứng của cơ xương khớp mà không có
chẩn đoán cụ thể.(13) Từ những bất cập này
cùng với thực tế là tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
chưa có công trình nghiên cứu nào về RLCX
trong ngành chế biến thủy sản, chúng tôi nhận
thấy cần thiết phải tiến hành nghiên cứu về
tình trạng RLCX nghề nghiệp ở công nhân chế
biến thuỷ sản để từ đó đưa ra một số giải
pháp phòng chống RLCX cho công nhân,
đồng thời góp phần mang lại sự ổn định sức
khoẻ cho nguồn nhân lực ngành chế biến thủy sản tại Bà Rịa - Vũng Tàu
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả với đối tượng là nữ công nhân có tuổi nghề trên 1 năm đang làm việc tại công ty chế biến thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có mặt tại thời điểm nghiên cứu từ ngày 09/4 -13/4/2011
Cỡ mẫu nghiên cứu
Lấy mẫu toàn bộ đối với công nhân Ngoài
ra nghiên cứu còn lấy mẫu môi trường trong công ty
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi đóng đối với công nhân Riêng đối với môi trường lao động, sử dụng các công
cụ đo lường chính xác để đo lường các chỉ số nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió, tiếng ồn, bụi, ánh sáng, điện từ trường, tại các vị trí làm việc văn phòng và sản xuất của công ty
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Các đặc tính dân số-xã hội học của mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Các đặc tính của mẫu nghiên cứu (n =
419)
Đặc tính Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tuổi
Trình độ học vấn
Cơ sở làm việc
Thâm niên làm việc
Trang 4Độ tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 21-40 tuổi
(85,2%) trong đó nhóm tuổi 21-30 chiếm đến
63% Kết quả này tương tự với một số nghiên
cứu trong và ngoài nước.(11,1,10,7) Kết quả cũng
phù hợp với thực tế vì ngành chế biến thuỷ sản
là một ngành đòi hỏi công nhân phải có độ tuổi
trẻ, nhanh nhẹn, thích hợp với công việc đòi hỏi
sự kiên nhẫn và khéo léo Có đến 87,4% đối
tượng có trình độ từ cấp 3 trở xuống Điều này
cũng phù hợp thực tế vì trong ngành chế biến
thuỷ sản, công nhân chủ yếu là lao động thủ
công nên không đòi hỏi trình độ học vấn cao
trước khi vào làm
Về thâm niên làm việc, có đến 76,4% đối
tượng làm việc từ 1-10 năm nhưng đa số là 1-5
năm (53,5%) Kết quả này tương tự với một số
nghiên cứu tại Việt Nam (11,10)
Các yếu tố về điều kiện lao động và chăm
sóc sức khỏe của mẫu nghiên cứu
Bảng 2 Các yếu tố về điều kiện lao động và
chăm sóc sức khỏe công nhân (n = 419)
Yếu tố Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Môi trường làm việc
Bảo hộ lao động
Thời gian làm việc
Khám sức khỏe định kỳ
Khám bệnh nghề nghiệp
Tình trạng sức khỏe
Đào tạo, huấn luyện về ATVSLĐ
Khảo sát về các yếu tố liên quan đến điều kiện lao động bao gồm môi trường làm việc, trang bị bảo hộ lao động, điều kiện nơi làm việc, mối quan tâm cải thiện môi trường làm việc của công ty đều cho thấy kết quả khả quan Điều này cho thấy, mặc dù các yếu tố này được đánh giá dựa trên sự sự nhìn nhận của phía người lao động, song phần nào nói lên sự quan tâm của người sử dụng lao động trong việc cải thiện điều kiện nơi làm việc
Tỷ lệ nhân công làm việc > 8 giờ/ngày cao hơn < 8 giờ/ngày (54,6% so với 45,4%) Lý giải điều này là do thời điểm khảo sát là vào mùa cao điểm các đơn đặt hàng nhiều nên nhân công phải làm tăng ca > 8 giờ/ngày Đây là một trong những yếu tố nguy cơ gây RLCX cho nhân công
vì làm tăng thời gian thực hiện các thao tác tĩnh của công nhân
Tỷ lệ khám sức khỏe định kì, lao động bệnh nghề nghiệp, và tập huấn về ATVSLĐ rất cao (lần lượt là 100%, 93,8%, 95,7%) Điều này cho thấy sự quan tâm đến sức khỏe của nhân công cũng như sự tuân thủ các quy định của pháp luật trong sử dụng lao động tại công ty chế biến thủy sản Bà Rịa-Vũng Tàu Hằng năm, công ty đều tổ chức khám sức khỏe và đào tạo về ATVSLĐ cho công nhân(2,13)
Các yếu tố khác liên quan đến công việc của mẫu nghiên cứu
Bảng 3 Các yếu tố liên quan đến công việc
(n=419)
Yếu tố Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Tư thế lao động chủ yếu
Các tư thế lao động kết hợp
Tính chất công việc Đơn điệu, liên tục 260 62,1
Trang 5Đa dạng, liên tục 127 30,3
Nghỉ giữa ca
Tập thể dục giữa ca
Tư thế lao động chủ yếu của các đối tượng
là tư thế đứng chiếm đến 85% Lao động ở tư
thế đứng đòi hỏi sự căng thẳng cơ nhiều hơn
kèm theo kích thước vùng vận động không
thích hợp có thể dẫn đến một số bệnh lý ở tư thế
này Mặt khác, do phải duy trì tư thế đứng
trong một thời gian dài nên người lao động sẽ
chóng mệt mỏi hơn so với lao động ở tư thế
ngồi Bên cạnh đó, tính chất công việc đơn điệu
(69,7%) góp phần gây nên sự nhầm lẫn định
hình về thời gian, khiến công nhân sẽ cảm thấy
thời gian dài hơn, từ đó có thể rơi vào trạng thái
ức chế thần kinh và buồn ngủ làm giảm năng
suất lao động (8)
Thời gian nghỉ giữa ca của công nhân trực
tiếp < 60 phút chiếm tỷ lệ lên đến 93,8% Đây là
qui định chung về thời gian nghỉ hiện nay của
các cơ sở sản xuất chế biến thủy hải sản Ngoài
ra, 100% công nhân không tập thể dục giữa ca,
nguyên nhân là do công ty chưa tổ chức tập thể
dục tập thể trong ca làm việc Đây chính là hai
yếu tố nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe
cũng như gây nên RLCX ở công nhân chế biến
thủy sản
Đặc điểm môi trường lao động của hai cơ
sở sản xuất
Bảng 4 Kết quả đo kiểm tra môi trường lao
động tại 2 cơ sở của công ty chế biến thuỷ sản
Đặc tính
Đạt n (%) Không đạt n (%) Đạt n (%) Không đạt n (%)
Nhiệt độ (n=25) 25 (100) 0 (0) 25 (100) 0 (0)
Độ ẩm (n=25) 25 (100) 0 (0) 22 (88) 3 (12)
Vận tốc gió
(n=25) 35 (100) 0 (0) 35 (100) 0 (0)
Ánh sáng (n=25) 35 (100) 0 (0) 25 (100) 0 (0)
Ồn (n=25) 41 (100) 0 (0) 41 (100) 0 (0)
Bụi (n=25) 10 (100) 0 (0) 10 (100) 0 (0)
Điện từ trường 10 (100) 0 (0) 10 (100) 0 (0)
(n=25)
Các yếu tố như nhiệt độ, vận tốc gió, ánh sáng, độ ồn, bụi, điện từ trường được lấy tại 25
vị trí tại cơ sở 1 và 2 đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép Tuy nhiên về độ ẩm có 3 mẫu không đạt tại khu chế biến 4, 6, 8 thuộc cơ sở 2 Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng độ ẩm cao có tác động rất bất lợi cho hoạt động điều nhiệt, dẫn tới phát sinh một số bệnh nghề nghiệp.(5)
Tình trạng RLCX nghề nghiệp
Bảng 5 Tỷ lệ rối loạn cơ xương và tỷ lệ các vị trí đau mỏi ở nữ công nhân (n=419)
RLCX Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Đau mỏi chủ yếu ở các vị trí
Tỷ lệ công nhân nữ có RLCX trong nghiên cứu này là rất cao lên đến 85,4% Bên cạnh đó, vị trí bị đau mỏi nhiều nhất chính là ở vai trái (46,5%), vai phải (46,5%), cẳng chân phải (42,2%), cẳng chân trái (41,3%) Các tỷ lệ trên đều thấp hơn so với các nghiên cứu trong nước, nhưng lại cao hơn nghiên cứu ở nước ngoài(6,1,4) Điều này có thể do các nguyên nhân có liên quan đến tư thế đứng và làm việc liên tục bằng hai tay đã gây nên những vị trí đau nhức mỏi này Ngoài ra có thể do áp lực về lương thưởng, điều kiện làm việc quá ẩm đối với bàn tay, găng tay và bao tay không vừa kích cỡ cũng có thể góp phần làm giảm lực cầm nắm, sự gò bó, lặp
Trang 6lại các thao tác trong khi làm việc, tư thế đứng
gò bó, kéo dài đã ảnh hưởng đến sự đau mỏi ở
các vị trí trên
Nghiên cứu cũng so sánh vị trí đau mỏi ở
các giai đoạn khác nhau gồm đầu ca, giữa ca,
cuối ca Kết quả cho thấy đầu ca, công nhân đau
mỏi ở cổ (18,1%), vai trái (16,7%) và vai phải
(16%) Tuy nhiên cho đến giữa ca và cuối ca vị
trí đau mỏi lại là cẳng chân phải (36,5% và
53,9%), cẳng chân trái (50,8% vào cuối ca) So
sánh sự khác biệt về tỷ lệ đau nhức mỏi ở các vị
trí vào đầu ca và cuối ca, kết quả đều cho thấy
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05
Ảnh hưởng của RLCX đến công việc và
giấc ngủ
Bảng 6 Vị trí đau mỏi gây trở ngại nhiều nhất đến
công việc và giấc ngủ
Đặc tính Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Mức độ gây trở ngại đến công việc (n=358)
Thời gian phải nghỉ việc (n=158)
Mức độ gây trở ngại đến giấc ngủ (n=358)
Gây trở ngại mỗi đêm 134 37,4
Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ công nhân
cho rằng RLCX ảnh hưởng đến công việc và
giấc ngủ là rất cao (96,3% và 94,4%)
Mối liên quan giữa RLCX và các yếu tố
khảo sát
Bảng 7 Mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)
giữa rối loạn cơ xương với các yếu tố khảo sát
(n=419)
Có (%) Không (%)
Bộ phận làm việc
Gián tiếp 9 (34,6) 17 (65,4)
<0,0012,56 (1,51 –4,35) Trực tiếp 349 (88,8) 44 (11,2)
Độ ẩm
Không đạt 235 (88,4) 31 (11,6)
0,03 (0,83-0,99)0,91 Đạt 123 (80,4) 30 (19,6)
Môi trường làm việc
Bình thường 47 (73,4) 17 (26,6)
0,003 (1,02-1,39)1,19 Lạnh/Quá lạnh 311 (87,6) 44 (12,4)
Thời gian làm việc
≤8h 151 (79,5) 39 (20,5)
0,002 (1,05-1,23)1,13
>8h 207 (90,4) 22 (9,6)
Tư thế làm việc chủ yếu
Luôn thay đổi 43 (68,3) 20 (31,8)
<0,0011,29 (1,09 –1,54) Đứng 315 (88,5) 41 (11,5)
Giữa RLCX và bộ phận làm việc có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong đó công nhân làm việc trực tiếp có khả năng mắc RLCX cao gấp 2,56 lần so với công nhân làm việc gián tiếp (bảng 7) Kết quả này tương tự với một số nghiên cứu trong nước khảo sát trên công nhân ngành chế biến thủy sản(7,11,2)
Đối với các yếu tố liên quan đến điều kiện làm việc, chỉ có yếu tố độ ẩm, môi trường làm việc và điều kiện nơi làm việc là có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với RLCX (p < 0,05) (bảng 7) Hay nói cách khác, công nhân làm ở môi trường có độ ẩm không đạt chuẩn, lạnh đều
có khả năng mắc RLCX cao hơn so với công nhân làm ở môi trường có độ ẩm đạt chuẩn Điều này cũng đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu(10,7)
Phân tích mối liên quan giữa thời gian làm việc và RLCX cho thấy có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) trong đó công nhân làm việc > 8 giờ sẽ có khả năng mắc RLCX cao gấp 1,13 lần so với người làm việc ≤ 8 giờ Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trịnh Hồng Lân khi cho rằng nếu không có sự nghỉ ngơi giữa các chu kì của một công việc nào đó sẽ làm tăng nguy cơ RLCX.(14) Kết quả nghiên cứu cũng tương tự với kết quả của Ngô Thị Tuyết Anh(6)
Kết quả phân tích cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tư thế lao động
và RLCX (bảng 7) Công nhân làm việc ở tư thế đứng sẽ có khả năng mắc RLCX cao gấp 1,29 lần
so với công nhân có tư thế thường xuyên thay đổi Kết quả này cũng phù hợp với nhận định của Du Lee P.Estvella và Anjali Nag, PK Nag(1,14)
Trang 7KẾT LUẬN
Nghiên cứu được tiến hành trên 419 công
nhân nữ tại công ty chế biến thủy sản Bà
Rịa-Vũng Tàu nhằm đánh giá tình trạng RLCX ở
công nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy, công
ty chế biến thủy sản Bà Rịa-Vũng Tàu có sự
quan tâm dành cho công nhân khi tỷ lệ công
nhân được khám sức khỏe định kì, khám sức
khỏe bệnh nghề nghiệp, và được đào tạo về
ATVSLĐ rất cao (> 90%) Tuy nhiên kết quả
nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ RLCX của công
nhân còn rất cao lên đến 85,4% Các RLCX chủ
yếu là đau nhức vai phải (48%), vai trái (46,5%),
cẳng chân phải (42,2%) và vùng thất lưng
(33,2%) Các vị trí đau mỏi này đều ảnh hưởng
đến công việc và giấc ngủ của công nhân từ đó
tác động đến sức khỏe cũng như hiệu suất làm
việc của họ Các yếu tố này bao gồm: độ ẩm
không đạt chuẩn (3 mẫu tại 3 khu vực chế biến),
thời gian làm việc, tư thế làm việc, thời gian
nghỉ giữa ca, cũng như tính chất công việc
KIẾN NGHỊ
Dựa trên kết quả nghiên cứu, công ty chế
biến thủy sản Bà Rịa-Vũng Tàu cần thực hiện
các điều sau để cải thiện điều kiện lao động và
phòng chống RLCX cho người lao động: nên tổ
chức các khoảng nghỉ ngắn (5-10 phút) sau mỗi
khoảng thời gian lao động khoảng 120 phút
giữa các ca lao động; tổ chức tập thể dục 10
phút/lần; tạo điều kiện cho công nhân thường
xuyên thay đổi tư thế, có thể bố trí ghế ngồi cao
cho công nhân trong ca làm việc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anjali N, Nag PK (2005) "Tỷ lệ đau mỏi cơ xương ở nữ công
nhân trong các xí nghiệp chế biến cá." Báo cáo khoa học tóm tắt, NXB Y Học Hà Nội, tr 61.
2. Bộ Y tế, Viện giám định y khoa (1997) Tiêu chuẩn sức khỏe phân loại để khám tuyển, khám định kỳ Hà Nội.
3. Canadian Center for Occupational Health and Safety (2005),
Work – related Musculoskeletal disorders
http://www.ccohs.ca/oshanswers/diseases/rmirsi.html, 4/7/2011.
4. Harn-Che C, Yin-Ching K, Shun-Shen C, Hsin-Su Y (1993)
"Prevalence of shoulder and upper-limb disorders among
workers in the fish-processing industry" Scand J Work Environ Health, 19, 12-31.
5 Hoàng Văn Bính (2010) Vệ sinh lao động, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr 13-622.
6 Lan Anh, Báo Tuổi Trẻ Onine Bệnh vì đứng http://www.baomoi.com/Home/SucKhoe/tuoitre.com.vn/Benh-vi-dung/2977957.epi, 24/7/2011.
7 Lê Quang Liêm, Bùi Lê Vĩ Chinh, Mai Minh Thúy (2011), Kết quả nghiên cứu về môi trường lao động, cơ cấu bệnh tật, bệnh lý có tính chất nghề nghiệp của công nhân chế biến thuỷ sản đông lạnh Bình Định
http://www.dostbinhdinh.org.vn/MagazineNewsPage.asp? TinTS_ID=871& TS_ID=86, tạp chí Khoa học công nghệ, sở
KHCN Bình Định, 4/5/2011.
8 Nguyễn Bạch Ngọc, cộng sự (2000) Ecgonomi trong thiết kế và sản xuất, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội.
9. Nguyễn Đức Đàn (2001) "An toàn sức khoẻ tại nơi làm việc".
Tạp chí Lao động xã hội Hà Nội, 1, tr 32-33.
10. Nguyễn Trường Sơn, Phạm Văn Thức, Trần Quỳnh Chi, Nguyễn Thị Ngân (2007) "Nghiên cứu đặc điểm môi trường lao động,cơ cấu bệnh tật và một số bệnh lý có tính chất nghề
nghiệp của công nhân chế biến Thuỷ sản Hải Phòng" Công trình NCKH về phát triển Y tế biển lần 2, tr 123- 138.
11. Trần Anh Tuấn, Lê Thành Tài (2010) "Tình trạng môi trường lao động và sức khoẻ nữ công nhân xí nghiệp chế biến Thủy
Sản Trà Kha tỉnh Bạc Liêu năm 2009" Tạp chí Y Hoc Tp Hồ Chí Minh, 14, (Phụ bản số 2), tr 134 – 139.
12. Trịnh Hồng Lân (2008) Ecgonomi và những ứng dụng của nó
trong cải thiện điều kiện làm việc Luận án tiến sĩ - Chuyên ngành Dịch tễ học ĐH Y Dược TP Hồ Chí Minh.
13. Trung tâm YTDP tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (2011) Báo cáo tổng kết hoạt động 2010 và kế hoạch hoạt động năm 2011 về chương trình Vệ sinh lao động.
14. Vũ Xuân Trung (biên dịch) (2001) "Rối loạn cơ xương nghề
nghiệp- vấn đề toàn cầu" Bản tin sức khỏe và an toàn lao động Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động Việt Nam,
02/2001, tr 8-9.