TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI An Giang là tỉnh nằm ở phía tây nam của Tổ quốc, là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh ngành thủy sản, nhất là ng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
An Giang là tỉnh nằm ở phía tây nam của Tổ quốc, là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh ngành thủy sản, nhất là ngành nuôi trồng; về tự nhiên, An Giang có địa hình chủ yếu là đồng bằng bằng phẳng kết hợp với mạng lưới sông ngòi, kênh gạch chằn chịt với hai hệ thống sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, nằm trong khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa mang tính cận xích đạo nên sông ngòi nhiều nước nhất là vào mùa mưa; về kinh
tế - xã hội, người dân An Giang cần cù lao động có nhiều kinh nghiệm trong việc đánh bắt, nhất là nuôi trồng thủy sản, ngành thủy sản luôn đóng góp lớn vào giá trị GDP của tỉnh nên được đầu tư phát triển, nhiều cơ sở chế biến thủy sản ra đời, thị trường tiêu thụ sản phẩm từ thủy sản nhất là cá tra, basa rộng lớn cả trong và ngoài nước
Dựa trên những thuận lợi về tự nhiên và KT-XH, trong thời gian qua, ngành thủy sản tỉnh An Giang ngày càng phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển thủy sản vùng ĐBSCL và cả nước Việc phát triển ngành thủy sản không chỉ tạo điều kiện phát huy lợi thế về nguồn nước mà còn góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân Thủy sản hiện nay được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và cũng là ngành đem lại giá trị xuất khẩu lớn nhất tỉnh Bên cạnh mặt tích cực thì sự phát triển ngành thủy sản tỉnh nhà cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ việc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản, việc NTTS không đúng cách gây ô nhiễm môi trường gây ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng đến
sự suy giảm nguồn lợi thủy sản và sức khỏe của con người Vì vậy, để hạn chế sự
ô nhiễm môi trường góp phần đưa ngành thủy sản ở An Giang phát triển theo hướng bền vững thì cần có các giải pháp thiết thực, cụ thể, phù hợp với điều kiện tỉnh nhà
Với những lí do trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn tên: “Thực trạng ô nhiễm
môi trường do sự phát triển ngành thủy sản ở tình An Giang” làm đề tài
An Giang, từ đó định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần bảo vệ môi trường, phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững
Trang 22.2 Nhiệm vụ của đề tài
Từ những mục đích nghiên cứu đã đưa ra, đề tài cần giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về ngành thủy sản và môi trường
- Giới thiệu chung về tỉnh An Giang, phân tích thực trạng phát triển ngành thủy sản và thực trạng ô nhiễm môi trường do sự phát triển ngành thủy sản
- Định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần góp phần bảo vệ môi trường, phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững
3 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
3.1 Giới hạn phạm vi lãnh thổ nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào tỉnh An Giang, một tỉnh phía tây nam của Tổ quốc với diện tích 3536,66 km2, gồm 1 thành phố là thành phố Long Xuyên, 2 thị xã là thị xã Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên
3.2 Giới hạn về đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngành thủy sản và môi trường ở tỉnh An Giang
3.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển ngành thủy sản và thực trạng
ô nhiễm môi trường do sự phát triển ngành thủy sản ở tỉnh An Giang 2000 -
2010 Định hướng 2010 - 2020
4 CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN
Tiểu luận bao gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục
Trong đó, phần nội dung của tiểu luận được trình bài trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về ngành thủy sản và môi trường
Chương 2: Thực trạng ô nhiễm môi trường do sự phát triển ngành thủy sản ở tỉnh An Giang
Chương 3: Định hướng và các giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển ngành thủy sản tỉnh An Giang theo hướng bền vững
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ MÔI TRƯỜNG 1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Cơ sở lí luận về ngành thủy sản
1.1.1.1 Vai trò của ngành thủy sản
- Thủy sản ( bao gồm nguồn nước ngọt, nước lợ và nước mặn ) là nguồn cung cấp đạm động vật bổ dưỡng cho con người.Cá chất đạm từ cá, tôm, cua
dễ tiêu hóa không gây béo phì và nhất là chúng cung cấp các nguyên tố vi lượng có từ biển như iốt, canxi, brom, natri, sắt mangan, phốt pho,… rất dẽ hấp thụ và có lợi cho sức khỏe của con người
- Việc phát triển ngành thủy sản còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị
- Ngành này còn có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của nhiều nước Ngành thủy sản gồm hai lĩnh vực chủ yếu ; khai thác và nuôi trồng
1.1.1.2 Ngành đánh bắt thủy sản
- Biển bao phủ 71% bề mặt Trái Đất với diện tích 361 triệu km2, là nơi sinh sống của khoảng 2 vạn loài thực vật, hơn 400 loài cá có giá trị kinh tế cao, trên 70 loài tảo biển cùng vô số các loài khác,… Sức sản xuất nguyên khai của biển khoảng 500 tỉ tấn/năm và sản lượng khai thác hang năm đạt tối
đa 600 triệu tấn Đây là tìêm năng rất lớn đối với ngành khai thác thủy sản của thế giới
- Khai thác thủy sản là hoạt động đánh bắt từ hồ ao, song ngòi, biển và đại dương các loài thủy sản khác nhau, trong đó cá chiếm 85 - 90% sản lượng Sản lượng thủy sản đánh bắt được chủ yếu từ biển và đại dương
Theo thống kê của FOA, hiện nay toàn thế giới có hơn 160 quốc gia làm kinh tế thủy sản, trong đó 21 quốc gia cos sản lượng đánh bắt cá biển trên 1 triệu tấn/năm thuộc Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ
Các ngư trường khai thác thủy sản chủ yếu trên thế giới là Biển Bắc, Đông Bắc Đại Tây Dương, Tây Đại Tây Dương, Trung Tâm Đại Tây Dương, Tây Nam Đại Tây Dương, Bắc Địa Trung Hải, Đông Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương
Trang 4- Sản lượng khai thác thủy sản từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay ngày càng tang nhanh
Các nước có sản lượng đánh bắt thủy sản lớn nhất thế giới là Tring Quốc ( gần 18 triệu tấn ), Pêru ( gần 8 triệu tấn ), Hoa Kỳ ( gần 5 triệu tấn )…
Ngành khai thác thủy sản đòi hổi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật đồng
bộ Đó là các đội tàu đánh cá lớn và tàu chế biến đi kèm, lưới tốt, thiết bị hiện đại thăm dò luồng cá,các cảng cá, xí nghiệp sửa chữa tàu, ché tạo ngư cụ và các cơ sở hậu cần dịch vụ,…
Việc khai thác thủy sản quá mức ảnh hưởng tới nguồn lợi thủy sản
Vì vậy, vấn đề khai thác hợp lý kết hợp với bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thủy sản có ý nghĩa to lớn
1.1.1.3 Ngành nuôi trồng thủy sản
- Tuy việc đánh bắt từ biển và đại dương vẫn còn cung cấp cho thế giới tới 2/3 sản lượng thuỷ sản, xong ngành nuôi trồng đã và đang phát triển nhanh với vị thế ngày càng cao Rõ ràng nguồn tài nguyên biển là có giới hạn, lại đang bị con người khai thác quá mức Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế giới, việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
- Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của thế giới từ năm 1950 đến nay tăng gấp 3 lần, đạt 48 triệu tấn Các loài thuỷ sản được nuôi không chỉ trong ao hồ, sông ngòi nước ngọt mà còn ngày càng phổ biến ở các vùng nước lợ và nước mặn Nhiều loài có giá trị cao về thực phẩm, về kinh tế đã trở thành đối tượng nuôi trồng để xuất khẩu như tôm sú, tôm hùm,…cua, cá (song, thu, ngừ), đồi mòi, trai ngọc, sò huyết và cả rong tảo biển (rong câu)
- Ngành nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh ỡ các nước châu Á như Trung Quốc (34,5 triệu tấn, chiếm 71,3% sản lượng nuôi trồng của thế giới),
Ấn Độ (2,2 triệu tấn), Nhật bản (1,3 triệu tấn), Philipin (1,2 triệu tấn), In-đô (1,1 triệu tấn), Thái Lan và Việt Nam (cùng 0,7 triệu tấn) ngoài ra còn 1 số nước khác như Băng-la-đét, Hàn Quốc, Chi lê,…
1.1.1.4 Liên hệ Việt Nam
- Việt Nam có đường bờ biển dài 3260km với nhiều ngư trường lớn ở vịnh Bắc bộ và vịnh Thái Lan (Hải Phòng-Quảng Ninh, Ninh Thuận-Bình Thuận-Bà rịa-Vũng Tàu, Cà Mau-Kiên Giang và Hoàng Sa-Trường Sa) Trên đất liền lại có nhiều ao, hồ, đầm, phá Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thuỷ sản Sản lượng thuỷ sản của nước ta tăng nhanh chóng
từ 890,6 nghìn tấn năm 1990 (trong đó khai thác 728,5 nghìn tấn và nuôi
Trang 5thác 1828,5 nghìn tấn và nuôi trồng 966,1 nghìn tấn) năm 2003 Việt Nam nằm trong số 21 nước có sản lượng đánh bắt cá biển trên 1 triệu tấn/ năm Ngành thuỷ sản phát triển mạnh và tập trung ở các vùng như DBSCL, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và DBSH
- Vấn đề nảy sinh hiện nay là ở nhiều nơi do thiếu quy hoạch và quản lí, việc phá rừng ngập mặn để lấy diện tích nuôi tôm đã làm ô nhiễm môi trường nước và phá huỷ môi trường sinh thái Việc đánh bắt quá mức ở vùng ven bờ cũng dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản
1.1.2 Cơ sở lí luận về môi trường
1.1.2.1 Những khái niệm về môi trường
- Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi thành phần và tính chất của môi trường,
có hại cho các hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật
- Thông thường sự an toàn của mọi trường được qui định bởi các ngưỡng
hay các giá trị giới hạn trong tiêu chuẩn môi trường, nên có thể nói “Ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” (Luật Bảo vệ
môi trường 2005)
- Các chất hat tác nhân mà sự có mặt của chúng gây ra sự ô nhiễm môi trường gọi là các chất hay tác nhân ô nhiễm
- Nguồn gốc của các tác nhân ô nhiễm (nguồn ô nhiễm) có thể là do các quá
trình tự nhiên (nguồn tự nhiên) Tuy nhiên nguồn gốc quan trọng hơn là các hoạt động của con người (nguồn nhân tạo) Trong quá trình sản xuất và phát triển, con người đã đưa các “chất lạ” vào khí quyển, thủy quyển, thạch quyển; làm thay đổi thành phần tự nhiên của chúng Trong một số trường hợp, đã làm thay đổi cân bằng tự nhiên vốn có trong từng quyển nói riêng, trong sinh quyển nói chung
- Thật ra sự ô nhiễm môi trường dưới tác động của con người đã xảy ra từ thời tiền sử Tuy nhiên chỉ trong khoảng 1 -2 thế kỉ gần đây, từ khi con người bước vào nền văn minh công nghiệp, quy mô và mức độ ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Điều đó liên quan đến:
+ Sự tập trung cao độ dân cư, nhà máy do đô thị hóa – công nghiệp hóa, + Khai thác, chế biến và sử dụng ngày càng nhiều tài nguyên, nhiên liệu + Tạo ra các sản phẩm hoàn toàn mới chưa từng có trong thiên nhiên
1.1.2.2 Những khái niệm về vấn đề ô nhiễm môi trường
Trang 6- Khái niệm về ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và
tính chất của nước, có hại cho hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật, do sự có mặt của các tác nhân quá ngưỡng cho phép
- Khái niệm về ô nhiễm không khí: Không khí tự nhiên có thành phần các
chất khí thích hợp cho đời sống con người và sinh vật (78% nitơ, 21% oxy và 1% một số khí khác) Không khí bị ô nhiễm khi một số tác nhân thải vào không khí gây tác hại đến sức khỏe con người, các hệ sinh thái và các vật liệu khác nhau hoặc gây ra sự giảm tầm nhìn xa
- Khái niệm ô nhiễm đất: Ô nhiễm đất là một trong các hình thức suy thoái
tài nguyên đất hiện nay Sự có mặt trong đất các tác nhân ô nhiễm làm ảnh hưởng trước hết đến các sinh vật trong đất, sau đó đến cây trồng và sản phẩm, rồi đến con người; gây ô nhiễm các nguồn nước
- Khái niệm ô nhiễm tiếng ồn: Ô nhiễm tiếng ồn cũng là một dạng ô nhiễm
đáng chú ý (thường được xếp vào ô nhiễm không khí) Khi tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép sẽ gây tác động xấu đến sức khỏe con người
Tiếng ồn không chỉ làm hại cơ quan thính giác mà còn ảnh hưởng tới các bộ phận khác của cơ thể, gây ra các rối loạn về thần kinh, tim mạch, huyết áp, nội tiết
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa con người với môi trường
- Tác động của môi trường đến con người
+ Tích cực: Môi trường là nơi cư trú, sinh sống của con người, cung cấp
nguồn nguyên liệu và năng lượng cho sự phát triển cuộc sống con người; là nơi lao động, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí của con người; là nơi tiếp nhận, biến đổi các chất thải của con người
+ Tiêu cực: Môi trường ô nhiễm gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của
con người, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, gây ra bệnh tật cho con người, dể dẫn đến tử vong
- Tác động của con người đến môi trường
+ Tích cực: Con người góp phần bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động
như trồng cây gây rừng, cải tạo đất, xử lí rác thải và bảo vệ nguồn nước ngọt…sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
+ Tiêu cực: Dân số tăng nhanh gây sức ép lên tài nguyên thiên nhiên và môi
trường do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên; tạo ra các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân hủy của môi trường tự nhiên trong các khu đô thị, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; làm suy giảm khả năng của môi trường trong hạn chế thiên tai, sự cố, thậm chí gia tăng nguy cơ thiên tai; nhất là suy thoái môi trường do đô thị hóa
Trang 71.1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường
- Ô nhiễm nước
+ Nguồn ô nhiễm: nguồn tự nhiên gồm nhiễm mặn, nhiễm phèn, thối rữa xác
động thực vật; nguồn nhân tạo gồm nước thải từ các khu dân cư, khu công nghiệp,…
+ Tác nhân gây ô nhiễm: thuốc trừ sâu DDT, dioxin, đường, dầu mỡ, chất
vô cơ (muối amôni, nitrat, nitrit…), kim loại nặng (Pb, Cu, Hg,…), chất phóng
xạ, chất rắn, khí hòa tan, sinh vật gây bệnh
- Ô nhiễm không khí
+ Nguồn ô nhiễm: Nguồn thiên nhiên gồm bão cát, núi lửa phun, cháy rừng,
xác sinh vật thối rữa; sản xuất công nghiệp gồm khói nhà máy, hóa chất, luyện kim,…; khí xả từ các phương tiện vận tải; sinh hoạt gồm bếp đun, lò sưởi, đốt rác
+ Tác nhân gây ô nhiễm: bụi, sương mù quang hóa, các khí chủ yếu gồm
CO, CO2, NOX, SO2… gây hiệu ứng nhà kính, suy giảm tầng ô dôn, mưa axit
- Ô nhiễm đất
+ Nguồn ô nhiễm: Do sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp chưa qua xử
lí mầm bệnh, kí sinh trùng, vi khuẩn; sản xuất công nghiệp, nước thải công nghiệp, khai thác dầu trên đất liền…
+ Tác nhân gây ô nhiễm: tác nhân sinh học (vi khuẩn, kí sinh trùng), tác
nhân hóa học (phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, dầu mỏ), tác nhân vật lí (nhiệt
độ tăng, chất phóng xạ)
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN
VÀ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN Ở ĐBSCL
1.2.1 Thực trạng phát triển ngành thủy sản ở ĐBSCL
- Thủy sản là thế mạnh của vùng do có điều kiện thuận lợi, ba mặt giáp biển, ngư trường đánh bắt rộng, trữ lượng hải sản lớn, bên cạnh đó, vùng có bờ biển dài khoảng 700km, với chế độ bán nhật chiều của Biển Đông và nhật chiều vùng vịnh Thái Lan có thể đưa nước mặn vào sâu trong nội vùng tạo nên khả nâng lớn
để nuôi thủy sản nước mặn và nước lợ Vùng lại có hệ thống kê gạch chằng chịt
và một mùa nước nổi trong năm thuật lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ trong nội địa Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất thủy sản lớn nhất của cả nước về giá trị sản xuất, sản lượng thủy sản và diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản
- Năm 2009, giá trị sản xuất thủy sản 35,7 nghìn tỉ đồng chiếm 66,6% cả nước, đứng đầu 8 vùng, sản lượng thủy sản là 2.820,0 nghìn tấn ( chiếm 57,9%
cả nước), trong đó nuôi trồng chiếm 67,2% toàn vùng và 73,1% sản lượng nuôi
Trang 8trồng cả nước Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đứng đầu về diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản với 738,8 nghìn ha ( chiếm 70,7% diện tích mặt nước toàn quốc) Cà Màu là tỉnh có diện tích nuôi trồng lớn nhất ( 294,7 nghìn ha) Các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng đứng đầu toàn vùng và cả nước
về giá trị sản xuất
- Ngoài ra trong vùng còn nuôi nhiều loại thủy sản khác có giá trị kinh tế cao như lươn, ốc, cua, ếch, rùa, đồi mồ Đây cũng là những nguồn lợi xuất khẩu có giá trị
1.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường do sự phát triển ngành thủy sản ở ĐBSCL
Các nguồn thải ra sông rạch đã tác động làm cho môi trường nước bị biến đổi Chất lượng nước trong các ao nuôi thủy sản gồm cá nước ngọt, nuôi tôm ven biển đặc biệt là trong các mô hình nuôi công nghiệp đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm nguồn nước
Quá trình chuyển dịch trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản diễn ra quy mô lớn ở vùng mặn hóa ven biển làm gia tăng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Tác động làm suy giảm rừng ngập mặn ven biển tiếp tục diễn ra ảnh hưởng đến các hệ sinh thái rừng ngập mặn Nuôi cá bè trên sông rạch, nuôi thâm canh thủy sản vùng ngọt hóa đã gây nên các tác động đến chất lượng môi trường nước ở đây
Những năm gần đây, dịch bệnh đã phát sinh trên diện rộng ở các loại cá, tôm nuôi diễn biến rất phức tạp gây nhiều thiệt hại đối với người nuôi trồng thủy sản Nuôi cá nước ngọt trên sông ô nhiễm môi trường làm cá tra, cá ba sa chết hàng loạt ở một số
bè cá trên sông; dịch bệnh trên các ao hồ và cá đồng một số tỉnh lưu vực sông Tiền, sông Hậu trong khu vực ĐBSCL, dịch bệnh tôm nuôi đã phát sinh trên 20-60% diện tích nuôi ở các tỉnh ven biển Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang Cùng với tác động môi trường do chất thải trong sản xuất chế biến công nghiệp, nước thải sinh hoạt ở các khu dân cư và đô thị cũng góp phần tác động đến chất lượng môi trường nước ảnh
hưởng đến cả kinh tế và môi trường sinh thái
1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Thủy sản là ngành có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KTXH của mỗi quốc gia, thủy sản gồm 2 phân ngành chính là KTTS và NTTS Môi trường là là tất cả những gì bao quanh và có ảnh hưởng đến một vật thể hay sự kiện Giữa môi trường và con người có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Thực tiễn về ngành thủy sản ở ĐBSCL cho thấy sự phát triển thủy sản không bền vững là nguồn gốc và tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước; do đó cần phải bảo vệ môi trường và PTTSBV
Trang 9CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO SỰ PHÁT TRIỂN
NGÀNH THỦY SẢN Ở TỈNH AN GIANG 2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH AN GIANG
2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ
- An Giang là một tỉnh thuộc ĐBSCL, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, chạy dọc theo hữu ngạn sông Hậu thuộc hệ thống sông Mê Công, một phần nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên
- Lãnh thổ của tỉnh nằm trong khoảng từ 10012’ đến 10057’ vĩ độ Bắc và từ
104046’ đến 105035’ kinh độ Đông Diện tích 3536,66 km2, gồm 1 thành phố là thành phố Long Xuyên, 2 thị xã là thị xã Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện
là An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên
- Điểm cực Bắc của tỉnh thuộc xã Khánh An (huyện An Phú), điểm cực Nam
ở xã Thoại Giang (huyện Thoại Sơn), điểm cực Tây tại xã Vĩnh Gia (huyện Tri Tôn) và điểm cực Đông thuộc xã Bình Phước Xuân (huyện Chợ Mới) Phía bắc
và tây bắc giáp Cam-pu-chia (104km), phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107,6km), phía đông nam giáp thành phố Cần Thơ (44,7km), phía tây giáp tỉnh Kiên Giang (70km)
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Địa hình
Ngoài vùng đồng bằng do phù sa sông Mê Công bồi đắp, An Giang còn có vùng đồng bằng đồi núi thấp ở phía tây Địa hình của tỉnh có hai dạng chính là đồng bằng và đồi núi:
- Địa hình đồng bằng, chiếm 87% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, gồm hai loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi
- Địa hình đồi núi thấp, chiếm 13% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Đồi núi gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km
2.1.2.2 Khí hậu
An Giang nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo Lượng bức xạ tương đối lớn, tổng nhiệt độ trung bình năm là 100000
C Số giờ nắng bình quân trong năm khoảng 2520 giờ Nhiệt độ trung bình năm khá cao và ổn định 270C
Trang 10Khí hậu An Giang chia làm hai mùa rõ rệt:
- Mùa khô có gió mùa đông bắc thịnh hành, kéo dài từ tháng 11 đến tháng
4, thời tiết trong sáng, ít mưa, chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm
- Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, gió mùa tây nam mang khối khí biển nhiệt đới và xích đạo, lượng ẩm dồi dào, mưa nhiều, chiếm tới 90% lượng mưa cả năm
2.1.2.3 Thủy văn
An Giang là một trong hai tỉnh đầu nguồn của sông Mê Công (phần Việt Nam), có các con sông lớn chảy qua, nhiều rạch tự nhiên và kênh đào khá chằng chịt Mật độ sông ngòi là 0,72km/km2, thuộc mức cao nhất trong các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
- Các sông chính là sông Tiền, sông Hậu - là hai nhánh chính của hạ lưu sông Mê Công trước khi đổ ra biển Đông Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có các sông như: Vàm Nao, Bình Di
- Ngoài các sông lớn, trên bề mặt lãnh thổ An Giang có một hệ thống rạch tự nhiên, kênh đào và hồ Hệ thống rạch tự nhiên phân bố rải rác khắp địa bàn cả tỉnh, những rạch tự nhiên lớn là Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (huyện Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), Long Xuyên (thành phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng (huyện Châu Thành) và rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú)
- An Giang có khoảng 21 kênh đào như kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà, Vĩnh An, Trà Sư, Thần Nông, Vàm Xáng, Rạch Giá - Hà Tiên, Tám Ngần, Tri Tôn, Ba Thê, Cái Sắn, Mặc Cần Dủng, kênh Mới, Chóc Năng Gù…
- Ở An Giang còn có một số hồ tự nhiên như Búng Bình Thiên lớn, Búng Bình Thiên nhỏ, hồ Nguyễn Du…
2.1.2.4 Đất đai
Trên lãnh thổ toàn tỉnh có 3 nhóm đất chính:
- Nhóm đất phù sa ngọt và cồn bãi cát ven sông chiếm 72,5% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các huyện nằm giữa hai sông Tiền và sông Hậu và dải đất ven hữu ngạn sông Hậu từ Châu Đốc tới Long Xuyên
- Nhóm đất phèn, chiếm 18,9% diện tích tự nhiên, phân bố ở những vùng
xa sông Hậu và một phần của tứ giác Long Xuyên
- Nhóm đất đồi núi, chiếm 8,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu tại hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn
Trang 112.1.2.5 Sinh vật
Do khí hậu thuận lợi và đất đai màu mỡ nên động - thực vật ở An Giang phát triển phong phú, có nhiều loài Năm 2011, An Giang có 1075 ha rừng đặc dụng 8725 ha rừng phòng hộ, 4112 ha rừng sản xuất
Ở An Giang có rừng tràm và rừng cây xanh nhiệt đới:
- Rừng tràm phát triển ở vùng đất ngập nước, bưng trũng đất phèn và than bùn, ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên
- Rừng cây xanh nhiệt đới tập trung ở vùng Bảy Núi với những loài cây quý như gỗ mật, căm xe, giáng hương, dầu, sao, tếch…
2.1.2.6 Khoáng sản
An Giang có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đáng kể nhất có vật liệu xây dựng, than bùn, nước khoáng, cao lanh và một ít quặng kim loại
2.1.3 Điều kiện KT-XH
2.1.3.1 Dân cư và nguồn lao động
- An Giang là tỉnh đông dân, năm 2011 có 2,15 triệu người, đứng thứ 6 trong cả nước, đứng đầu vùng ĐBSCL Dân số tăng nhanh, nhờ thực hiện KHHGĐ nên tỉ suất gia tăng tự nhiên giảm còn 1,03%
- An Giang có cơ cấu dân số trẻ, dân số nam chiếm 49,7% dân số, dân số nữ chiếm 50,3% dân số, số người trong độ tuổi lao động chiếm 55,4% dân số toàn tỉnh, cơ cấu lao động chủ yếu trong khu vực I chiếm 58%
- An Giang có MĐDS cao 608 người/km2 gấp 2,3 lần cả nước và 1,4 lần ĐBSCL, nhưng phân bố không hợp lí, 89% dân số tập trung ở đồng bằng, 11% dân số tập trung ở vùng núi Tỉ lệ dân thành thị năm 2011 là 29,9%
- An Giang có 29 dân tộc, trong đó có 4 dân tộc có số dân đông là Việt (chiếm 94,9% dân số), Khơ-me (3,9%), Chăm (0,6%), Hoa (0,6%) Ngoài ra còn một số dân tộc khác với số lượng không đáng kể như Ngái, Tày, Gia-rai, Mường, Nùng, Phù Lá…
- An Giang có 1,89 triệu người theo tôn giáo, trong đó phổ biến nhất là Phật giáo với 0,56 triệu người, đạo Hòa Hảo với 0,78 triệu người, Cao Đài với 0,08 triệu người, Công giáo với 0,06 triệu người và đạo Hồi với 0,01 triệu nguồi Ngoài ra còn một số ít người theo đạo Tin lành
2.1.3.2 Giao thông vận tải
Trang 12- Đường bộ: tổng chiều dài đường bộ của An Giang là 3560km, trong đó có 356km đường nhựa, còn lại là đường đá, đường cấp phôi và đường đất Hệ thống đường bộ trên địa bàn tỉnh bao gồm:
+ Quốc lộ 91, nối Cần Thơ với Long Xuyên, Châu Đốc với Cam-pu-chia, dài 91km Trên suốt chiều dài quốc lộ có 42 cầu với tổng chiều dài 1854km + Hệ thống tỉnh lộ có 14 tuyến (941, 942, 943, 948, 955…) với tổng chiều dài 404km, 114 cầu
- Đường thủy: toàn tỉnh có 541 tuyến đường sông với tổng chiều dài 2504km, mật độ đường là 0,73km/km2 Trên địa bàn tỉnh có 8 bến phà (trong đó
có 2 bến phà liên tỉnh), 8 bến tàu (2 bến liên tỉnh), 139 bến đò ngang và 1 bến cảng
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN Ở TỈNH AN GIANG 2.2.1 Khái quát chung
Với lợi thế nổi bật về diện tích mặt nước, hệ thống sông, kênh rạch chằng chịt, ngành thủy sản (đặc biệt là hoạt động nuôi trồng) phát triển mạnh và ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế An Giang là 1 trong các tỉnh dẫn đầu vùng ĐBSCL và cả nước về NTTS, có đóng góp quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ĐBSCL, góp phần nâng cao vai trò và vị thế của tỉnh và vùng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội cả nước
Vị trí quan trọng của ngành thủy sản ngày càng được khẳng định Diện tích, sản lượng thủy sản tăng, thị trường mở rộng, đã thúc đẩy quy mô và tỉ trọng GTSX tăng nhanh trong những năm qua
Bảng 2.1 Sản lƣợng và GTSX thủy sản tỉnh An Giang giai đoạn 2000 - 2010
Tổng số
Chia ra Nuôi trồng Khai thác
Trang 13Bảng 2.1 cho thấy sự thay đổi của sản lượng và GTSX ngành thủy sản trong giai đoạn 2000 - 2010 Nhìn chung, sản lượng ngành thủy sản tăng nhanh và ổn định Nhờ chính sách ưu tiên thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản thông qua
hệ thống chính sách khuyến nông, hỗ trợ vốn, mở rộng thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ, tạo giống mới có hiệu quả , tổng sản lượng thủy sản của tỉnh đạt 316,9 nghìn tấn năm 2010, tăng 1,84 lần so với năm 2000, 1,36 lần năm 2005
Sự gia tăng của tổng sản lượng thủy sản chủ yếu do sự tăng lên của sản lượng nuôi trồng tăng 3,5 lần trong khi sản lượng khai thác giảm mạnh Ngành NTTS cho thấy ưu thế hơn ngành khai thác thủy sản khi sản lượng và tỉ trọng sản lượng tăng liên tục, chiếm 88,3% cơ cấu tổng sản lượng thủy sản chung của tỉnh năm
2010 Sự suy giảm về giá trị và tỉ trọng sản lượng khai thác trong giai đoạn này phản ánh xu thế chuyển dịch của ngành thủy sản, đồng thời hạn chế khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản đang ngày càng giảm sút
Sự tăng nhanh và khá ổn định của sản lượng và giá cả các mặt hàng thủy sản
đã thúc đẩy GTSX thủy sản tăng nhanh GTSX thủy sản trong giai đoạn 2000 -
2010 tăng 5,5 lần, đạt 6.806 tỉ đồng năm 2010 Trong cơ cấu GTSX thủy sản, lĩnh vực nuôi trồng thể hiện vai trò quan trọng nhất, chiếm phần lớn tỉ trọng (81,7%), còn lại là đánh bắt (11,7%) và dịch vụ (6,5%) Xu hướng chuyển dịch của ngành thủy sản là tăng tỉ trọng ngành nuôi trồng và dịch vụ, giảm tỉ trọng đánh bắt thủy sản
2.2.2 Ngành nuôi trồng thủy sản
2.2.2.1 Về diện tích, sản lượng NTTS
Biểu đồ 2.1 Diện tích, sản lƣợng NTTS tỉnh An Giang giai đoạn 2000 - 2010
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang 2010]