1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH

59 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là vốn mà doanh nghiệp có thể đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.. Giống như vốn

Trang 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về vốn trong doanh nghiệp

1.1.1 Định nghĩa về vốn trong doanh nghiệp

Để tiến hành một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì đều cần có vốn Vốn không chỉ là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất mà còn đề cập tới sự tham gia của vốn trong doanh nghiệp, trong cả quá trình sản xuất kinh doanh liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp

Theo luật tài chính Việt Nam năm 2000 có đề cập, dưới các giác độ khác nhau thì khái niệm vốn cũng khác nhau Trong phạm vi kinh tế, vốn là khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông nhằm mục đích sinh lời Còn trong phạm vi doanh nghiệp, vốn là tất

cả tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích lợi nhuận

Xét theo nghĩa hẹp thì vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia Theo nghĩa rộng thì vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nước ta trình

độ quản lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hoàn chỉnh

Trong nền kinh tế thị trường, vốn có thể được coi là một loại hàng hoá Nó giống các hàng hoá khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Giá của vốn hay còn gọi là lãi suất chính là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn Chính nhờ sự tách dời về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu

tư kinh doanh và sinh lời

Trong phạm vi doanh nghiệp, Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là

số tiền ứng trước về toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời Vốn kinh doanh của doanh

nghiệp phải nhằm mục đích kinh doanh và phải đạt tới mục tiêu sinh lời Vốn luôn thường xuyên vận động và chuyển hóa hình thái biểu hiện, vừa tồn tại dưới hình thái tiền tệ, vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình, nhưng kết thúc vòng tuần

hoàn phải lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ Đó chính là sự tuần hoàn của vốn Quá

trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng

Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng luôn diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại mang

tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh Sự chu chuyển của vốn

Trang 2

kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp kinh doanh Ngành nghề mà doanh nghiệp theo đuổi khác nhau thì vòng tuần hoàn của vốn và sự chu chuyển của vốn cũng khác nhau

Như vậy, về cơ bản khái niệm vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể được hiểu là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời

1.1.2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp

Để đảm bảo việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả người ta phân loại vốn thành nhiều loại tùy theo tiêu chí, mục đích quản lý và sử dụng, cụ thể khác nhau

1.1.2.1 Phân loại vốn căn cứ theo nguồn hình thành vốn

Vốn của doanh nghiệp được chia làm hai loại là vốn chủ sở hữu và vốn đi vay

a) Vốn chủ sở hữu:

Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp, thặng

dư vốn và lợi nhuận tích lũy Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất Tuy vậy, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình Tuỳ vào loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu sẽ được hình thành theo các cách thức khác nhau Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối

b) Vốn vay:

Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp

có trách nhiệm phải thanh toán Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả lãi và gốc Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp ) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn

1.1.2.2 Phân loại vốn căn cứ vào thời gian sử dụng vốn

a) Vốn thường xuyên

Đây là nguồn vốn mang tính chất ổn định và lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng Đây là vốn mà doanh nghiệp có thể đầu tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn thường xuyên này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp

Trang 3

b) Vốn tạm thời

Vốn tạm thời là vốn có tính chất ngắn hạn, tùy theo ngành nghề kinh doanh và chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, thường là dưới 1 năm Nguồn vốn này được doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác, các khoản chiếm dụng vốn từ đối tác kinh doanh

1.1.2.3 Phân loại vốn căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn

Đây là hình thức phân loại vốn doanh nghiệp phổ biến, thể hiện rõ ràng, chính xác và thuận tiện nhất mà hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều đang áp dụng Luận văn này cũng sẽ phân loại vốn sử dụng căn cứ là công dụng kinh tế của vốn

a) Vốn cố định

Ban đầu là số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cố định Đặc điểm của vốn cố định là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, vốn cố định một mặt giảm dần do trích khấu hao theo thời gian hoặc thanh lý tài sản cố định, mặt khác lại tăng thêm giá trị do đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn thành Như vậy giá trị của vốn cố định sẽ không cố định mà có thay đổi, cụ thể là giảm giá trị tài sản cố định sản xuất đã chuyển dịch vào sản phẩm hoàn thành và tăng thêm các chi phí đầu tư xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn Việc đổi mới tài sản cố định và tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp có tác dụng rất lớn đối với việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của người lao động

Như vậy, có thể thấy tài sản cố định chính là biểu hiện của vốn cố định Do vậy, khi sử dụng vốn cố định cũng có nghĩa là đang sử dụng tài sản cố định Tài sản cố định cũng là một loại hàng hóa như những hàng hóa thông thường khác, gồm có giá trị và

cả giá trị sử dụng Tài sản cố định ngoài việc được mua bán trên thị trường cũng còn

có thể thuê, mượn, cầm cố, thế chấp tùy mục đích của chủ doanh nghiệp Quy mô của vốn cố định của doanh nghiệp quyết định quy mô của tài sản cố định Mặt khác các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý vốn cố định Vì thế muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì doanh nghiệp cũng phải tìm ra cách quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu hiệu

b) Vốn lưu động

Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục Khác với vốn cố định, vốn lưu động chỉ tham gia vào một

Trang 4

chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp và không còn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ, một lần vào giá trị hàng hóa, thành phẩm Vốn này được thu hồi sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh và tiếp tục được đưa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo một cách liên tục

Giống như tài sản cố định và vốn cố định, tài sản lưu động chính là biểu hiện của vốn lưu động Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (các loại nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ ), sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt trong giai đoạn lưu thông Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho Đặc điểm vận động của vốn lưu động là cũng luôn chịu sự chi phối của sự vận động tài sản lưu động Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục

Giống như vốn cố định, việc quản lý, sử dụng vốn lưu động đóng có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó bao gồm

cả công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.1.3 Đặc trưng & vai trò của vốn trong doanh nghiệp

a) Đăc trưng cơ bản của vốn

Vốn luôn vận động để sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm sinh lời Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải

là giá trị, tức là tiền Đồng vốn phải quay về xuất phát với giá trị lớn hơn - là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn vốn Do vậy khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản cố định không được sử dụng, tài nguyên, sức lao động không được dùng đến và phát sinh các khoản

nợ khó đòi Nghĩa là đồng vốn “chết” Mặt khác, tiền có vận động nhưng bị phân tán quay về nơi xuất phát với giá trị thấp hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu

kỳ vận động tiếp theo sẽ bị ảnh hưởng

Phải có một lượng nhất định thì vốn mới có thể phát huy được tác dụng Vốn của doanh nghiệp phải được tập trung, tích tụ thành một lượng tiền đủ lớn mới có thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh được Để kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp cần phải cân nhắc để lựa chọn nguồn vốn sao cho có chi phí thấp nhất mà mang lại hiệu quả cao nhất Doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của mình mà còn có thể thu hút nguồn vốn từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác

Trang 5

Vốn không chỉ được biểu biện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vô hình như nhãn hiệu, bản quyền, phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, vị trí địa lý kinh doanh

Vốn có giá trị về mặt thời gian Trong điều kiện cơ chế thị trường, phải xem xét yếu tố thời gian vì ảnh hưởng sự biến động của giá cả, lạm phát nên giá trị của đồng tiền ở mỗi thời kỳ là khác nhau

Vốn cũng được quan niệm như là một loại hàng hoá đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của người có quyền sở hữu vốn Khi đó quyền sở hữu vốn không di chuyển nhượng qua sự vay nợ Người vay phải trả một tỷ lệ lãi suất (hay chính là giá của quyền sử dụng vốn) vốn khi bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng trong một thời gian nhất định Việc mua này diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường

b) Vai trò của vốn

Để tiến hành sản xuất kinh doanh trước tiên doanh nghiệp cần có vốn Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung để mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh đóng vai trò quyết định cho việc

ra đời, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp

Trong thời đại hiện nay, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau gay gắt Bắt buộc mỗi doanh nghiệp phải phải đầu tư cho máy móc thiết bị, công nghệ, dây chuyền sản xuất, đầu tư thu hút nhân tài, chất xám cho mình Muốn đạt được những điều trên đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn và nhất định Do đó vốn là một yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh cũng như xác lập vị thế của của doanh nghiệp trên thương trường, quyết định sự thành công và đi lên của doanh nghiệp

Vốn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tiềm năng tương lai về sức lao động, nguồn hàng hóa, mở rộng và phát triển thị trường,

mở rộng lưu thông hàng hóa, là điều kiện để phát triển kinh doanh, thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh, là chất keo để nối chắp và dính kết các quá trình và quan

hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho doanh nghiệp hoạt động Việc đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp được vận hành một cách trơn chu, lien tục Giúp doanh nghiệp thêm lợi thế cạnh tranh và tăng khả năng nắm bắt được cơ hội khi cơ hội đến

Tựu chung lại, vốn có vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một việc cần thiết của doanh nghiệp Điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần phải có chính sách, biện pháp sử dụng tài sản của mình tốt hơn

Trang 6

1.2 Quản lý vốn trong doanh nghiệp

là trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định, không để hư hỏng trước thời hạn quy định

Hao mòn vô hình có 3 hình thức Thứ nhất, tài sản cố định bị giảm giá trị do năng suất lao động xã hội tăng lên, người ta sản xuất ra các loại tài sản cố định mới sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng như cũ nhưng có giá thành hạ hơn Thứ hai, tài sản cố định bị giảm giá trị do sản xuất được loại tài sản cố định khác hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật Và cuối cùng là do tài sản cố định bị giảm giá trị do sản phẩm của nó làm ra bị lỗi thời Như vậy hao mòn vô hình là do tiến bộ khoa học kỹ thuật gây

ra, tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật càng nhanh bao nhiêu thì quá trình hao mòn

vô hình xảy ra sẽ càng nhanh bấy nhiêu

b) Quản lý quỹ khấu hao tài sản cố định

Tài sản cố định được đưa vào sử dụng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tất nhiên sẽ bị hao mòn theo thời gian Đây là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan Do vậy, trong quá trình sử dụng để tái tạo tài sản cố định, doanh nghiệp phải tiến hành trích khấu hao tài sản cố định Khấu hao tài sản cố định chính là sự tính toán số tiền biểu hiện mức hao mòn tài sản cố định Yếu tố hao mòn này của chi phí kinh doanh sẽ được bù đắp khi doanh nghiệp có thu nhập Số tiền khấu hao được doanh nghiệp trích lại để hình thành quỹ khấu hao nhằm tái tạo tài sản

Trang 7

cố định Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư hình thành tài sản cố định mà doanh nghiệp có

kế hoạch phân phối và sử dụng quỹ khấu hao sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất

Nguồn vốn hình thành tài sản cố định chủ yếu là nguồn vốn dài hạn Nguồn vốn này xuất phát từ nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hoặc vay dài hạn Vì thế thời gian thu hồi vốn cố định là rất dài, khó tránh khỏi những rủi ro bất thường Đó là lý do doanh nghiệp phải xác định tỷ trọng của từng nguồn vốn đầu tư để phân phối và sử dụng tiền trích khấu hao cho hợp lý Đồng thời cần phải thường xuyên xem xét, kiểm tra để đảm bảo tính bền vững và có lợi nhất của nguồn vốn cố định này

Đối với tài sản cố định hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp được

sử dụng toàn bộ quỹ khấu hao để tái đầu tư, đổi mới tài sản cố định của mình Khi chưa có nhu cầu đầu tư, đổi mới tài sản cố định, doanh nghiệp được toàn quyền sử dụng quỹ khấu hao để phục vụ cho mục đích kinh doanh khác

Đối với tài sản cố định hình thành từ nguồn vốn vay, doanh nghiệp phải sử dụng số tiền trích khấu hao thu được để trả gốc Nhưng nếu chưa đến kỳ trả nợ, doanh nghiệp vẫn có thể tạm thời sử dụng quỹ khấu hao này vào mục đích khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay

1.2.2 Quản lý vốn lưu động

Quản lý vốn lưu động liên quan đến các hoạt động tài chính hàng ngày của doanh nghiệp, do trong chu kỳ sản xuất, hình thái của vốn lưu động luôn thay đổi liên tục Công tác quản lý vốn lưu động của một doanh nghiệp thường bao gồm các vấn đề

về: Quản lý vốn bằng tiền, quản lý các khoản phải thu và quản lý hàng tồn kho

Vốn bằng tiền được sử dụng để mua nguyên vật liệu, hàng hóa vậy nên doanh nghiệp cũng cần phải có kế hoạch rõ rang để xác định nhu cầu vốn bằng tiền mặt phục

vụ kinh doanh, đồng thời tối ưu hóa số ngân quỹ hiện có, tăng tốc độ thu hồi, giảm tốc

độ chi tiêu, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất,

Trang 8

Việc quản lý vốn tiền mặt bao gồm nội dung sau:

- Xác định mức tồn quỹ tối thiểu: Nhằm tránh rủi ro không có khả năng thanh toán

ngay, mất khả năng được hưởng chính sách tín dụng thương mại của nhà cung cấp,

mất cơ hội kinh doanh tốt…

- Hoạch định ngân sách tiền mặt: Ngân sách tiền mặt là một kế hoạch ngắn hạn

dùng để xác định nhu cầu chi tiêu và nguồn thu tiền mặt Yếu tố quan trọng nhất để thiết lập được một ngân sách tiền mặt có ý nghĩa là dựa trên tính xác thực của những

dự báo về doanh thu bán hàng Từ doanh thu có thể ước tính ra các khoản thu tiền bán hàng và các khoản chi tiêu liên quan đến sản xuất, nguyên vật liệu, tiền lương… Trên

cơ sở so sánh các nguồn thu chi tiền mặt doanh nghiệp có thể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân sách tiền mặt để có biện pháp cân bằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc

độ thu hồi, giảm tốc độ chi tiêu hoặc có thể huy động các khoản vay thanh toán ngân

hàng

b) Quản lý các khoản phải thu

Khoản phải thu thực chất là vốn của doanh nghiệp nhưng bị các đơn vị khác chiếm dụng Doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng và đối tác để tạo điều kiện cho khách hàng và thúc đẩy doanh thu Mặc dù vậy điều này vẫn làm ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Chính sách tín dụng thương mại (bán chịu) của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các khoản phải thu Thế nên việc xác định chính sách tín dụng thương mại hợp lý là nội dung cơ bản và cần thiết của công tác quản lý các khoản phải thu nhằm thu hút được nhiều khách hàng tiềm năng làm tăng doanh thu, tăng hiệu suất sử dụng tài sản, đồng thời hạn chế được rủi ro do phát sinh gia tăng của chi phí đòi nợ và chi phí phải trả cho các nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt của ngân quỹ Bốn tiêu chí cần phải quan tâm trong chính sách tín dụng thương mại là tiêu chuẩn tín dụng, mức chiết khấu, thời hạn và chính sách thu tiền Trong đó:

- Tiêu chuẩn tín dụng: Là các nguyên tắc chỉ rõ yêu cầu nào về mặt tài chính tối

thiểu để có thể chấp nhận được quyền mua chịu của khách hàng

- Chiết khấu: Là những khoản ưu đãi cho khách hàng và đối tác, tác dụng tạo ra

những khuyến khích thanh toán sớm khi mua hàng

- Thời hạn bán chịu: Là độ dài thời gian khoản tín dụng được phép kéo dài

- Chính sách thu tiền: Là cách thức xử lý những khoản tín dụng thương mại quá hạn

Chính sách tín dụng thương mại hợp lý cần xây dựng đưa ra các tiêu chuẩn vừa phải và hợp lý sao cho các tiêu chuẩn không quá cao và cũng không được quá thấp Nếu các tiêu chuẩn đặt ra quá cao sẽ làm mất đi nhiều khách hàng tiềm năng dẫn đến giảm lợi nhuận Ngược lại, nếu đặt tiêu chuẩn quá thấp có thể thúc đẩy doanh thu tăng

Trang 9

thế nhưng kéo theo đó là rủi ro tín dụng cũng tăng theo, có thể dẫn đến các khoản nợ khó đòi và làm gia tăng chi phí thu tiền Các khoản nợ khó đòi, không đòi được và các chi phí thu tiền đến một mức nào đó có thể làm tiêu tan toàn bộ lợi nhuận do hoạt động khác mang lại Để đánh giá rủi ro tín dụng hay độ uy tín của khách hàng, ta căn cứ vào các đặc tính sau:

- Tư cách tín dụng của khách hàng: Đây là đặc tính được đặt lên hàng đầu nhằm

đánh giá tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ, có uy tín hay không uy tín

- Khả năng thanh toán nhanh của khách hàng: Đặc tính này được xác định dựa

vào khả năng thanh toán nhanh và dòng lưu kim dự kiến liên quan đến số nợ cũng như thời điểm phải trả chúng

- Vốn: Được đo lường bởi tình trạng tài chính tổng quát của khách hàng qua các

chỉ số tài chính nhằm đánh giá tiềm năng tài chính dài hạn của khách hàng

- Tài sản đẩm bảo: Là những tài sản mà khách hàng có thể dùng để đảm bảo cho

các khoản nợ của họ

- Tiềm năng của khách hàng: Đề cập đến điều kiện kinh tế của khách hàng tức

khả năng phát triển của khách hàng cũng như xu hướng phát triển ngành nghề kinh doanh của khách hàng

Bên cạnh việc có được một chính sách tín dụng thương mại hợp lý, doanh nghiệp cần phải quản lý và theo dõi sát sao các khoản phải thu của mình Kịp thời có biện pháp điều chỉnh chính sách thương mại cho phù hợp, tránh tình trạng tồn đọng, chậm lấy lại được các khoản nợ phải thu Để theo dõi các khoản phải thu, doanh nghiệp cần làm tốt công tác sắp xếp các khoản phải thu theo thứ tự thời gian, theo dõi thường xuyên và lên kế hoạch thu nợ khi đến hạn Cũng như phải luôn luôn theo sát, xác định số dư các khoản phải thu, từ đó xác định được số nợ tồn đọng trên tổng số tín dụng thương mại đã cấp để có biện pháp điều chỉnh chính sách thương mại cho phù hợp

c) Quản lý hàng tồn kho

Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp Ba dạng của tài sản dự trữ của doanh nghiệp gồm có nguyên nhiên vật liệu dự trữ, sản phẩm dở dang và thành phẩm chờ tiêu thụ Tùy theo từng loại ngành nghề kinh doanh và thời điểm khác nhau mà tỷ trọng của các tài sản

dự trữ là khác nhau Trong các doanh nghiệp sản xuất, dự trữ nguyên nhiên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn nhất, còn đối với doanh nghiệp thương mại thì hàng hóa chờ tiêu thụ chiếm tỷ trọng lớn hơn

Trang 10

Việc quản lý tồn kho dự trữ có tác dụng để giữ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn Song vấn đề đặt ra là dự trữ bao nhiêu là đúng mức và hợp lý

Nguyên nhiên vật liệu dự trữ sản xuất kinh doanh không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng lại có vai trò rất lớn để quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường, không bị ngưng trệ Nhưng nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn Còn ngược lại, nếu dự trữ không đủ sẽ có thể gây ra gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trên góc độ quản lý tài chính, việc dự trữ hàng tồn kho cũng là một quyết định chi tiêu tiền Để xác định mức độ đầu tư vào hàng tồn kho tối ưu cần so sánh lợi ích đạt được từ dự trữ hàng tồn kho với chi phí phát sinh do dự trữ hàng tồn kho để có phương thức quyết định tồn kho Vì vậy cần xem xét các chi phí liên quan đến dự trữ hàng tồn kho như: chi phí đặt hàng, chi phí lưu trữ và chi phí thiệt hại do không có hàng dự trữ trong kho

1.3 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp

1.3.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong

doanh nghiệp

Trước khi nói về khái niệm hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, ta cần phải làm rõ khái niệm về hiệu quả Vậy hiệu quả là gì? Sự hiệu quả được định nghĩa là đạt được một kết quả, mục tiêu nào đó giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất Một công việc được coi là có hiệu quả khi mà nó đạt được kết quả như hoặc ngoài dự kiến, hoặc tạo ra được sự ấn tượng trong quá trình thực hiện

Vậy thì hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp thực chất là thực hiện sản xuất kinh doanh tiết kiệm thời gian, nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu xác định

Và thực hiện đánh giá hiệu quả kinh doanh rõ nhất bằng cách sử dụng thước đo tiền tệ

để lượng hóa đầu ra và đầu vào và đánh giá quan hệ giữa chúng Với một lượng vốn nhất định doanh nghiệp mong muốn tạo ra được nhiều sản phẩm nhất, bán được với doanh thu cao nhất, chi phí thấp nhất cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp muốn sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất Mục tiêu chủ yếu của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đó là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu, tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được mục tiêu trên, các doanh nghiệp phải chú trọng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất có thể

Trong một doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực hiện có Trình độ sử dụng nguồn lực thể hiện qua kết quả kinh doanh của mỗi kỳ hạch toán Doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả thì nguồn vốn được bảo toàn và phát triển nhiều thêm, giúp doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhưng nếu doanh nghiệp sử dụng vốn

Trang 11

kém hiệu quả, quy mô vốn của doanh nghiệp có thể bị thu hẹp so với đầu kỳ hoặc thậm chí doanh nghiệp sẽ bị phá sản nếu tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài

và trầm trọng

Việc sử dụng vốn một cách hiệu quả mang lại nhiều lợi ích lớn cho doanh nghiệp Thế nên việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều mà các doanh nghiệp luôn quan tâm hàng đầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp là việc nâng cao năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận và tối hiểu hóa chi phí

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn

Việc sử dụng vốn và hiệu quả của sử dụng vốn của các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố khác nhau, nên việc nhìn nhận và đánh giá đúng các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

a) Nhân tố chủ quan

- Tính chất, đặc thù ngành nghề kinh doanh

Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Sự ảnh hưởng này thể hiện trong việc bố trí cơ cấu vốn của doanh nghiệp, bố trí vốn khác nhau vào tài sản của doanh nghiệp, tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu vốn của chúng cũng khác nhau Cụ thể như trong các doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng chủ yếu vì không cần nhiều vốn cố định đầu tư cho máy móc thiết bị sản xuất như các doanh nghiệp sản xuất, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn

Sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp là hàng hóa tiêu dùng có vòng đời ngắn, tiêu thụ nhanh thì sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh hơn, từ đó làm tăng vòng quay của vốn Ngược lại đối với những sản phẩm có vòng đời dài, giá trị lớn

sẽ làm cho vòng quay của vốn chậm hơn

- Trình độ quản lý doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp, việc có vốn để đầu tư đã là một vấn đề, nhưng sử dụng

nó như thế nào, quản lý tài sản hiện có ra sao để mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất là bài toán của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp sẽ đề ra giải pháp nhằm đối phó với tình hình thực tế Những giải pháp này có tính khả thi hay không, phần lớn phụ thuộc vào trình độ quản lý của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có được một đội ngũ lãnh đạo có năng lực chuyên môn, có năng lực tổ chức, có phương pháp tư duy khoa học để quan sát phân tích và giải quyết các vấn đề, có đạo đức công tác là những nhân tố cơ bản nhất quyết định đến sự thành

Trang 12

công của doanh nghiệp Trường hợp ngược lại thì không chỉ có hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực mà còn có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp

- Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào cách thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu phương thức tổ chức hoạt động phù hợp thì sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiết kiệm được chi phí, tăng hiệu quả sử dụng vốn Phương thức tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Thẩm định dự án và quyết định đầu tư của doanh nghiệp

Công tác thẩm định dự án của doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong

sự thành công của doanh nghiệp Nếu quá trình thẩm định được tiến hành một cách chặt chẽ, chính xác, đưa ra được những phương án tốt nhất, giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được dự án đầu tư khả thi dẫn đến quyết định đầu tư đúng đắn, hiệu quả kinh doanh cao từ đó nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Ngược lại nếu công tác thẩm định dự án đầu tư không được tốt có thể dẫn tới quyết định đầu tư sai lầm của doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động có tác động đáng kể đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp sản xuất thì chất lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc nhiều vào trình độ tay nghề của người công nhân sản xuất Họ chính là các nhân tố trực tiếp thực hiện và chính họ tạo

ra kết quả kinh doanh Vì vậy để có được kết quả kinh doanh tốt đòi hỏi người lao động phải có trách nhiệm cao và trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi Từ đó doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm vật liệu, hạ giá thành sản xuất từ

đó nâng cao khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm, đạt kết quả kinh doanh cao và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

b) Nhân tố khách quan

- Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước

Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua các chính sách thuế, giá cả và lãi suất Chính sách thuế thay đổi sẽ ảnh hưởng đến công tác hạch toán kế toán và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật mà đơn vị đang áp dụng Chính sách giá cả thay đổi sẽ làm thay đổi giá thành sản phẩm cũng như giá bán của sản phẩm đó, vì thế sản lượng tiêu thụ, doanh thu bán hàng cũng sẽ chịu ảnh hưởng Chính sách về lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thu nhập tài chính của khoản tiền gửi ngân hàng, mức độ thuận lợi hay khó khăn của việc vay vốn, số lượng tiền được vay nhiều hay ít, và chi phí tài chính của đơn vị đi vay

Trang 13

Nói tóm lại khi các chính sách kinh tế kể trên thay đổi sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng thấp thì nhà nước có thể kích thích tăng trưởng bằng cách hạ lãi suất cho vay, tiền gửi, giảm thuế nhằm khuyến khích các

tổ chức cá nhân tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động kinh tế của đất nước Như vậy nền kinh tế sẽ có mức tăng trưởng cao hơn Với một chính sách nới lỏng như vậy nếu doanh nghiệp nào có những dự án đầu tư tốt, có tính khả thi cao mà số vốn cần thiết để thực hiện dự án chưa đủ thì có thể bổ sung thêm bằng cách huy động số vốn còn thiếu thông qua hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng Nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ hạn chế được những cơ hội kinh doanh tốt bị bỏ qua và có thời cơ kiếm lợi nhuận, tăng quy mô vốn, nâng cao hơn hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc về vốn của các tổ chức tài chính Ngược lại, với những chính sách thắt chặt sẽ hạn chế những doanh nghiệp thành lập mới, đồng thời ảnh hưởng tới kế hoạch đầu tư phát triển của các doanh nghiệp đang hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của từng doanh nghiệp Vì thế trong bất kỳ hoàn cảnh nào các doanh nghiệp luôn mong muốn có sự ổn định trong chính sách kinh tế của nhà nước Trên cơ sở đó để thiết lập chiến lược kinh doanh phù hợp Có như vậy mới tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư Bởi vì chỉ một thay đổi nhỏ trong chính sách kinh tế sẽ có tác động lớn đến chỉ tiêu chi phí, lợi nhuận

Có như vậy mới tạo được sự ổn định trong hoạt động kinh tế và mục tiêu của nhà nước mới thực hiện được triệt để

- Nhân tố thị trường

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mọi hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp từ việc huy động vốn, sử dụng vốn mua sắm các yếu tố đầu vào đến việc bán sản phẩm thu hồi vốn đều diễn ra trên thị trường Do vậy thị trường là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Trang 14

Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa, là nơi quyết định trả lời ba câu hỏi: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai? Việc đưa ra câu trả lời cho ba câu hỏi này ảnh hưởng đến các yếu tố đầu vào (các yếu tố sản xuất) và đầu ra (khách hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp) Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều chịu chi phối của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ thông qua sự vận động của giá cả Đó là nơi cuối cùng kiểm tra chủng loại các hàng hóa, sản lượng và chất lượng sản phẩm, là trung tâm của toàn bộ các quá trình sản xuất Hay nói một cách bao trùm nhất nó ảnh hưởng tới toàn bộ cuộc đời của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại, phát triển hay suy vong của mỗi doanh nghiệp và sự tác động của nó tới hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện qua các điểm sau:

Để sản xuất cần có các yếu tố sản xuất Thị trường chính là nơi cung cấp các yếu tố đó đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường Tuy nhiên nếu chi phí trả cho các yếu tố sản xuất đó cao sẽ ảnh hưởng tới khả năng tiêu thụ sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn

Sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, để bán Thị trường là nơi tiêu thụ hàng hóa cho doanh nghiệp Thông qua thị trường giá trị hàng hóa được thực hiện và các doanh nghiệp thu hồi được vốn Do đó, khi hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được sẽ làm cho vốn lưu động không luân chuyển được, bị ứ đọng, không sinh lời thì

đó là một hiện trạng của sử dụng vốn không hiệu quả

Sự biến động của nền kinh tế cũng là nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Sự biến động này kéo theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, thể hiện ở cả đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp

Khi có sự biến động của các yếu tố đầu vào dẫn đến dự trữ lớn, ảnh hưởng tới chi phí sản xuất tức là ảnh hưởng tới giá bán của sản phẩm và khả năng tiêu thụ Điều

đó có nghĩa là ảnh hưởng tới giá trị của đồng tiền vốn làm cho vốn chậm luân chuyển đồng thời cũng làm giảm tốc độ luân chuyển của hàng hóa Sự biến động của thị trường đầu ra (sự biến động của khâu tiêu thụ sản phẩm): như thay đổi nhu cầu của người tiêu dung, thu nhập cá nhân giảm,… dẫn đến hàng hóa không tiêu thụ được gây

ứ đọng làm lãng phí vốn, tăng chi phí hàng tồn kho, từ đó tác động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Nhân tố công nghệ

Sự thay đổi của công nghệ sẽ ảnh hưởng đến chu kỳ sản phẩm, phương pháp sản xuất, nguyên vật liệu,… Vì vậy với sự tiến bộ của công nghệ khoa học kỹ thuật hiện nay, nếu như doanh nghiệp không chú trọng đầu tư, đổi mới công nghệ hợp lý thì tất yếu sẽ dẫn đến tụt hậu, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường

- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Trang 15

Những yếu tố này tác động tới sự hình thành, phát triển và tốc độ phát triển của mỗi doanh nghiệp và do đó tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Bởi

vì nó ảnh hưởng tới chi phí đầu tư và rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp

c) Các nhân tố khác

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải chịu tác động của rất nhiều nhân tố khách quan bắt nguồn từ môi trường bên ngoài Các nhân tố khách quan như thiên tai, hỏa hoản, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh… đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Do vậy cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Ảnh hưởng của các nhân tố này khi chúng xảy ra

là rất lớn Nhiều khi chúng có thể phá hoại cả một nền kinh tế chứ không riêng gì một doanh nghiệp

Xác suất xảy ra rủi ro bởi các nhân tố khách quan là rất thấp nhưng không phải

là không thể xảy ra Đặc biệt việc dự đoán tác động của chúng đối với doanh nghiệp là rất khó vì vậy chỉ có thể phòng ngừa nhằm giảm tác hại khi chúng xảy ra Để có thể hạn chế rủi ro của tác nhân này doanh nghiệp cần phải chú ý tới các biện pháp phòng ngừa rủi ro đồng thời trích lập các quỹ dự phòng rủi ro để có thể hạn chế tổn thất cũng như có thể duy trì được kinh doanh khi rủi ro xảy ra

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải đánh giá xem xét mức độ ảnh hưởng của tất cả các nhân tố trên kể cả nhân tố chủ quan cũng như nhân tố khách quan để tìm ra những biện pháp hữu hiệu trong cơ cấu quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực và phát huy những tác động tích cực mà các nhân tố tạo nên, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.3.3 Các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn

Các phương pháp thường được sử dụng để phân tích hiệu quả sử dụng vốn bao gồm: phương pháp so sánh và phương pháp tỷ lệ

Phương pháp so sánh: Khi sử dụng phương pháp này, người phân tích cần đảm

bảo các điều kiện so sánh của các chỉ tiêu tài chính, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối hoặc số tương đối, số bình quân Nội dung so sánh có thể là so sánh giữa số thực hiện năm nay và năm trước, so sánh giữa số thực hiện và số kế hoạch, so sánh số thực hiện của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành

Phương pháp tỷ lệ: các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng

phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ

về năng lực hoạt động kinh doanh và nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời

Trang 16

1.3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

a) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng vốn

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp được xem xét và phân tích dưới giác độ chủ

sở hữu về khả năng sinh lời của vốn dựa vào tỷ số về khả năng sinh lãi, tỷ số này phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp

- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, cụ thể là chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì đã kinh ra được bao nhiều đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này rất được các nhà đầu tư quan tâm khi họ bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Duy trì

và làm cho chỉ tiêu này ngày càng tăng là một mục tiêu quan trọng nhất của các nhà quản trị doanh nghiệp

- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đơn vị vốn đầu tư Cụ thể, chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp đã được đầu tư vào thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế sau một kì kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình càng hiệu quả

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn được đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần Tương tự như chỉ tiêu ROA, chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng tỏ rằng hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng của doanh nghiệp càng cao

b) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định

- Hiệu suất sử dụng vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn cố định được đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng tỏ rằng hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp càng cao

Trang 17

Trong đó vốn cố định sử dụng bình quân trong một kỳ là bình quân số học của vốn cố định có ở đầu kỳ và cuối kỳ

- Hàm lượng vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu doanh nghiệp thu về trong kỳ cần sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao

- Tỷ suất sinh lời vốn cố định

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn cố định được đầu tư vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế ở đây là phần lợi nhuận được tạo ra từ việc trực tiếp sử dụng tài sản cố định, không tính các khoản lãi do các hoạt động khác tạo ra như: lãi từ hoạt động tài chính, góp vốn liên doanh

c) Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Vòng quay hàng tồn kho

Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển hàng tồn kho trong một thời kỳ nhất định của doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu này, nhà quản trị tài chính xác định được mức dự trữ vật tư, hàng hóa hợp lý trong chu kỳ sản xuất kinh doanh

Trang 18

Trong đó, hàng tồn kho bình quân là bình quân số học của hàng tồn kho đầu và cuối

kỳ

- Kỳ thu tiền bình quân

Mặt khác:

dư bình quân các khoản phải thu bằng số dư cuối kỳ các khoản phải thu

- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động (vòng quay vốn lưu động)

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn lưu động sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao

Vốn lưu động bình quân trong kỳ là bình quân số học của vốn lưu động ở đầu và

cuối kỳ

- Kỳ luân chuyển vốn lưu động

Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết để hoàn thành một vòng luân chuyển VLĐ Kỳ luân chuyển càng ngắn chứng tỏ VLĐ luân chuyển càng nhanh, hàng hóa, sản phẩm ít bị ứ đọng, doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Công thức tính như sau:

- Tỷ suất sinh lời vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn lưu động Nó cho biết mỗi đồng vốn lưu động có trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế

- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động

Trang 19

Chỉ tiêu này cho biết để đạt được mỗi đồng doanh thu, doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu đồng vốn lưu động Chỉ tiêu này càng thấp, hiệu quả kinh tế từ việc sử

dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao

Nhìn vào những chỉ tiêu này các nhà phân tích sẽ đánh giá được mức tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đến từ đâu Nếu nó chủ yếu đến từ các khoản lợi

nhuận khác như thanh lý tài sản hay đến từ việc doanh nghiệp được miễn giảm thuế

tạm thời thì các nhà phân tích cần lưu ý đánh giá lại hiệu quả hoạt động thật sự của

doanh nghiệp

Cũng như vậy, đối với nhân tố vòng quay toàn bộ vốn có thể đánh giá thông qua chính sách đầu tư tài sản cũng như tốc độ quay vòng của các loại tài sản ngắn hạn

trong doanh nghiệp Nếu số vòng quay toàn bộ vốn tăng lên là do tốc độ quay vòng

của các loại tài sản ngắn hạn như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho tăng lên thì

hoàn toàn hợp lý Nhưng nếu số vòng quay tổng vốn tăng lên là do thay đổi cơ cấu đầu

tư tài sản, thì điều này phải đảm bảo phù hợp với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và

các điều kiện cụ thể khác của doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh

Như vậy, trên cơ sở nhận diện các nhân tố, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ xác định và tìm biện pháp khai thác các yếu tố tiềm năng để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ

sở hữu, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp

Trang 20

Tóm tắt chương 1

Qua chương đầu tiên đã nếu ra cơ sở lý luận khoa học, định nghĩa, phân loại, đặc trưng của vốn trong doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn, các yếu tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Qua đó, ta thấy được tầm quan trọng của vốn trong doanh nghiệp Dựa trên những lý thuyết cơ sở từ chương một, chương 2 sẽ đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng về vốn và hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH dây

và cáp điện Ngọc Khánh

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG

TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH

2.1 Khái quát về công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc

Khánh

Tên Công ty : Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

Trụ sở chính : Thôn An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng

Yên

Mã số thuế : 0900237594

Giấy phép đăng ký kinh doanh : 0900237594 thay đổi lần thứ 5 ngày 17-01-2012

Vốn điều lệ : 160.000.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi tỷ đồng chẵn)

Lĩnh vực kinh doanh chính : Sản xuất dây và cáp điện

Trên cơ sở một Tổ hợp tác nhỏ, thành lập năm 1989, chuyên sản xuất các mặt hàng cơ khí nhẹ phục vụ tiêu dùng, đến năm 1994 Công ty TNHH Ngọc Khánh được thành lập, với trụ sở đồng thời là xưởng sản xuất có tổng diện tích mặt bằng hơn 1.200 m2 tại địa chỉ số 37 phố Nguyễn Sơn, thị trấn Gia Lâm, huyện Gia Lâm, nay là phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội

Được thành lập tại thời điểm nền kinh tế đang chuyển đổi, nhu cầu về phát triển

cơ sở hạ tầng rất lớn, cộng với điều kiện mặt bằng sản xuất, nhân lực sẵn có nên phương hướng hoạt động và ngành nghề chính của công ty được xác định là sản xuất - kinh doanh các loại sản phẩm dây và cáp điện lực hạ thế phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng, cải tạo mạng lưới điện sinh hoạt

Là một đơn vị kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, khi mới thành lập công ty TNHH Ngọc Khánh gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất

- kinh doanh: Mặt bằng sản xuất chật hẹp, kinh nghiệm quản lý sản xuất thiếu, trình độ

kỹ thuật non kém, vốn đầu tư cho sản xuất nhỏ trong khi nguồn vốn từ tín dụng rất khó tiếp cận

Ban đầu, với công nghệ sản xuất rất lạc hậu, các sản phẩm của công ty chỉ là các loại dây điện nhỏ, dùng cho dân sinh, chất lượng chưa cao, sản lượng thấp Kết quả sản xuất - kinh doanh của công ty chỉ ở mức duy trì hoạt động, tích luỹ thấp, các mặt hoạt động chung khác hầu như không có

Tuy trải qua nhiều thăng trầm, nhưng với những cố gắng của các cán bộ nhân viên trong Công ty, nên hiện nay Công ty đang từng bước vượt qua thời kỳ khủng

Trang 22

hoảng kinh tế nói chung và khủng hoảng lĩnh vực bất động sản nói riêng một trong những lĩnh vực mang lại nhiều doanh thu cho Công ty

Ngày nay công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh đã trở thành một nhà sản xuất dây và cáp điện chuyên nghiệp với 3 nhà máy được chuyên môn hóa sản xuất các dòng sản phẩm chủ lực là: Dây điện ôtô; Dây điện & Cáp điện hạ thế; Cáp hàn & Cáp cao su

Trong vài năm trở lại đây, với chiến lược phát triển doanh nghiệp đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, kết hợp với việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của đơn vị như sự nhạy bén, năng động trong quản lý của lãnh đạo, sự đầu tư phát triển hợp lý và nỗ lực làm việc có hiệu quả cao của toàn Công ty, đã đem đến những kết quả tốt trong sản xuất - kinh doanh Từ năm 2001 đến nay, sản phẩm

dây và cáp điện lực hạ thế các loại mang nhãn hiệu GOLDCUP do công ty TNHH

Ngọc Khánh sản xuất bắt đầu có uy tín và đáp ứng được một phần thị trường, chủ yếu

là Hà nội, các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh miền Trung từ Đà Nẵng trở ra, cung cấp cho nhiều công trình phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng như các nghành công nghiệp, xây dựng dân dụng hay phục vụ xây dựng, cải tạo mạng lưới điện sinh hoạt v.v Tốc

độ tăng trưởng doanh thu mỗi năm trung bình từ 15-20%

Một số cột mốc lịch sử đáng nhớ của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

Năm

1994

- Thành lập Công ty dây & cáp điện Ngọc Khánh

- Bắt đầu sản xuất dây và cáp điện hạ thế tại số 37, phố Nguyễn Sơn,

phường Ngọc lâm, quận Long Biên, thành phố Hà nội (1.200m2)

-Nhận Chứng chỉ chứng nhận ISO 9001:2000

Năm

2002 - Vận hành Nhà máy sản xuất Dây điện và Cáp điện hạ thế

Năm - Nhập khẩu, lắp đặt và vận hành hàng loạt các Dây chuyền sản xuất từ

Trang 23

- Ký thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn YAZAKI – Nhật Bản

- Thành lập và xây dựng Nhà máy sản xuất Dây điện cao cấp trong ôtô (20.000m2) tại thôn An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

Trang 24

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

a) Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

(Nguồn: Phòng kế toán)

Bộ máy tổ chức của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh được phân chia thành các phòng ban, bộ phận với các chức năng riêng biệt Đứng đầu là tổng giám đốc người cao nhất trong bộ máy quản lý của Công ty, có thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm chỉ huy toàn bộ hoạt động kinh doanh trong Công ty Phía dưới tổng giám đốc là 3 giám đốc phụ trách về 3 mảng lớn của công ty Ba giám đốc này có nhiệm vụ tham mưu cho tổng giám đốc để đưa ra các quyết định và điều hành, giải quyết các công việc liên quan Bộ máy của Công ty có độ chuyên môn hóa khá cao, các phòng ban hoạt động gắn kết chặt chẽ với nhau, yêu cầu sự phối hợp nhịp nhàng giữa phòng kỹ thuật, bộ phận nhà xưởng cũng như phòng vật tư, xuất nhập khẩu và phòng kinh doanh

GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT

GIÁM ĐÓC KINH DOANH

KÉO RÚT

Drawing

Trang 25

2.1.3 Ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

Trong giấy phép kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh đăng ký 15 ngành nghề kinh doanh khác nhau, bao gồm:

Bảng 2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

1 Sản xuất dây, cáp điện và điện tử khác

2 Sản xuất thiết bị dây dẫn điện các loại

3 Bán buôn thiết bị linh kiện điện tử viễn thông

4 Dịch vụ lưu trú ngắn ngày

5 Bán buôn máy vi tính, thiết bị ngoại vi, phần mềm

6 Đại lý, môi giới đấu giá

7 Bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác

8 Sản xuất kim loại màu và kim loại quý

9 Sản xuất plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh

10 Sản xuất dây cáp, sợi cáp quang học

11 Sản xuất sản phẩm từ plastic

12 Vận tải hàng hóa bằng đường bộ

13 Cho thuê xe có động cơ

14 Kinh doanh bất động sản

15 Đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp chỉ được

phép kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật

(Nguồn: Giấy phép kinh doanh công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh)

Mặc dù đăng ký 15 ngành nghề kinh doanh nhưng ngành nghề chính của công

ty chính là Sản xuất dây cáp điện và thiết bị dây dẫn điện Hầu hết tất cả các khoản về doanh thu, giá vốn hàng bán, lợi nhuận đều từ ngành nghề kinh doanh chính này

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp diện Ngọc

Khánh từ năm 2012 đến 2014

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh năm 2013 đạt 1.353.886.036.421 đồng, tăng 23.886.438.380 đồng, tương đương với mức tăng tương đối 1,80% so với năm 2012 Sang năm 2014, chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên tới 1.699.479.607.860 đồng, tức tăng thêm 345.593.571.439 đồng, tương đương tăng 25,53% so với năm 2013 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty TNHH Ngọc Khánh cho thấy sự hiệu quả của việc không ngừng tuyển dụng và nâng cao chất lượng nhân viên của phòng kinh doanh Phòng kinh doanh của công ty trong 2 năm 2013 và 2014 đã mang về nhiều hợp đồng lớn cho công ty, giúp

Trang 26

tăng doanh thu một cách đáng kể, đặc biệt là doanh thu năm 2014 đã tăng hơn 25% so với năm 2013 đây là một con số rất đáng kể

Giá vốn hàng bán của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh tăng từ 1.288.863.873.104 đồng năm 2012 lên 1.301.849.109.323 đồng năm 2013, lượng tăng thêm là 12.985.236.219 đồng tương ứng với 1,01% Sang năm 2014, giá vốn hàng bán của công ty tiếp tục tăng thêm 322.136.889.972 đồng đạt mức 1.623.985.999.295 đồng, tăng 24,74% so với năm 2013 Vì là doanh nghiệp sản xuất nên chi phí dành cho nguyên vật liệu của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh là rất lớn Ta cũng có thể thấy tương quan giữa giá vốn hàng bán và doanh thu bán hàng Giai đoạn 2012 –

2013, tổng doanh thu tăng 1,8% dẫn đến việc chi phí cho nguyên vạt liệu, nhân công cũng tăng theo khiến giá vốn hàng bán tăng 1,01% Tương tự giai đoạn 2013-2014, khi tổng doanh thu tăng 25,53% thì giá vốn hàng bán cũng tăng thêm 24,74%

Chi phí tài chính bao gồm các khoản như chi phí lãi vay, các khoản lỗ do bán ngoại tệ,

do thanh lý tài sản Chi phí tài chính năm 2013 là 31.682.511.837 đồng tăng 2.509.668.651 đồng so với năm 2012, tương ứng tăng 8,6% Mặc dù chi phí lãi vay giảm 499.166.703 đồng so với năm 2012 tương đương giảm 1,79% Chi phí tài chính tăng như vậy là do trong năm 2013 công ty đã tăng khoản dự phòng giảm giá các khoản đầu tư do lo sợ gặp rủi ro và biến động Sang năm 2014, chi phí tài chính giảm mạnh 8.823.542.869 đồng, tương đương giảm 27,85% so với năm 2013 chỉ còn 22.858.968.968 đồng Sự giảm mạnh chi phí tài chính trong năm 2014 là do các nhiều khoản vay dài hạn và ngắn hạn đã được công ty trả nợ hết từ năm 2013

Chi phí quản lý kinh doanh tăng từ 12.353.915.257 đồng năm 2012 thêm 1.731.436.996 đồng lên 14.085.352.253 đồng năm 2013 tương đương tăng 14,02% Chi phí quản lý kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh tiếp tục tăng thêm 6.407.097.181 đồng trong năm 2014, tăng thêm 45,49% so với năm 2013, lên 20.492.449.434 đồng Có thể dễ dàng nhận ra sự tăng lên của chi phí quản lý kinh doanh trong các năm là do chính sách tăng thêm quy mô của phòng kinh doanh và mở rộng các kênh phân phối làm tăng chi phí quản lý và hoa hồng phải trả

Trang 27

Bảng 2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến năm 2014

Doanh thu BH&CCDV 1.699.479.607.860 1.353.886.036.421 1.329.999.598.041 345.593.571.439 23.886.438.380 25,53 1,80

Các khoản giảm trừ doanh thu

Chi phí quản lý kinh doanh 20.492.449.434 14.085.352.253 12.353.915.257 6.407.097.181 1.731.436.996 45,49 14,02

Chi phí thuế TNDN hiện hành

Trang 28

Lợi nhuận thuần của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh năm 2012 chỉ đạt 566.120.031 đồng Con số này trong năm 2013 đã tăng thêm 7.790.041.830 đồng lên 8.356.161.861 đồng, tương đương tăng 1376,04% lợi nhuận thuần của năm 2012 Đến năm 2014, lợi nhuận thuần của công ty đạt 35.735.530.452 đồng, tiếp tục tăng 327,65% so với năm 2013 Điều đó cho thấy công ty đang hoạt động có hiệu quả trong giai đoạn 2012-2014 Lợi nhuận tăng bắt nguồn từ sự hoặt động bán hàng tốt của công

ty Sự tăng lên doanh thu bán hàng (tăng 1,8% 2012-2013; tăng 25,53% 2013-2014) và giảm thiểu được chi phí tài chính (giảm 27,85% năm 2014) giúp cho lợi nhuận thuần tăng lên rất nhiều kể cả khi chi phí quản lý kinh doanh tăng lên

Lợi nhuận khác của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh năm 2012 đạt 408.724.219 đồng, sang năm 2013 lợi nhuận khác đạt 3.418.020.078 đồng, tăng 3.009.295.859 đồng so với năm trước Tỷ trọng của lợi nhuận khác trong lợi nhuận trước thuế của 2 năm 2012 và 2013 chiếm tỷ trọng khá cao hơn 40% năm 2012 và gần 30% năm 2013 Sang năm 2014 lợi nhuận khác của công ty giả mạnh xuống còn 125.114.573 đồng, giảm 3.292.905.505 đồng, tức giảm 96,34% so với năm trước Cùng với đó, việc lợi nhuận thuần trong năm 2014 tăng mạnh khiến cho tỷ trọng của lợi nhuận khác trong tổng lợi nhuận trước thuế không còn chiếm tỷ trọng đáng kể

Thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh trong năm ba năm được xét là 2012, 2013 và 2014 đều bằng 0 Nguyên do của việc này là bởi trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008-2011, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh cũng bị ảnh hưởng nặng

nề, khiến công ty bị âm lợi nhuận trong giai đoạn này Trong các năm 2012 đến 2014, lợi nhuận sau thuế của công ty có xu hướng tăng lên Năm 2012 đạt 974.844.250 đồng, năm 2013 lợi nhuận sau thuế tăng lên 11.774.181.939 đồng, tăng thêm 10.799.337.689 đồng so với năm 2012 tương đương với tăng 1107,80% Năm 2014 Lợi nhuận sau thuế tiếp tục tăng thêm 24.086.463.086 đồng, lên 35.860.645.025 đồng Tăng 204,57% so với năm trước

Qua phân tích về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014, ta có thể thấy rằng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

đã dần hồi phục trở lại sau khoảng thời gian khó khăn vì khủng hoảng kinh tế Những biến chuyển tốt này đến từ việc nền kinh tế dần hồi phục sau khủng hoảng cộng thêm với việc ban lãnh đạo của công ty đã phát triển đúng hướng, quan tâm nâng cao đội ngũ kinh doanh và các kênh phân phối

Trang 29

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh

2.2.1 Đánh giá cơ cấu tài sản và nguồn vốn của công ty TNHH dây và cáp điện

Ngọc Khánh

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của công ty tại một thời điểm nhất định Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của công ty theo cơ cấu tài sản; nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành của các tài sản đó

Từ đó có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài chính của công

ty

a) Cơ cấu tài sản

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ cột biểu diễn tỷ trọng tổng tài sản từ năm 2012 đến năm 2014

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán năm 2012-2014)

Ngày đăng: 11/06/2016, 21:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh (Trang 24)
Bảng 2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.1 Ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH dây và cáp điện Ngọc Khánh (Trang 25)
Bảng 2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến năm 2014 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012 đến năm 2014 (Trang 27)
Bảng  cân  đối  kế  toán  là  một  báo  cáo  tài  chính  tổng  hợp,  phản  ánh  tổng  quát  toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của công ty tại một thời điểm  nhất định - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
ng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của công ty tại một thời điểm nhất định (Trang 29)
Bảng 2.3 Bảng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.3 Bảng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn (Trang 38)
Bảng 2.4 Chỉ tiêu ROE & ROA - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.4 Chỉ tiêu ROE & ROA (Trang 39)
Bảng 2.5 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có định 1 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.5 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có định 1 (Trang 41)
Bảng 2.6 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có định 2 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.6 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có định 2 (Trang 42)
Bảng 2.7 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 1 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.7 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 1 (Trang 44)
Bảng 2.8 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 2 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH DÂY VÀ CÁP ĐIỆN NGỌC KHÁNH
Bảng 2.8 Bảng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động 2 (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w