Khái niệm về tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt độ
Trang 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Những quan hệ kinh tế của doanh nghiệp gồm có:
- Quan hệ của doanh nghiệp với Nhà nước: Là mối quan hệ phát sinh khi
các doanh nghiệp nộp thuế cũng như các nghĩa vụ tài chính khác với ngân sách nhà nước Đồng thời mối quan hệ này được thể hiện khi ngân sách nhà nước hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp thông qua hoạt động góp vốn, cho vay, mua bán cổ phiếu, trái phiếu công ty
- Quan hệ của doanh nghiệp với thị trường tài chính: Mối quan hệ này phát
sinh khi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ để đáp ứng nhu cầu vốn phục
vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động vốn bằng việc vay vốn, phát hành cổ phiếu, trái phiếu và có nghĩa vụ trả lãi vay, cổ tức cũng như lãi trái phiếu cho các nhà tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi ngân hàng hoặc đầu tư chứng khoán bằng khoản tiền
nhàn rỗi nhằm mục đích sinh lời
- Quan hệ với các chủ thể kinh tế khác: Với tư cách là một chủ thể kinh
doanh trong nền kinh tế, doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào và thị trường phân phối đầu ra.Thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa dịch vụ cần cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội và thu
được lợi nhuận tối đa với chi phí thấp nhất
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Là các quan hệ tài chính giữa các
phòng ban, giữa các đơn vị thành viên với nhau, giữa quyền sở hữu vốn và
sử dụng vốn Biểu hiện của các mối quan hệ này là sự luân chuyển về vốn thông qua các chính sách tài chính doanh nghiệp như chính sách phân phối
thu nhập, chính sách về cơ cấu vốn, đầu tư và cơ cấu đầu tư
1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp bao gồm ba vai trò sau:
Trang 2- Xác định và tổ chức nguồn vốn nhằm đảm bảo nhu cầu sử dụng vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp: Điều kiện cơ chế thị
trường khắc nghiệt hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp cần có vốn, phương án tạo lập và huy động vốn cụ thể để có thể thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Theo đó, doanh nghiệp cần xác định được nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh và xem xét khả năng đáp ứng cùng các giải pháp huy động hiện có của doanh nghiệp Trên cơ sở tối thiểu hóa chi phí trong khoảng thời gian hợp lí mà lựa chọn nguồn vốn và phương thức
thanh toán nguồn vốn phù hợp
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh: Vai trò điều tiết của tài chính
doanh nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp Quá trình này luôn gắn liền với những đặc điểm vốn có của hoạt động sản xuất kinh doanh và hình thức sở hữu doanh nghiệp Sau khi bù đắp các yếu
tố đầu vào đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật tư, trả lương cho người lao động, doanh nghiệp hoàn thành các nghĩa vụ với nhà nước và đầu tư cho nguyên vật liệu
để bắt đầu chu trình sản xuất mới Phần còn lại dùng để hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn và trả lợi tức cổ phần Hoạt động điều tiết được vận dụng sáng tạo, phù hợp sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh
tế tác động tới năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc
đẩy tăng vòng quay vốn
- Công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Nhằm mục
đích kiểm soát tình hình đảm bảo vốn và hiệu quả sử dụng vốn cho sản xuất - kinh doanh, tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm tra, kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của mình thông qua các chỉ tiêu tài chính
Cụ thể các chỉ tiêu đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, khả năng sinh lời Với đặc điểm toàn diện
và thường xuyên cùng với việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất
Trang 3sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính và xây dựng kế hoạch quản lý phù hợp
Mỗi doanh nghiệp đều có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp như các chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp, các tổ chức tài chính tín dụng cho vay… Tùy theo đối tượng mà sự quan tâm và giác độ đối với thông tin tài chính doanh nghiệp khác nhau Phân tích tài chính doanh nghiệp được sử dụng như là công cụ khảo sát cơ bản để đánh giá chính xác tình hình tài chính trên nhiều khía cạnh khác nhau như: cơ cấu nguồn vốn, tài sản, khả năng thanh toán, lưu chuyển tiền tệ, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng sinh lời, rủi ro tài chính… nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho tất cả các đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp Bên cạnh đó, nó cũng được sử dụng như công cụ để định hướng các quyết định của các đối tượng quan tâm theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia quyền lợi… Từ đó, tạo nền tảng cơ sở cho các dự báo tài chính, giúp cho nhà phân tích có thể dự đoán được tiềm năng tài chính của doanh nghiệp trong tương lai
1.2.2 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
Vai trò đầu tiên và quan trọng nhất của phân tích tài chính doanh nghiệp là cung cấp các phân tích hữu ích, trên cơ sở đó giúp cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư đưa
ra các quyết định quản lý, đầu tư đúng đắn Bên cạnh đó, phân tích tài chính góp phần giảm bớt các nhận định chủ quan, dự đoán và những trực giác trong kinh doanh cũng như tính không chắc chắn cho các hoạt động kinh doanh Thay vào đó cung cấp những
cơ sở mang tính hệ thống và hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh và cũng giúp kết nối, cố vấn đầu tư cho chính doanh nghiệp của mình thông qua sự phân tích và đánh giá các dự án hay kế hoạch Kết quả của phân tích tài chính sẽ góp phần tích cực vào
sự thành công và phát triển của các công ty Điều này đã được khẳng định rõ ràng và
Trang 4được kiểm chứng qua thực tế Nếu phân tích tài chính một cách khách quan, đầy đủ và chính xác thì sẽ giúp nhà quản trị của công ty đánh giá đúng tình hình thực tế, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn để cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3 Nguồn thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm mục đích đưa ra những dự báo giúp cho việc ra quyết định và xây dựng kế hoạch hoạt động kinh doanh trong tương lai của doanh nghiệp Do đó, thông tin dùng để phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ giới hạn trong phạm vi phân tích báo cáo tài chính mà còn cần mở rộng sang các lĩnh vực tài chính liên quan Vì thế, nguồn thông tin sử dụng cho phân tích tài chính doanh nghiệp gồm có:
- Thông tin kế toán: hệ thống các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
- Các thông tin khác: các thông tin về kinh tế, thị trường vốn, thuế, tiền tệ và
thông tin về ngành của doanh nghiệp…
1.3.1 Thông tin kế toán
Yếu tố quan trọng trong phân tích tài chính là tìm ra được những nguồn thông tin trung thực, chính xác Chính vì vậy, thông tin kế toán là đặc biệt cần thiết với hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp Hoạt động phân tích tài chính sử dụng nguồn thông tin này thông qua việc xử lí các báo cáo tài chính
- Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đây là một báo cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công
nợ phải trả (nguồn vốn) Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một cách tổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Phần tài sản: Bao gồm có tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Về mặt pháp lý,
phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát về quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, phản ánh
các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp
Trang 55
vốn (Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán các khoản
nợ (với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước ) Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sản hiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ
lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn đồng thời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phân tích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng thông tin của doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồn lực của tài sản và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quả kinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lãi, lỗ trong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền
tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Đây là một báo cáo quan trọng của bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh
tế, có tính chất bổ sung, hoàn thiện thông tin cho ba báo cáo tài chính trên Đó là
Trang 6những thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh, chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, chi tiết một số chỉ tiêu trong các báo cáo tài chính
1.3.2 Các thông tin khác:
Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, sự biến động giá cả các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ, từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi tác động diễn ra theo chiều hướng tích cực, hoạt động sản xuất kinh doanh mở rộng, lợi nhuận của doanh nghiệp gia tăng và ngược lại Vì vậy hoạt động phân tích tài chính không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính mà phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính doanh nghiệp, như các thông tin về kinh tế, tiền tệ, thuế khoá của quốc gia và quốc tế, các thông tin về kinh tế, các thông tin về pháp lý đối với doanh nghiệp
- Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế: Hoạt động sản xuất - kinh doanh
của doanh nghiệp nằm trong và chịu tác động của nhiều yếu tố thuộc môi trường vĩ
mô Chính vì thế, khi tiến hành phân tích tài chính cần phải đặt doanh nghiệp trong bối cảnh chung của nền kinh tế trong nước và khu vực Tập hợp đầy đủ những thông tin này và tiến hành phân tích giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có những đánh giá đầy đủ hơn tình hình tài chính và dự báo chính xác hơn những rủi ro vàcơ hội đối với hoạt động của doanh nghiệp Những thông tin cần quan tâm gồm có:
+ Sự tăng trưởng, suy thoái kinh tế + Biến động về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ + Tỷ lệ lạm phát
+ Các chính sách kinh tế, chính trị, ngoại giao của Nhà nước
- Thông tin theo ngành: Bên cạnh những thông tin về môi trường vĩ mô, những
thông tin liên quan đến ngành, lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng:
+ Mức độ và yêu cầu công nghệ của ngành + Mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường + Nhịp độ và xu hướng vận động của ngành + Nguy cơ xuất hiện những đối thủ tiềm năng
Những thông tin trên sẽ góp phần làm rõ hơn nội dung của các chỉ tiêu tài chính trong từng ngành, lĩnh vực kinh doanh, đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
- Thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh: Mỗi doanh nghiệp có những
đặc điểm riêng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và định hướng phát triển nên để đánh giá chính xác tình hình tài chính, các nhà phân tích cần có cái nhìn tổng quan về đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Cụ thể là:
Trang 77
+ Mục tiêu và chiến lược hoạt động của doanh nghiệp gồm cả chiến lược tài
chính và chiến lược kinh doanh
+ Đặc điểm quá trình luân chuyển vốn của doanh nghiệp
+ Chu kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Mối liên hệ giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp, khách hàng, ngân hàng… + Các chính sách hoạt động khác
Như vậy, tổng hợp các thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp sẽ cung cấp đầy đủ các dữ liệu cần thiết giúp nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và hợp lí
1.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng nhằm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của đối tượng nghiên cứu So sánh được áp dụng từ bước đầu đến bước cuối của quá trình phân tích: từ khi sưu tầm tài liệu đến khi kết thúc phân tích Khi sử dụng phương pháp so sánh cần chú ý đến tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh của chỉ tiêu phân tích cùng như kỹ thuật so sánh
Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh Khi phân tích tài chính, nhà phân tích thường sử dụng các gốc sau:
- Sử dụng số liệu tài chính ở nhiều kỳ trước để đánh giá và dự báo xu hướng
của các chỉ tiêu tài chính Thông thường, số liệu phân tích được tổ chức từ 3 đến 5 năm liền kề
- Sử dụng số liệu trung bình ngành để đánh giá sự tiến bộ về họat động tài
chính của doanh nghiệp so với mức trung bình tiên tiến của ngành Số liệu trung bình ngành thường được các tổ chức dịch vụ tài chính, các ngân hàng,
cơ quan thống kê cung thấp theo nhóm các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong trường hợp không có số liệu trung bình ngành, nhà phân tích có thể sử dụng số liệu của một doanh nghiệp điển hình trong cùng ngành
để làm căn cứ phân tích
- Sử dụng các số kế hoạch, số dự toán để đánh giá doanh nghiệp có đạt các
mục tiêu tài chính trong năm Thông thường, các nhà quản trị doanh nghiệp
Trang 8chọn gốc so sánh này để xây dựng chiến lược họat động cho tổ chức của mình
Điều kiện so sánh yêu cầu các chỉ tiêu phân tích phải phản ánh cùng nội dung kinh tế, có cùng phương pháp tính toán và có đơn vị đo lường như nhau và phải tuân thủ theo chuẩn mực kế toán hiện hành
Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng 3 hình thức:
- So sánh theo chiều ngang: so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về
số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên tứng báo cáo tài chính Phương pháp này phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục, trên từng báo cáo tài chính Qua đó, xác định được mức biến động tăng hoặc giảm về quy mô của chỉ tiêuphân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ phân tích
- So sánh theo chiều dọc: chính là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể
hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thực chất đây là việc phân tích sự biến động về
cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
- So sách xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu: Các
chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kì để phản ánh rõ hơn xu hướng thay đổi của tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4.2 Phương pháp cân đối liên hệ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hình thành rất nhiều mối quan hệ cân đối về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh như: cân đối giữa tài sản và nguồn vốn; cân đối giữa doanh thu, chi phí và kết quả; cân đối giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra, cân đối giữa tăng và giảm Dựa những cân đối cơ bản trên, trong phân tích tài chính thường vận dụng phương pháp cân đối liên hệ để xem xét ảnh hưởng của từng nhân tố đến biến động của chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, với biến động của tổng tài sản giữa hai thời điểm, phương pháp này sẽ cho thấy loại tài sản nào (hàng tồn kho, nợ phải thu, TSCĐ ) biến động ảnh hưởng đến biến động tổng tài sản của doanh nghiệp Như vậy, dựa vào biến động của từng bộ phận mà chỉ tiêu phân tích sẽ được đánh giá đầy đủ hơn
1.4.3 Phương pháp phân tích tỷ số
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ số của các đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp
Trang 99
này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích của doanh nghiệp Nhìn chung có các 4 nhóm chính sau:
- Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán: Được sử dụng để đánh giá khả năng
đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động kinh doanh: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc
trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu khả năng quản lí nợ: Qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn
định và khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp
- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
tổng hợp nhất của doanh nghiệp
1.4.4 Phương pháp Dupont
Để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính, người ta thường vận dụng
mô hình Dupont Qua sự phân tích mối liên hệ này có thể phát hiện những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ
Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính có dạng:
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Doanh thu thuần
Từ mô hình phân tích trên, ta thấy tác động đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) và chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp Như vậy muốn nâng cao khả năng sinh lời của một đồng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng thì cần phải nghiên cứu xem xét có những biện pháp nào để nâng cao khả sinh lời của quá trình sử dụng tài sản của doanh nghiệp
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Trang 10Từ mô hình này, ta cũng có thể thấy ảnh hưởng tới tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
sở hữu (ROE) là tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), hiệu suất sử dụng tài sản và tỷ trọng tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Công ty phải tìm những biện pháp để nâng cao khả năng sinh lời của quá trình sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để nâng cao khả năng sinh lời của một đồng vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng
Phân tích tài chính dựa trên mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn với việc quản trị doanh nghiệp Nhà quản trị không những có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc toàn diện mà còn có thể đánh giá đầy đủ, khách quan những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó có thể đưa ra được những biện pháp điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
1.4.5 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn sử dụng để xác định xu hướng, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh tế khi các yếu tố này có quan hệ tích số, thương số hoặc cả tích lẫn thương Khi tiến hành phân tích, doanh nghiệp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tục các yếu tố giá trị kì gốc sang kì phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu thay đổi Nhà quản trị tiến hành đánh giá so sánh và phân tích từng nhân tố ảnh hưởng trong khi giả thiết đưa ra là các nhân
tố khác cố định Do đó để áp dụng nó phân tích hoạt động kinh tế cần áp dụng một trình tự thi hành sau:
- Căn cứ vào mối liên hệ của từng nhân tố đến đối tượng cần phân tích mà từ
đó xây dựng nên biểu thức giữa các nhân tố
- Tiến hành lần lượt để xác định ảnh hưởng của từng nhân tố trong điều kiện
giả định các nhân tố khác không thay đổi
- Ban đầu lấy kỳ gốc làm cơ sở, sau đó lần lượt thay thế các kỳ phân tích cho
các số cùng kỳ gốc của từng nhân tố
- Sau mỗi lần thay thế tiến hành tính lại các chỉ tiêu phân tích Số chênh lệch
giữa kết quả tính được với kết quả tính trước đó là mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được thay đổi số liệu đến đối tượng phân tích Tổng ảnh hưởng của các nhân tố tương đối tương đương với bản thân đối tượng cần phân tích
1.5 Nội dung phân tích
1.5.1 Phân tích tình hình tài sản – nguồn vốn
1.5.1.1 Phân tích quy mô, cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp
Đầu tiên tiến hành so sánh quy mô tổng tài sản, tổng nguồn vốn để thấy được sự biến động của tài sản và nguồn vốn giữa các thời điểm, từ đó biết được tình hình đầu
tư cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Sau đó đánh giá khái quát cơ
Trang 11Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn được xác định như sau:
1.5.1.2 Phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong ngắn hạn, các nhà quản trị sử dụng nhân tố nhu cầu Vốn lưu động ròng (VLĐR) để phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp:
Nhu cầu VLĐR = Hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ ngắn hạn (trừ vay ngắn hạn)
Theo đó, doanh nghiệp xem xét sự đảm bảo tài trợ của nguồn vốn cho tài sản trong ngắn hạn:
- Nhu cầu VLĐR > 0: Nguồn vốn tạm thời không đủ đáp ứng nhu cầu ngắn
hạn
- Nhu cầu VLĐR = 0: Nguồn vốn tạm thời đủ để đáp ứng nhu cầu ngắn hạn
Trang 12- Nhu cầu VLĐR < 0: Nguồn vốn tạm thời dư thừa để đáp ứng nhu cầu ngắn
hạn
Để xem xét cân đối giữa tài sản và nguồn vốn trong dài hạn, các nhà quản trị phân tích nhân tố Vốn lưu động ròng:
VLĐR = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
Bằng việc đánh giá nhân tố này, doanh nghiệp nhận thức được tình hình ổn định tài chính của mình, tránh việc chịu áp lực thanh toán các khoản nợ khi tới hạn Cũng qua việc phân tích cân bằng này cho các nhà đầu tư thấy được cái nhìn khái quát về chiến lược quản lý vốn của doanh nghiệp
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả các chiến lƣợc quản lý vốn trong doanh nghiệp
Nguồn: Phân tích tài chính trong các công ty cổ phần, PGS.TS Nguyễn Phúc Năng
+ VLĐR <0 hay chiến lược quản lý vốn mạo hiểm (1): Chiến lược quản lý vốn
mạo hiểm sử dụng một phần nợ ngắn hạn tài trợ cho TSDH Đây là nguồn vốn để huy động, lãi suất thấp, khả năng sinh lời cao nhưng chính vì thế có nhược điểm mà có nhược điểm rủi ro tài chính cao vì thời gian thu hồi vốn của TSDH lớn hơn thời gian trả nợ ngắn hạn
+ VLĐR >0 hay chiến lược quản lý vốn thận trọng (2): Chiến lược này sử dụng
một phần nợ dài hạn để tài trợ cho TSNH Nó đảm bảo khả năng thanh toán, nguồn vốn ổn định, hạn chế rủi ro cao Tuy nhiên chi phí huy động vốn dài hạn lớn hơn chi phí huy động vốn động ngắn hạn nên khả năng sinh lời sẽ ở mức độ thấp
+ VLĐR =0 hay chiến lược quản lý vốn dung hòa (3): Sử dụng nguồn vốn ngắn
hạn tài trợ cho TSNH Nguồn vốn dài hạn tài trợ cho TSDH (VLĐR = 0) Khả năng thanh toán ngắn hạn = 1 Có ưu điểm tận dụng nguồn vốn trong mọi trường hợp Tuy vậy chiến lược này làm mất cơ hội kinh doanh gia tăng lợi nhuận nếu không huy động được nguồn vốn cần thiết
Trang 1313
1.5.1.3 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tính toán các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về các khoản phải nộp Cùng với số liệu trên bảng cân đối kế toán, số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh được sử dụng để tính toán hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận
- Phân tích doanh thu
Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu bán sản phẩm và dịch vụ từ hoạt động kinh doanh, doanh thu hoạt động tài chính và các khoản doanh thu khác Doanh thu bán sản phẩm và dịch vụ từ hoạt động kinh doanh là tiền bán sản phẩm, hàng hoá sau khi đã trừ các khoản tiền chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại (có chứng từ hợp lệ), thu từ phần nợ giá của nhà nước nếu doanh nghiệp có cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước
Doanh thu hoạt động tài chính là doanh thu từ hoạt động mua bán trái phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh, thu lãi tiền gửi
Doanh thu khác là các khoản thu nhập khác, lãi các khoản thu tiền mặt…
Phân tích chỉ tiêu doanh thu là công tác khái quát sự tăng giảm của doanh thu qua các năm nhằm mục đích đánh giá sự biến động qua các thời kì khác nhau Từ đó tìm ra nguyên nhân, giải pháp và xây dựng kế hoạch kinh doanh trung và dài hạn cho doanh nghiệp
có thể nhận định được sự thay đổi chi phí luôn cần đặt chúng trong mối quan hệ với khối lượng, sản lượng hàng hoá tiêu thụ Kết quả so sánh, nếu biến động chi phí có xu hướng dẫn tới làm tăng mức chi phí bình quân hoặc làm tăng tỷ trọng phí thì cần đặt câu hỏi và phân tích sâu hơn nguyên nhân kinh tế, kỹ thuật liên quan
- Phân tích lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng
dư cho kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lại
Mục đích của phân tích lợi nhuận là: đánh giá số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, kết quả sử dụng các yếu tố sản xuất về tiền vốn, lao động, vật tư
Trang 14Bên cạnh đó so sánh lợi nhuận thực hiện, lợi nhuận kế hoạch và lợi nhuận các kỳ trước, qua đó thấy được mức độ tăng giảm của lợi nhuận từ các hoạt động và đánh giá tổng quát về tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp
Dựa vào báo cáo kết quả họat động kinh doanh để so sánh lợi nhuận thực hiện với lợi nhuận kế hoạch và lợi nhuận các năm trước tăng giảm như thế nào để từ đó đánh giá tổng quát mức hoàn thành và xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai
1.5.1.4 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong những báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kì của doanh nghiệp theo từng hoạt động: kinh doanh, đầu tư và tài chính Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho chủ doanh nghiệp biết luồng tiền của doanh nghiệp sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng ra sao trong kì báo cáo Khi phân tích, các nhà phân tích tiến hành so sánh luồng tiền từ các hoạt động trên giữa kỳ này với kỳ trước, căn cứ vào sự biến động và trị số của chỉ tiêu kết hợp với tình hình cụ thể về từng khoản tiền thu vào và xu hướng biến động mà có kết luận phù hợp
Nếu tỷ trọng dòng tiền thu từ hoạt động kinh doanh cao thể hiện tiền được tạo ra chủ yếu từ hoạt động kinh doanh bằng việc bán hàng và cung cấp dịch vụ là chủ yếu, thu tiền từ khách hàng lớn, giảm các khoản phải thu tránh rủi ro… Đó là dấu hiệu tốt
nó cho thấy khả năng tạo tiền ở doanh nghiệp là cao và đây là nguồn đảm bảo cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Nếu tỷ trọng tiền thu từ hoạt động đầu tư cao chứng tỏ doanh nghiệp đã thu hồi các khoản đầu tư về chứng khoán, thu lãi từ hoạt động đầu tư, nhượng bán tài sản cố định Trong trường hợp này, nếu do thu lãi thì đó là điều bình thường Tuy nhiên, tỷ trọng nguồn thu từ lãi đầu tư thường không cao Nếu thu hồi tiền đầu tư và nhượng bán tài sản cố định thì phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp bị thu hẹp và năng lực sản xuất, kinh doanh sẽ giảm sút
Nếu tiền thu được chủ yếu từ hoạt động tài chính thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc đi vay, điều đó cho thấy trong kỳ doanh nghiệp đã sử dụng vốn từ bên ngoài nhiều hơn
Qua hoạt động phân tích cho thấy: nếu dòng tiền thu vào trong kỳ chủ yếu được tạo ra không phải bởi hoạt động kinh doanh thì đó là điều không bình thường Doanh nghiệp cần tìm hiểu nguyên nhân, kiểm tra lại tình hình hoạt động nhất là hoạt động kinh doanh, điều chỉnh việc sử dụng vốn của mình trong các kì kinh doanh sắp tới
Trang 1515
1.5.2 Phân tích các chỉ tiêu tài chính
Phân tích chỉ số là công cụ đầy sức mạnh trong việc phát hiện sớm các vấn đề nếu nó được sử dụng đầy đủ Một nhận định từ chỉ số sẽ chính xác nếu chúng ta xem xét nó trên tổng thể các chỉ số khác, các khuynh hướng, các vấn đề đang xảy ra tạidoanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung
1.5.2.1 Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán
- Khả năng thanh toán ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn phản ánh mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn Nó là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc bán các loại vật tư hàng hóa và được xác định theo công thức:
Khả năng thanh toán ngắn hạn = = Tổng tài sản ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
Đây là chỉ tiêu phán ảnh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, doanh nghiệp có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phải trả hay không Nếu trị số chỉ tiêu này của doanh nghiệp luôn ≥ 1, doanh nghiệp bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại; trị số này < 1, doanh nghiệp không bảo đảm được khả năng trang trải các khoản nợ doanh nghiệp càng mất dần khả năng thanh toán
- Khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ trong thời gian ngắn, cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản
nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không Khả năng thanh toán nhanh được thể hiện bằng công thức:
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Trang 16- Khả năng thanh toán tức thời
Khả năng thanh toán tức thời cho biết một doanh nghiệp có thể trả được các khoản nợ của mình nhanh đến đâu, vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất Khả năng thanh toán tức thời được thể hiện bằng công thức:
Khả năng thanh toán tức thời =
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp có
đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn không
Do tính chất tiền và tương đương tiền nên khi xác định khả năng thanh toán tức thời, ta phải so sánh với các khoản nợ có thời hạn thanh toán trong vòng 3 tháng Vì thế, khi trị số của chỉ tiêu này ≥ 1, doanh nghiệp mới đảm bảo và thừa khả năng thanh toán tức thời và ngược lại
1.5.2.2 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý hàng tồn kho
- Thời gian luân chuyển hàng tồn kho trung bình
Thời gian luân chuyển
Trang 1717
Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý các khoản phải thu
- Số vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này cho biết trong một năm hay một kỳ khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi các khoản nợ càng nhanh Điều này được đánh giá là tốt vì giảm được vốn bị chiếm dụng Tuy nhiên, nếu
hệ số này quá cao có thể ảnh hưởng không tốt đến quá trình tiêu thụ, làm giảm doanh thu do chính sách tín dụng quá hạn chế
- Thời gian thu nợ trung bình
Thời gian thu nợ trung bình =
360
Vòng quay các khoản phải thu
Thời gian thu nợ trung bình cho biết kể từ khi doanh nghiệp bán chịu đến khi thu được tiền trung bình là bao nhiêu ngày Chỉ số này càng thấp thì chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp là tốt, cho thấy doanh nghiệp kiểm soát tốt các khoản phải thu của mình Nếu thời gian thu nợ trung bình quá dài thì là dấu hiệu không tốt cho doanh nghiệp do làm tăng vốn bị chiếm dụng, tăng chi phí nợ quá hạn và có thể dẫn đến không thu hồi được nợ
Nhóm chỉ tiêu quản lý các khoản phải trả
- Vòng quay các khoản phải trả
Vòng quay các
khoản phải trả =
Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng, quản lý chung
Phải trả người, lương,thưởng, thuế phải trả bán
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp.Từ đó giúp doanh nghiệp đưa ra các quyết định, chính sách thanh toán phù hợp nhằm nâng cao uy tín và hạn chế rủi ro tài chính
- Thời gian trả nợ trung bình
Thời gian trả nợ trung bình =
360
Vòng quay các khoản phải trả
Thời gian trả nợ cho biết thời gian mà doanh nghiệp có thể chiếm dụng vốn của các đối tượng khác Thời gian này dài thì doanh nghiệp có thể chiếm dụng vốn lâu song cũng ảnh hưởng tới uy tín của doanh nghiệp
Trang 18Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tiền và các khoản tương đương tiền
- Thời gian luận chuyển vốn bằng tiền trung bình
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi ra phải mất bao lâu mới thu hồi được Thời gian của vòng quay tiền ngắn tức là doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh, bởi chỉ khi nào dòng tiền thực sự trở lại doanh nghiệp thì kinh doanh mới thực sự đạt hiệu quả Ngược lại, nếu thời gian của vòng quay tiền dài thì doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn chậm, hoạt động kinh doanh chưa thực sự có hiệu quả
Nhóm chỉ tiêu quản lý tài sản chung
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản phản ánh hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản Chỉ tiêu này đo lường sự luân chuyển của toàn bộ tài sản và phản ánh một đồng tài sản công ty sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần, được biểu hiện bằng công thức:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu suất sử dụng tổng tài sản thấp
là do yếu kém trong quản lý tài sản cố định, quản lý tiền mặt, quản lý khoản phải thu, chính sách bán hàng, quản lý vật tư, quản lý sản xuất, quản lý bán hàng
- Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Hiệu suất sử dụng TSDH phản ánh hiệu quả sử dụng TSDH Về mặt ý nghĩa, tỷ
số này cho biết bình quân trong năm một đồng giá trị TSDH của công ty sẽ tạo ra được bao nhiều đồng doanh thu thuần, được biểu hiện bằng công thức:
Hiệu suất sử dụng TSDH càng cao chứng tỏ tài sản cố định được tận dụng tối đa
để phục vụ hoạt động kinh doanh Hiệu suất sử dụng TSDH cao là có cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất Hiệu suất sử dụng TSDH thấp là do nhiều TSDH không hoạt động, chất lượng tài sản kém, hoặc không hoạt động hết công suất
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Doanh thu thuần Tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng
Doanh thu thuần Tổng TSDH
Trang 1919
- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu suất sử dụng TSNH đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp, thể hiện một đồng TSNH sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần, được biểu hiện bằng công thức:
Chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
1.5.2.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ
1.5.2.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là nhóm chỉ tiêu phản ánh một cách tổng quát năng lực kinh doanh, cho phép doanh nghiệp đánh giá được tình trạng tăng trưởng, giúp doanh nghiệp điều chỉnh lại cơ cấu tài chính và hoạch định chiến lược ngăn ngừa rủi ro ở mức độ tốt nhất Khả năng sinh lời là một trong những nội dung phân tích được các
Hệ số nợ trên VCSH = Tổng giá trị nợ
Tổng VCSH
Trang 20nhà quản trị tài chính, các nhà cho vay, các nhà đầu tư quan tâm đặc biệt vì nó gắn liền với lợi ích của họ trong hiện tại và trong tương lai Khả năng sinh lời bao gồm một số chỉ tiêu như sau:
- Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (Return On Sale_ROS)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu, cho biết cứ mỗi 100 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện trong kì có bao nhiêu đồng là lợi nhuận, được thể hiện bằng công thức:
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh
có lãi, hệ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn Nếu hệ số này mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ Thông thường, những doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời trên doanh thu cao là những doanh nghiệp quản lý tốt chi phí trong hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện các chiến lược cạnh tranh về mặt chi phí
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return On Asset_ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp, cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đem đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, được thể hiện bằng công thức:
Nếu hệ số này lớn hơn 0 thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp kinh doanh càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Hệ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity_ ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, được thể hiện bằng công thức:
Tỷ suất sinh lời trên
Lợi nhuận ròng
Doanh thu thuần
Tỷ suất sinh lời trên
Trang 2121
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của doanh nghiệp, điều đó sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp tăng vốn chủ sở hữu phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh Ngược lại chỉ tiêu này nhỏ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn, tuy nhiên sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi
vì có thể là do ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, khi đó mức độ mạo hiểm và rủi ro cao, vì vậy khi phân tích phải tùy thuộc đặc điểm của ngành nghề kinh doanh
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp
1.6.1 Các yếu tố chủ quan
Yếu tố chủ quan là những yếu tố tồn tại bên trong doanh nghiệp, tác động chi phối tới tài chính doanh nghiệp Bao gồm:
Quan điểm của nhà quản lí doanh nghiệp: Bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải
có một xu hướng quản lý tài chính riêng của mình Đây là yếu tố do chính những người chủ của doanh nghiệp quyết định và có vai trò định hướng cho mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó Với những người kì vọng vào việc sẽ tìm kiếm và gia tăng lợi nhuận, họ sẽ quản lý vốn của mình theo chiến lược quản lý vốn mạo hiểm Tuy nhiên có rất nhiều rủi ro trên thị trường mà doanh nghiệp dễ gặp phải, do đó nhiều nhà quản lí lại muốn quản trị nguồn vốn của mình một cách thận trọng Rất khó để có thể đánh giá đâu là chiến lược tốt hơn nhưng đối với mỗi cách thức nhà quản lí sẽ phải có hàng loạt các kế hoạch cụ thể để mang lại hiệu quả tài chính tốt nhất cho doanh nghiệp
và phù hợp với mục tiêu, định hướng ban đầu của doanh nghiệp
Tiềm lực về tài chính: Được thể hiện trên tổng nguồn vốn (bao gồm vốn chủ sở
hữu, vốn huy động) mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh và khả năng quản lí có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh Bên cạnh đó, tiềm lực tài chính cũng được thể hiện qua khả năng trả nợ ngắn hạn, dài hạn và các tỉ lệ về khả năng sinh lời của doanh nghiệp…
Tiềm lực vô hình: Là các yếu tố tạo nên thế lực của doanh nghiệp trên thị
trường Tiềm lực vô hình thể hiện ở khả năng ảnh hưởng đến sự lựa chọn, chấp nhận
và ra quyết định mua hàng của khách hàng Trong mối quan hệ thương mại yếu tố tiềm lực vô hình tạo điều kiện thuận lợi cho công tác mua hàng, tạo nguồn cũng như khả năng cạnh tranh thu hút khách hàng, mở rộng thị trường kinh doanh…Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp có thể là hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường hay mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu, hay khả năng giao tiếp và uy tín của người lãnh đạo trong các mối quan hệ xã hội …
Hệ thống thông tin: Trong bối cảnh nền kinh tế mở hiện nay, cùng với xu thế
toàn cầu hoá thì việc nắm bắt kịp thời, đầy đủ và chính xác những thông tin về nhu cầu
Trang 22thị trường, kỹ thuật công nghệ, về đường lối, chính sách của Nhà nước, các thông tin
về đối thủ cạnh tranh là vô cùng cần thiết Thông tin kịp thời và chính xác sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định kinh doanh ngắn hạn Có như vậy thì doanh nghiệp sẽ nắm bắt thời cơ kinh doanh, hạn chế những rủi ro, chủ động trước mọi tình huống có thể xảy ra
Trình độ về công nghệ - kỹ thuật của doanh nghiệp: Công nghệ là yếu tố cơ
bản đảm bảo cho quá trình kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp một cách vững chắc Các doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật công nghệ cao thường có lợi thế to lớn trong cạnh tranh, mở rộng thị phần và nâng cao năng lực tài chính Cùng với đó, việc nắm bắt những thông tin liên quan đến sự biến đổi đang diễn ra của yếu tố kỹ thuật - công nghệ giúp cho doanh nghiệp có được chiến lược ứng dụng vào hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mình một cách có hiệu quả nhất
Vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng cơ sở: Cho phép doanh nghiệp thu hút sự chú ý của
khách hàng, thuận tiện cho cung cấp thu mua hay thực hiện các hoạt động dự trữ Cơ
sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp thể hiện nguồn tài sản cố định mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh bao gồm văn phòng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất và các thiết bị chuyên dùng … Đây chính là yếu tố thể hiện thế mạnh, quy mô cũng như lợi thế trong kinh doanh của doanh nghiệp
1.6.2 Các yếu tố khách quan
Yếu tố khách quan là những yếu tố từ môi trường bên ngoài thường xuyên tác động đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp Đó là những vấn đề về pháp lý, tình hình chính trị, các vấn đề về kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế: Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh
hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp Yếu tố chủ yếu mà các doanh nghiệp thường quan tâm phân tích là: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh tế, dân số, tỷ lệ thất nghiệp Vì các yếu tố này tương đối rộng và mức độ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp cũng khác nhau nên các doanh nghiệp cũng phải dự kiến, đánh giá được mức độ tác động cũng như xu hướng tác động (xấu, tốt) của từng yếu tố đến doanh nghiệp mình Mỗi yếu tố có thể là cơ hội, có thể là nguy cơ nên doanh nghiệp phải có phương án chủ động đối phó với các tình huống có thể xảy ra
Môi trường chính trị và pháp luật: Hoạt động ở bất kỳ một doanh nghiệp nào
cũng đều chịu ảnh hưởng bởi thể chế chính trị và hệ thống luật pháp Sự ổn định chính trị được xác định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống luật pháp hoàn thiện là một chỗ dựa vững chắc tạo sự an toàn
Trang 2323
cho các doanh nghiệp hoạt động Mọi doanh nghiệp hoạt động đều phải tuân thủ pháp luật, đây là môi trường pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động Đây cũng là yếu tố thường xuyên tác động lên kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời môi trường pháp lý còn là trọng tài khi cần thiết xử lý tranh chấp giữa các doanh nghiệp Môi trường pháp lý quy định hành vi của doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đó, có thể khai thác, tận dụng những thuận lợi, thời cơ của môi trường này để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tránh được những rủi ro đối với doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh: Cạnh tranh là quá trình đấu tranh giữa các doanh nghiệp
khác nhau nhằm đứng vững được trên thị trường và tăng lợi nhuận, trên cơ sở tạo ra và
sử dụng ưu thế của mình về giá trị sử dụng của sản phẩm Đối thủ cạnh tranh trong
ngành gồm các doanh nghiệp hiện có mặt trong ngành và các doanh nghiệp tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai Số lượng các đối thủ, đặc biệt các đối thủ có quy mô lớn trong ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh trong ngành ngày càng gay gắt Sự cạnh tranh một mặt trừng phạt các doanh nghiệp có chi phí cao bằng các hình thức như loại doanh nghiệp đó ra khỏi thị trường hoặc doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận thấp, mặt khác sẽ khuyến khích các doanh nghiệp có chi phí thấp bằng cách doanh nghiệp càng có chi phí thấp càng thu được lợi nhuận cao
Thị trường: Thị trường ở đây bao gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của
doanh nghiệp Thị trường đầu vào cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất kinh doanh như thị trường cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động,… Thị trường đầu vào tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Thị trường đầu ra liên quan trực tiếp đến người tiêu dùng những hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp, nó tác động đến tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tốc độ vòng quay của vốn, doanh thu bán hàng, mức độ chấp nhận và tín nhiệm giá trị sử dụng của sản phẩm,… Như vậy, thị trường đầu ra quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng và hiệu quả kinh doanh Việc tạo lập và mở rộng thị trường đầu ra có ý nghĩa sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Môi trường khu vực và quốc tế: Xu thế hội nhập quốc tế đang là xu thế tất yếu
của mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp Hội nhập quốc tế vừa tạo ra những cơ hội vừa tạo ra những thách thức to lớn cho các chủ thể kinh doanh Nước ta đã chính thức gia nhập WTO đang mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường sang các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, điều mà các doanh nghiệp không thể tránh khỏi là sự cạnh tranh quốc tế sẽ diễn ra hết sức gay gắt
Trang 24Các doanh nghiệp nước ta đang đối mặt với việc phân chia và giảm sút thị phần
do sự thâm nhập thị trường của các tập đoàn lớn đến từ Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Trung Quốc,…Trong khi đó việc mở rộng thị trường ra nước ngoài đối với doanh nghiệp Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn bởi do năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta còn ở mức rất thấp
Trang 2525
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, và có ý nghĩ quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vì thế công tác phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp giữ vai trò rất quan trọng Chương một trên đây là những cơ sở lý thuyết, nội dung phân tích, phương pháp tài chính doanh nghiệp để giúp nhà quản trị đánh giá đầy đủ, phân tích chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ cơ sở đó để ra biện pháp giúp doanh nghiệp củng cố tốt hơn hoạt động tài chính của mình
Trang 26CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CHI NHÁNH
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN CHUẨN VIỆT 2.1 Giới thiệu về CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
2.1.1 Giới thiệu chung về CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
2.1.1.1 Vài nét về công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt:
- Tên đơn vị: Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
- Tên giao dịch quốc tế: VIET VALUES AUDIT AND CONSULTING
COMPANY LIMITED
- Tên công ty viết tắt: VIETVALUES CO., LTD
- Trụ sở chính: 33 Phan Văn Khỏe, Phường 13, Quận 5, Thành phố Hồ Chí
Minh, Việt Nam
- Vốn điều lệ: 5000 đồng (Năm tỷ đồng) (Tính đến ngày 31/12/2013)
- Ngành nghề kinh doanh
+ Hoạt động liên quan đến kế toán, kiểm toán và tư vấn về Thuế + Tư vấn quản lí kinh doanh
+ Tư vấn tài chính - kế toán
2.1.1.2 Thông tin CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
- Tên chi nhánh: Chi nhánh công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
- Địa chỉ chi nhánh: Số 19 ngõ 61 Lạc Trung, Phường Vĩnh Tuy, Quận Hai Bà
Trưng, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
- Mã số chi nhánh: 0303128175-006
- Đại diện pháp luật: Trần Bá Quảng
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư
vấn Chuẩn Việt
Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt được thành lập theo giấy phép Đăng kí kinh doanh số 0303128175 ngày 20/11/2003 của Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh và chính thức là thành viên của hãng kiểm toán quốc tế Reanda International Hiện nay, công ty gồm 1 trụ sở chính tại trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh, 3 chi nhánh và 3 văn phòng đại diện tại các tỉnh thành để đáp ứng tốt hơn nhu cầu mở rộng, tiếp cận và phục vụ khách hàng
Chi nhánh công ty tại Hà Nội được thành lập theo giấy phép kinh doanh số 0303128175-006 do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 17 tháng 6 năm 2010 Theo đó, chi nhánh do ông Trần Bá Quảng làm đại diện pháp luật và được
Trang 272.1.3 Cơ cấu tổ chức của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
2.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tƣ vấn
Phòng kiểm toán Xây dựng
cơ bản
Phòng Tư vấn
Trang 282.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
Giám đốc
Giám đốc chi nhánh công ty được Hội đồng thành viên công ty mẹ bầu ra để thay mặt Hội đồng thành viên điều hành và quản lý mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh theo pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của công ty Giám đốc chỉ đạo và giám sát các phòng ban trong quá trình hoạt động kinh doanh và cung cấp dịch vụ, đề ra các chính sách động viên, khen thưởng, ký luật cũng như các yêu cầu trong tuyển dụng lao động Giám đốc công ty phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên, người lao động và pháp luật về các quyết định của mình
Phó giám đốc
Phó giám đốc chi nhánh công ty là người giúp việc, hỗ trợ cho Giám đốc và tham gia vào việc ra quyết định quản lý và phát triển của công ty Đối với chi nhánh công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn Chuẩn Việt Hà Nội, phó giám đốc trực tiếp chịu trách nhiệm tư vấn pháp luật cho chi nhánh và chỉ đạo trực tiếp về từng hoạt động của các phòng ban nhằm thực hiện các kế hoạch theo chiến lược phát triển của công ty
Phòng hành chính và kế toán
Là một trong những bộ phận quan trọng của chi nhánh công ty, phòng hành chính
và kế toán chia ra 2 mảng công việc: hành chính và kế toán
Nhiệm vụ hành chính: quản lý nhân sự, tính tiền lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên đồng thời điều hành công tác hành chính, quản trị và thư ký của công ty Nhiệm vụ kế toán: theo dõi tập hợp số liệu về kết quả sản xuất kinh doanh bằng nghiệp vụ kế toán tham gia phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của chi nhanh công
ty theo từng kỳ tài chính Đề xuất các giải pháp kinh tế - kỹ thuật phù hợp với chính sách kinh doanh của chi nhánh Theo dõi và đề xuất các biện pháp kế toán trong các nghiệp vụ có liên quan đến hợp đồng mua vật tư, bán sản phẩm của chi nhánh công ty
Phòng kiểm toán báo cáo tài chính
Phòng kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm toán các báo cáo thường niên của các đơn vị khách khàng nhằm các mục đích: Kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lí của báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán, căn cứ báo cáo tài chính để quyết toán thuế hàng năm, tham gia chứng kiến công việc kiểm kê tiền mặt, tài sản cố định, hàng tồn kho của đơn vị tại thời điểm lập báo cáo, kiểm tra chi tiết các khoản mục trên báo cáo tài chính Sau đó thảo luận với khách hàng về nội dung báo cáo tài chính và phát hành chính thức
Trang 2929
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản
Phòng kiểm toán xây dựng cơ bản chịu trách nhiệm về kiểm toán các công trình XDCB hoàn thành và xác định các giá trị doanh nghiệp cho khách hàng
Phòng tư vấn
Phòng tư vấn có nhiệm vụ hướng dẫn bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, tư vấn tài chính, thuế và đầu tư thuế cho các đơn vị khách hàng Cung cấp các thông tin sửa đổi,
bổ sung của luật doanh nghiệp kịp thời, chính xác cho khách hàng
2.2 Phân tích thực trạng tình hình tài chính tại CN công ty TNHH Kiểm toán và
Tƣ vấn Chuẩn Việt
2.2.1 Phân tích tình hình Tài sản - Nguồn vốn
2.2.1.1 Phân tích quy mô và cơ cấu Tài sản - Nguồn vốn
Bảng 2.1 Cơ cấu tài sản của công ty giai đoạn 2012 – 2014
Năm 2014
Chênh lệch 2014/2013
(Nguồn: Số liệu được tính từ báo cáo tài chính)
- Đánh giá khái quát tình hình tài sản
Dữ liệu cho thấy quy mô tài sản của công ty tương đối lớn và có xu hướng tăng trong giai đoạn năm 2012-2014 Trong đó, năm 2013 có tốc độ tăng tài sản là lớn nhất: 22,37% so với năm 2012 tương ứng tăng 479.653.548 đồng và đạt mức 2.623.884.949 đồng Năm 2014 là 3.139.514.331 đồng, tăng 19,65% so với năm 2013, tăng tuyệt đối 515.629.382 đồng Điều này chứng tỏ công ty đang từng bước mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, sự tăng lên này một phần nguyên nhân lớn là do sự tăng lên của hàng tồn kho Do vậy, công ty cần xem xét lại tình hình cũng như kế hoạch kinh doanh của mình để có thể tận dụng tối đa tiềm lực của tài sản mang lại
Trang 30Cơ cấu tài sản qua các năm cho thấy tỷ trọng tài sản ngắn hạn chiếm ưu thế và lớn hơn gấp nhiều lần so với tài sản dài hạn Điều này là hoàn toàn hợp lí do hình thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là công ty thương mại dịch vụ nên nguồn vốn kinh doanh tập trung phần lớn vào tài sản ngắn hạn giúp công ty dễ dàng mở rộng quy
mô, ngành nghề kinh doanh cũng như linh động hơn trong lĩnh vực thanh toán và đầu
tư tài chính Theo thống kê cho thấy cơ cấu tài sản của công ty giai đoạn 2012-2014 có
sự chuyển biến nhẹ theo hướng tăng dần tỷ trọng của tài sản ngắn hạn trong khi tỷ trọng tài sản dài hạn giảm dần
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu tài sản CN công ty TNHH Kiểm toán và Tƣ vấn Chuẩn Việt
Trang 3131
Tỷ trọng TSDH năm 2013 là 4,79%, giảm 3,43% tương ứng với mức tăng 3,43% của tỷ trọng TSNH so với năm 2012 Bởi trong năm 2013, theo phương thức hạch toán mới, toàn bộ tài sản cố định vốn có của công ty không đạt yêu cầu và được chuyển sang tài sản ngắn hạn Sang năm 2014, tỷ trọng TSDH tiếp tục giảm 0,82% còn 3,97% Với đặc thù ngành nghề của Công ty là thương mại dịch vụ với sản phẩm kinh doanh chính là hoạt động kiểm toán, tỷ trọng TSNH lớn hơn tỷ trọng TSDH là một điều hợp
lí Điều này giúp công ty chủ động hơn trong việc luân chuyển vốn cũng như thực hiện các hoạt động thanh toán, đầu tư Tuy nhiên Công ty cần lưu ý rằng để mở rộng hoạt động kinh doanh trong tương lai thì Công ty không chỉ phải tăng TSNH mà còn phải
ổn định tỷ trọng của tài sản dài hạn
- Sự biến động về quy mô và cơ cấu tài sản:
Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn năm 2013 là 2.498.124.945 đồng, tăng
530.056.422 đồng tương ứng tăng 26,93% so với năm 2012 là 1.968.068.523 đồng Khoản mục này tiếp tục tăng 20,69%, tức 516.763.311 đồng và đạt 3.014.888.256 đồng vào năm 2014 Sở dĩ có sự thay đổi và biến động như vậy là do ảnh hưởng của các nguyên nhân sau:
Tiền và các khoản tương đương tiền: tiền và các khoản tương đương tiền của
công ty bao gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng Trong giai đoạn 2012-2014, khoản mục này giảm dần qua các năm Năm 2013 giảm 1,06% so với năm 2012 tương ứng 11.743.134 đồng và năm 2014 tiếp tục giảm 229.440.372 đồng tức 20,91% so với năm
2013, còn 867.834.293 đồng Nguyên nhân là do công ty đã tiến hành thanh toán các khoản nợ của các năm trước đến hạn và các khoản chi phí phục vụ cho hoạt động cung ứng dịch vụ Cùng với đó, việc giữ nhiều tiền làm giảm khả năng sinh lời của vốn, vì vậy, một phần tiền được công ty sử dụng để đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao hệ thống trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh
Các khoản phải thu ngắn hạn: Năm 2013, giảm tuyệt đối 1.802.177 đồng, giảm
tương đối 0,22% so với năm 2012 Sự chuyển biến nhẹ này đến từ việc công ty đã giảm hoàn toàn được các khoản phải thu khác trong năm 2013, bên cạnh đó, khoản phải thu khách hàng chỉ tăng nhẹ so với năm 2012 Năm 2014, khoản mục này tăng 35,63% so với năm 2013, ứng với 286.863.152 đồng Nguyên nhân hoàn toàn là do sự tăng lên của khoản phải thu khách hàng Điều này cho thấy công ty vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thu hồi vốn, giảm thiểu vốn bị chiếm dụng và có thể mang lại rủi ro cho công ty khi không thu được tiền hàng Trong dài hạn sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, làm thiếu vốn lưu động phục vụ cho nhu cầu kinh doanh và cung cấp dịch vụ của công ty Đây được xem là một trong những điểm chưa tốt về việc quản lí và sử dụng tài sản ngắn hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán ngắn hạn cũng như khả năng thanh
Trang 32toán nhanh của công ty Vì vậy, đòi hỏi công ty phải tích cực hơn nữa trong công tác thu hồi các khoản nợ để cân bằng các nguồn lực tài chính, nâng cao tổng số vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh và giảm tối đa số vốn bị chiếm dụng Để làm rõ hơn nguyên nhân biến động của các khoản phải thu ta tiến hành đi sâu phân tích các khoản mục thành phần sau:
+ Phải thu khách hàng: Năm 2013 đạt 805.166.688 đồng, tăng thêm 0,22%
tương đương 1.374.123 đồng so với năm 2012 và tiếp tục tăng 35,63% ứng với 286.863.152 đồng vào năm 2014 Sở dĩ khoản phải thu khách hàng tăng
là do song song với việc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh công ty áp dụng chính sách nới lỏng tín dụng cho khách hàng mới nhằm thu hút thêm khách hàng và tăng doanh thu của công ty Tuy nhiên, chính sách này có thể
là con dao hai lưỡi nên công ty cũng cần phải tìm hiểu rõ về năng lực và khả năng thanh toán của khách hàng trước khi áp dụng chính sách bán hàng trên với từng khách hàng
+ Các khoản phải thu khác: Năm 2013 giảm 100% so với năm 2012 là
3.176.300 đồng do các khoản cho vay, cho mượn tài chính của năm 2012 đã được thanh toán Cùng với đó, giá trị tài sản thiếu của công ty đã được phát hiện, xác định nguyên nhân và xử lí Khoản mục này không có phát sinh thêm trong năm 2014
Trang 33I Tiền và các khoản tương đương tiền 1.109.017.799 1.097.274.665 (11.743.134) (1,06) 867.834.293 (229.440.372) (20,91)
Trang 34Hàng tồn kho: Năm 2013 là 113.156.499 đồng, tăng 66.758.408 đồng so với
năm 2012, tăng tương đối 143,88% Nguyên nhân là do theo phương thức hạch toán mới, một phần tài sản cố định của công ty có giá trị nhỏ hơn 30.000.000 đồng được chuyển sang khoản mục công cụ, dụng cụ trong hàng tồn kho Bên cạnh đó, do đặc thù ngành, tính đến thời điểm 31/12/2013, công tác kiểm toán của công ty và khách hàng còn nhiều điểm chưa đồng nhất, dẫn đến số lượng chi phí sản xuất kinh doanh dở dang lớn Công ty cũng tiến hành thu mua văn phòng phẩm phục vụ cho công tác phát hành báo cáo tài chính cho khách hàng vào đầu năm tiếp theo khiến cho giá trị nguyên liệu vật liệu trên khoản mục này cũng tăng đáng kể Có cùng nguyên nhân này, khoản mục hàng tồn kho năm 2014 tiếp tục tăng 96,21% so với năm 2013 tương đương tăng 108.867.644 đồng và đạt mức 222.024.143 đồng Tuy nhiên, với mức độ tăng còn quá cao và tỷ trọng trong TSNH lớn cho thấy hàng hóa sản xuất bị ứ đọng nhiều và trong thời gian dài Hàng tồn kho tăng là dấu hiệu công tác quản lý của công ty còn nhiều yếu kém, vốn sử dụng chưa hiệu quả điều này trực tiếp làm giảm dòng tiền do vốn kém hoạt động, giảm vòng quay vốn lưu động, làm tăng tỷ lệ vốn không sinh lời Đây
là biểu hiện không tốt cần được ban lãnh đạo công ty xem xét khắc phục, có biện pháp cân bằng chi phí và rủi ro trong việc dự trữ hàng hóa tồn kho để giảm chi phí hoạt động, chi phí sản xuất cho việc quản lí mà vẫn đảm bảo hoạt động ổn định của công ty
Tài sản ngắn hạn khác: Năm 2013, tài sản ngắn hạn khác là 482.527.113 đồng,
tăng lên 476.843.325 đồng so với năm 2012 là 5.683.788 đồng, tương đương với tỷ lệ tăng đột biến 8.389,53% Tài sản ngắn hạn khác của công ty bao gồm các khoản tạm ứng của ban lãnh đạo và nhân viên công ty Nguyên nhân cho sự tăng đột biến này là
do năm 2013 công ty có mở rộng thị trường kinh doanh, tiến sâu vào thị trường phía Nam Phần lớn con số này là chi phí tạm ứng và công tác phí phục vụ cho quá trình thực hiện hợp đồng với công trình dự án quốc lộ 1 đoạn tránh TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai - một hợp đồng có giá trị lớn và tốn kém thời gian để hoàn thành Trong năm
2014, dự án vẫn chưa hoàn thành, cùng với việc công ty nhận thêm hợp đồng kiểm toán xây dựng cơ bản dự án cầu Trà Ôn, Vĩnh Long đã làm khoản mục này tiếp tục tăng 72,63% so với năm 2013 tương ứng tăng 350.472.887 đồng, đạt mức 833.000.000 đồng
Tài sản dài hạn: Năm 2013, tài sản dài hạn của công ty giảm tuyệt đối
50.402.874 đồng ứng với 28,61% từ 176.162.878 đồng năm 2012 xuống còn 125.7604 đồng năm 2013 Năm 2014, khoản mục này tiếp tục giảm 0,9% tương ứng 1.133.929 đồng xuống còn 124.626.075 đồng Nguyên nhân là do sự biến động của các khoản mục sau:
Trang 3535
Tài sản cố định: Theo thông tư 45/2013/TT-BTC, tài sản cố định phải có nguyên
giá xác định từ 30.000.000 đồng trở lên thay vì 10.000.000 đồng như theo quy định cũ Chính vì vậy, năm 2013, toàn bộ tài sản cố định hiện có của công ty không đáp ứng đủ yêu cầu và được chuyển sang hạch toán vào các khoản mục công cụ, dụng cụ Điều này làm cho tài sản cố định của công ty giảm 100% tức 89.974.547 đồng vào năm
2013 Với quy mô kinh doanh hiện tại, công ty cũng chưa có động thái nào để đầu tư thêm cho khoản mục này
Tài sản dài hạn khác: Tổng tài sản dài hạn khác của công ty năm 2013 là
125.760.004 đồng tăng 45,91% so với năm 2012 tương ứng với 39.571.673 đồng Phần tăng này là do công ty trả trước tiền thuê văn phòng và chi phí phát sinh khi công
ty chuyển địa điểm kinh doanh từ căn hộ 01, dãy C Lạc Trung về số 19, ngõ 61, Lạc Trung, Vĩnh Tuy, Hai Bà Trưng, Hà Nội Năm 2014, chi phí này được phân bổ một phần vào chi phí sản xuất kinh doanh, vì vậy, tổng tài sản dài hạn khác giảm 0,9% so với năm 2013, còn 124.626.075 đồng
- Phân tích quy mô nguồn vốn
Cùng với việc phân tích tình hình sử dụng tài sản thì việc tìm hiểu về nguồn vốn cũng không kém phần quan trọng Điều này giúp cho nhà đầu tư, ban lãnh đạo công ty cũng như các đối tượng quan tâm thấy được khả năng tài trợ về mặt tài chính, mức độ
tự chủ, chủ động trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trên cơ sở đó đánh giá những khó khăn, rủi ro doanh nghiệp có thể gặp phải và có những biện pháp điều chỉnh kịp thời
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn vốn của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tƣ vấn
Chuẩn Việt giai đoạn 2012-2014
Trang 36Theo thống kê ta thấy quy mô nguồn vốn của công ty tăng dần qua các năm, cụ thể tổng nguồn vốn năm 2013 là 2.623.884.949 đồng, tăng 479.653.548 đồng so với năm 2012 là 2.144.231.401 đồng, tương đương tăng 22,37% Năm 2014, tổng nguồn vốn tiếp tục tăng 19,65% đạt mức 3.139.514.331 đồng Tuy rằng nguồn vốn tăng nhưng được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn nợ nên công ty có khả năng gặp phải những rủi ro tài chính cũng như phải đối mặt với nguy cơ phá sản cao Công ty cần có những kế hoạch để thay đổi cơ cấu nguồn vốn và tự chủ hơn về tài chính của mình
Trong giai đoạn 2012–2014, tỷ trọng VCSH của doanh nghiệp có xu hướng tăng nhưng luôn ở mức âm Nguyên nhân là do công ty hiện tại là chi nhánh hạch toán độc lập của Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt với vốn điều lệ trên giấy phép đăng kí kinh doanh và không có sự tham gia góp vốn của bất cứ thành viên nào trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh nên nguồn vốn chủ sở hữu công ty cấu thành hoàn toàn từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối Bên cạnh đó, khi bắt đầu đi vào hoạt động năm 2010, công ty làm ăn thua lỗ với mức lỗ là âm 315.111.508 đồng và số tiền này được phép kết chuyển trong 5 năm hoạt động tiếp theo, điều này lí giải cho việc lợi nhuận sau thuế của công ty liên tục âm trong giai đoạn 2012-2014 Vì vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoàn toàn được tài trợ bằng nguồn vốn nợ Điều này cho thấy hạn chế của công ty trong việc chi trả, thanh toán các khoản nợ cũng như khả năng tự chủ tài chính thấp Đồng thời, đây cũng là yếu điểm khi công ty muốn thu hút đầu tư từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như huy động vốn ngân hàng khi cần thiết
Tỷ trọng nợ
Tỷ trọng nợ cho biết 1 đồng vốn kinh doanh thì có bao nhiêu đồng là nợ Chỉ tiêu này dùng để xác định khả năng đảm bảo trả nợ của doanh nghiệp Tỉ số này càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo trả trong trường hợp doanh nghiệp phá sản Và ngược lại nếu tỷ lệ này cao thì doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Trong cơ cấu nguồn vốn của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt có thể thấy tỷ trọng nợ trong giai đoạn 2012-2014 tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn luôn chiếm trên 100% tổng nguồn vốn
Năm 2013, tỷ trọng nợ là 109,46% so với năm 2012 111,92% thì đã giảm 2,46% Sang đến năm 2014 thì tỉ trọng nợ tiếp tục giảm xuống còn 107,56%, giảm 1,9% so với năm 2013 Từ hệ số nợ trên cho thấy để có 100 đồng vốn đầu tư cho tài sản công
ty cần huy động 109,46 đồng từ nguồn nợ vào năm 2013 và 107,56 đồng vào năm
2014 Nguyên nhân có sự giảm do tốc độ tăng của tổng nguồn vốn nhanh hơn so với tốc tăng của nợ phải trả khiến tỷ trọng nợ giảm trong năm 2013 và 2014 Tỷ trọng nợ trên tổng nguồn vốn giảm đi tức là gánh nặng trả nợ của công ty ngày càng nhỏ, điều
Trang 3737
này chứng tỏ sự cố gắng của ban lãnh đạo trong việc tự chủ trong tài chính của công
ty Tuy nhiên, tỷ lệ nợ vẫn cao hơn tổng nguồn vốn cho thấy doanh nghiệp vẫn nằm trong vùng nguy hiểm khi còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn nợ, ban lãnh đạo cần có phương án phát triển hoạt động kinh doanh của mình để khắc phục điều này
Tỷ trọng VCSH
Tỉ trọng này cho biết mức độ tự chủ của doanh nghiệp về vốn Đây là chỉ tiêu quan trọng giúp đánh giá khả năng tự tài trợ vốn của Công ty Tỉ trọng VCSH càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có nên tính chủ động về vốn càng cao và ngược lại Tuy nhiên trong thực tế, tỉ trọng VCSH không phải bao giờ cũng là thước
đo hiệu quả để đánh giá cơ cấu nguồn vốn hiệu quả trong doanh nghiệp
Dựa vào biểu đồ có thể thấy tỷ trọng VCSH có xu hướng tăng trong giai đoạn 2012-2014 song vẫn ở dưới mức 0 Tỷ trọng vốn chủ sở hữu năm 2013 là âm 9,46% , tăng 2,46% so với năm 2012 là âm 11,92% và tiếp tục tăng 1,9% vào năm 2014 Ta thấy cứ 100 đồng nguồn vốn thì trong năm 2014 có âm 7,56 đồng là từ nguồn vốn chủ
sở hữu Con số này lần lượt là âm 9,46 đồng và âm 11,92 đồng vào năm 2013 và 2012
Sở dĩ có sự tăng này là do lợi nhuận chưa phân phối liên tục tăng trong giai đoạn
2013-2014 Tuy nhiên, dù khả năng quản lý tài chính của công ty có phần cải thiện song vẫn chưa có bước đột phá trong hoạt động kinh doanh nên chưa thể bù lỗ của năm đầu hoạt động, dẫn đến con số này vẫn ở mức âm Điều này chứng tỏ khả năng tự chủ tài chính của công ty vẫn còn nhiều hạn chế Tuy công ty tranh thủ được nguồn vốn chiếm dụng của các tổ chức tài chính khác để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình nhưng điều này lại mang đến nhiều rủi ro trong việc thanh toán các khoản nợ khi đến hạn Bên cạnh đó, VCSH âm, khả năng tự tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của công ty kém hơn phần nào làm giảm sức cạnh tranh của công ty so với các doanh nghiệp cùng ngành trên thị trường Do đó, để đảm bảo cân bằng tài chính cũng như tăng sức cạnh tranh của công ty, trong thời gian tới công ty cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm gia tăng VCSH cũng như nâng cao năng lực tài chính của công ty
Trang 38Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của CN công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt giai đoạn 2012 2014 (ĐVT: đồng)
Chênh lệch 2013/2012
Năm 2014
Chênh lệch 2014/2013 Tuyệt đối Tương đối
(% )
Tuyệt đối Tương đối
(%) A- NỢ PHẢI TRẢ 2.399.811.537 2.872.061.254 472.249.717 19 ,68 3.377.016.751 504.955.497 17,58
I Nợ ngắn hạn 2.399.811.537 2.872.061.254 1.472.249.717 61 ,35 3.377.016.751 504.955.497 17,58
2.Phải trả người bán 250.730.069 42.485.101 (208.244.968) (83 ,06) 133.339.499 90.854.398 213 ,85 3.Người mua trả tiền trước 680.718.689 1.322.393.130 641.674.441 94 ,26 1.744.301.181 421.908.051 31 ,90 4.Thuế và các khoản phải nộp
Nhà nước 379.493.686 626.559.946 247.066.260 65 ,10 585.958.056 (40.601.890) (6 ,48) 5.Phải trả người lao động 275.240.522 174.348.979 (100.891.543) (36 ,66) 209.545.705 35.196.726 20 ,19 6.Chi phí phải trả 22.9570 0 (22.9570) (100) 0 0 _ 9.Các khoản phải trả phải nộp
ngắn hạn khác 790.671.571 672.334.596 (118.336.975) (14 ,97) 630.028.500 (42.306.096) (6 ,29) 10.Dự phòng phải trả ngắn hạn 0 33.939.502 33.939.502 _ 73.843.810 39.904.308 117 ,57
B-VỐN CHỦ SỞ HỮU (255.580.136) (248.176.305) 7.403.831 2 ,90 (237.502.420) 10.673.885 4 ,30 I.Vốn chủ sở hữu (255.580.136) (248.176.305) 7.403.831 2 ,90 (237.502.420) 10.673.885 4 ,30
10 Lợi nhuận sau thuế chưa
phân phối (255.580.136) (248.176.305) 7.403.831 2 ,90 (237.502.420) 10.673.885 4 ,30
TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN 2.144.231.401 2.623.884.949 479.653.548 22 ,37 3.139.514.331 515.629.382 19 ,65
(Nguồn: Số liệu được tính từ báo cáo tài chính)