1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179

61 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông số khả năng thanh toán còn được gọi là thông số hoán chuyển tiền mặt vì nó đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng các tài sản chuyển hóa thành các tài khoản thành ti

Trang 1

1

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA

DOANH NGHIỆP 1.1 Doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp

Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp

Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2010, điều 4 khoản 1 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Các hình thức phân loại doanh nghiệp:

- Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu, bộ môn Kinh tế vi mô chia các tổ chức doanh nghiệp ra làm 3 loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu:

+ Doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship)

+ Doanh nghiệp hợp danh (Partnership)

+ Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation)

Thông thường doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng số các doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn lại chiếm tỷ trọng lớn nhất về doanh thu, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như sản xuất hàng hóa, tài chính,…

- Phân loại theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp, theo Luật Doanh nghiệp

2010, các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

+ Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

Trang 2

+ Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn

+ Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân

+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định

- Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các doanh nghiệp thành có chế

độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn:

+ Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là loại hình doanh nghiệp mà ở

đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh Thực chất chế độ trách nhiệm vô hạn của loại doanh nghiệp này là chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và của thành viên hợp danh công ty hợp danh Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh sẽ chịu trách nhiệm đến cùng về mọi nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp mà không giới hạn ở phần tài sản chủ doanh nghiệp, các thành viên hợp danh đã bỏ vào đầu tư kinh doanh tại doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh Điều này có nghĩa là nếu tài sản của doanh nghiệp tư nhân và công

ty hợp danh không đủ để thực hện các nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp khi các doanh nghiệp này phải áp dụng thủ tục thanh lý trong thủ tục phá sản, chủ sở hữu doanh nghiệp và các thành viên hợp danh phải sử dụng cả tài sản riêng không đầu tư vào doanh nghiệp để thanh toán cho các khoản nợ của doanh nghiệp

+ Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn

cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa

vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Điều đó

có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại doanh nghiệp trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư - thành viên/chủ sở hữu công ty

Trang 3

3

1.1.2 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp

Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bao gồm:

- Hoạt động vốn:

+ Vay vốn ngân hàng, phát hành trái phiếu

+ Phát hành cổ phiếu, mua lại cổ phần

+ Chi trả nợ, cổ tức

- Hoạt động đầu tư:

+ Đầu tư TSCĐ (đất đai, nhà xưởng, thiết bị, máy móc, bằng phát minh, sáng chế) + Góp vốn, liên doanh

+ Đầu tư tài chính (mua cổ phiếu, trái phiếu)

- Hoạt động sản xuất kinh doanh:

+ Mua hàng hóa, nguyên vật liệu, thuê mướn lao động

+ Tổ chức sản xuất

+ Bán hàng, tiêu thụ sản phẩm

+ Quản lý chung (đào tạo, nghiên cứu, phát triển, quảng cáo, tiếp thị)

Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chỉ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có những bước phát triển đột biến, góp phần không nhỏ vào việc phục hồi

và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân…Để đạt được mức doanh lợi như mong muốn, doanh nghiệp phải có những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanh doanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động Có thể kể đến một số yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của công nghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹ thuật mới dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của Nhà nước Sự thắt chặt hay nới lỏng hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằng luật và các văn bản quy phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính

Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năng xảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúng đắn Doanh nghiệp, với sức ép của thị trường cạnh tranh, phải chuyển dần từ chiến lược trọng cung

cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiện đại Những đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, giá

cả hàng hoá, về chất lượng dịch vụ ngày càng cao hơn, tinh tế hơn của khách hàng

Trang 4

buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi chính sách sản phẩm, đảm bảo sản xuất – kinh doanh có hiệu quả và chất lượng cao

Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm của vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được sự thay đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó Trong môi trường đó, quan hệ tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú và đa dạng

Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước:

Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:

Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thế vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay,trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ

Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào các ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:

Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoản mãn nhu cầu thị trường

- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp:

Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như : chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí,…

Trang 5

5

1.2 Khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Khả năng thanh toán (solvency) của doanh nghiệp bao gồm tất cả các tài sản mà doanh nghiệp có khả năng thanh toán theo giá trị thực tại thời điểm nghiên cứu Thông

số khả năng thanh toán còn được gọi là thông số hoán chuyển tiền mặt vì nó đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng các tài sản chuyển hóa thành các tài khoản thành tiền để đối phó với các nghĩa vụ tài chính trong khoảng thời gian ngắn, quy thành một chu kỳ kinh doanh thường nhỏ hơn hoặc bằng một năm, ý nghĩa chung của thông số này là biểu hiện khả năng của một doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến bằng cách chỉ ra các quy mô phạm vi tài sản có thể dùng để trang trải các yêu cầu của chủ nợ với thời gian phù hợp

Theo Investopedia, bộ từ điển khái niệm về thuật ngữ tài chính, định nghĩa khả năng thanh toán “là khả năng đáp ứng các chỉ tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển” [8]

Từ điển quản lý tài chính ngân hàng cũng đưa ra định nghĩa “khả năng thanh toán là khả năng của một tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền” [9, tr.240]

Quản lý các khoản cần phải thanh toán của doanh nghiệp là bao gồm quản lý các khoản khách hàng cần phải thanh toán cho doanh nghiệp và các khoản doanh nghiệp còn nợ khách hàng Hay có thể nói để phân tích rõ nét tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta có thể nghiên cứu chi tiết các khoản phải thu, công nợ phải trả sẽ tác động đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào Khi hoạt động tài chính của doanh nghiệp tốt thì tình hình chiếm dụng vốn của nhau thấp, khả năng thanh toán dồi dào Khi hoạt động tài chính kém dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của nhau nhiều, các khoản phải thu, nợ phải trả sẽ dây dưa kéo dài Khi đó cần xác định số vốn chiếm dụng và bị chiếm dụng là bao nhiêu để thấy được khả năng thanh toán thực sự của doanh nghiệp Trong đó:

- Số vốn chiếm dụng là các khoản phải trả - là một khoản mục kế toán thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp phải trả toàn bộ số nợ của mình cho các chủ nợ Đây là các khoản nợ được phát sinh trong suốt quá trình hoạt động sản cuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ trong thời hạn nhất định và đây được coi là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng từ bên ngoài.Các khoản phải trả bao gồm các khoản phải trả cho người bán, phải trả cho các đối tượng khác quá thời hạn chưa trả

- Số vốn bị chiếm dụng là các khoản phải thu - là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc cá nhân khác (có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp) chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi Cụ thể hơn, các khoản phải thu

là một loại tài sản của doanh nghiệp dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa

Trang 6

thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp Các khoản phải thu được ghi nhận như là tài sản của doanh nghiệp

vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai Các khoản phải thu được kế toán ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản phải thu của người mua, các khoản nợ mà doanh nghiệp chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán

1.2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao khả năng thanh toán trong doanh nghiệp

Năng lực thanh toán có thể nói là 1 thước đo để đánh giá sự sống còn của một doanh nghiệp, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán bằng tiền mặt tốt luôn là một doanh nghiệp có khả năng phát triển tốt Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một nội dung cơ bản của hoạt động tài chính, nhằm cung cấp thông tin cho các cấp quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp Các quyết định cho doanh nghiệp vay bao nhiêu tiền, thời hạn bao nhiêu, có nên bán hàng chịu cho doanh nghiệp hay không… Tất cả các thông tin đó đều dựa vào thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khả năng thanh toán của doanh nghiệp vừa phải sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các khoản công nợ, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí Khả năng thanh toán của doanh nghiệp quá cao có thể dẫn tới lượng tiền mặt, hàng dự trữ quá nhiều, khi đó hiệu quả sử dụng vốn thấp Khả năng thanh toán quá thấp kéo dài có thể dẫn tới doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản.Tại các nước trên thế giới theo cơ chế thị trường căn cứ vào luật phá sản, một doanh nghiệp không có đủ khả năng trả nợ có thể bị buộc phá sản, một doanh nghiệp thiếu khả năng thanh khoản (khả năng thanh toán bằng tiền mặt) cũng có thể bị tuyên bố phá sản ngay cả khi nó có đủ khả năng để trả nợ Luật doanh nghiệp Việt Nam cũng quy định tương tự như vậy Do

đó các doanh nghiệp luôn luôn quan tâm đến các khoản nợ đến hạn trả và chuẩn bị nguồn để thanh toán Tuy nhiên cần dự trữ tiền mặt ở mức nào để vừa đảm bảo việc thanh toán các khoản nợ đúng hạn, vừa tránh lãng phí cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu

Phân tích tình hình, khả năng thanh toán là đánh giá tính hợp lý về sự biến động các khoản phải thu và phải trả giúp ta có những nhận định chính xác hơn về thực trạng tài chính của doanh nghiệp Từ đó tìm ra những nguyên nhân của mọi sự ngừng trệ trong các khoản thanh toán hoặc có thể khai thác được khả năng tiềm tàng giúp doanh nghiệp làm chủ tình hình tài chính, nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Qua việc phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp các nhà quản lý có thể đánh giá chính xác tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng

về vốn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó đưa ra những quyết định quan trọng trong việc nâng cao khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bên cạnh đó đối với các nhà đầu

Trang 7

7

tư, thông qua việc phân tích năng lực thanh toán có thể rút ra được những nhận xét về mức độ làm ăn có hiệu quả của doanh nghiệp để đưa ra quyết định có nên đầu tư tiếp vào doanh nghiệp hay không Đối với chủ nợ, khả năng thanh toán lại là cơ sở để họ đánh giá về tình hình tài chính cũng như năng lực kinh doanh của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả thì tình hình tài chính phải lành mạnh, cơ cấu nguồn vốn phải hợp lý, từ đó chủ nợ sẽ quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn thêm hay không

Nâng cao năng lực thanh toán của công ty chính là nghiên cứu cơ cấu giữa các loại tài sản hợp lý sao cho vừa đảm bảo khả năng chi trả, vừa nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.Nâng cao khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các khoản công nợ, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí Vì khi khả năng thanh toán của doanh nghiệp quá cao có thể dẫn tới tiền mặt, hàng dự trữ quá nhiều, khi đó hiệu quả

sử dụng vốn thấp Ngược lại khả năng thanh toán quá thấp có thể dẫn tới mất khả năng chi trả, doanh nghiệp có thể đứng bên bờ vực của sự phá sản

Hoạt động tài chính mà cụ thể ở đây là tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Ngược lại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp cao hay thấp đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, cần phải thường xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra, nâng cao tình hình tài chính của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.2.3.1 Phân tích khái quát khả năng thanh toán

Để đánh giá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta thường xem xét mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán Khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán là tổng hợp các chỉ tiêu tài chính phản ánh tại một thời điểm phân tích

Khi phân tích khả năng thanh toán khái quát của doanh nghiệp ta thường xác định hệ số khả năng thanh toán chung Hk

Hk = Tổng tài sản / Tổng nợ

Chỉ tiêu này có thể dựa vào các thông tin của bảng cân đối kế toán để tính cho một thời điểm hoặc có thể dựa vào số dư của các tài khoản trên hệ thống sổ kế toán chi tiết, tổng hợp để tính cho một thời kỳ

Khả năng thanh toán có thể lấy từ chỉ tiêu tổng cộng tài sản bao gồm tất cả các tài sản (Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) mà doanh nghiệp có khả năng thanh toán

Trang 8

theo giá trị thực tại thời điểm nghiên cứu Nhu cầu thanh toán có thể lấy từ chỉ tiêu nợ phải trả trên bảng cân đối cũng bao gồm các khoản công nợ ngắn hạn, dài hạn được sắp xếp theo thứ tự thời gian thanh toán: Chưa đến hạn, đến hạn, quá hạn bao nhiêu ngày hoặc sắp xếp theo đối tượng phải trả

Khi Hk ≥ 1: Có nghĩa là tổng tài sản lớn hơn tổng nợ, chứng tỏ doanh nghiệp có

đủ và thừa khả năng thanh toán, khi đó tình hình của doanh nghiệp khả quan, tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh

Khi Hk < 1: Có nghĩa là tổng tài sản nhở hơn tổng nợ, chứng tỏ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, chỉ tiêu này càng nhỏ có thể dẫn đến doanh nghiệp sắp

bị giải thể hoặc phá sản

1.2.3.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán trong ngắn hạn

- Vốn lưu động ròng: Vốn lưu động ròng hay vốn lưu động thường xuyên của

doanh nghiệp là phần chênh lệch giữa tài sản lưu động và tổng các khoản nợ lưu động (nợ ngắn hạn) hoặc phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên ổn định với tài sản cố định ròng

Vốn lưu động ròng = Tổng tài sản lưu động – Tổng nợ ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản lưu động được tài trợ từ nguồn vốn cơ bản, lâu dài mà không đòi hỏi phải chi trả trong thời gian ngắn Vốn lưu động dòng càng lớn phản ánh khả năng chi trả đối với nợ ngắn hạn càng cao khi đến hạn trả, nhưng khi

nó đạt giá trị quá cao cũng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn thấp “Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng” Do vậy sự tăng trưởng của vốn lưu động ròng cũng thể hiện sự phát triển của khá nhiều doanh nghiệp

Vốn lưu động ròng ≥ 0: Có nghĩa là tài sản lưu động của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc từ nguồn vốn cơ bản, doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

Vốn lưu động ròng < 0: Có nghĩa là tài sản lưu động không đủ để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn

- Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn (Khả năng thanh toán hiện hành)

Khả năng thanh toán ngắn hạn (Current Ratio) thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản ngăn hạn và nợ ngắn hạn, cho viết khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho… Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Khả năng thanh toán ngắn hạn được tính như sau:

Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tổng tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

Trang 9

9

Trong đó: Tổng tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan

hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương

Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể sử dụng

để thanh toán Nếu tỷ số này lớn hơn 1 tức là giá trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, hay nói cách khác tài sản lưu động của doanh nghiệp đủ đảm bảo cho việc thanh thoán các khoản nợ ngắn hạn, tức là khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt Và ngược lại, nếu khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp nhỏ hơn 1 nghĩa là doanh nghiệp không đủ tài sản có thể sử dụng ngay để thanh toán

nợ ngắn hạn sắp đáo hạn, tình hình tài chính của doanh nghiệp có biểu hiện tiêu cực Tuy nhiên nếu hệ số thanh toán ngắn hạn quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu

tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhu cầu, có nghĩa là việc đầu thu như vậy sẽ kém hiệu quả Do đó doanh nghiệp cần cân nhắc phân bổ sao cho hợp lý

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh (Quick Ratio)

Khả năng thanh toán nhanh (Quick Ratio) là khả năng của doanh nghiệp dùng tiền hoặc những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn, còn được gọi là “tài sản có tính thanh khoản cao” bao gồm tất cả tài sản lưu động ngoại trừ hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp được tính theo công thức:

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cho biết liệu doanh nghiệp có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không, việc loại bỏ hàng tồn kho trong khi tính toán hệ số khả năng thánh toán nhanh là do hàng tồn kho phải mất nhiều thời gian để chuyển chúng thành tiền mặt hơn các khoản mục khác trong tổng tài sản ngắn hạn Ngoài ra hệ số này cũng cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiền

để thanh toán cho 1 đồng nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao hay thấp, tình hình tài chính của doanh nghiệp được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào quy mô lượng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và nợ ngắn hạn

Hệ số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành, một doanh nghiệp có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ gặp khó khăn trong công tác hoàn trả

Trang 10

các khoản nợ ngắn hạn Ngoài ra nếu hệ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hành có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho

- Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời hay còn gọi là khả năng thanh toán bằng tiền mặt thể hiện mức độ đáp ứng của tiền và các khoản tương đương tiền để thanh toán nợ đến hạn

Khả năng thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền

Tổng giá trị nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán tức thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đang giữ thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền có thể sử dụng để thanh toán Hệ số này thương giao động từ 0,5 đến 1 Thông thường nếu lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp khá tốt và ngược lại, nếu nhỏ hơn 0,5 thì công ty đang gặp khó khăn trong công tác thanh toán nợ

1.2.3.3 Các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán trong dài hạn

- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo của

công ty đối với nợ vay dài hạn Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được tính bằng tỉ số

giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên lãi vay:

Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)

Chi phí lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn Nếu hệ số này lớn hơn 1 tức là doanh nghiệp có khả năng thanh toán lãi vay, hoạt động kinh doanh có lãi, sử dụng vốn vay có hiệu quả Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì có hai khả năng, một là doanh nghiệp vay

nợ quá nhiều và sử dụng nợ vay kém hiệu quả khiến cho lợi nhuận kiếm được không

đủ để chi trả cho khoản vay Hai là, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp quá thấp khiến cho lợi nhuận kiếm được thấp không đủ để bù đắp chi phí lãi vay

- Hệ số thanh toán nợ dài hạn cho biết khả năng thanh toán nợ dài hạn đối với

toàn bộ giá trị thuần của TSCĐ và đầu tư dài hạn Chỉ tiêu này càng cao, thì các khoản

nợ dài hạn càng được bảo đảm an toàn

Hệ số thanh toán nợ dài hạn = Tổng giá trị tài sản dài hạn

Tổng giá trị nợ phải trả

Trang 11

ít phụ thuộc vào các chủ nợ bên ngoài Tuy nhiên việc sử dụng nợ vay bên ngoài có tác dụng như một lá chắn thuế do chi phí lãi vay cũng được tính vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp khiến cho thuế phải nộp giảm Song, hệ số nợ cao cũng có nghĩa là doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh Điều này cũng hàm ý mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn

- Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu

Hệ số này phản ánh khả năng trả nợ bằng vốn chủ sở hữu Cứ 1 đồng nợ vay hiện đang được đảm bảo bời bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp

1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Nhân tố trực tiếp

Các nhân tố trực tiếp xuất phát từ chính các yếu tố trong các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán như:

- Chính sách dự trữ tiền mặt của doanh nghiệp

Dự trữ tiền mặt (tiền tại quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán tại ngân hàng) là điều tất yếu mà doanh nghiệp phải làm để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch kinh doanh hàng ngày cũng như đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh doanh trong từng giai đoạn Việc dự trữ tiền mặt như thế nào sẽ tác động trực tiếp đến khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Doanh nghiệp dự giữ một lượng vừa đủ quỹ tiền mặt có thể giúp cho việc thanh toán ngay các khoản nợ đến hạn trong thời gian ngắn nhất Nhưng việc giữ quá nhiều tiền mặt so với nhu cầu sẽ dẫn đến việc ứ đọng vốn, tăng rủi ro về

Trang 12

tỷ giá (nếu dự trữ ngoại tệ), tăng chi phí sử dụng vốn (vì tiền mặt tại quỹ không sinh lãi, tiền mặt tại tài khoản thanh toán ngân hàng thường có lãi rất thấp so với chi phí lãi vay của DN) Hơn nữa, sức mua của đồng tiền có thể giảm sút nhanh do lạm phát

Tuy nhiên nếu DN dự trữ quá ít tiền mặt, không đủ tiền để thanh toán sẽ bị giảm uy tín với nhà cung cấp, ngân hàng và các bên liên quan

- Cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp

Cơ cấu tài sản lưu động là tỉ lệ giữa các khoản nợ ngắn hạn so với tài sản lưu động của mình.Nếu một doanh nghiệp có lượng tài sản lưu động ngắn hơn tổng số nợ ngắn hạn thì chứng tỏ doanh nghiệp thiếu khả năng thanh toán (cụ thể khả năng thanh toán ngắn hạn) do lượng tài sản lưu động không đủ bù đắp cho các khoản nợ khi đến hạn phải trả

Trong các nguồn tài trợ của doanh nghiệp, nợ ngắn hạn là nguồn tài trợ có chi phí tương đối nhỏ song nó lại yêu cầu doanh nghiệp phải theo dõi một cách chặt chẽ, sát sao vì nó gây áp lực lên hoạt động thanh toán của doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp rất khó trì hoãn các khoản nợ này vì nó có thể làm mất uy tín của doanh nghiệp Trường hợp có thể trì hoãn được thì chi phí cho việc trì hoãn này cũng rất cao Lúc đó hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị giảm Vì vậy thông thường doanh nghiệp

cố gắng duy trì mức nợ ngắn hạn bằng 50% tổng tài sản lưu động

- Quản lý hàng tồn kho

Từ chỉ số đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta có thể nhận thấy vị trí quan trọng của hàng tồn kho Hàng tồn kho là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Do đó hoạt động quản lý hàng tồn kho là vô cùng cần thiết Để đảm bảo khả năng thanh toán lành mạnh, doanh nghiệp cần kiểm soát đầu tiên là mức tồn kho định kỳ Doanh nghiệp xác định được lượng hàng tồn kho ở mức hiệu quả giảm thiểu chi phí hoạt động, đồng thời giảm thời gian sản xuất làm tăng nhanh số vòng quay hàng tồn kho, rút ngắn độ dài chu kỳ vận động vốn Một doanh nghiệp nếu

có lượng hàng tồn kho quá lớn, hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được vừa phát sinh các khoản chi phí, vừa ứ đọng vốn ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi mà đây là tài sản có tính thanh khoản kém nhất dùng để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn

1.3.1.1 Nhân tố gián tiếp

- Quy mô của doanh nghiệp

Quy mô của doanh nghiệp được xác định theo tiêu chí của quy mô tổng nguồn vốn (Tổng tài sản) hoặc số lao động bình quân/năm (Tuy nhiên tổng tài sản là tiêu chí được ưu tiên) Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp tỉ lệ thuận với

Trang 13

13

đòn bẩy nợ Các doanh nghiệp lớn thường đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, có dòng tiền ổn định nên có nhiều lợi thế trong việc huy động vốn hơn các doanh nghiệp nhỏ Bên cạnh đó doanh nghiệp lớn thường dễ đàm phán với các định chế tài chính hơn nên doanh nghiệp lớn thường sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn doanh nghiệp nhỏ

- Cấu trúc tài sản của doanh nghiệp

Nếu một doanh nghiệp có tài sản cố định chiếm tỉ trọng lớn so với tổng tài sản, doanh nghiệp sẽ cần vay vốn dài hạn nhiều hơn để đầu tư cho tài sản cố định đó Tuy nhiên doanh nghiệp có thể thế chấp các tài sản ngắn hạn để tiếp cận nguồn vốn vay nên vốn nợ dài hạn của doanh nghiệp có thể được tăng lên, từ đó giảm áp lực nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp

- Hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thường được thể hiện qua hai chỉ tiêu là ROE và ROA

ROE là chỉ số sinh lời trên tổng vốn chủ sở hữu Tức là một đồng vốn bỏ ra thì thu về được bao nhiêu đồng lãi ROE càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng tốt nguồn vốn và cân đối được hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác tối đa lợi thế sử dụng vốn, nâng cao sức cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn Lúc đó nhà đầu tư sẽ bị hấp dẫn và các cổ đông dễ dàng đồng ý tăng lợi nhuận giữ lại của công ty, doanh nghiệp sẽ đỡ phải vay vốn bên ngoài từ đó giảm được áp lực trả nợ

Cũng như ROE thì chỉ số ROA cũng được nhiều chuyên gia tài chính sử dụng

để đánh giá doanh nghiệp, ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn hay lượng tài sản đầu tư Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng tài sản đầu tư và do đó khả năng trả

nợ cũng tốt hơn

- Năng lực quản lý tài chính của các chủ doanh nghiệp

Một doanh nghiệp dù có phát triển đến đâu, nếu không có khả năng quản lý tài chính tốt thì có thể làm thất thoát vốn, lượng dự trữ tiền mặt không phù hợp có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh của mình và việc giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp mình là không thể tránh khỏi

- Khả năng quản lý tài sản

Nếu doanh nghiệp có khả năng quản lý tài sản tốt, có các chính sách quản lý tiền mặt, dự trữ hàng tồn kho cũng như mua sắm, khấu hao tài sản cố định hợp lý thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ được nâng cao Doanh nghiệp ít bị tăng các khoản nợ Ngược lại khi chưa là một doanh nghiệp lớn, việc lựa chọn mua một số

Trang 14

lượng hàng hoá lớn phục vụ kế hoạch phát triển dài hạn hay dữ trự cho một thời gian dài là không thích hợp, có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó có nguy cơ giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp

- Khả năng quản lý các khoản phải thu

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi khả năng quản

lý các khoản phải thu của chính doanh nghiệp đó Nếu doanh nghiệp không quản lý tốt các khoản phải thu, không đánh giá đúng uy tín khách hàng hoặc không đòi nợ đúng hạn, doanh nghiệp sẽ bị chiếm dụng vốn lâu dài Mà đồng tiền thì mất giá theo thời gian nên các chỉ tiêu để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng

- Quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn vốn bằng cách mua bán chịu hàng hóa lẫn nhau, khi đó doanh nghiệp có thể bán chịu hàng với tư cách là người bán hay còn gọi là tín dụng hàng hóa, khi đó doanh nghiệp thu về một lượng tiền bao gồm giá trị cho vay và lợi tức bằng tiền Và ngược lại với tư cách là người mua, doanh nghiệp có thể mua chịu hàng hóa của doanh nghiệp khác Vì thế khi một doanh nghiệp có quan hệ tốt với khách hàng và nhà cung cấp sẽ có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong hoạt động kinh doanh Khi doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với nhà cung cấp thì doanh nghiệp sẽ tận dụng được các khoản tín dụng thương mại với các điều kiện ưu đãi và còn có khả năng trì hoãn các khoản nợ phải trả với chi phí thấp hơn, giúp giảm bớt áp lực thanh toán

Thêm vào dó một doanh nghiệp có uy tín với người mua sẽ khiến cho khách hàng tín nhiệm tin tưởng, do đó sẽ có ý thức thanh toán cho doanh nghiệp một cách đúng hạn Doanh nghiệp sẽ giảm được nguy cơ bị chiếm dụng vốn, hàng hóa tiêu thụ được dễ dàng hơn, nâng cao được khả năng thanh toán

- Tác động của độ dài chu kỳ vận động của vốn tới khả năng thanh toán ngắn hạn

Độ dài chu kỳ vận động của vốn là khoảng thời gian từ lúc thanh toán tiền hàng cho người bán tới lúc thu được tiền hàng của người mua Khoản thời gian này càng ngắn thì thời gian thu hồi vốn ngắn hạn của doanh nghiệp càng ngắn, tốc độ luân chuyển vốn càng nhanh thì hiệu của sử dụng vốn càng tốt Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Độ dài chu kỳ vận động vốn = Thời gian lưu kho bình quân + Kỳ thu tiền bình quân – Kỳ trả tiền bình quân

Để tìm hiểu chi tiết độ dài chu kỳ bận động của vốn tác động tới khả năng thanh toán ngắn hạn, ta cần xem xét các chỉ tiêu sau:

Trang 15

15

Thời gian lưu kho bình quân:

Hệ số lưu kho cho biết doanh nghiệp lưu hàng tồn kho, gồm nguyên vật liệu và hàng hóa trong bao lâu Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải dự trữ một lượng hàng hóa cần thiết Tuy nhiên, dự trữ quá nhiều hàng tồn kho đồng nghĩa với việc vốn sử dụng kém hiệu quả (dòng tiền sẽ giảm đi do vốn kém hoạt động) Điều này còn làm tăng chi phí lưu trữ hàng tồn kho và tăng rủi ro khó tiêu thụ hàng tồn kho do không hợp nhu cầu tiêu dùng cũng như thị trường kém đi Bởi vậy, doanh nghiệp cần phải xem xét xác định thời gian lưu kho cùng mức lưu kho hợp lý theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mức độ bình quân chung của ngành để đảm bảo việc cung cấp hàng hóa bình thường mà không làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Thời gian lưu kho bình quân = 365

Hệ số lưu kho

Hệ số lưu kho = Giá vốn hàng bán

Giá trị lưu kho (HTK)

Chỉ tiêu thời gian thu nợ trung bình:

Thời gian thu nợ trung bình cho biết thời gian trả chậm trung binhg các khoản phải thu hoặc thời gian trung bình để chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt

Thời gian thu nợ trung bình

(Kỳ thu tiền bình quân) =

365 Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu

Chỉ tiêu “Số vòng quay phải thu khách hàng” phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền Trị giá chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi khoản phải thu càng nhanh Điều này được đánh giá là tốt vì khả năng hoán chuyển thành tiền nhanh, do vậy đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao có thể không tốt vì có thể doanh nghiệp thắt chặt tín dụng bán hàng, do vậy ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp Vì vậy, khi đánh giá khả năng chuyển đổi các khoản

Trang 16

phải thu thành tiền cần xem xét đến chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp

Chỉ tiêu thời gian trả nợ trung bình:

Bất cứ lúc nào có thể, doanh nghiệp nên thanh toán các hóa đơn đến hạn Bởi vì việc thanh toán chậm trễ hóa đơn sẽ dẫn tới nhiều bất lợi vì nó làm tăng số lãi phải trả dẫn đến số nợ ngày một lớn hơn theo thời gian Doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa thẻ tín dụng vì nhiều ngân hàng cho phép không phải thanh toán lãi suất trong một kỳ hạn nhất định Từ đó doanh nghiệp có thể tận dụng được nguồn vốn này mà không phải mất quá nhiều chi phí Mức độ thanh toán của doanh nghiệp được thể hiện qua chỉ tiêu thời gian trả nợ trung bình

Thời gian trả nợ trung bình (Kỳ trả tiền bình quân) =

365 Vòng quay các khoản phải trả

Vòng quay các khoản phải trả (Hệ

Giá vốn hàng bán + Chi phí quản lý chung, bán hàng, quản lý Khoản phải trả bình quân

Vòng quay khoản phải trả và số ngày hoàn trả nợ là chỉ tiêu vừa phản ánh uy tín của doanh nghiệp đối với bạn hàng vừa phản ánh khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Đối lập với thời gian thu nợ trung bình, chỉ số trả nợ trung bình càng cao có nghĩa doanh nghiệp càng được chậm trả nợ hay hệ số trả nợ thấp có nghĩa là thời gian trả nợ của doanh nghiệp càng được kéo dài Vòng quay các khoản trả thấp, số ngày doanh nghiệp trả nợ kéo dài có thể là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp rất có uy tín và

là khách hàng thân thiết của nhà cung cấp nên được cho chậm trả nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang khó trả các khoản nợ đến hạn

1.4.2 Nhóm nhân tố khách quan

- Cơ chế chính sách của Nhà nước

Các văn bản pháp luật, các quy phạm có ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có khả năng thanh toán Vì đây là những yếu tố bắt buộc hoặc yêu cầu doanh nghiệp phải nắm rõ và thực hiện vô điều kiện Ví dụ các chính sách ưu tiên, khuyến khích hay hạn chế phát triển đối với ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh hoặc các mặt hàng được ưu tiên miễn giảm thuế sẽ giảm áp lực nợ với nhà nước của doanh nghiệp Hay sự thay đổi chính sách tiền tệ ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị đồng tiền, tỷ giá và các yếu tố khác Nếu cơ chế chính sách không linh hoạt và phản ứng kịp

thời với thị trường sẽ khiến cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng

- Sự biến động của thị trường

Trang 17

17

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay luôn có sự biến động và tồn tại nhiều rủi

ro trong kinh doanh, trong khi đó điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt Một số doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp thời có thể gặp khó khăn trong kinh doanh dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

Việt Nam ngày càng hội nhập đem lại cơ hội lớn và thách thức không nhỏ Trong điều kiện canh tranh quốc tế, doanh nghiệp cần phải chú ý đặc biệt đến các biến động ngoại thương, biến động về tỉ giá…

- Rủi ro về đạo đức kinh doanh

Rủi ro về đạo đức kinh doanh mà doanh nghiệp có thể gặp phải bao gồm: Phía người mua trả chậm hoặc cố ý không hoàn trả mốn nợ làm cho khoản phải thu của doanh nghiệp tăng lên Hoặc có thể doanh nghiệp không dự đoán đúng thị trường, mức giá cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nhưng lại quyết định kinh doanh một lượng hàng hóa lớn dẫn tới không bán được hàng hoặc bán lỗ, từ đó không thể thanh toán hết các khoản nợ phải trả

- Sự phát triển của thị trường tài chính

Đối với doanh nghiệp, thị trường tài chính không chỉ là nơi để huy động vốn mà còn là nơi giúp họ nâng cao khả năng thanh toán và đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn Nếu thị trường tài chính phát triển, doanh nghiệp có thể dễ dàng huy động vốn với mức lãi suất cạnh tranh để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình hoặc

để trả các khoản nợ ngắn hạn

Cũng thông qua thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán

mà mình nắm giữ để đáp ứng nhu cầu tiền trước mắt Giảm được áp lực thanh toán nợ

ngắn hạn của mình

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến vốn lưu động, một doanh nghiệp có uy tín trên thị trường sẽ cần một lượng vốn lưu động ít hơn các doanh nghiệp khác và các chỉ số khả năng thanh toán cũng thay đổi theo

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV

CƠ KHÍ Z179 2.1 Khái quát về Công ty TNHH một thành viên Z179

- Loại hình hoạt động : Doanh nghiệp

- Tình trạng hoạt động: Đang hoạt động

- Điện thoại: 048618967, hoặc 046810149

- Fax: 048615255

- Diện tích: 83016 m2 , toàn bộ kinh phí hoạt động như đầu tư máy móc, thiết bị công nghệ, đào tạo cán bộ công nhân viên đều do Bộ Quốc phòng cấp

- Trực thuộc: Tổng cục Công Nghệ Quốc phòng - Bộ Quốc phòng

- Lĩnh vực kinh doanh: Sản phẩm cơ khí

- Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất và sửa chữa các sản phẩm bằng kim loại phục

vụ quốc phòng, kinh tế và xuất nhập khẩu

- Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn Tháo giám đốc Công ty

- Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 có tư cách pháp nhân và có tài khoản riêng tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh Điện Biên Phủ - Hà Nội Tiền thân của Công ty Cơ khí Z179 là trạm sửa chữa trong chiến tranh, một bộ phận của phòng công nghệ thuộc Tổng Cục (nay gọi là Tổng cục Công Nghiệp Quốc Phòng – Bộ Quốc Phòng) có tên là Q179

Được chính thức thành lập vào ngày 15 tháng 3 năm 1971 khi cục quản lý quyết định tách xưởng mẫu khỏi phòng công nghệ và chính thức thành lập nhà máy A179 Nhà máy gặp không ít khó khăn nhất là khi mới thành lập Thời gian đó nước ta đang có chiến tranh nhiệm vụ đặt ra cho nhà máy là rất lớn đồng thời việc tập hợp và huy động đội ngũ cán bộ, kỹ sư công nhân lành nghề và việc huy động các trang thiết bị để chế thử một số mặt hàng mới, phục hồi phụ tùng mới để thay thế cho các xe cơ giới bị hỏng

Đến ngày 10/9/1974 nhiệm vụ mới ra đời Tổng cục Kỹ thuật ra đời A179 đổi tên thành Z179 trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật

Lúc đầu Công ty sản xuất quản lý và hạch toán theo cơ chế bao cấp và nhiệm

vụ của Công ty giai đoạn này chỉ là sản xuất các mặt hàng phục vụ quốc phòng Nhà

Trang 19

19

nước giao chỉ tiêu Công ty chỉ cần hoàn thành theo đúng chỉ tiêu đó Còn về thị trường đầu ra và việc tiêu thụ là nhiệm vụ của cấp trên Vật tư đầu vào cũng do nhà nước phân phối xuống Công ty

Từ những năm 1989 trở đi thực hiện nghị quyết 05 và nghị quyết 27 của Bộ chính trị về xây dựng nền công nghệ quốc phòng trong tình hình mới phù hợp với công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Nhiệm vụ của bộ quốc phòng giao cho Công ty là phải duy trì bảo tồn lực lượng sản xuất và công nghệ đáp ứng được yêu cầu sản xuất quốc phòng khi cần thiết

Tháng 10 năm 2003 theo chỉ thị 37/CT-BQP 03/07/2003 của Bộ Quốc Phòng

về triển khai, sắp xếp, đổi mới trong quân đội giai đoạn 2003-2005 và theo quyết định

số 123/2003/QĐ-BQP ngày 09/09/2003 nhà máy Z179 được sáp nhập vào nhà máy cơ khí Chính Xác 11 (Thanh Hoá) Với quyết định này nhà máy Z179 được chính thức đổi tên thành Công ty Cơ khí 79 trực thuộc nhà máy Chính Xác 11- Tổng cục Công nghệp Quốc phòng, và sau này đổi thành Công ty TNHH một thành viên Cơ khí Z179 Tuy nhiên về cơ bản Công ty Cơ khí Z179 vẫn không có nhiều thay đổi về mặt quản

lý, đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh

Những năm khi mới bắt đầu chuyển từ cơ chế bao cấp sang hạch toán kinh doanh Công ty gặp không ít khó khăn cả về thiết bị và về vốn Cán bộ công nhân viên thì chưa quen với cơ chế mới nên Công ty càng khó khăn hơn Nhiều cán bộ công nhân viên xin nghỉ chế độ hoặc chuyển sang công tác khác

Tuy nhiên dần dần cùng với những bước đi đúng hướng Công ty ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường Cùng với đó, kết quả hoạt động của Công ty vẫn không ngừng tăng nhanh theo đó mức đóng góp cho ngân sách tăng, thu nhập cán bộ công nhân viên cũng ngày càng đảm bảo

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty là theo cơ cấu trực tuyến chức năng và được

tổ chức theo cơ cấu một cấp trong đó người đứng đầu Công ty là giám đốc

Ban giám đốc: 01 giám đốc, 03 Phó giám đốc

Trang 20

- 04 phân xưởng

 Phân xưởng cơ khí: 35 người

 Phân xưởng dụng cụ cơ điện: 36 người

 Phân xưởng gia công cấu kiện: 46 người

 Phân xưởng gia công nóng: 44 người

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179

( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)

PGĐ Kinh doanh

PGĐ kỹ thuật sản xuất

PGĐ chính trị hành chính

P KT –

CĐ (ĐV B8)

Ban KCS (ĐV B12)

P Tổ chức hành chính (ĐV B2)

Ban Chính trị (ĐV B5)

PX cơ khí (PX A1)

PX dụng cụ

cơ điện (PX A3)

PX gia công cấu kiện (PX

PX gia công nóng (PX A4) Giám đốc

Trang 21

- Phó giám đốc

Giám sát bao quát toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ các vấn đề về

kỹ thuật, các vấn đề hành chính dưới sự chỉ đạo của giám đốc Phó giám đốc giúp giám đốc điều hành Công ty theo sự phân công uỷ quyền của của giám đốc chịu trách nhiệm trước giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công uỷ quyền Phó giám đốc gồm 3 người Trong đó:

PGĐ kĩ thuật sản xuất phụ trách về hoạt động kĩ thuật, quy trình công nghệ sản xuất, nâng cao tay nghề của công nhân PGĐ là người giúp GĐ các mặt nghiên cứu, ứng dụng kĩ thuật khoa học công nghệ, quản lí chất lượng sản phẩm PGĐ có thể kí kết những hợp đồng kinh tế có giá trị nhỏ PGĐ kĩ thuật trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, thực hiện hoạt động sản xuất; đồng thời kiểm tra xưởng, xây dựng phương án sản xuất, quyết định các phát sinh trong sản xuất đồng thời quản lí điều hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ sản xuất Trong Công ty, PGĐ kĩ thuật sản xuất trực tiếp quản lí và chỉ đạo phòng Kĩ thuật cơ điện và giám sát các phân xưởng

PGĐ kinh doanh có nhiệm vụ xây dựng và phân bổ kế hoạch, chỉ tiêu cho SXKD, có nhiệm vụ theo dõi việc tiêu thụ sản phẩm, thiết kế, ký kết theo dõi các hợp đồng đã kí, quản lí thành phẩm xuất nhập kho, tổ chức thực hiện và xây dựng phương hướng kinh doanh, chiến lược sản phẩm

PGĐ chính trị hành chính có nhiệm vụ giúp GĐ tổ chức vị trí công tác, phân quyền hạn các cán bộ, sắp xếp cán bộ và trực tiếp điều hành phòng tổ chức hành chính

và đồng thời chịu trách nhiệm chăm lo đời sống tinh thần, văn hoá tư tưởng cho công nhân viên trong Công ty

- Phòng Tổ chức hành chính (Bao gồm các lĩnh vực tổ chức, bảo vệ, hành chính)

Có nhiệm vụ giúp giám đốc và các phó giám đốc lãnh đạo trong khâu tổ chức

Trang 22

nhân sự, sắp xếp, tổ chức phân công lao động theo đúng nghề nghiệp, tính ra tiền lương và các khoản trợ cấp theo lương, thanh toán các khoản với người lao động…

Ngoài ra phòng này còn có nhiệm vụ làm công tác văn thư bảo mật, bảo vệ xây dựng doanh trại

- Phòng Kế hoạch kinh doanh

Quản lý công tác kế hoạch sản xuất, chuẩn bị các yếu tố sản xuất: các yếu tố đầu vào về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, điều hành sản xuất ra các sản phẩm, bán hàng căn cứ theo các hợp đồng mà PGĐ đã ký

- Phòng Kỹ thuật cơ điện

Có nhiệm vụ giải quyết toàn bộ thiết kế kỹ thật sản xuất trong Công ty, sửa chữa, theo dõi quản lý các thiết bị máy móc và chịu trách nhiệm để máy móc trong Công ty hoạt động tốt

- Ban Tài chính

Tham mưu cho giám đốc về mặt hạch toán kinh tế, điều hoà phân phối tổ chức

và sử dụng vốn và nguồn vốn kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh dưới hình thức vốn, tiền tệ đồng thời tính toán

và phân phối kết quả kinh doanh của Công ty

- Ban Chính trị

Chịu trách nhiệm về mặt tư tưởng của đơn vị thực hiện công tác đoàn thể, tuyên truyền giáo dục tư tưởng trong sạch lành mạnh cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, lưu trữ các tài liệu liên quan đến công tác chính trị, đoàn thể, khen thưởng kỷ luật của

Công ty

- Ban KCS

Nhiệm vụ chính là quản lý về chất lượng sản phẩm, kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi giao sản phẩm cho khách hàng đồng thời có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu đầu vào trước khi nhập kho vật liệu và góp phần làm cho hoạt động sản xuất diễn ra đúng tiến độ, đảm bảo yêu cầu của khách hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm

- Phân xưởng cơ khí (PX A1)

Có nhiệm vụ gia công các loại bánh răng chuyển động, các loại chuyển động cơ khí

- Phân xưởng gia công cấu kiện (PX A2)

Có nhiệm vụ vừa sản xuất cơ khí và sản xuất các trang bị công nghệ để phục vụ cho sản xuất đảm bảo cho sản xuất thay thế các chi tiết máy

Trang 23

23

- Phân xưởng dụng cụ cơ điện (PX A3)

Nhiệm vụ sản xuất cơ khí, gia công cấu kiện hàng cơ cấu hộp số…

- Phân xưởng gia công nóng (PX A4)

Tạo phôi, đúc phôi, rèn NVL, xử lý bề mặt, phun bi phun cát, sơn

Nhận xét: Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 đã thiết kế được một bộ máy

quản lí nhỏ gọn, tinh giản phù hợp với đặc điểm kinh doanh và quy mô của mình với phòng ban chuyên trách các công việc khác nhau trong quá trình kinh doanh

Bộ máy quản lí của Công ty tương đối hoàn chỉnh có Đảng uỷ, Ban Giám đốc, công đoàn và các phòng ban chức năng rất năng động điều đó giúp cho Công ty luôn hoàn thành kế hoạch

Doanh nghiệp chủ yếu sản xuất các sản phẩm theo đơn đặt hàng cũng như yêu cầu của khách hàng Khi có đơn đặt hàng thì Công ty tiến hành sản xuất từ khâu đầu đến khi thành sản phẩm hoàn chỉnh, ngoài việc chế tạo sản phẩm thì Công ty cũng sản xuất cả các dụng cụ để chế tạo sản phẩm trừ một số máy móc chuyên dùng phải nhập

từ Liên Xô, Đức

Đặc điểm sản xuất: Sản xuất đơn chiếc, nhỏ lẻ, loạt nhỏ

Sản xuất hàng thương phẩm, hàng trang bị công nghệ, hàng cơ điện

Hiện nay ngành kinh doanh chính của công ty là kinh doanh bánh răng các loại như: Bánh răng côn xoắn ben la, bánh răng chữ V, trục con lăn, phay răng, bánh răng, trục răng, trục ác, bulong, ống nối trục, lắp cụm vi sai…

Trang 24

2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 giai đoạn 2012 – 2014

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 giai đoạn 2012 – 2014

(Đơn vị: Đồng)

Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Chênh lệch 2013 – 2012 Chênh lệch 2014 - 2013

Tuyệt đối Tương

đối (%) Tuyệt đối

Tương đối (%)

(4)/(1) (6) = (3) – (2)

(7) = (6)/(2)

Trang 25

25

nghiệp

10 Lợi nhuận thuần từ

hoạt động kinh doanh 265.646.170 944.162.798 1.184.116.944 678.516.628 255,42 239.954.145 25,41

16 Lợi nhuận sau thuế 673.221.641 867.530.452 1.023.429.061 194.308.810 28,86 155.898.609 17,97

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh 2012 – 2014 – Phòng Kế toán)

Trang 26

Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 trong 3 năm 2012 – 2013 – 2014 có thể thấy tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 khá triển vọng, doanh thu bán hàng và lợi nhuận sau thuế năm sau đều tăng so với năm trước Sự biến động đó được thể hiện qua biểu đồ tăng trưởng của doanh thu thuần và lợi nhuận sau thế dưới đây:

Đồ thị 2.1 Quy mô tăng trưởng doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế giai đoạn

2012 – 2014

(Đơn vị: Đồng)

- Doanh thu: Năm 2013 doanh thu từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh của

Công ty là 50.246.007.980 đồng, tăng 4.588.340.289 đồng so với doanh thu năm 2012

là 45.657.667.691 đồng tương ứng là tăng 10,05% so với năm 2012 Đến năm 2014, con số này lên đến 62.768.732.295 đồng tức là tăng thêm 12.522.724.315 đồng, tương đương 24,92% so với năm 2013 Từ các kết quả này cho ta thấy tình hình kinh doanh của Công ty phát triển hơn so với năm trước do đất nước ta đang ngày càng phát triển

và đi lên đặc biệt là chú trọng phát triển ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam Nắm bắt được thời cơ này, Công ty đã có được những sách lược như giảm giá thành sản phẩm,

,010000000000,0

Trang 27

27

dựa vào uy tín của Công ty để đánh vào lòng tin người tiêu dùng từ đó thu hút và có được nhiều đơn đặt hàng hơn so với các năm trước Sự tăng lên này so sánh với mức phát triển trung bình của ngành thì khá khả quan

- Các khoản giảm trừ doanh thu: Năm 2012 là 114.984.105 đồng, còn năm

2013 là 136.914.887 đồng tức là tăng 21.930.782 đồng, tương ứng 19,07% so với năm 2012.Việc giảm trừ doanh thu tăng là do Công ty phải chịu thuế xuất khẩu các sản phẩm ra nước ngoài theo xu hướng phát triển của ngành công nghiệp cơ khí đang dần trở thành một trong những ngành xuất khẩu quan trọng của đất nước Đồng thời Công

ty phải nhận lại một số lượng lớn phụ tùng nông nghiệp bị trả lại do lỗi của nhà sản xuất Tuy nhiên đến năm 2014 các khoản giảm trừ doanh thu giảm 94.122.287 đồng (tương ứng 68,75%) xuống còn 42.792.600 đồng so với năm 2013 Nguyên nhân là do năm 2014 tình hình kinh doanh của Công ty khá thuận lợi, lượng hàng bán được nhiều hơn nên Công ty không cần sử dụng các chính sách chiết khấu, khuyến mại, giảm giá

để khuyến khích người tiêu dùng Song vẫn tồn tại khoản giảm trừ doanh thu của năm nay là do Công ty giảm giá bán của loạt phụ tùng nông nghiệp bị lỗi năm ngoái

- Giá vốn hàng bán:Tình hình giá vốn hàng bán của Công tycó xu hướng tăng

qua các năm, cụ thểNăm 2013 giá vốn hàng bán là 40.585.574.318 đồng, tăng 2.390.151.625 đồng (6,26%) so với năm 2012 Đến năm 2014, giá vốn hàng bán tăng khá cao, lên đến 51.798.204.398 đồng, tức là tăng 11.212.630.080 đồng (27,63%) so với năm 2013 Giá vốn hàng bán tăng qua các năm là do Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng lượng hàng hóa sản xuất Điều này có thể thấy rõ qua sự tăng của hàng tồn kho: với năm 2012 là 5.964.420.884 đồng đến năm 2013 là 9.041.081.859 đồng và năm 2014 lên đến 11.553.220.138 đồng Chính vì việc tăng đầu

tư vào hàng tồn kho nên các chi phí liên quan như chi phí bán hàng và chi phí lưu kho được tính vào giá vốn hàng bán cũng tăng theo Bên cạnh đó tác động của các yếu tố lạm phát ngày càng tăng cũng khiến cho giá vốn hàng bán tăng theo Để giữ vững ổn định mức giá vốn hàng bán hợp lí, Công ty cần có các chính sách tiết kiệm cũng như giảm thiểu tối đa các chi phí không cần thiết, để cho lợi nhuận Công ty tăng cao

- Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng doanh thu thuần trừ

giá vốn hàng bán Trong đó tốc độ tăng trưởng của giá vốn hàng bán các năm gần đây tăng khá cao so với tốc độ tăng của doanh thu thuần khiến lợi nhuận gộp hằng năm tăng nhưng không đáng kể, cụ thể: năm 2012 là 7.347.260.893 đồng, năm 2013 tăng thành 9.523.518.775 đồng (tăng khoảng 26,62%), và năm 2014 lên đến 10.927.735.297 đồng (tương ứng 14,74%)

Trang 28

- Doanh thu từ hoạt động tài chính: Là một trong những chỉ tiêu có sự tăng

lên rất mạnh trong bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mà ta có thể thấy Doanh thu hoạt động tài chính năm 2013 là 211.196.403 đồng tăng 104,01% tương đương 107.675.473 đồng so với năm 2012 là 103.520.930 đồng Doanh thu hoạt động tài chính ở đây chủ yếu là lãi tiền gửi cũng như tiền cho vay của công ty tăng thêm trong năm 2013 Doanh thu hoạt động tài chính tăng dẫn đến lợi nhuận tăng, điều này góp phần gia tăng lợi nhuận cho Công ty Tuy nhiên đến năm 2014 doanh thu từ hoạt động tài chính giảm nhẹ còn 197.877.495 (giảm 6,31%) so với năm 2013 Nguyên nhân là do sự sụt giảm của khoản tiền gửi ngân hàng được Công ty rút ra để nhập quỹ tiền mặt nhằm tăng khả năng thanh toán ngắn hạn Do vậy, Công ty đã tạo được sự tin tưởng cho các nhà cung cấp (các Nhà xuất bản) và đã chiếm dụng được một khoản vốn

từ nhà cung cấp

- Chi phí tài chính: Chi phí tài chính bao gồm các khoản chi phí hoặc các

khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, chi phí vay vốn… Năm 2013 chi phí tài chính của công ty là 25.187.514 đồng, giảm 14.523.332 đồng tương ứng giảm 36,57% so với năm 2012 là 39.710.846 đồng Nguyên nhân của các khoản chi phí tài chính giảm là do năm 2013 Công ty đã thanh toán được một phần đáng kể các khoản

nợ ngắn hạn cụ thể là các khoản vay ngắn hạn ngân hàng năm 2013 giảm còn 53.200.000 đồng (tương đương với giảm 47.500.000 đồng hay 14,17%) Tuy nhiên sang năm 2014, do chịu ảnh hưởng của lỗ chênh lệch tỷ giá (46.925.412 đồng) và phát sinh thêm khoản chi phí lưu ký chứng khoán (319.621 đồng) đã đẩy chi phí tài chính tăng lên 23.909.142 đồng (94,92%) thành 49.096.656 đồng

- Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: Có sự gia tăng đồng loạt qua

các năm, cụ thể tăng 31,47% năm 2013, 14,329% năm 2014 đối với chi phí bán hàng và 20,54% năm 2013, 12,47% năm 2014 đối với chi phí quản lý doanh nghiệp Đây là điều hết sức bình thường đối với một Công ty đang trong giai đoạn mở rộng sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp ngày càng chú trọng đầu tư trong khâu bán hàng đặc biệt là các biện pháp Marketing các sản phẩm làm cho doanh thu tăng nhanh Bên cạnh đó, Công ty đã đầu tư nâng cấp một số máy vi tính sử dụng cho bộ phận văn phòng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý

- Lợi nhuận khác: Từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh có thể thấy lợi nhuận

khác của Công ty giảm sau các năm Lợi nhuận khác của năm 2013 giảm đáng kể 436.063.215 đồng (tương ứng 69%) so với năm trước, vì chi phí khác giảm từ 214.388.927 đồng (năm 2012) xuống còn 59.579.250 đồng (năm 2013) nhưng vẫn

Trang 29

29

2012) xuống còn 255.498.721 đồng (năm 2013) Điều này cho thấy trong năm 2013, ngoài các khoản nợ khó đòi vì Công ty có thể bị khách hàng hoặc các Công ty khác chiếm dụng vốn, hoặc khoản nợ có thể trở thành nợ khó đòi, Công ty còn bị giảm thu nhập từ nghiệp vụ bán và thuê lại tài sản Đồng thời chi phí khác giảm là do doanh nghiệp đã có các chính sách quản lý chi phí như hạn chế việc chiết khấu thanh toán cho khách hàng và công tác hạch toán TSCĐ được thực hiện tốt để giảm thiểu lỗ do thanh lý TSCĐ Năm 2014 tình hình thu nhập khác của Công ty có khả quan hơn (tăng 8,55%) tuy nhiên kéo theo đó chi phí khác cũng tăng rất mạnh (174,82%) khiến cho lợi nhuận khác không thể tăng mà còn giảm 42,01% so với năm trước Giai đoạn này Công ty mới tăng thêm danh mục đầu tư nên có phát sinh chi phí trong năm 2014 và dotình hình lạm phát năm 2014 khiến các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất như xăng, dầu… đều tăng cao và gây ảnh hưởng không nhỏ tới chi phí bỏ ra của doanh nghiệp

- Lợi nhuận trước thuế: Lợi nhuận tăng theo sự gia tăng của doanh thu và sự

ổn định của các chi phí Năm 2012 là 897.628.855 đồng đến năm 2013 là 1.140.082.269 đồng tăng 242.453.414 đồng tương đương với 27,01% Tiếp theo đến năm 2014 lợi nhuận tăng lên 157.643.549 đồng (13,83%) thành 1.297.725.818 đồng Tuy nhiên việc giảm đáng kể của thu nhập khác năm 2013 và việc tăng mạnh của chi phí, giá vốn năm 2014 khiến cho lợi nhuận gia tăng không đáng kể

- Lợi nhuận sau thuế: Năm 2013 tăng 194.308.810 đồng tương ứng 28,86% so

với năm 2012, và năm 2014 tăng 155.898.609 đồng tương ứng tăng 17,79% Con số cho thấy tốc độ tăng của doanh thu khá ổn định và đi lên Sự tăng lên đáng kể này thể hiện sự cố gắng của Công ty trong việc tăng lượng hàng bán ra, giảm tối đa các mức chi phí không cần thiết

Trang 30

Quy mô tài sản – nguồn vốn của Công ty trong 3 năm gần đây:

Bảng 2.2 Quy mô Tài sản – Nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179

(Đơn vị: Đồng)

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán giai đoạn 2012 – 2014)

Ta có thể thấy quy mô tài sản – nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Z179 tăng dần qua các năm Đặc biệt là năm 2013 tăng 54,74% so với năm 2012.Để tìm hiểu rõ thêm về sự thay đổi thay đổi cơ cấu tài sản – nguồn vốn của Công ty ta xem xét bảng tổng hợp 2.3 như sau:

Ngày đăng: 11/06/2016, 21:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Lưu Thị Hương. (2010). Giáo trình tài chính doanh nghiệp. NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS Lưu Thị Hương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
2. PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc và cộng sự (2013). Giáo trình phân tích báo cáo tài chính, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phân tích báo cáo tài chính
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc, cộng sự
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2013
3. Trịnh Trọng Anh (2013), Nhập môn tài chính doanh nghiệp, Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Trịnh Trọng Anh
Nhà XB: Đại học Thăng Long
Năm: 2013
4. Ngô Thị Quyên (2015), Quản lý tài chính doanh nghiệp 1, Đại học Thăng Long 5. Phòng Kế toán Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 (2012 – 2014), Báo cáo tàichính Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính doanh nghiệp 1
Tác giả: Ngô Thị Quyên
Nhà XB: Đại học Thăng Long
Năm: 2015
6. PGS.TS. Lê Văn Tâm, PGS.TS.Ngô Kim Thanh, Giáo trình Quản trị doanh nghiệp: Phần 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị doanh nghiệp: Phần 2
Tác giả: PGS.TS. Lê Văn Tâm, PGS.TS.Ngô Kim Thanh
9. Piere Conso(1991), từ điển quản lý ngân hàng, NXB ngoài văn – Viện tiền tệ tín dụng Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ điển quản lý ngân hàng
Tác giả: Piere Conso
Nhà XB: NXB ngoài văn
Năm: 1991
10. Doanh nghiệp, trích nguồn vi.wikipedia.org, truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. https://vi.wikipedia.org/wiki/Doanh_nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp
Nhà XB: vi.wikipedia.org
Năm: 2015
11. Tình hình tài chính ngành cơ khí, trích nguồn stockbiz.vn, truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015https://www.stockbiz.vn/ Link
8. Solvency definition, trích nguồn investopedia.com Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 (Trang 20)
Bảng  2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 giai đoạn 2012 – 2014 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
ng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 giai đoạn 2012 – 2014 (Trang 24)
Đồ thị 2.1. Quy mô tăng trưởng doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế giai đoạn - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
th ị 2.1. Quy mô tăng trưởng doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế giai đoạn (Trang 26)
Bảng 2.2. Quy mô Tài sản – Nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
Bảng 2.2. Quy mô Tài sản – Nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 (Trang 30)
Bảng  2.3. Cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 giai đoạn 2012 - 2014 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
ng 2.3. Cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 giai đoạn 2012 - 2014 (Trang 31)
Đồ thị 2.2. Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
th ị 2.2. Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 (Trang 33)
Đồ thị 2.3. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH MTV CƠ khí Z179 giai đoạn - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
th ị 2.3. Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH MTV CƠ khí Z179 giai đoạn (Trang 35)
Bảng  2.6. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán trong dài hạn - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
ng 2.6. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán trong dài hạn (Trang 39)
Bảng  2.7. Các khoản phải thu - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
ng 2.7. Các khoản phải thu (Trang 41)
Bảng  2.8. Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải thu - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
ng 2.8. Chỉ tiêu đánh giá các khoản phải thu (Trang 43)
Bảng  2.9. Các chỉ tiêu khoản phải trả - GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV CƠ KHÍ Z179
ng 2.9. Các chỉ tiêu khoản phải trả (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w