Còn theo khoản 1 Điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 30 tháng 06 năm 2009 có ghi: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đẫ đăng kí ki
Trang 1CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nhiều chuyên gia kinh tế ở Việt Nam cho rằng khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam và sau đó là khái niệm doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam bắt nguồn từ cụm từ SMEs (Small and medium enterprises) Theo cộng đồng Châu Âu (EU), doanh nghiệp vừa và nhỏ là một công ty độc lập có ít hơn 250 lao động và/hoặc doanh thu hàng năm không quá 40 triệu Euro hoặc tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán không quá 27 triệu Euro.Theo Quỹ phát triển khu vực Châu Âu (European Regional Development Fund Grant), doanh nghiệp vừa và nhỏ là những công ty sử dụng ít hơn 250 người, có doanh thu nhỏ hơn 50 triệu Euro hoặc tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán không quá 43 triệu Euro, và không bị sở hữu quá 25% bởi một chủ thể không phải là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ trước tiên phải dựa vào quy mô của doanh nghiệp Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu,…các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau
Theo điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 23 tháng 11 năm
2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ theo đó định nghĩa: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên
Còn theo khoản 1 Điều 3 nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày 30 tháng 06 năm 2009 có ghi: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ
sở kinh doanh đẫ đăng kí kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể trong bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo số lao động, khu vực và tổng nguồn vốn được nhắc đến trong phần phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tại điểm a khoản 1 thông tư số 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2013 (Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà
Trang 2nước theo nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của chính phủ về một
số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu) thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận dạng như sau: Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác
xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) (gọi chung là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ)
Tóm lại doanh ngiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình năm không quá 300 người Tại Việt Nam quy mô vốn trung bình của các DNVVN vẫn ở mức khiêm tốn, với gần 50% số DNVVN có mức vốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% DNVVN có mức vốn dưới 2 tỷ đồng và 90% DNVVN có mức vốn dưới 5 tỷ đồng [11]
1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam được nhận định là sẽ có những bước phát triển mạnh về số lượng và quy mô trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần Tuy nhiên trước tình hình khó khăn do dư âm của khủng hoảng kinh tế khiến một lượng lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ giải thể, phá sản song đây cũng là bài học kinh nghiệm để các doanh nghiệp có thể thận trọng hơn trong những năm tiếp theo bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ có những đặc điểm sau:
Một là, doanh nghiệp vừa và nhỏ có tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt,
gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp Đồng thời, doanh nghiệp vừa
và nhỏ có tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ có thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén Ví dụ như một doanh nghiệp vừa và nhỏ dưới sự quản
lý của một giám đốc và kế toán cũng như thủ quỹ là người nhà của anh ta với xưởng sản xuất tại gia, người đó có thể dễ dàng kiểm soát cũng như toàn quyền ra quyết định
cá nhân một cách nhanh chóng
Hai là, doanh nghiệp vừa và nhỏ có số lao động không nhiều và chủ yếu sử dụng
lao động tại địa phương nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý tương đối gọn nhẹ, quan hệ giữa người chủ doanh nghiệp và các cán bộ có sự gần gũi, thân thiết
Vì thế nên các quyết định, chỉ tiêu, chính sách đến với người lao động một cách nhanh chóng không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm chi phí
Tuy nhiên do các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn chủ yếu sử dụng lao động là người trong địa phương Hơn nữa trình độ tay nghề, học vấn của lao động ở khu vực này rất thấp Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2012 số người có trình
Trang 3độ trung cấp trở lên chỉ chiếm 9,8%; số người là nghệ nhân trong các làng nghề chiếm 0,06% Theo điều tra thị trường lao động của Tổng cục dạy nghề năm 2012, trong các doanh nghiệp được điều tra, số lao động được gọi là có trình độ cao, lành nghề chỉ chiếm khoảng 23%, trong đó ở các DNVVN là 25% Khả năng thích ứng và khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm của người lao động trong các DNVVN còn thấp do không qua các trường lớp đào tạo chuyên nghiệp Mặt khác, người lao động lành nghề và cả lao động quản lý, khả năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ còn yếu, nên gặp nhiều khó khăn trong hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài Ví dụ như một doanh nghiệp chuyên sản xuất phụ tùng xe đạp điện cho đối tác là người Trung Quốc song lại không biết tiếng Trung Quốc sẽ gây khó khăn trong giao tiếp, ký kết hợp đồng
Bên cạnh đó công tác đào tạo tay nghề cho lao động lại chưa được các doanh nghiệp thực sự quan tâm, theo Tổng cục dạy nghề năm 2012 thì chỉ mới có khoảng gần 6% doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về tay nghề Những hạn chế về tay nghề của đội ngũ lao động làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời làm tăng chi phí về sư dụng lao động của doanh nghiệp Cùng một sản phẩm người lao động có tay nghề cao
sẽ sản xuất trong thời gian nhanh hơn và tốt hơn, ngược lại người lao động tay nghề thấp sẽ làm lâu hơn, kém hơn phải làm lại, gây tốn kém thời gian, tốn nguyên vật liệu
Ba là, đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp vừa
và nhỏ còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý Trong số các DNVVN cũng có những chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, có trình độ chuyên môn khá cao và năng lực quản lý tốt; tuy nhiên số này còn chưa nhiều Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám đốc tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế Theo Tổng cục thống kê năm 2012 thì 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp
có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp Do những hạn chế đó, một số người có khuynh hướng hoạt động theo kinh nghiệm, chưa có tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức về quản lý tổ chức, về phát triển thương hiệu, về cạnh tranh, về máy tính và công nghệ thông tin Một số chủ doanh nghiệp thậm chí mở công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích làm kinh doanh trong khi hoàn toàn thiếu kiến thức và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy dẫn đến nhiều rủi ro và thất bại
Bốn là, doanh nghiệp vừa và nhỏ cần ít diện tích xây dựng cơ sở sản xuất, có khả
năng phân tán sản xuất, không nhất định phải tập trung sản xuất ở một phân xưởng lớn, có thể thâm nhập dễ dàng vào các thị trường nhỏ lẻ mà các doanh nghiệp lớn còn
bỏ ngỏ như tại các địa phương nơi doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động
Trang 4Tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, tính cạnh tranh còn thấp Đặc biệt tại các vùng nông thôn của Việt Nam, thương hiệu mang tính chất làng nghề truyền thống, lao động thủ công, gắn liền với địa danh, lịch sử phát triển là lâu đời song mô hình không tập trung, sản xuất nhỏ lẻ như lụa Hà Đông, bưởi Phúc Trạch, đúc đồng Đại Bái, tre Xuân Lai, sắt thép Đa Hội dẫn đến thương hiệu, uy tín mai một theo thời gian Xây dựng và phát triển thương hiệu là một vấn đề quan trọng giúp DNVVN có thể cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước mang sản phẩm của Việt Nam ra với thị trường quốc tế
Năm là, doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu sử dụng công nghệ lạc hậu và chậm
đổi mới làm hạn chế năng suất và sản lượng, chất lượng sản phẩm, làm tăng chi phí sản xuất Cũng Theo Tổng cục thống kê năm 2012 thì khoảng 80 - 90% máy móc và công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên 1980 - 1990, 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao Điều này khiến doanh nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu sản phẩm của khách hàng làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DNVVN Các sản phẩm sản xuất chất lượng thấp, khó đáp ứng được tiêu chuẩn xuất khẩu nên chỉ phục vụ thị trường trong nước, thậm chí trong một địa phương nhỏ hẹp
Sáu là, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thiếu thông tin, khó khăn trong tiếp cận thị
trường tài chính Các DNVVN hiểu biết hạn chế về chính sách cho vay của ngân hàng thương mại, có tâm lý sợ thủ tục vay vốn của ngân hàng rườm rà, phức tạp, việc giải quyết cho vay của ngân hàng khó khăn Phần lớn các DNVVN khi làm thủ tục vay vốn của ngân hàng không đúng quy định mà ngân hàng yêu cầu, cung cấp không đủ chứng
từ liên quan đến các bộ hồ sơ, dẫn đến không được ngân hàng chấp nhận cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động hiện nay gặp nhiều khó khăn như khó khăn công nghệ, hiệu quả sản xuất thấp, hàng tồn kho lớn Trong đó đặc biệt là khó khăn về thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh Trong đó, 55% trở ngại cho các DNVVN hiện nay đến từ thủ tục vay do hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho doanh nghiệp, 50% trở ngại đến từ yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, các ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu ), 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp, các điều kiện vay vốn chưa khả thi Hiện nay chỉ có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được vốn từ ngân hàng; 70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ các nguồn khác, trong đó có nhiều doanh nghiệp vẫn chịu vay ở mức lãi suất 15% - 18% [11]
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn, tài sản pháp nhân
và tài sản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó thẩm định, đánh giá
về năng lực thực sự của doanh nghiệp Thực chất các công ty trách nhiệm hữu hạn ở
Trang 5nông thôn hiện nay qua tiến hành nghiên cứu với số mẫu khá nhỏ chia làm ba loại Thứ nhất, đó là các doanh nghiệp vốn trên thực tế chỉ là của một nhà đầu tư, khi đăng
kí dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ đầu tư đã ghi tên con cái, anh em bà con thân thích trong gia đình vào làm thành viên góp vốn Trên thực tế, sở hữu vốn và mọi quyết định kinh doanh đều do chủ đầu tư thực hiện Loại thứ hai là các doanh nghiệp trong đó các thành viên có đóng góp vốn ít nhiều để cùng nhau kinh doanh, nhưng thường thì sự đóng góp này mang tính chiếu lệ và các hợp đồng góp vốn thường không rõ ràng thậm chí không có Trường hợp thứ ba là các doanh nghiệp lúc đầu thực hiện đăng kí góp vốn theo đúng sở hữu của các thành viên, nhưng trong quá trình kinh doanh do quan hệ phức tạp nên các thành viên không có quan hệ thân thiết, ruột thịt đã rút khỏi danh sách thành viên, nhượng lại vốn cho người khác trong gia đình của thành viên còn lại
Hệ thống sổ sách kế toán, nội dung và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp thường không đầy đủ, chính xác và thiếu minh bạch Năng lực tài chính của doanh nghiệp yếu, các hệ số tài chính không đảm bảo theo yêu cầu của ngân hàng bởi vậy không tính toán được đúng khả năng trả nợ trong tương lai Một số lớn các DNVVN lập phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư còn mang nặng tính cá nhân, áp đặt của lãnh đạo doanh nghiệp, hoặc dựa trên kinh nghiệm tự có Nội dung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôi khi được phân tích và lập một cách sơ sài, bởi vậy thiếu thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩm định cho vay
1.1.3 Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ
Định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi Các tiêu chí để phân loại doanh nghiệp có hai nhóm: chỉ tiêu định tính
và chỉ tiêu định lượng Nhóm tiêu chí định tính dựa trên những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp như chuyên môn hoá thấp, bộ máy tổ chức gọn nhẹ, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế nên ít được sử dụng Nhóm tiêu chí định lượng
có thể dựa vào quy mô của doanh nghiệp với các tiêu chí như số lao động, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó: Số lao động có thể dao động trong danh sách lao động thường xuyên và lao động thực tế; Tổng tài sản hay vốn, tài sản hay vốn
cố định, giá trị tài sản còn lại; Tổng doanh thu/năm, tổng giá trị gia tăng/năm Trong các nước APEC tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất là số lao động Cũng có một số tiêu chí khác tuỳ thuộc vào điều kiện từng nước
[3] Tuy nhiên sự phân loại doanh nghiệp theo quy mô lại thường chỉ mang tính tương đối và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
Trang 6 Trình độ phát triển kinh tế của một nước: trình độ phát triển càng cao thì thị số các chỉ tiêu càng tăng lên Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì có chỉ
số về lao động, vốn để phân loại DNVVN sẽ thấp hơn so với các nước phát triển Ví
dụ như tại Singapore thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp có số lao động nhỏ hơn 100 người và tổng số vốn nhỏ hơn 499 triệu USD
Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chiếu trong phân loại các DNVVN giữa các ngành với nhau
Vùng lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô doanh nghiệp cũng khác nhau Do đó cần tính đến cả hệ số vùng để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô doanh nghiệp giữa các vùng khác nhau
Tính lịch sử: một doanh nghiệp trước đây được coi là lớn, nhưng với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai có thể được coi là vừa hoặc nhỏ
Mục đích phân loại: khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ khác nhau tuỳ theo mục đích công việc phân loại
Bảng 1.1 Bảng phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo số lao động, khu vực và
tổng nguồn vốn Quy mô DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
lao động
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động Tổng
nguồn vốn Nông lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ 20 tỷ đồng trở xuống
Tử trên 200 người đến
Từ trên 10 người đến
200 người
Từ 20 tỷ đồng trở xuống
Tử trên 200 người đến
Từ trên 10 người đến
50 người
Từ 10 tỷ đồng trở xuống
Tử trên 50 người đến
Trang 71.1.4 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay cũng như đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế Việt Nam Tính đến thời điểm năm 2015,
cả nước có 495.000 doanh nghiệp, trong đó số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 96%
Có thể khẳng định, DNVVN đống một vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế- xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp vừa
và nhỏ đã nộp cho Nhà nước tăng 18,4 lần sau 10 năm Hoạt động kinh tế từ doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp 40% GDP, 30% tổng thu ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, trong giai đoạn khó khăn vừa qua, doanh thu và lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp vừa
và nhỏ đang bị thu hẹp, chi phí sản xuất tăng cao khiến lợi nhuận giảm Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi giảm từ 64,12% năm 2010 xuống còn 34,12% vào hết tháng 9/2013 Cũng theo tổng cục thống kê giai đoạn 2011-2015, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp 40% GDP cả nước, 30% tổng thu ngân sách nhà nước, tạo thêm 3,5-4 triệu việc làm mới
Nếu như các doanh nghiệp lớn thường có trụ sở ở các thành phố lớn thì doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở các địa phương, góp phần phát triển kinh tế, tạo công việc cho các lao động tại địa phương đó, góp phần xóa đói giảm nghèo tại những vùng, địa phương đó
Doanh nghiệp vừa và nhỏ với số lượng đông đảo, quy mô nhỏ nên dễ điều chỉnh hoạt động kinh doanh sản xuất của mình cho phù hợp với giai đoạn phát triển của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế năng động hơn
1.2 Tổng quan về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Cho vay của ngân hàng thương mại là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM (người sở hữu) sang doanh nghiệp vay (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Hay có thể hiểu cho vay NHTM là quan hệ giữa một bên là người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên người vay (khách hàng vay) để sử dụng trong một thời gian nhất định gắn với cam kết của người vay là hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn [8, Tr 40]
Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi [5, Tr 53]
Trang 8Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng thương mại là việc người cho vay (NHTM) bằng cách chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên vay (khách hàng vay cụ thể đối tượng là các DNVVN) sử dụng trong một thời gian nhất định với mục đích đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi doanh nghiệp nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp Dựa vào thời hạn, cho vay DNVVN cũng được chia thành vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
1.2.2 Nguyên tắc cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cũng như các đối tượng doanh nghiệp khác, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng phải đảm bảo tuân thủ nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại.[8, Tr 41] Một là, tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Mọi khoản vay đều phải được xác định trước mục đích kinh tế, các DNVVN
có nhu cầu vay vốn phải trình bày được mục đích vay vốn, gửi cho ngân hàng các kế hoạch hay dự án sản xuất kinh doanh, các tài liệu kế toán để ngân hàng xem xét cho vay và phải cam kết sử dụng tiền vay đúng mục đích ghi trong hợp đồng Ngân hàng
có trách nhiệm kiểm soát việc sử dụng vốn của doanh nghiệp và áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng khi doanh nghiệp
sử dụng vốn sai mục đích
Hai là, tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là nguồn vốn huy động từ khách hàng gửi tiền Sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định khách hàng vay tiền, ở đây là doanh nghiệp vừa và nhỏ phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thu hồi đúng hạn các khoản vay thì có khả năng dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản Để có có thể thực hiện nguyên tắc này trong quản lí vốn vay ngân hàng phải xác định thời hạn cho vay, các kì hạn nợ của từng khoản vay, đồng thời thường xuyên theo dõi đôn đốc khách hàng trả nợ
1.2.3 Điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể vay vốn của ngân hàng khi họ thỏa mãn tất
cả các điều kiện vay vốn của ngân hàng thương mại.[8, Tr 43]
Một là, doanh nghiệp phải có đủ tư cách pháp lý Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và ngân hàng được pháp luật bảo vệ cho nên các chủ thể tham gia phải có tư cách pháp lý Doanh nghiệp vừa và nhỏ phải có năng lực pháp lý và chịu trách nhiệm trước pháp luật theo quy định,điều kiện “Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành
Trang 9vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật”, quy định của luật Doanh nghiệp năm 2014
Hai là, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với đăng kí kinh doanh của DNVVN Nếu DNVVN sử dụng vốn vay bất hợp pháp thì tài sản đó sẽ bị phong tỏa hoặc bị tịch thu,
tư cách pháp lý của khách hàng có thể bị mất, ảnh hưởng tới mối quan hệ tín dụng hợp pháp giữa ngân hàng với khách hàng
Ba là, phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết DNVVN có tình hình tài chính lành mạnh tức là doanh nghiệp có khả năng quản lý tốt, chứng minh sự phát triển ổn định của doanh nghiệp, doanh nghiệp có
cơ sở vững chắc về tài chính, đảm bảo cam kết hoàn trả tiền vay đúng hạn
Bốn là, phải có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả để đảm bảo nguyên tắc sinh lời Bởi trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, nguồn thu từ dự án vay vốn được coi là nguồn thu “thứ nhất” đảm bảo an toàn vốn cũng như sự phát triển của doanh nghiệp và ngân hàng
Năm là, phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định Bởi đảm bảo tiền vay là công cụ đảm bảo cho trách nhiệm, nghĩa vụ trong quan hệ vay vốn giữa doanh nghiệp
và ngân hàng, đây cũng là nguồn thu thứ hai của ngân hàng thương mại (trong trường hợp khách hàng không trả được nợ)
1.2.4 Các hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
Dựa trên quyết định 1627/2001 Quy chế cho vay và quyết định 127/2005 sửa dổi
1627 về quy chế cho vay, [12, Tr 358] thì cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể có các hình thức sau:
1.2.4.1 Hình thức cho vay theo món (từng lần)
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Chỉ khi doanh nghiệp có nhu cầu tài trợ ngắn hạn thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt doanh nghiệp mới vay ngân hàng
Mỗi lần vay doanh nghiệp phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ xin vay và ký hợp đồng cho vay, xác định quy
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu tài sản đảm bảo nếu cần Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau
Số tiền cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, giá trị tài sản đảm bảo, khả năng hoàn trả của doanh nghiệp, khả năng nguồn vốn của ngân hàng
Trang 10Số tiền cho vay =
Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh
Vốn chủ sở hữu
tham gia Các nguồn vốn
khác tham gia
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Số tiền cho vay = Giá trị tài sản đảm bảo Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
đảm bảo Theo từng kỳ hạn trả nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quá trình doanh nghiệp sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời gian tính lãi Hình thức cho vay từng lần tương đối đơn giản, ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt, tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo của doanh nghiệp vừa
và nhỏ
1.2.4.2 Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng
Hình thức này thường được ngân hàng áp dụng cho đối tượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu vay vốn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định mà ngân hàng và doanh nghiệp đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, tạo sự chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút Cho vay thao hạn mức tín dụng có ưu điểm là thủ tục đơn giản, doanh nghiệp chủ động được nguồn vốn vay, lãi trả cho ngân hàng thấp
1.2.4.3 Hình thức cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng
Ngân hàng chấp thuận cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng như quyết định 23-NHNN/QĐ của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 06-03-1991 về việc ban hành thể lệ tín dụng trung hạn, dài hạn đối với các
tổ chức kinh tế
Trang 111.2.4.4 Hình thức cho vay theo dự án đầu tư
Ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các dự án đầu tư phục vụ đời sống Doanh nghiệp phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư cũng như quá trình thực hiện dự án sản xuất kinh doanh Một doanh nghiệp có tình hình tài chính vững mạnh là cơ sở để ngân hàng quyết định cho vay để thực hiện dự án
1.2.4.5 Hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để giúp doanh nghiệp chủ động thu xếp các nguồn vốn cần thiết nhằm thực hiện dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp được phép rút vốn trog thời hạn hiệu lực rút vốn của hợp đồng tín dụng dự phòng
1.2.4.6 Hình thức cho vay trả góp
Ngân hàng và doanh nghiệp vừa và nhỏ xác định thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay Cho vay trả góp thường được áp dụng với các khoản vay trong trung và dài hạn, tài trợ cho các tài sản cố định hoặc hàng hóa lâu bền
Cho vay trả góp với doanh nghiệp vừa và nhỏ rủi ro cao do doanh nghiệp thường thế chấp hàng hóa mua trả góp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của doanh nghiệp Vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
1.2.4.7 Hình thức cho vay luân chuyển vốn
Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Doanh nghiệp cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán Theo đó, giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn hợp pháp, hợp lệ đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay, thu nhập bán hàng đều là nguồn chi trả cho ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của doanh nghiệp Các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho sẽ trở thành vật đảm bảo cho khoản vay
Cho vay luân chuyển thường áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các doanh nghiệp, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay Doanh nghiệp được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời
Trang 12thanh toán cho người cung cấp Tuy nhiên nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa sẽ khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn
1.2.4.8 Cho vay theo hạn mức thấu chi
Là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép doanh nghiệp vừa và nhỏ chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong thời gian xác định Giưới hạn này là hạn mức thấu chi
Để được thấu chi doanh nghiệp vừa và nhỏ xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng) Trong quá trình hoạt động, DNVVN có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi,…vượt quá số dư tiền gửi để chi trả song trong hạn mức thấu chi
Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong vài ngày trong tháng, vài tháng trong năm để doanh nghiệp có thể trả lương, chi trả các khoản phải nộp, mua hàng,… Tuy nhiên hình thức này chỉ áp dụng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn
1.2.5 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Cho vay là một hoạt động rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro, đặc biệt với đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng cần phải thiết lập một quy trình cho vay đúng đắn, tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả ngân hàng và khách hàng Để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh ngân hàng thì hoạt động cho vay cần phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay
Quy trình cho vay là một trình tự các bước cụ thể, được soạn thảo với mục đích giúp cho quả trình cho vay được diễn ra một cách thống nhất, khoa học, hạn chế phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phấn đáp ứng nhu cầu vay vốn của DNVVN
Hầu hết các ngân hàng thương mại tự thiết kế cho mình một quy trình cho vay riêng bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau.Việc thiết kế quy trình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng tổ chức quản lý, đặc điểm khách hàng Tuy nhiên quy trình cho vay cơ bản hiện nay bao gồm 4 bước [8, Tr 54]:
Bước 1: Thiết lập hồ sơ vốn vay
Hồ sơ pháp lý là hồ sơ chứng minh cho ngân hàng biết về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi nhân sự của doanh nghiệp vay vốn, bao gồm:
Quyết định hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp
Điều lệ của doanh nghiệp
Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc (giám đốc, kế toán trưởng)
Trang 13 Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
Giấy phép đầu tư (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
Hợp đồng liên doanh liên kết (đối với doanh nghiệp liên doanh)
Quyết định giao vốn và các văn bản bàn giao tài sản của Cục quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp (nếu là doanh nghiệp nhà nước)
Biên bản góp vốn, danh sách thành viên sáng lập (nếu là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn)
Giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu (nếu là doanh nghiệp tư nhân)
Hồ sơ dự án (đối với cho vay trung và dài hạn)
Hồ sơ kinh tế bao gồm
Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kì
Bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước liền kề với kỳ vay vốn
Báo cáo thực hiện sản xuất kinh doanh kỳ trước liền kề với kỳ vay vốn
Hồ sơ vay vốn mỗi lần vay
Giấy đề nghi vay vốn
Dự án, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ
Bản sao hợp đồng mua hàng hoặc báo giá, phiếu nhập kho, các chứng từ thanh toán (nếu có)
Hồ sơ bảo đảm tiền vay: Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cầm cố thế chấp, giấy tờ chứng minh năng lực quản lí, năng lực tài chính của người bảo lãnh
Bước 2: Phân tích cho vay
Mục tiêu kinh doanh hàng đầu của các ngân hàng thương maị là lợi nhuận Trên con đường tìm kiếm lợi nhuận tối đa, các ngân hàng thương mại luôn gặp phải một
“rào cản” đó là rủi ro Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro các ngân hàng thương mại đã áp dụng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp cơ bản, có vị trí quan trọng nhất là phân tích đánh giá một cách toàn diện các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước khi cho vay Các ngân hàng tập trung phân tích đánh giá những mặt chủ yếu sau:
Năng lực pháp lý của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Uy tín của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phân tích tài chính các dooanh nghiệp vừa và nhỏ
Đánh giá về năng lực điều hành sản xuất kinh doanh của ban lãnh đạo các doanh nghiệp này
Trang 14 Thẩm định dự án đề nghị vay vốn
Thẩm định đảm bảo nợ vay
Bước 3: Quyết định cho vay
Kết quả quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cho vay Trong thực tế những yêu cầu vay vốn có chất lượng tốt, việc quyết định cho vay được thực hiện một cách dễ dàng
Đối với những khoản vay nhỏ ngân hàng thường giao quyền cho cán bộ tín dụng quyết định Đối với những khoản vay lớn thuộc về quyền phán quyết của hội đồng tín dụng Trường hợp này cán bộ tín dụng trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của hồ sơ, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và phải đưa ra được ý kiến có nên cho vay hay không cho vay và lập tờ trình hội đồng tín dụng
Bước 4: Kiểm tra, giám sát và xử lí vốn vay
Ngân hàng thương mại có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Giám sát và quản lý tín dụng được tiến hành từ khi phát tiền vay cho đến khi khoản vay được hoàn trả, nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện đúng và đầy đủ những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, phù hợp với đặc điểm hoạt động ngân hàng và đặc điểm kinh doanh sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.3 Hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
Hiệu quả (efficiency) là mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ Mối tương quan này có thể được đo lường theo hiện vật, gọi là hiệu quả kỹ thuật, hoặc theo chi phí, được gọi là hiệu quả kinh tế [10, Tr 366] Hiệu quả (efficiency) là mối quan hệ giữa các yếu tố nhập lượng hiếm và sản lượng hàng hóa dịch vụ Mối quan hệ này có thể được đo lường theo điều kiện vật chất (hiệu quả công nghệ) hoặc theo điều kiện chi phí (hiệu quả kinh tế) Nhận thức về hiệu quả được sử dụng coi như là một tiêu chuẩn để điều chỉnh thị trường sao cho việc phân phối tài nguyên là có hiệu quả [16]
Tóm lại hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả đạt được với hao phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả tài chính tức là khả năng sinh lời và an toàn trong hoạt động ngân hàng
Trang 15Hiệu quả xã hội tức là sự đóng góp của ngân hàng vào sự phát triển của xã hội địa phương, quốc gia
“Một cách đơn giản, công thức để đánh giá hiệu quả của một tổ chức gồm:
Hiệu quả tuyệt đối:
Hiệu quả hoạt động = Kết quả - Hao phí để đạt được kết quả đó
Hiệu quả tương đối:
Hiệu quả hoạt động = Kết quả/Hao phí để đạt được kết quả đó
Hoặc hiệu quả hoạt động = Hao phí/ Kết quả
Hoặc hiệu quả hoạt động = Mức tăng kết quả /Mức tăng hao phí.”[15]
Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và hao phí bỏ ra Nếu xét về tổng lượng, ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả lớn hơn hao phí, chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản
lý ở mỗi khâu mỗi cấp trong hệ thống công việc và gắn với việc giải quyết những yêu cầu kinh tế với yêu cầu, mục tiêu chính trị xã hội
Thông qua quan điểm trên có thể kết luận: Hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ của ngân hàng thương mại là mối tương quan giữa lợi ích của ngân hàng khi cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (lãi và các khoản phí) cho các hao phí ngân hàng phải bỏ ra để đạt được mục tiêu lợi nhuận (hiệu quả kinh tế), đồng thời góp phần gián tiếp vào công cuộc phát triển xã hội (hiệu quả xã hội) Do đó ngân hàng muốn gia tăng lợi nhuận, phát triển bền vững thì cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
1.3.2.1 Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
“Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh
tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch
vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc sử dụng tín dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thị trường Trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn
Trang 16tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp”[6]
Từ nhận xét trên cho thấy tầm quan trọng của nguồn vốn vay ngân hàng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng Dẫn đến cần thiết phải nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Nguồn vốn vay ngân hàng là nguồn tài trợ quan trọng với doanh nghiệp vừa và nhỏ, giải quyết nhu cầu về vốn trong thời gian nhất định của doanh nghiệp Tuy nhiên doanh nghiệp phải chịu áp lực về việc trả nợ bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi, cho nên các doanh nghiệp cần phải có kế hoạch sử dụng vốn an toàn, hợp lý mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và cũng là nguồn để trả nợ ngân hàng
Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Trước khi cho doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng phải kiểm tra đánh giá hiệu quả khả thi phương án vay vốn của doanh nghiệp, sau khi giải ngân ngân hàng giám sát kiểm tra quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích, nhạy bén với thị trường, đưa ra chiến lược cạnh tranh với các doanh nghiệp khác, đảm bảo đầu ra tiêu thụ tốt, thu lợi nhuận về cho doanh nghiệp
1.3.2.2 Đối với các Ngân hàng thương mại
Nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp các ngân hàng tăng doanh thu và lợi nhuận từ lãi vay và phí dịch vụ Các ngân hàng thường không chú trọng cho vay đối với các DNVVN bởi quy mô doanh nghiệp nhỏ mà rủi ro cao Tuy nhiên với sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại cùng sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài khiến môi trường ngân hàng ngày càng cạnh tranh gay gắt buộc các ngân hàng phải quan tâm hơn tới đối tượng khách hàng này Không như các doanh nghiệp tập đoàn kinh tế lớn, có quan hệ với nhiều ngân hàng cùng một lúc, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chỉ có quan hệ với một hoặc hai ngân hàng cho nên ngân hàng có thể cung cấp và thu phí trọn gói các dịch vụ tài chính của mình
Việc nâng cao hiệu quả cho vay đòi hỏi ngân hàng phải có sự phát triển toàn diện
về sản phẩm và dịch vụ của mình để có thể phục vụ tốt khách hàng điều này sẽ giúp nâng cao uy tín và hình ảnh của ngân hàng Đặc biệt khi ở Việt Nam, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 96% tổng số các doanh nghiệp
Số lượng các doanh nghiệp rất lớn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực ngành nghề, khoản vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối nhỏ không quá tập trung vốn nên cho vay DNVVN giúp ngân hàng phân tán rủi ro, dễ quản lý việc sử dụng vốn vay
Trang 17của khách hàng Quy mô của doanh nghiệp tương đối nhỏ, hoạt động trong một địa phương xác định vì vậy ngân hàng dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu, xác minh thông tin
về doanh nghiệp và có thể sàng lọc được những khoản tín dụng tốt nâng cao hiệu quả cho vay, tăng cường khả năng sinh lời
1.3.2.3 Đối với nền kinh tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Nâng cao hiệu quả cho vay DNVVN là ngân hàng đang góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Khi doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng thì sẽ phát triển cả về quy mô và chất lượng Từ đó doanh nghiệp có thể thu hút thêm lao động, tạo công ăn việc làm, giải quyết được vấn đề thất nghiệp cho nền kinh
tế Nếu các ngân hàng thực hiện tốt, hiệu quả cho vay DNVVN, điều đó sẽ góp phần điều chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn (doanh nghiệp vừa và nhỏ), tăng cường sản xuất kinh doanh tạo ra của cải vật chất, kích thích sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân
hàng thương mại
Để đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ thông qua các chỉ tiêu định tính (sự tuân thủ quy trình cho vay, khả năng thu hút khách hàng, ) mà còn phải dựa vào các chỉ tiêu định lượng (kết quả kinh doanh, tỉ lệ nợ quá hạn, ) Đánh giá hiệu quả cho vay DNVVN bao gồm các chỉ tiêu sau [8, Tr 434]:
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính
Để đánh giá hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ ngân hàng dựa vào các chỉ tiêu sau:
Sự tuân thủ quy trình cho vay
Cho vay là một hoạt động chứa nhiều rủi ro nên khi tiến hành hoạt động cho vay đòi hỏi cán bộ tín dụng phải luôn luôn đảm bảo tuân thủ quy trình cho vay theo đúng quy định của ngân hàng
Trang 18 Khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng
Ngân hàng có khả năng đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng là bằng chứng thể hiện hiệu quả cho vay của ngân hàng Điều này thể hiện ở thủ tục thuận tiện, nhanh gọn, cung cấp vốn nhanh song vẫn đảm bảo nguyên tắc an toàn, sinh lời
1.3.3.2 Các chỉ tiêu định lượng
Nếu các chỉ tiêu định tính chỉ mang tính chất trừu tượng, khó xác định hiệu quả thì các chỉ tiêu định lượng bằng những con số cụ thể thông qua các chỉ tiêu sẽ giúp Ngân hàng đánh giá một cách tương đối chính xác về hiệu quả cho vay DNVVN tại các ngân hàng Do đó, việc tính toán cần đảm bảo sự chính xác và đầy đủ
Chỉ tiêu thu nhập
Tỷ trọng thu nhập từ cho vay DNVVN được tính bằng lãi thu được từ cho vay DNVVN trên tổng thu nhập của ngân hàng Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay DNVVN, cho biết tỷ lệ lãi phát sinh từ cho vay DNVVN trên một đơn vị thu nhập là bao nhiêu Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ thu nhập từ cho vay DNVVN càng lớn thể hiện hiệu quả cho vay DNVVN cao
Tỷ suất lợi nhuận từ cho vay:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ suất lợi nhuận từ cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Lợi nhuận cho vay DNVVN Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN 1
Là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả cho vay Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay, một khoản cho vay không được xem là có hiệu quả nếu nó không mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này có giá trị càng cao, lợi nhuận cho vay DNVVN lớn chứng tỏ các khoản cho vay của ngân hàng có khả năng sinh lời càng cao, đạt hiệu quả trong cho vay DNVVN của ngân hàng Ngoài ra khi so sánh hiệu quả cho vay DNVVN giữa các ngân hàng thương mại không thể kết luận được hiệu quả cho vay của ngân hàng này cao hơn so với ngân hàng khác bởi có tỷ suất lợi nhuận từ cho vay cao hơn do mỗi ngân hàng lại có một chính sách lãi suất khác nhau Cho nên chỉ tiêu này cũng được xét đến một cách tương đối trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác nhằm đánh giá hiệu quả cho vay
Tỷ trọng doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ trọng doanh số cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Doanh số cho vay DNVVN Tổng doanh số cho vay 1
Trang 19Doanh số cho vay DNVVN là tổng số tiền ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời kì nhất định, tùy vào chu kì kinh tế của ngân hàng (thường là năm) Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN trong tổng số cho vay của ngân hàng trong một năm Tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN càng cao thể hiện ngân hàng có uy tín, cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng, thu hút nhiều DNVVN đến vay, thể hiện hiệu quả cho vay DNVVN
Tỷ trọng doanh số thu nợ
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ trọng doanh số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Doanh số thu nợ DNVVN Tổng doanh số thu nợ cho vay 1
Doanh số thu nợ DNVVN là tổng số vốn cho vay mà ngân hàng thu về khi cho vay DNVVN trong một thời gian nhất định, thường tính theo năm Ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối là tỷ trọng doanh số thu nợ DNVVN trong tổng doanh soos thu
nợ của ngân hàng trong một năm Tỷ trọng doanh số thu nợ DNVVN càng cao chứng
tỏ công tác thu nợ cho vay DNVVN của ngân hàng tốt, gặp nhiều thuận lợi Cho thấy DNVVN vay vốn của ngân hàng sản xuất kinh doanh có lãi, trả được nợ cho ngân hàng Ngược lại tỷ trọng này thấp có thể là do doanh số cho vay giảm sút hoặc công tác thu nợ gặp khó khăn Điều này cho thấy ngân hàng chưa đạt được hiệu quả cho vay DNVVN
Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay
Chỉ tiêu này giúp đo lường tốc đọ luân chuyển vốn cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, phản ánh thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm trong thời kỳ đó, và được xác định bằng công thức:
Vòng quay vốn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Doanh số thu nợ DNVVN
Dƣ nợ cho vay DNVVN 1
Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng, phản ánh sự quay vòng vốn nhanh hay chậm trong cho vay DNVVN Vòng quay càng lớn, nhanh đi cùng với số dư nợ luôn tăng chứng tỏ đồng vốn mà ngân hàng bỏ ra được sử dụng một cách có hiệu quả, thể hiện việc thu hồi nợ tốt, tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Đặc biệt đối với những năm nhà nước có ra gói cứu trợ hoặc hỗ trợ lãi suất để doanh nghiệp vay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn thì năm đó vòng quay vốn tín dụng
sẽ có thể cao hơn các năm khác Do có sự hỗ trợ từ nhà nước nên các DNVVN có điều kiện vay bổ sung vốn lưu động nhiều hơn, trong ngắn hạn doanh nghiệp có thể tạo ra
Trang 20nhiều lợi nhuận từ vốn vay được, trả được nợ cho ngân hàng, doanh số thu nợ tăng, dẫn đến vòng quay vốn cho vay DNVVN nhanh hơn trong năm đó
Chỉ tiêu hệ số thu nợ đƣợc xác định bằng công thức:
Hệ số thu nợ cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Doanh số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hệ số thu nợ phản ánh trong kì ngân hàng thu hồi được bao nhiêu nợ trên doanh
số cho vay DNVVN thông qua các khoản thu đã đến hạn Thể hiện mối quan hệ giữa doanh số cho vay và doanh số thu nợ của cho vay DNVVN.Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả thu nợ của ngân hàng qua đó đánh giá được hiệu quả cho vay cho vay của ngân hàng đó
Chỉ tiêu dƣ nợ đƣợc xác định nhƣ sau:
Dƣ nợ ngắn hạn cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Dƣ nợ cho vay ngắn hạn DNVVN Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN 1
Chỉ tiêu này thể hiện dư nợ cho vay DNVVN trong ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ ngân hàng trong từng thời kì Tỷ lệ này càng cao thể hiện
sự chú trọng phát triển cho vay DNVVN của ngân hàng cho việc bổ sung vốn lưu động của DNVVN
Dƣ nợ trung và dài hạn Dƣ nợ cho vay trung và dài hạn DNVVN
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN
Chỉ tiêu này thể hiện dư nợ cho vay DNVVN trong trung và dài hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ ngân hàng trong từng thời kì Tỷ lệ này càng cao thể hiện sự chú trọng của ngân hàng trong việc cho vay phát triển dự án đầu tư của DNVVN
Nhóm chỉ tiêu liên quan đến nợ quá hạn:
Việc khách hàng hoàn trả cả nợ gốc và lãi đúng hạn góp phần thể hiện hiệu quả cho vay của ngân hàng Tuy nhiên khi đến thời hạn thanh toán khoản vay mà khách hàng không có khả năng thanh toán thì khoản vay đó được coi là nợ quá hạn Theo văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 “Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” thì khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn
bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn Nợ quá hạn thể hiện sự kém hiệu quả trong cho vay, báo hiệu sự rủi ro đối với ngân hàng và khách hàng Các khoản nợ quá hạn bao gồm:
Nợ cần chú ý (Nhóm 2); Nợ dưới tiêu chuẩn (Nhóm 3); Nợ nghi ngờ (Nhóm 4); Nợ có khả năng mất vốn (Nhóm 5) Trong đó cũng theo văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày
04 tháng 06 năm 2014 có thể tóm tắt phân loại các nhóm nợ như sau:
Trang 21Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ lệ nợ quá hạn Dƣ nợ quá hạn DNVVN
Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN 1
Hoàn trả đầy đủ cả nợ gốc và lãi khi đến hạn thể hiện mối quan hệ cho vay hoàn hảo giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với ngân hàng Nợ quá hạn là biểu hiện không lành mạnh trong quá trình cho vay của các ngân hàng với doanh nghiệp, báo hiệu sự rủi ro với ngân hàng và doanh nghiệp Tuy nhiên trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi.Chỉ tiêu này cho thấy việc khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng Tùy theo nguyên nhân và mức độ mà ngân hàng phân nợ quá hạn thành nhiều nhóm khác nhau để quản lý Một số khoản nợ quá hạn do một số lý do khách quan mà doanh nghiệp chưa thể trả nợ nhưng doanh nghiệp vẫn là đối tượng khách hàng có uy tín thì khoản nợ đó ngân hàng sẽ phân vào nợ có khả năng thu hồi vốn Một số khoản
nợ quá hạn do doanh nghiệp cố tình không trả thì sẽ được phân vào nợ có không có khả năng thu hồi vốn Như vậy có thể chia nợ quá hạn thành hai loại:
Trang 22Nợ quá hạn có khả năng thu hồi cho vay doanh ghiệp vừa và nhỏ:
Nợ quá hạn có
khả năng thu hồi =
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi cho vay DNVVN Tổng dƣ nợ quá hạn cho vay DNVVN 1
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Nợ quá hạn không
có khả năng thu hồi =
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN 1 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu:
Nơ xấu hay các khoản nợ khó đòi hay không thể đòi được được định nghĩa theo văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 thì nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3,4 và 5
Nợ xấu mang các đặc điểm như: Doanh nghiệp không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi mà các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày trở lên; khả năng tài chính của khách hàng ngày càng xấu đi khiến ngân hàng có khả năng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi cũng như việc tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá gia trị khi phát mãi tài sản là không đủ trang trải nợ gốc và lãi Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng công thức:
Tỷ lệ vợ xấu cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Dƣ nợ xấu cho vay DNVVN Tổng dƣ nợ cho vay DNVVN 1
Dư nợ xấu cho vay DNVVN càng lớn trong tổng dư nợ cho vay DNVVN thể hiện doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh không tốt, ngân hàng không thể thu hồi nợ (gốc và lãi), cho thấy hiệu quả cho vay DNVVN không đảm bảo Theo ý b điểm 1 điều 14 thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20 tháng 11 năm 2014 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tỷ lệ nợ xấu đảm bảo là dưới 3%
Hệ số rủi ro cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Hệ số rủi ro cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ =
Tổng dƣ nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tổng tài sản có
Tài sản có của các ngân hàng thương mại bao gồm các khoản mục: Tài sản ngân quỹ; tài sản cho vay; tài sản đầu tư, tài sản cố định Tỷ trọng các khoản cho vay DNVVN trong tổng tài sản có càng lớn thì rủi ro càng cao song đồng thời khả năng sinh lời cũng cao hơn
Trang 23Chỉ tiêu phản ánh những hao phí trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ lệ trích lập dự phòng
rủi ro cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ
= Dự phòng rủi ro cho vay DNVVN đƣợc trích
Dƣ nợ nh quân cho vay DNVVN 1
Tỷ lệ này cho biết dự phòng rủi ro cho vay DNVVN được trích so với dư nợ bình quân cho vay DNVVN Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả cho vay DNVVN chưa tốt, còn phải trích lập dự phòng nhiều
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay là khoản mục dự trữ mất vốn, được thể hiện trong bảng cân đối kế toán, là số cộng dồn của khoản mục dự phòng rủi ro tín dụng trừ đi nợ quá hạn được xóa Tỷ lệ này thường ít khi vượt quá 5% [8, Tr 438]
Tỷ lệ nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được xử lý rủi ro:
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Tỷ lệ xử lý nợ doanh
nghiệp vừa và nhỏ =
Dƣ nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc xử lý
Dƣ nợ nh quân cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ 1
Tỷ lệ nợ đã được xử lý rủi ro cho biết được số nợ có rủi ro đã được ngân hàng xử
lý so với dư nợ bình quân cho vay DNVVN Tỷ lệ này càng thấp thì hiệu quả cho vay DNVVN càng cao
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro:
Trong nền kinh tể thị trường cạnh tranh và đày biến động, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các rủi ro do sự thay đổi giá cả, khủng hoảng tài chính, thay đổi công nghệ… khiến các DNVVN gặp khó khăn, thua lỗ dẫn dến phá sản Mặt khác trong quá trình cho vay, do sơ xuất ngân hàng không đánh giá đúng năng lực tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, không kiểm tra được hiệu quả dự án mà mình cho vay dẫn đến rủi ro trong cho vay DNVVN Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng bù đắp rủi ro chung và rủi ro cho vay DNVVN nói riêng Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Hệ số khả năng ù đắp cho vay
DNVVN đã đƣợc xử lý rủi ro =
Dự phòng rủi ro cho vay DNVVN đƣợc trích
Dƣ nợ cho vay DNVVN đã đƣợc xử lý rủi ro
Hệ số này thể hiện khả năng bù đắp rủi ro cho các khoản cho vay DNVVN, hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện ngân hàng không đủ khả năng bù đắp rủi ro Nếu hệ số này lớn hơn 1 có nghĩa là số trích lập dự phòng rủi ro cao hơn số dư nợ cho vay DNVVN đã được xử lý rủi ro, ngân hàng vẫn còn khả năng để bù đắp rủi roc ho vay DNVVN Còn
Trang 24nếu hệ số này bằng 1 thì ngân hàng vừa đủ khả năng bù đắp bù đắp rủi ro cho vay DNVVN
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
Hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, trong đó có những yếu tố kiểm soát được như: các chính sách tín dụng, trình độ của cán bộ tín dụng, chất lượng công tác thẩm định, kiểm tra giám sát,…Và các yếu tố không kiểm soát được như môi trường kinh tế, môi trường chính trị - xã hội, chính sách pháp luật
1.3.4.1 Nhân tố kiểm soát được
Các nhân tố kiểm soát được trong doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Trình độ quản lý cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp vừa và nhỏ: Một doanh
nghiệp với năng lực quản lý tốt, đội ngũ nhân viên giỏi, trình độ cao sẽ quyết định đến khả năng thành công của doanh nghiệp Từ đó xây dựng được những phương án kinh doanh hiệu quả, sử dụng tố nguồn vốn vay từ ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả cho vay DNVVN của ngân hàng Tuy nhiên thực tế lại cho thấy trình độ quản lý của các DNVVN còn rất hạn chế, phần lớn các nhà quản lý doanh nghiệp chỉ dựa trên kinh nghiệm tự có, chưa qua trường lớp đào tạo một cách bài bản làm hạn chế năng lực quản lý Tuy nhiên điều này có thể kiểm soát được nếu như chủ doanh nghiệp tự động tham gia các khóa đào tạo kiến thức chuyên sâu, nâng cao trình độ quản lý của mình
Quy mô vốn và năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Năng lực tài
chính của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định khả năng trả nợ của doanh nghiệp, được thể hiện ở quy mô vốn tự có, các chỉ số về hiệu quả, về khả năng thanh toán Nếu quy mô vốn và năng lực tài chính đủ lớn thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tránh được nguy cơ mất khả năng thanh khoản các khoản nợ của ngân hàng, hạn chế được tổn thất của ngân hàng khi doanh nghiệp mất hả năng trả nợ, góp phần nâng cao hiệu quả cho vay đối với DNVVN Trên thực tế các DNVVN quy mô vốn cũng như khả năng tài chính còn rất hạn hẹp nên thường có xu hướng đầu tư không hợp lý dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi vay vốn ngân hàng cần đảm bảo nguồn trả nợ từ chính phương án kinh doanh của mình cũng như bổ sung các tài sản bảo đảm cần thiết, làm căn cứ để ngân hàng cho vay doanh nghiệp Năng lực tài chính yếu kém cũng chính là bất lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng, nếu ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ dẫn đến rủi ro cao Đây cũng là vấn đề mà ngân hàng cần lưu ý khi cho vay DNVVN
Phương án sản xuất kinh doanh: Khi doanh nghiệp có một phương án sản xuất
kinh doanh tốt, khả năng tạo ra lợi nhuận lớn, đảm bảo khả năng trả nợ, đảm bảo khả
Trang 25năng sử dụng vốn đúng mục đích như vậy hiệu quả cho vay sẽ cao hơn Trước trong và sau cho vay DNVVN, ngân hàng phải kiểm tra sự khả thi của phương án vay, giám sát doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích, đôn đốc doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ trả nợ Về phía doanh nghiệp khi kiểm soát, thực hiện phương án kinh doanh tốt là doanh nghiệp đã tiến gần hơn tới nguồn vốn vay ngân hàng, đảm bảo khả năng trả nợ, tăng cường uy tín của mình với ngân hàng
Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ: nhân tố con người luôn là
yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả cho vay, không chỉ là đạo đức phía ngân hàng
mà còn là đạo đức phía DNVVN Đạo đức kinh doanh của DNVVN được thể hiện ở việc doanh nghiệp cần cung cấp đầy đủ thông tin và trong sạch trong tài chính Thông tin doanh nghiệp cung cấp vẫn là nguồn thông tin chính để ngân hàng ra quyết định cấp tín dụng Do đó, nếu doanh nghiệp cung cấp các thông tin về báo cáo tài chính, phương án sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn chính xác và đầy đủ sẽ giúp ngân hàng xác định chính xác năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp Ngược lại, việc cung cấp thông tin lệch lạc từ phía doanh nghiệp có thể dẫn đến những quyết định sai lầm của ngân hàng nếu như không có sự kiểm tra lại chất lượng thông tin, dẫn đến những rủi ro mất vốn
Các nhân tố kiểm soát được trong ngân hàng:
Quy mô và cơ cấu nguồn vốn trong ngân hàng: Để đạt hiệu quả cho vay trong
ngân hàng thì công tác huy động vốn của ngân hàng cũng phải tốt Do phải đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, cũng như dảm bảo nguyên tắc an toàn và sinh lời nên ngân hàng luôn cần có chiến lược huy động vốn phù hợp và phân chia thành các tài sản (khoản vay) thích hợp Quy mô nguồn vốn quyết định đến quy mô cho vay, khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng cũng như uy tín và vị thế của ngân hàng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cho vay Bằng việc đảm bảo, gia tăng nguồn vốn chư sở hữu của chính ngân hàng, cũng như đưa ra các gói sản phẩm hợp lý, đa dạng huy động vốn từ dân cư gia tăng nguồn vốn để phục vụ nhu cầu cho vay DNVVN
Công nghệ kỹ thuật: Với sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ đòi hỏi hệ
thống công nghệ ngân hàng cũng phải phát triển theo Ngân hàng xây dựng một hệ thống công nghệ kỹ thuật hiện đại sẽ đơn giản hóa, giảm thiểu khối lượng công việc cho cán bộ ngân hàng, đặc biệt trong cho vay doanh nghiệp thì công nghệ giúp giảm khối lượng công việc của cán bộ làm công tác tín dụng, giảm thời gian xét duyệt, thẩm định dự án, hỗ trợ cán bộ trong việc thu thập thông tin, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch Sự hỗ trợ của công nghệ còn giúp ngân hàng thu thập thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, xây dựng
Trang 26kế hoạch cho vay hiệu quả Đồng thời, trang thiết bị hiện đại cùng những phần mềm công nghệ thông minh cũng giúp cho ngân hàng quản lý khách hàng chặt chẽ hơn, kịp thời phát hiện ra sai sót, giảm chi phí cho ngân hàng cũng như đánh giá doanh nghiệp khách quan và khoa học hơn
Chính sách cho vay của ngân hàng với doanh nghiệp vừa và nhỏ: Chính sách cho
vay là một hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến việc khuyến khích hay hạn chế cho vay nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của ngân hàng Nếu ngân hàng đang khuyến khích cho vay thì quy mô cho vay của ngân hàng sẽ mở rộng, hỗ trợ cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn vay và ngược lại nếu ngân hàng hạn chế cho vay thì quy mô cho vay của ngân hàng sẽ thu hẹp, hạn chế đối tượng khách hàng vay, điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả cho vay Các chính sách cho vay của ngân hàng còn liên quan đến các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, lĩnh vực tài trợ đối với khách hàng, quy trình quản lý cho vay, lãi suất cho vay,… Nếu chính sách cho vay được xây dựng một cách hợp lý, thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả cho vay tốt, và ngược lại nếu ngân hàng xây dựng chính sách cho vay lỏng lẻo, thiếu tính khoa học sẽ dẫn đến những rủi ro trong cho vay làm hiệu quả cho vay kém Ngân hàng khi quy định các chính sách cho vay DNVVN cần có những điểm chính sau:
- Quy mô và giới hạn cho vay: các ngân hàng có quy định riêng về quy mô và giới hạn cho vay đối với từng ngành nghề, lĩnh vực và đối với thời hạn vay cụ thể Chính sách này nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, tránh những khoản vay có mức
độ rủi ro cao, nâng cao hiệu quả cho vay của ngân hàng
- Chính sách cho vay từng nhóm doanh nghiệp: Ngân hàng tiến hành phân loại thành nhiều nhóm doanh nghiệp khác nhau dựa trên ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, quy mô doanh nghiệp và tình hình tài chính Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ
có chính sách phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp đó Đối với doanh nghiệp có mức xếp hạng cao ngân hàng sẽ xác định đây là nhóm khách hàng mục tiêu, không ngừng tăng cường mở rộng để phát triển mối quan hệ bền vững Đối với doanh nghiệp có mức xếp hàng thấp ngân hàng xem xét cho vay duy trì hay không cho vay nữa Chính sách cho vay từng nhóm doanh nghiệp là một trong những biện pháp cụ thể, rõ ràng giúp ngân hàng có thể sàng lọc doanh nghiệp, tránh những rủi ro, nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Chính sách về lãi suất, thời hạn cho vay quy định cụ thể mức lãi suất cũng như thời hạn cho vay cụ thể áp dụng cho từng đối tượng doanh nghiệp, tại các thời điểm khác nhau trên những phạm vi địa lí khác nhau
Trang 27- Chính sách về bảo đảm tiền vay cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cho vay DNVVN của ngân hàng Những chính sách hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng hạn chế rủi
ro trong cho vay nâng cao hiệu quả cho vay DNVVN
Định hướng phát triển của ngân hàng: Mỗi ngân hàng đều có định hướng riêng
cho mình để tạo ấn tượng trên thị trường ngân hàng tuy nhiên không nằm ngoài mục tiêu chung vì lợi nhuận Việc có một định hướng phát triển rõ ràng trong cho vay dẫn đến ngân hàng có chính sách phân bổ vốn cho vay hợp lý cho đối tượng khách hàng
mà ngân hàng hướng đến Điều này ảnh hưởng trực tiếp đên hiệu quả cho vay DNVVN bởi nếu ngân hàng có định hướng phát triển các dịch vụ cho vay với đối tượng khách hàng DNVVN, ngân hàng sẽ đưa ra các gói dịch vụ hỗ trợ cho vay DNVVN nhằm đáp ứng nhu cầu của đối tượng này
Năng lực cạnh tranh: Trước sự phát triển của nền kinh tế mở, cùng sự hội nhập
với thế giới, cũng như quá trình cổ phần hóa các ngân hàng nhà nước đã khiến ngành Ngân hàng trở nên cạnh tranh hơn, không chỉ cạnh tranh với ngân hàng trong nước mà còn cả các ngân hàng nước ngoài Ngân hàng phải nghiên cứu các đối tượng doanh nghiệp cũng như nhu cầu vay vốn của họ để đưa ra những gói sản phẩm phù hợp, đáp ứng nhu cầu cũng như năng lực của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh, vị thế và uy tín của ngân hàng tốt, thu hút nhiều khách hàng chiếm lĩnh được thị phần sẽ giúp ngân hàng gia tăng hiệu quả cho vay tránh khỏi những nguy cơ bị sáp nhập, mua lại với giá
rẻ như thực trạng hiện thấy trong hệ thống các ngân hàng ở Việt Nam
Trình độ của cán bộ tín dụng: Con người luôn luôn là nhân tố quan trọng quyết
định trong phần lớn các hoạt động Dịch vụ ngân hàng là dịch vụ được xây dựng trên niềm tin nên yếu tố này càng trở nên quan trọng hơn, cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn tốt nắm chắc nghiệp vụ sẽ giúp quá trình phân tích đánh giá chính xác khách hàng vay vốn, đánh giá chính xác về doanh nghiệp đưa ra quyết định cho vay chính xác và có sự giám sát chặt chẽ trong quá trình giải ngân sẽ giúp nâng cao hiệu quả cho vay, mang lại uy tín cho ngân hàng Ngược lại nếu cán bộ tín dụng không có
đủ trình độ năng lực đánh giá khách hàng, quyết định cho vay nhầm đối tượng hay bỏ qua những khách hàng tiềm năng sẽ gây nên những tổn thất không đáng có cho ngân hàng Cho nên cán bộ tín dụng cần phải đươc tuyển dụng một cách cẩn thận, là những người có năng lực và được đào tạo toàn diện cả về kiến thức và đạo đức nghề nghiệp Mỗi cán bộ tín dụng phải không ngừng trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời phát huy đạo đức nghề nghiệp, để hoạt động tín dụng có tác dụng to lớn không chỉ với DNVVN, ngân hàng mà với cả nền kinh tế
Năng lực của ngân hàng trong công tác thẩm định và giám sát: Việc thẩm định
nhằm để xác định mức cấp tín dụng, thời hạn, lãi suất, cách thức trả nợ, cách thức bảo
Trang 28đảm khoản vay sao cho phù hợp nhất đối với doanh nghiệp và bảo đảm an toàn cho ngân hàng Cho nên đòi hỏi ngân hàng phải thực sự thận trọng, cẩn thận trong công tác thẩm định để lựa chọn ra những phương án vay có hiệu quả cũng như tìm ra những khách hàng đáng tin cậy nhất để thực hiện cho vay Ngân hàng kiểm soát vấn đề này bằng cách thực hiện nghiêm túc quy trình cho vay, thuê các chuyên gia trong lĩnh vực định giá tài sản, cũng như đào tạo những cán bộ ưu tú, có năng lực thẩm định tốt Ngân hàng cũng có thể xem xét mối quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế khác để đánh giá uy tín của doanh nghiệp
Trong quy trình cho vay, giám sát và kiểm tra sau giải ngân là một bước vô cùng quan trọng, quyết định trực tiếp đến hiệu quả cho vay Sau khi công tác giải ngân/phát hành bảo lãnh hoàn thành, cán bộ tín dụng luôn luôn phải theo sát doanh nghiệp, kiểm tra tiến độ thực hiện công việc, và đặc biệt là giám sát xem liệu doanh nghiệp có sử dụng khoản vay đúng mục đích hay không Đồng thời, cán bộ tín dụng cùng ngân hàng
là người tư vấn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đảm bảo hiệu quả cho vay
Nắm bắt thông tin tín dụng: Trong thời đại công nghệ thông tin, việc nắm bắt
được các thông tin là vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong cho vay khách hàng DNVVN Thông tin ở đây có thể là thông tin về những chính sách pháp luật của nhà nước trong cho vay DNVVN, các thông tin về tình hình tài chính thế giới, thông tin về các sản phẩm cạnh tranh của ngân hàng khác và đặc biệt hơn là thông tin về chính khách hàng doanh nghiệp mà ngân hàng cho vay Ngân hàng đảm bảo nắm bắt thông tin một cách cụ thể chính xác, kịp thời đầy đủ sẽ giúp ngân hàng có những quyết định cho vay chính xác cũng như có công tác giám sát, kiểm tra một cách kịp thời, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả cho vay
Lịch sử tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ: Lịch sử tín dụng của DNVVN thể
hiện lịch sử vay mượn của doanh nghiệp với một hoặc một số NHTM kể từ khi quan
hệ tín dụng bắt đầu được thiết lập Thông thường tại Việt Nam, các NHTM tra cứu thông tin lịch sử tín dụng của NH thông qua cổng thông tin CIC (trung tâm thông tin tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước) Thông qua việc tra cứu này, các ngân hàng có thể biết được doanh nghiệp này đã và đang có quan hệ tín dụng với ngân hàng nào khác hay chưa, tình hình trả nợ, lãi có tốt hay không Đây là cơ sở để ngân hàng xác định tình trạng của doanh nghiệp trong quá khứ, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn nâng cao hiệu quả cho vay DNVVN
Ta có thể xét một ví dụ qua đó cho thấy sự ảnh hưởng của các nhân tố trên tới hiệu quả cho vay doanh nghiệp Ví dụ như [4] vụ án nợ nần của đại gia cà phê tại 7 nhà băng Vì tin vào vị thế vững vàng của công ty Trường Ngân, nhiều ngân hàng đã
Trang 29bỏ công săn đón để cho vay Năm 2009, doanh nghiệp này thiết lập quan hệ tín dụng đầu tiên với Ngân hàng Quốc tế (VIB) vay số vốn hơn 100 tỷ đồng, VIB đã nhận hàng tồn kho làm tài sản thế chấp, được đăng ký giao dịch đảm bảo và được bảo vệ, giám sát bởi Công ty quản lý tài sản của nhà băng (VIB AMC) Đến năm 2011, Maritime Bank cho Trường Ngân vay 100 tỷ đồng để bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh
cà phê tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là 1.360 tấn cà phê Robusta, được quản lý ở kho hàng của Công ty Trường Ngân Việc thế chấp các tài sản này cũng đã được đăng
ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật Vietinbank cũng cho Trường Ngân vay vốn vào đầu năm 2012 với tài sản thế chấp là 4.546 tấn cà phê trong kho cùng với một số bất động sản Các ngân hàng đều cho vay dưới hình thức hàng tồn kho luân chuyển, có nghĩa là hàng tồn kho mà vẫn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Với hình thức này, các ngân hàng ký hợp đồng thế chấp, trong đó khách vay vẫn có thể xuất nhập hàng nhưng phải cam kết duy trì một lượng hàng tồn kho nhất định Riêng với ba ngân hàng Agribank, MB và OCB cho Trường Ngân vay vốn năm 2012
đã nhận bảo đảm của Trường Ngân theo nguyên tắc nhận hàng cụ thể, vị trí lưu giữ hàng hóa theo đặc thù kho hàng.Tuy nhiên, Trường Ngân phân kho thành từng khu vực nhỏ, có 7 cửa ra vào và mỗi nhà băng có khoang hàng thế chấp riêng
Đến đầu năm 2013, tình hình trả nợ của công ty Trường Ngân có dấu hiệu không đúng hạn Quá trình kiểm tra, giám sát cho thấy, doanh nghiệp này có quan hệ với nhiều tổ chức tín dụng, có hiện tượng thế chấp trùng hàng hóa, nên ngân hàng đã tăng cường kiểm soát Cuối tháng 5/2013, đại diện 7 ngân hàng đã tổ chức cuộc họp với Trường Ngân và xác định kho hàng thế chấp có sự chồng lấn Tranh chấp giữa một bên là ba ngân hàng có khoang riêng với một bên là 4 nhà băng nhận đảm bảo bằng toàn bộ hàng tồn kho bắt đầu nổ ra Ngày 5/6/2013, Toà án quận 4 (TP HCM) có quyết định công nhận thỏa thuận giữa Công ty Trường Ngân và OCB, nếu Công ty Trường Ngân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết trả nợ, OCB có quyền yêu cầu phát mại đối với toàn bộ tài sản bảo đảm là hàng hóa 3.360 tấn cà phê để thu hồi
nợ Quyết định này cùng với việc thi hành án sau đó đã đẩy việc tranh chấp tới mức căng thẳng hơn Trường Ngân lợi dụng sơ suất từ phía các ngân hàng rút ruột, tráo đổi hàng hóa vì kho có nhiều cửa vào, bên trong lại thông nhau Tổng lượng hàng lưu kho thực tế chỉ có khoảng 1.500 tấn, chưa bằng một nửa so với con số được doanh nghiệp
kê khai để cầm cố tại Ngân hàng Phương Đông (OCB) Trong đó, chỉ có khoảng 700 tấn cà phê, còn lại hơn 800 tấn rác gồm sỏi, vỏ cà phê, tro trấu… được ngụy trang trong các bao tải trộn lẫn trong kho
Vụ việc 7 ngân hàng cùng cố gắng giành quyền kiểm soát kho cà phê của Trường Ngân vẫn chưa có kết luận cuối cùng ai đúng, ai sai Tuy nhiên, theo các chuyên gia,
Trang 30cách thức cho vay và những kiểu hành xử thời gian qua của các định chế tài chính cần được xem xét lại và làm bài học chung cho các ngân hàng về cách ứng xử trong quan
hệ tín dụng với những khách hàng được đánh giá là khách có vị thế, đầy tiềm năng
1.3.4.2 Nhân tố không kiểm soát được
Môi trường kinh tế: Là một thành phần trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng cũng như doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường này
Sự biến động của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của NH và doanh nghiệp biến động theo Bất kì ngân hàng nào cũng chịu sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế, trong từng giai đoạn chu kỳ của nền kinh tế mà sự ảnh hưởng này mang lại lợi ích cũng như hạn chế khác nhau cho ngân hàng Trong giai đoạn kinh tế khó khăn khủng hoảng thì nhu cầu vay vốn của DNVVN sẽ giảm, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế kém, các DNVVN trở nên thận trọng hơn trong chiến lược vay vốn, nguồn vốn ngân hàng huy động được không thể tiến hành cho vay dẫn đến dư thừa vốn, hiệu quả cho vay cũng giảm sút Ngược lại khi nền kinh tế đang trên
đà phát triển, nhu cầu vay vốn của DNVVN cao phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoạt động cho vay phát triển, hiệu quả cho vay gia tăng Tuy nhiên, dù nền kinh tế đang khủng hoảng hay phát triển hoạt động ngân hàng vẫn luôn tiềm ản nhiều rủi ro đòi hỏi ngân hàng phải có chiến lược dung hòa được giữa nguồn vốn huy đông
và nguồn vốn cho vay, đảm bảo khả năng thanh toán cũng như khả năng sinh lời cho ngân hàng
Môi trường pháp lý: Được hiểu là các hệ thống văn bản pháp luật quy định có
liên quan đến ngân hàng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện nay dù đã trải qua nhiều lần sửa đổi và mở rộng quyền hạn cho các ngân hàng thương mại nhưng hệ thống văn bản pháp luật chưa thật sự đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc
ký kết và thực hiện các hợp đồng Nhiều văn bản còn sơ hở tạo điều kiện cho doanh nghiệp lách luật gây cản trở khó khăn cho ngân hàng trong công tác quản lý trước và sau cho vay Sự thay đổi chủ trương của Nhà nước cũng ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của doanh nghiệp, những thay đổi đột ngột về pháp luật khiến doanh nghiêp không
đủ khả năng thích ứng kịp thời, gây cản trở quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng sinh lời giảm, không có nguồn để trả nợ cho ngân hàng Khi đó hiệu quả cho vay của ngân hàng cũng giảm sút
Hiện nay, Chính phủ cùng các bộ, ngành khẩn trương sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi các phương án đơn giản hóa đã được thông qua Nhiều nội dung cải cách đã đi vào thực tế cuộc sống, mang lại lợi ích trực tiếp cho các doanh nghiệp Việt Nam đã áp dụng thành công nhiều kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực cải cách thể chế với sự vận dụng linh hoạt phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước,
Trang 31như việc nhà nước cho phép doanh nghiệp tự in hóa đơn, hay giảm bớt các thủ tục thành lập doanh nghiệp, Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 về hỗ trợ pháp
lý doanh nghiệp và Quyết định số 585/QĐ–TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 – 2014 do Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam xin đề xuất triển khai một số hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp vừa và nhỏ như việc hoàn thành khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động, tăng cường năng lực tiếp cận thông tin chính sách pháp luật cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động dưới nhiều hình thức nhằm tuyên truyền, khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật, xây dựng mạng lưới tư vấn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại các vùng, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
Từ năm 2012, theo báo cáo kế hoạch sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2015, Bộ kế hoạch và đầu tư cục phát triển doanh nghiệp, NHNN đã quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tốt đa bằng VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên trong đó có DNVVN với mức lãi suất thấp hơn 1-2% so với các lĩnh vực kinh doanh khác Hiện nay, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với DNVVN là 8%/năm (các lĩnh vực khác phổ biến khoảng 9-10%/năm) NHNN linh hoạt chấp thuận cho một số TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho vay bằng ngoại tệ đối với một số DNVVN để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh hàng hoá thuộc lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ
Năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, NHNN tăng cường phối hợp với các Bộ, chính quyền địa phương, các đoàn đại biểu quốc hội triển khai chương trình kết nối doanh nghiệp - ngân hàng trên địa bàn tỉnh, thành phố để kịp thời đưa ra giải pháp giải quyết khó khăn về vốn cho doanh nghiệp Năm 2013, NHNN đã tổ chức được 28 đợt
ký kết và 654 doanh nghiệp ký kết hợp đồng tín dụng (chủ yếu là DNVVN) với số tiền cam kết cho vay là hơn 13.700 tỷ đồng, số tiền đã giải ngân đạt 12.300 tỷ đồng, đạt 90% tổng số cam kiết, lãi xuất cho vay 9%/năm Ngoài ra, NHNN triển khai một số chương tình tín dụng như: cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, liên kết trong sản xuất nông nghiệp (số tiền các NHTM cho vay là 2.700 tỷ đồng); thí điểm triển khai sản phẩm tín dụng liên kết 4 nhà trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, xây dựng cơ bản (88 dự án với số tiền 77.800 tỷ đồng)
Hỗ trợ DNVVN tiếp cận tín dụng thông qua Quỹ Phát triển DNVVN: Năm 2013,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 601/QĐ-TTg thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển DNVVN để hỗ trợ cho các doanh nghiệp
Trang 32vừa và nhỏ có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi thuộc lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước, phù hợp với mục đích hoạt động của Quỹ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần làm tăng thu nhập, tạo việc làm cho người lao động
Ngày 31/12/2013, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Quyết định số BKHĐT thành lập Hội đồng quản lý Quỹ phát triển DNVVN gồm thành viên đại diện
2008/QĐ-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2008/QĐ-Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội DNVVN Việt Nam
Năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan
để hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy và Điều lệ tổ chức, hoạt động của Quỹ, sớm đưa Quỹ triển khai thực hiện, tạo điều kiện hỗ trợ cho DNVVN
Môi trường chính trị- xã hội: Sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là một
căn cứ quan trọng để ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp Nếu môi trường này ổn định thì các doanh nghiệp sẽ yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư, do đó nhu cầu vay vốn ngân hàng tăng lên Ngược lại nếu môi trường bất ổn thì họ sẽ tìm cách thu hẹp sản xuất để bảo toàn vốn, hạn chế rủi ro khi đó nhu cầu vay vốn ngân hàng sẽ giảm
Môi trường tự nhiên: Đây là một nhân tố không thể kiểm soát được, tác động
gián tiếp lên hiệu quả cho vay DNVVN của ngân hàng Ở những nước có khí hậu bất
ổn, hay xảy ra thiên tai như Nhật Bản hay Philippin, một thảm họa bất ngờ kéo theo sự mất mát cảu cả nền kinh tế, DNVVN và cả ngân hàng sẽ chịu tổn thất từ điều này Doanh nghiệp không có cơ sở sản xuất, hàng hóa, máy móc,…thậm chí không có lao động sản xuất do thiệt hại về tính mạng con người sẽ không thể sản xuất tạo ra doanh thu, lợi nhuận trả nợ ngân hàng Các ngân hàng không thể đòi nợ doanh nghiệp, dẫn đến hiệu quả cho vay DNVVN giảm sút
Kết luận chương 1
Cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ là một hoạt động quan trọng với ngân hàng thuong mại Đi liền với cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc nâng cao hiệu quả cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ quyết định sự phát triển của cho vay DNVVN tại ngân hàng thương mại, góp phần thúc đẩy phát triển, tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Chương 1 cho ta cái nhìn tổng quan về đối tượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay DNVVN cũng như hiệu quả cho vay DNVVN Để từ đó
có thể nhận định sâu sắc hơn về vấn đề này, tiếp tục chuyển sang chương 2 cùng tìm hiểu rõ hơn thực trạng hiệu quả cho vay DNVVN tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – PHÕNG GIAO DỊCH ĐÔNG CỨU 2.1 Khái quát về ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam –
Phòng giao dịch Đông Cứu
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Phòng giao dịch Đông Cứu là một đơn vị trực thuộc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Gia Bình có trụ sở đặt tại xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Trên địa bàn huyện Gia Bình ngoài Phòng giao dịch Đông Cứu còn có Phòng giao dịch Nhân Thắng địa chỉ tại Phố Ngụ, Nhân Thắng, Gia Bình trực thuộc chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam Huyện Gia Bình đặt tại Đường trung tâm – thị trấn Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh [22]
Thực hiện quyết định số 455/QĐ – NHNT.TCCB – ĐT ngày 24/06/2009, căn cứ công văn số 1187/NHNN – HAN7 ngày 01/07/2009 của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam về việc thành lập Phòng giao dịch Đông Cứu trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Gia Bình Ngày 09/07/2009 Phòng giao dịch Đông Cứu chính thức đi vào hoạt động
Phòng giao dịch Đông Cứu thực hiện đầy đủ các hoạt động kinh doanh ngân hàng: Huy động vốn, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toàn và ngân quỹ, các hoạt động theo quy định của pháp luật và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Đến nay sau hơn sáu năm hoạt động, Phòng giao dịch Đông Cứu vẫn thực hiện đầy đủ các chức năng chủ yếu là hoạt động huy động vốn, cho vay các thành phần kinh tế, đặc biệt là cho vay các ngành nông lâm ngư nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, nông dân và các dịch vụ khác Ngoài ra Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu cũng làm các dịch vụ như tư vấn đầu tư, thực hiện các dịch vụ thanh toán nhận cầm cố thế chấp tài sản, mua bán kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh,…và ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình trong hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh tiếp giáp và cách Thủ đô Hà Nội 30km: Cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km; cách cảng biển Hải Phòng 110km Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là một trong những thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và khai thác các tiềm năng hiện
Trang 34có của tỉnh Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm 2010 đạt 64,8%, dịch vụ 24,2%, nông nghiệp đạt 11% Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 67,2%/năm Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa Phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020
Xã Đông Cứu trực thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, cùng với xu thế phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh, xã Đông Cứu đã quan tâm đầu tư phát triển kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thay vì chỉ tập chung vào nông nghiệp thì đến nay trên địa bàn xã có tới 94 doanh nghiệp trên tổng số 462 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại huyện Gia Bình tập trung tại các cụm công nghiệp Yên Việt, cụm công nghiệp Đại Bái, cụm công nghiệp làng nghề Xuân Lai (Theo thống kê của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ tỉnh Bắc Ninh năm 2012) trong đó chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp với các nghề như may mặc, đồ gỗ mỹ nghệ, đan lát, sản xuất gạch, sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng như chăn nuôi gia súc gia cầm quy mô lớn, sản xuất thức ăn chăn nuôi thu hút một số lượng lớn lao động nông thôn tham gia Do đó Phòng giao dịch Đông Cứu được thành lập nhằm phục vụ tốt nhu cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa bàn xã cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt
Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu
Mỗi phòng giao dịch giống như một ngân hàng thu nhỏ cũng có các bộ phận huy động vốn, bộ phận tín dụng làm công tác cho vay, bộ phận kế toán đảm nhận công việc hạch toán cho vay, thu nợ,…Do trên địa bàn xã Đông Cứu chỉ có một PGD Đông Cứu của Agribank nên phòng giao dịch phải thực hiện đầy đủ các chức năng trên, với đầy
đủ các bộ phận phòng ban như của một chi nhánh tuy nhiên với quy mô lao động và khối lượng công việc ít hơn Dưới đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn Việt Nam - Phòng giao dịch Đông Cứu
Trang 35Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam Phòng giao dịch Đông Cứu
(Nguồn: Phòng hành chính)
Với quy mô một phòng giao dịch, tổ chức PGD Đông Cứu gồm Ban giám đốc, Phòng quan hệ khách hàng, Phòng quản lí tín dụng, Phòng kế toán và quỹ, phòng hành chính cụ thể như sau:
Ban giám đốc: 02 người (Giám đốc: 01; Phó giám đốc 01)
Phòng Kế toán và Quỹ: 04 người
Phòng quan hệ khách hàng: 06 người
Phòng quản lý tín dụng : 04 người
Phòng hành chính : 02 người Đánh giá về mô hình tổ chức: Phù hợp với nhiệm vụ kinh doanh, có điều kiện để cán bộ thực hiện chuyên sâu theo từng mảng nghiệp vụ, việc quản lý thuận tiện
Ban lãnh đạo của phòng giao dịch Đông Cứu bao gồm:
Giám đốc: Nguyễn Văn Sơn và một Phó giám đốc
Giám đốc phòng giao dịch là người đứng đầu thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo Quy định của Pháp luật và Ngân hàng cấp trên Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động điều hành kinh doanh của phòng giao dịch
Phó giám đốc phòng giao dịch trợ giúp cho Giám đốc, phụ trách điều hành một số hoạt động kinh doanh của đơn vị và phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc phòng giao dịch, trước Pháp luật về việc thực hiện các nghiệp vụ được phân công
Cơ cấu nhân sự từng phòng ban:
Phòng quan hệ khách hàng: bao gồm một trưởng phòng quan hệ khách hàng,
một chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân, một chuyên viên quan hệ khách hàng doanh nghiệp, 1 cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân và 2 cán bộ quan hệ khách hàng doanh nghiệp
Giám đốc PGD
Phòng quan hệ khách hàng
Phòng quản lí Tín dụng
Phòng kế toán
và Quỹ
Phòng hành chính Phó giám đốc PGD
Trang 36Phòng quản lý tín dụng: bao gồm một chuyên viên hỗ trợ tín dụng, một chuyên
viên quản lí rủi ro tín dụng 2 cán bộ quản lí chứng từ dưới sự chỉ đạo của Giám đốc và Phó giám đốc
Phòng kế toán và quỹ: bao gồm ba giao dịch viên đứng quầy, một kiểm soát viên
đặt dưới sự kiểm soát của kiểm soát viên và sự chỉ đạo của Giám đốc
Phòng hành chính: bao gồm 2 cán bộ hành chính đặt dưới sự quản lí chỉ đạo của
Giám đốc và Phó giám đốc
2.1.3 Nhiệm vụ cơ bản các phòng ban
Phòng quan hệ khách hàng: Phân loại, lập danh mục khách hàng, tìm kiếm
khách hàng tiềm năng Tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng phù hợp với nhu cầu khách hàng, lựa chọn biện pháp cho vay hiệu quả Đồng thời hướng dẫn khách hàng trong quá trình, thủ tục để sử dụng dịch vụ ngân hàng như mở thẻ, mở sổ tiết kiệm, thủ tục hồ sơ vay vốn Tham gia các chiến dịch quảng bá, maketing các sản phẩm của ngân hàng Thực hiện thẩm định và đề xuất cho vay với các dự án tín dụng đủ thẩm quyền cũng như tham gia vào quá trình giám sát kiểm tra
sau giải ngân
Phòng quản lí tín dụng: Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng,
phân tích kinh tế theo ngành nghề Tiếp nhận các chương trình dự án từ ngân hàng cấp trên Thực hiện tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ từ phòng quan hệ khách hàng, nhận tài sản đảm bảo, đăng kí giao dịch bảo đảm và soạn thảo hợp đồng Thực hiện giải ngân và lưu trữ hồ sơ, đôn đốc khách hàng hoàn thiện hồ sơ, phối hợp với phòng quan hệ khách hàng kiểm tra tài sản bảo đảm định kì Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám
đốc giao
Phòng kế toán và quỹ: Trực tiếp hạch toán kế toán, thống kê và thanh toán theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cấp trên Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền, dịch vụ thanh toán khác Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán kế toán, quyết toán báo cáo tài chính theo quy định Quản lý sử dụng thiết bị thông tin, thiết bị phục vụ nghiệp vụ kinh doanh Báo cáo và kiểm tra một số công việc Giám đốc giao cho Quản lý an toàn kho quỹ (tiền mặt VNĐ, ngoại tệ, giấy tờ có giá, ) theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cấp trên Thực hiện thu chi, ghi chép
và theo dõi sổ sách thu chi, xuất nhập kho quỹ kịp thời Lập báo cáo theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cấp trên Thực hiện kiểm tra và phát hiện kịp thời các sự cố ảnh hưởng đến an toàn kho quỹ, báo cáo với ban
giám đốc xử lý kịp thời
Trang 37Phòng hành chính: Thực hiện quản lý nhân sự, tuyển dụng nhân sự, sắp xếp nhân
sự theo sự chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cấp trên Thực hiện các quy định của pháp luật về an ninh, trật tự, phòng cháy chữa cháy của các cơ quan Quản lý con dấu của phòng giao dịch, thực hiện công tác hành chính,
lễ tân, phương tiện giao thông, bảo vệ y tế phòng giao dịch Thực hiện mua sắm công
cụ dụng cụ cần thiết cho phòng theo sự chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam cấp trên Thực hiện các công việc do Giám đốc giao
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Việt Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu
2.1.4.1 Kết quả huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là hoạt động thường xuyên của ngân hàng thương mại Một Ngân hàng thương mại bất kì nào cũng bắt đầu hoạt động của mình bằng việc huy động nguồn vốn Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu cũng vậy, thông qua hoạt động này mà Ngân hàng có thể tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, nhỏ bé, phân tán tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn hết sức khác nhau thành nguồn tiền lớn tài trợ cho nền kinh tế, hoặc cho các
cá nhân có nhu cầu sử dụng Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ Đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nếu dân
cư có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lí được thu nhập của người dân Kết quả hoạt động huy động vốn của phòng giao dịch Đông Cứu thể hiện qua bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1 Bảng kết quả nguồn vốn huy động phân theo loại tiền
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2 12 Năm 2 13 Năm 2 14
Chênh lệch năm (%) 2013/2012
Chênh lệch năm (%) 2014/2013 Nguồn nội tệ huy động 209.444,83 244.104,92 284.620,96 16,55 16,60
2014, tốc độ tăng trưởng về huy động vốn so với năm 2013 tăng khá tốt thêm 54.805,14 triệu đồng ứng với giá trị tương đối 20,19% so với năm 2013 cao hơn
Trang 385,09% so với tốc độ tăng trưởng của năm 2013 so với năm 2012 Điêù này cho thấy sự phục hồi của nền kinh tế sau suy thoái thể hiện ngay tại một địa phương như xã Đông Cứu, đây là điều đáng mừng cho kinh tế xã Đông Cứu và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Phòng giao dịch Đông Cứu Huy động vốn tăng trưởng đã góp phần quan trọng để ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn mở rộng kinh doanh và đảm bảo an toàn thanh khoản
Từ bảng 2.1, hoạt động huy động vốn nội tệ vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động cụ thể lần lượt năm 2012 chiếm 79,19%, năm 2013 là 89,9%, và năm 2014 là 87,22% tổng vốn huy động Điều này cho thấy sự quan tâm của người dân Việt Nam, cụ thể tại địa bàn xã Đông Cứu với Việt Nam đồng, lựa chọn Việt Nam đồng là một kênh đầu tư Qua đó thể hiện được sự nỗ lực của ngân hàng nhà nước trong việc ổn định giá trị đồng tiền, chống lạm phát và đô la hóa
Trong khi nguồn huy động nội tệ tăng trưởng đều qua các năm lần lượt tăng thêm 34.660,09 triệu đồng ứng với giá trị tương đối 16,55% của năm 2013 so với năm 2012,
và 75.176,13 triệu đồng ứng với giá trị tương đối 16,06% của năm 2014 so với năm
2013, số tiền này gấp 2,16 lần so số tiền tăng thêm của năm 2013 so với năm 2012 Cá biệt sự tăng trưởng mạnh nguồn huy động từ ngoại tệ của năm 2014 so với năm 2013 tăng đến 14.289,1 triệu đồng ứng với giá trị tương đối là 52,15%, số tiền tăng lên gấp
15 lần so với con số chênh lệch này của năm 2013 với năm 2012 chỉ tăng 951,97 triệu đồng ứng với giá trị tương đối là 3,6% Do tỷ giá USD/VND bắt đầu tăng dần từ giữa năm 2014 và tiếp tục tăng mạnh cho đến đầu năm 2015, trước tình hình đó các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài lo sợ tỷ giá ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh chuyển từ nắm giữ tiền gửi VNĐ sang USD, và một phần nguồn huy động từ trong dân chúng
Bảng 2.2 Kết quả nguồn vốn huy động từ nền kinh tế
Đơn vị: Triệu đồng
CHỈ TIÊU Năm 2 12 Năm 2 13 Năm 2 14
Chênh lệch năm ( ) 2013/2012
Chênh lệch năm ( ) 2014/2013 Tiền gửi từ TCKT 86.282,88 96.352,51 119.734,21 11,67 24,27
Tiền gửi từ dân cƣ 149.610,29 175.152,72 206.576,16 17,07 17,94
Trang 39Trong đó tiền gửi từ dân cư luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn huy động được Cụ thể qua bảng 2.2 ta thấy năm 2013 tổng vốn huy động được từ các tổ chức kinh tế có mức tăng tuyệt đối so với năm 2012 là 10.069,63 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng tương đối là 11,67% Năm 2014 tổng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có mức tăng tuyệt đối so với năm 2013 là 23.381,7 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng tương đối là 24,27% Đối với nguồn vốn huy động từ dân cư, năm 2013 tổng vốn huy động tăng tuyệt đối là 25542,43 triệu đồng so với năm 2012 ứng với tỷ lệ tăng tương đối là 17,07% Năm
2014 tổng vốn huy động từ dân cư tăng tuyệt đối 31.423,44 triệu đồng so với năm
2013 ứng với tỷ lệ tăng tương đối là 17,94 %
Như vậy tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của phòng Giao dịch Đông Cứu khá ổn định và tăng dần qua các năm Cho thấy hiệu quả trong hoạt động huy động vốn của ngân hàng Điều này là hợp lý bởi trước bối cảnh tình hình kinh tế khó khăn, việc đầu tư vào các lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán đầy tính rủi ro thì gửi tiết kiệm tại ngân hàng là một kênh an toàn hơn với dân cư dù lãi suất huy động chưa thật
sự hấp dẫn cụ thể tại ngân hàng Agribank lãi suất tiết kiệm linh hoạt áp dụng đối với
cá nhân gửi bằng đồng VND, USD lần lượt như sau: Với đồng VND:Không kỳ hạn: 1,00%/năm, kỳ hạn 1 tháng: 4,00%/năm, kỳ hạn 2 tháng: 4,50%/năm, kỳ hạn 3 tháng: 5,00%/năm, kỳ hạn 6 tháng: 5,50%/năm, kỳ hạn 9 tháng: 5.80%/năm, kỳ hạn 12 tháng: 6,30%/năm, kỳ hạn 18 tháng, 24 tháng: 6,50%/năm
Đồng USD: Không kỳ hạn: 0,2%/năm; Kỳ hạn 1 tháng; 2 tháng; 3 tháng; 6 tháng; 9 tháng; 12 tháng; 18 tháng; 24 tháng áp dụng chung mức lãi suất 0,75%/năm Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp gửi tiết kiệm bằng đồng VND kỳ hạn 24 tháng được hưởng các mức lãi suất 6,30%/năm [8]
Đặc biệt là người dân tại nông thôn khi mà khả năng tiếp cận với các lĩnh vực đầu tư trên còn hạn chế thì ngân hàng vẫn là một kênh đầu tư an toàn
Ngoài ra ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn áp dụng nhiều chính sách hấp dẫn để thu hút dân cư với hoạt động gần đây nhất Agribank đã tổ chức
Lễ quay số mở thưởng lần II đợt Huy động Tiết kiệm Dự thưởng “Mừng xuân Ất Mùi – Niềm vui nhân đôi” và đạt được kết quả rất tốt Với cơ cấu giải thưởng hấp dẫn gồm
2 giải Đặc biệt mỗi giải 1 Thẻ tiết kiệm linh hoạt trị giá 1 tỷ đồng và 7.602 giải thưởng
có giá trị khác với tổng giá trị khoảng 07 tỷ đồng, sau gần 03 tháng triển khai từ ngày 02/02/2015 đến 02/05/2015, Agribank đã huy động được 18.451 tỷ đồng và 29,745 triệu USD Điều đó thể hiện sự tin tưởng cao của khách hàng đối với hệ thống ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, mặt khác cũng mang một ý nghĩa hết sức to lớn của việc huy động Tiền gửi tiết kiệm “Vừa ích nước, vừa lợi nhà”.[24]
Trang 40Bảng 2.3 Tỷ trọng tiền gửi theo nền kinh tế trong tổng vốn huy động
Đơn vị: %
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tình hình huy động vốn 2012-2014 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam-Phòng giao dịch Đông Cứu )
Qua bảng tổng hợp 2.3, tỷ lệ huy động vốn tiền gửi từ dân cư của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Phòng giao dịch Đông Cứu luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn huy động, cụ thể năm 2012 tỷ lệ này là 63,42%, tiếp
đó năm 2013 tỷ lệ này là 64,51%, và năm 2014 là 63,31% Có được thành công trên là
do phòng giao dịch Đông Cứu nằm tại vị trí đắc địa của xã Đông Cứu, dễ nhận biết Hơn nữa từng cán bộ nhân viện chủ động khai thác các mối quan hệ trên địa bàn, tranh thủ thời gian ngoài giờ làm việc để tiếp thị khách hàng mới Đặc biệt, phòng giao dịch
đã thực hiện tốt chính sách chăm sóc khách hàng, nhất là khách hàng quan trọng, sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng như: thu chi tiết kiệm tại nhà, thu đổi kiều hối tại nhà, thu hộ tiền bán hàng tại các đại lý,… xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng Bên cạnh đó, dưới sự chỉ đạo của chi nhánh cấp trên, phòng giao dịch
đã thực hiện tuyên truyền quảng cáo cũng được phòng giao dịch chú trọng với nhiều hoạt động như: phát tờ rơi tới từng khu phố; quảng cáo trên đài phát thanh; treo poster
và banner… đưa gần hơn nữa thương hiệu Agribank tới cộng đồng dân cư Qua đó lượng tiền gửi dân cư tại phòng giao dịch Đông Cứu luôn giữ vững và tăng trưởng
Bảng 2.4 Kết quả nguồn vốn huy động phân theo k hạn
Đơn vị: Triệu đồng
Chênh lệch năm ( ) 2013/2012
Chênh lệch năm ( ) 2014/2013
2013 là 59.354,33 triệu đồng ứng với tỷ lệ tăng tương đối là 36,55% Mức độ tăng