1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI

99 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 4,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên ngày nay khi nền kinh tế thị trường ngày một phát triển thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế, nó bộc lộ nh

Trang 1

1

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BÀN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG

DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt

1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt

Trong nền kinh tế thị trường để thực hiện các giao dịch, quan hệ thanh toán lẫn nhau phải sử dụng hình thức tiền tệ, vì vậy thanh toán tiền tệ là yêu cầu khách quan và cần thiết đối với xã hội Thanh toán tiền tệ được thực hiện dưới hai hình thức: thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả tiền mặt trực tiếp giữa nhân dân với nhau, giữa các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước với nhân dân,…sau khi xuất chuyển hàng hóa, dịch vụ cho người mua thì người bán nhận được tiền ngay và quá trình thanh toán cũng chấm dứt ở đó Tuy nhiên ngày nay khi nền kinh tế thị trường ngày một phát triển thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế, nó bộc lộ những hạn chế nhất định như: khó giao dịch với số lượng lớn, độ an toàn không cao,…Ví dụ: nếu các doanh nghiệp làm ăn lớn thì mỗi lần giao dịch số tiền chi trả hàng hóa sẽ rất lớn có thể lên đến vài trăm tỷ, thậm chí vài tỷ đồng, với số tiền lớn như vậy nếu thanh toán trực tiếp trong quá trình vận chuyển sẽ gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm như: bị kẻ gian theo dõi ăn cắp, rủi ro bị thừa, thiếu tiền,…Từ thực tế khách quan trên đòi hỏi phải ra đời một phương thức thanh toán mới tiên tiến, hiện đại hơn mà vẫn phải đảm bảo độ an toàn, và hiệu quả trong hoạt động thanh toán Bên cạnh đó với sự phát triển vượt bậc của hệ thống ngân hàng, các công cụ thanh toán đã được ngân hàng nghiên cứu đưa ra để khách hàng lựa chọn cho mình một hình thức thanh toán phù hợp thay cho thanh toán bằng tiền mặt Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phát sinh

từ đó

“Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được thực hiện bằng cách chuyển một số tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ công nợ, mà không sử dụng đến tiền mặt thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 123)

Thanh toán không dùng tiền mặt thường được các NHTM áp dụng cho các khoản chi trả có giá trị giữa doanh nghiệp và cá nhân Vì vậy tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ có ý nghĩa về việc giảm bớt được lượng tiền trong lưu thông,

mà còn giúp cho công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp được tốt hơn vì doanh

Trang 2

nghiệp không cần phải mất không gian để cất trữ tiền, tốn chi phí thuê người bảo vệ kho tiền, điều này làm giảm chi phí cho doanh nghiệp, đồng thời tiền gửi trong tài khoản ngân hàng có độ an toàn cao, tránh được rủi ro bị kẻ gian đột nhập ăn cắp…Trên cơ sở tiền gửi, các khoản thanh toán được thực hiện qua ngân hàng đã giúp cho doanh nghiệp, các cơ quan quản lý như: bộ chủ quản, cơ quan thuế có điều kiện kiểm tra, giám sát được doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh một cách chính xác, bởi

lẽ khi doanh nghiệp thanh toán tiền hàng, ngân hàng sẽ trực tiếp trích chuyển tiền trong tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp chuyển cho người thụ hưởng, ngân hàng là bên thứ ba tham gia quá trình thanh toán, đồng thời cũng là người giám sát hoạt động thanh toán, nếu doanh nghiệp chi trả sai mục đích sẽ không được ngân hàng chấp nhận thanh toán…

Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã thỏa mãn được nhu cầu giao dịch thương mại của nền kinh tế, giảm bớt được lượng tiền mặt, giảm bớt được chi phí lưu thông xã hội, tăng tốc độ chu chuyển hàng hóa, chu chuyển vốn từ đó nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế sản xuất Điều này rất có ý nghĩa đối với việc thực thi chính sách tiền tệ, vì khi nền kinh tế có quá nhiều tiền lưu thông sẽ gây ra tình trạng người dân có quá nhiều tiền trong tay Ngoàira thanh toán không dùng tiền mặt còn giúp cho NHTM áp dụng được công cụ mới, công cụ tài khoản khách hàng để theo dõi, ghi chép tất cả các dịch vụ của ngân hàng về tiền tệ, tín dụng, và thanh toán toàn bộ bằng tiền ghi sổ thay cho tiền mặt

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 123)

1.1.2 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt

Thứ nhất: Trong TTKDTM, việc thanh toán không sử dụng tiền mặt, mà sử

dụng tiền ghi sổ Đây là đặc điểm cơ bản nhất của TTKDTM, việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người trả tiền vào tài khoản của người thụ hưởng tại ngân hàng Vì vậy để tiến hành thanh toán qua trung gian ngân hàng, các chủ thể tham gia thanh toán bắt buộc phải mở tài khoản tại ngân hàng

Để hiểu rõ hơn ta xét một ví dụ điển hình trong mua hàng: Sau khi người bán giao hàng hoặc chuyển giao quyền sở hữu cho người mua, do số tiền thanh toán tương đối lớn hoặc do mua bán online qua mạng nên thay vì thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, người mua muốn thanh toán cho người bán bằng phương thức TTKDTM để đảm bảo an toàn và nhanh chóng dưới các hình thức như thẻ, UNC,… thì lúc này ngân hàng

sẽ là trung gian thanh toán trích chuyển tiền từ tài khoản của người mua chuyển vào tài khoản của người bán theo lệnh của người mua Ngân hàng báo có cho tài khoản của người bán và báo nợ cho tài khoản của người mua Như vậy trong việc thanh toán này

Trang 3

3

người bán và người mua không cần gặp mặt để trao và nhận tiền mà vẫn hoàn thanh việc thanh toán

Thứ hai: Mỗi khoản thanh toán phải có ít nhất ba bên tham gia: đó là người trả

tiền, người nhận tiền, và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

Trong thanh toán bằng tiền mặt thông thường, việc thanh toán chỉ diễn ra giữa người mua và người bán, còn trong TTKDTM thì việc thanh toán cần thêm trung gian thanh toán thường là các NHTM Ngân hàng đứng ra trích chuyển tiền từ tài khoản của người mua chuyển sang tài khoản của người bán theo lệnh của người mua Nếu người bán và người mua cùng mở tài khoản tại một ngân hàng, thì lúc này quá trình thanh toán sẽ có 3 bên tham gia đó là người mua, người bán, và ngân hàng Còn nếu người mua và người bán mở tài khoản tại 2 ngân hàng khác hệ thống thì lúc này quá trình thanh toán sẽ có 4 bên tham gia đó là người mua, người bán, ngân hàng phục vụ người mua và ngân hàng phục vụ người bán Chính vì vậy ta nói quá trình thanh toán cần ít nhất 3 bên tham gia thanh toán

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 124)

1.1.3 Nguyên tắc thanh toán không dùng tiền mặt

Thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh mối quan hệ kinh tế pháp lý trong thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ, nên trong quá trình thanh toán, các bên tham gia cần tuân thủ những quy tắc sau:

Thứ nhất: các chủ thể tham gia thanh toán (kể cả pháp nhân hay thể nhân) đều

phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (gồm: tài khoản trả tiền, tài khoản của bên nhận tiền, tài khoản trung gian thanh toán), và được quyền lựa chọn tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để mở tài khoản mỗi tài khoản phải có

ba bên tham gia gồm người trả tiền, người nhận tiền và trung gian thanh toán Khi thanh toán phải thực hiện thanh toán thông qua tài khoản mở theo đúng chế độ quy định và phải trả phí thanh toán theo quy định của ngân hàng Ví dụ nếu một người muốn sử dụng dịch vụ chuyển tiền trong nước của ngân hàng Vietcapital Bank thì người đó phải mở tài khoản tại ngân hàng Vietcapital Bank và phải chịu phí tuân theo quy định của ngân hàng Nếu chuyển tiền giữa 2 ngân hàng trong cùng hệ thống thì mức phí là 0,03%/số tiền chuyển, còn nếu khác hệ thống và trước 15 giờ phí vẫn được tính là 0,03%/số tiền chuyển và sau 15 giờ là 0,05% trên số tiền chuyển Trường hợp đồng tiền thanh toán là ngoại tệ thì phải tuân theo quy định quản lý ngoại hối của Nhà nước Từ ngày 5/10/2015 giao dịch ngoại tệ với ngân hàng phải xuất trình giấy tờ và chứng từ chứng minh mục đích, số lượng, loại ngoại tệ thời hạn thanh toán theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước cũng quy định

Trang 4

chặt chẽ số ngày trong giao dịch ngoại tệ Đây là một nội dung quan trọng trong thông

tư số 15/2015 của thống đốc NHNN mới ban hành, hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động trên thị trường ngoại hối

Thứ hai: Số tiền thanh toán phải dựa trên số lượng hàng hóa, dịch vụ đã giao

giữa người mua và người bán Nếu người mua chậm trễ thanh toán hoặc vi phạm thì phải chịu phạt theo chế độ thanh toán hiện hành

Thứ ba: Người bán phải có trách nhiệm giao hàng hay cung cấp dịch vụ kịp thời

và đúng với lượng giá trị mà người mua đã thanh toán Nếu người nhận tiền là người bán thì cơ sở được nhận tiền là hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng Nếu người nhận là

tổ chức tài chính thì cơ sở để được nhận tiền sẽ là quyết định phân phối vốn của cấp trên Nếu người nhận tiền với tư cách chủ nợ thì cơ sở nhận tiền sẽ là hợp đồng kinh

tế, kế ước vay nợ

Thứ tư: Là trung gian thanh toán giữa người mua và người bán, các tổ chức cung

ứng dịch vụ thanh toán phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán:

- Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng mở tài khoản, cung cấp đầy đủ chứng từ sử dụng trong quá trình thanh toán cho khách hàng Đồng thời giúp người trả tiền và người nhận tiền thực hiện giám sát các điều kiện đã thỏa thuận

- Chỉ trích tiền từ tài khoản người chi trả vào tài khoản người thụ hưởng khi có lệnh của người trả tiền (thể hiện trên các chứng từ thanh toán) Trường hợp không có lệnh của người trả tiền (không có chữ ký của chủ tài khoản trên chứng từ) chỉ áp dụng cho một số hình thức thanh toán như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, hay lệnh của tòa án kinh tế

- Tổ chức hạch toán, và chuyển chứng từ thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác Nếu hạch toán thiếu chính xác gây thiệt hại cho khách hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng

Thứ năm: Các chứng từ thanh toán phải được lập theo mẫu quy định

Trong thanh toán không dùng tiền mặt, chứng từ thanh toán là những phương tiện chuyển tải những điều kiện thanh toán và làm căn cứ để thực hiện chi trả

Công cụ thanh toán bao gồm các lệnh thu, lệnh chi do chính người nhận hoặc người trả tiền lập ra Người trả tiền lập các chứng từ ủy nhiệm chi, séc,… người nhận tiền lập các chứng từ ủy nhiệm thu, bảng kê nộp séc, bảng kê hóa đơn chứng từ bán hàng nếu trong thanh toán thư tín dụng

Trang 5

5

Bất kì lệnh thu hay lệnh chi nào cũng phải chứa đựng những yếu tố cơ bản là tên, địa chỉ người trả tiền, người nhận tiền, số tiền trả, lý do trả chữ ký và con dấu của những người có trách nhiệm như kế toán trưởng, chủ tài khoản,… Và phải lập theo mẫu thống nhất do ngân hàng cung cấp

Những nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo quá trình thanh toán được an toàn, và giúp ngân hàng kiểm soát được các hoạt động của chủ thể thanh toán trong nền kinh tế

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 125)

1.1.4 Các thành phần tham gia thanh toán không dùng tiền mặt

Người trả tiền: có thể là người mua, người sử dụng dịch vụ, người nộp thuế, hay

người có ý định chuyển nhượng một khoản tiền cho một người khác Người trả tiền có trách nhiệm trả tiền đúng thời hạn, và tôn trọng những thủ tục cần thiết như: làm, nộp chứng từ theo mẫu quy định và thời gian quy định Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các bên tham gia còn lại vi phạm những cam kết hợp đồng thoả thuận giữa hai bên

Người nhận tiền (người thụ hưởng): là người bán hàng, người cung cấp dịch vụ

hay do luật định, hoặc thiện chí của người khác,…

Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu

tư, kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, công ty tài chính,…

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giúp quá trình giao dịch thanh toán nhanh chóng, giúp khách hàng rút ngắn thời gian quay vòng vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất hiệu quả, bởi lẽ thay vì khách hàng phải chuyển tiền tận tay người thụ hưởng thì khi khách hàng sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng chỉ mất vài phút để ngân hàng chuyển tiền từ tài khoản của khách hàng sang cho người thụ hưởng, quá trình thanh toán này dựa trên các lệnh trên máy tính nên diễn ra vô cùng nhanh chóng, đem lại sự tiện lợi cho khách hàng Ngoài ra khách hàng còn được hưởng những ưu đãi

Trang 6

và tiện ích đi kèm khi tham gia loại hình thanh toán này như: được hưởng chiết khấu khi thanh toán bằng thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng nội địa,…Và tại cơ sở chấp nhận thẻ, thì khách hàng được hưởng lãi từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình, nghĩa là khi mình gửi tiền vào tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng, và trong thời gian khách hàng chưa sử dụng đến khoản tiền đó thì khách hàng vẫn nhận được lãi từ khoản tiền đó

Ví dụ như: hầu hết các NHTM hiện nay đều áp dụng mức lãi suất 1%/năm cho khách hàng khi gửi tiền vào tài khoản thanh toán Đây là mức lãi suất không kì hạn mà khách hàng được hưởng trên số dư tài khoản thanh toán của mình tại ngân hàng Các NHTM đặt mức lãi suất này thấp là vì mục đích khách hàng trong trường hợp này không phải là hưởng lãi tiết kiệm mà là để thanh toán, và hầu hết khách hàng thường không mấy quan tâm đến mức lãi suất này, với lãi suất 1%/năm trên số dư tài khoản thanh toán của khách hàng thì số tiền lãi khá nhỏ nhưng cũng phần nào làm tăng thu nhập cho khách hàng

1.1.5.2 Đối với ngân hàng thương mại

Khi có nhu cầu dịch vụ, khách hàng bắt buộc phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, và ký thác vốn vào đó Điều này giúp cho ngân hàng kiểm soát được một phần lượng tiền của nền kinh tế và rút bớt được một khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hội (chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản,…)

Thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán, NHTM sẽ kiểm soát được tình hình biến động số dư tài khoản của khách hàng, đánh giá được khả năng tài chính và uy tín của khách hàng, từ đó làm căn cứ cho vay và thu hồi nợ nếu khách hàng có nhu cầu vay vốn của ngân hàng Thêm vào đó thanh toán không dùng tiền mặt mang lại nguồn thu

ổn định cho ngân hàng thông qua việc thu lãi và phí Đồng thời khi khách hàng gửi tiền trong tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng thì đây cũng chính là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, nếu ngân hàng có thể tận dụng được nguồn vốn này để phát triển sản xuất một cách có hiệu quả thì sẽ mang lại lợi ích lớn cho ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung

1.1.5.3 Đối với ngân hàng trung ương

Đối với ngân hàng trung ương, việc gia tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm bớt lượng tiền lưu thông, giảm bớt chi phí in ấn, phát hành, chi phí bảo quản cất trữ,…giúp ngân hàng quản lý tốt chính sách tiền tệ, điều tiết được lượng tiền cung ứng trong lưu thông để phù hợp với chính sách tiền tệ thắt chặt hay mở rộng trong từng thời kì, đồng thời đảm bảo ổn định sức mua của đồng tiền

Trang 7

7

1.1.5.4 Đối với nền kinh tế

Đối với nền kinh tế đang ngày càng phát triển, thanh toán không dùng tiền mặt

đã trở thành một mắt xích không thể thiếu trong dây truyền sản xuất và lưu thông hàng hóa TTKDTM hiện nay đã phần nào đáp ứng được nhu cầu thanh toán của nền kinh

tế, giúp đẩy nhanh quá trình thanh toán, tiết kiệm thời gian, chi phí, thúc đẩy sản xuất, đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, TTKDTM đã trở thành một hoạt động không thể tách rời đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia

1.1.6 Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

1.1.6.1 Thanh toán bằng séc

Khái niệm

Theo ULC 1931: “Séc là lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài khoản (khách hàng của ngân hàng) lập trên mẫu in sẵn của ngân hàng quy định ký phát ra lệnh cho ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình

để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc, hoặc người cầm séc”

Các chủ thể tham gia thanh toán séc

Người ký phát: là người chủ tài khoản thanh toán tại ngân hàng, là người ký tên

trên tờ séc, để ra lệnh cho người thực hiện thanh toán thay mặt mình trả số tiền ghi trên séc Nghĩa vụ của người ký phát là đảm bảo số dư trên tài khoản của mình để đủ thanh toán toàn bộ số tiền trên séc, thông thường số tiền ghi trên tờ séc không được vươt quá

số dư tài khoản, ngoại trừ trường hợp người chủ tài khoản được ngân hàng cho vay theo thể rút vượt (hay ngân hàng cho phép thực hiện nghiệp vụ thấu chi đối với chủ tài khoản) Người ký phát phải chịu mọi trách nhiệm do lỗi của mình gây ra hoặc để séc

bị lợi dụng, và chấp hành đúng quy định về luật cung ứng séc của pháp luật ngân hàng Nhà nước

Người thụ lệnh: là người nhận lệnh của người ký phát với nghĩa vụ trả số tiền ghi

trên séc Trong thanh toán séc thì người thụ lệnh là ngân hàng thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản của người ký phát séc trả cho người thụ hưởng

Người thụ hưởng: là người được hưởng số tiền ghi trên séc Người thụ hưởng có

thể là người cầm séc, người có tên trên tờ séc, hoặc được chuyển nhượng

Nội dung và quy định cơ bản của tờ séc

Séc là một lệnh trả tiền vô điều kiện, nên khi nhận được séc ngân hàng phải chấp hành thanh toán vô điều kiện nếu tài khoản thanh toán của người ký phát có đủ tiền, và mẫu chữ ký trên tờ séc khớp với mẫu chữ ký mà người ký phát đã đăng ký tại ngân hàng Chính vì vậy mà nội dung của séc cần đảm bảo đầy đủ các yếu tố sau:

Trang 8

Tiêu đề séc: trên tờ séc phải có tiêu đề Séc (CHEQUE) nếu không có ngân hàng

sẽ từ chối thực hiện lệnh của người ký phát

Số tiền trên séc: số tiền trích phải ghi đầy đủ cả bằng chữ và số và phải trùng

khớp nhau

Thời gian ký phát: trên tờ séc bắt buộc phải có địa điểm, ngày tháng ký phát séc

vì nó liên quan đến thời hạn xuất trình séc, thời hạn hiệu lực của séc, và liên quan đến

số dư tài khoản của người ký phát séc tại thời điểm ký phát Việc ghi sai ngày phát hành sẽ gây ra nhiều rủi roc cho người thụ hưởng, bởi:

Nếu người ký phát cố tình ghi ngày ký phát trên tờ séc trước ngày ký phát thực tế thì sẽ rút ngắn thời gian hiệu lực của séc, hoặc do người phát hành tại thời điểm ký phát đã không còn khả năng phát hành séc theo luật định như: bị phá sản, bị truy nã,… Nếu người ký phát ghi thời gian trên séc lùi lại sau so với ngày ký phát thực tế thì nguyên nhân có thể do tại thời điểm ký phát tài khoản của người ký phát không có đủ

số tiền thanh toán cho tờ séc nên việc ghi lùi thời gian là để kì vọng tài khoản của mình sẽ có đủ tiền tại ngày ký phát trên tờ séc Ngoài ra còn có thể do ý đồ của người

ký phát, họ cố tình ghi lùi ngày là để cho tờ séc không còn hiệu lực vì lúc đó người ký phát đã không còn khả năng phát hành séc theo luật định

Chữ ký: Chữ ký tay của người phát hành phải khớp với mẫu chữ ký đăng ký tại

ngân hàng, không được sử dụng dấu khắc sẵn chữ ký, hoặc lăn vân tay vì như vậy séc

sẽ không có hiệu lực

Các yếu tố trên tờ séc không được tẩy xóa, phải cùng một màu mực, cùng một nét chữ, không ghi bằng bút chì, bút mực đỏ

Chuyển nhượng séc: Séc có thể chuyển nhượng trong thời hạn hiệu lực của séc

bằng cách ký hậu, ký hậu séc có 2 ý nghĩa: một là chứng nhận quyền chuyển nhượng séc cho người khác, hai là nó xác nhận trách nhiệm của người chuyển nhượng séc đối với những người thụ hưởng sau đó về việc trả tiền ghi trên tờ séc, đối với séc vô danh thì khi chuyển nhượng không cần ký hậu Tuy nhiên người chuyển nhượng có quyền thoái thác trách nhiệm của mình bằng cách thêm điều kiện chuyển nhượng miễn truy đòi

Về thời hạn xuất trình của séc: là thời gian người thụ hưởng phải nộp séc cho

ngân hàng để nhận tiền, trong thời gian này người ký phát phải duy trì số tiền trong tài khoản thanh toán của mình đủ để chi trả số tiền trên séc Theo ULC thời hạn xuất trình séc là thời gian kể từ ngày ký phát séc đến ngày mà người thụ hưởng xuất trình tờ séc cho ngân hàng, cụ thể thời hạn xuất trình được tuân theo quy định là 8/20/70 8 ngày đối với séc lưu hành trong một quốc gia, 20 ngày nếu trong cùng châu lục, và 70 ngày nếu khác châu lục Riêng đối với séc du lịch là vô thời hạn

Trang 9

9

Thời hạn hiệu lực của séc: là thời gian mà ngân hàng thụ lệnh của người ký phát

trả tiền cho người thụ hưởng, thường là 12 thang kể từ ngày hết hạn xuất trình Sau khi hết hạn hiệu lực, ngân hàng thụ lệnh không còn nghĩa vụ phải thanh toán cho người thụ hưởng nữa Tuy nhiên người ký phát vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho người thụ hưởng, vì séc vẫn còn giá trị trên hợp đồng dân sự

Đình chỉ thanh toán séc: sau khi phát hành ra tờ séc, người ký phát nếu không

muốn thanh toán cho người thụ hưởng nữa, thì phải lầm một văn bản yêu càu ngân hàng thụ lệnh không thanh toán cho tờ séc mà mình đã ký phát ra nữa

Ngân hàng thụ lệnh phạt người ký phát séc do phát hành séc quá số dư:

Lần 1: ngân hàng sẽ gửi thông báo cảnh cáo

Lần 2: ngân hàng sẽ đình chỉ tạm thời quyền phát hành séc của người ký phát trong vòng 3 tháng, thu hồi toàn bộ số séc trắng đã cung ứng

Lần 3: ngân hàng sẽ đình chỉ vĩnh viễn quyền phát hành séc, thu hồi toàn bộ séc trắng đã cung ứng, và gửi toàn bộ thông tin của người ký phát cho ngân hàng nhà nước

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 159)

Phân loại séc

Tùy theo các tiêu chí mà séc được phân thành nhiều loại khác nhau:

Theo tính chất lưu thông

Séc theo lệnh: là loại séc ghi trả tiền theo lệnh của người hưởng lợi trên ờ séc đó

Ví dụ: trả theo lệnh của ông B, thì nghĩa là chỉ có ông B mới có quyền được thanh toán, hoặc ký hậu chuyển nhượng cho người khác

Séc đích danh: là séc ghi rõ đầy đủ tên, thông tin của người hưởng lợi, và chỉ

người hưởng lợi mới lĩnh được tiền Séc này không thể chuyển nhượng bằng cách ký hậu

Séc vô danh: là séc không ghi tên người hưởng lợi, trên séc sẽ có câu: “trả cho

người cầm séc” Với loại séc này thì bất cứ ai cầm séc cũng có thể lĩnh được tiền, vì vậy mà séc vô danh nếu muốn chuyển nhượng thì không cần ký hậu

Căn cứ vào mục đích sử dụng séc:

Séc xác nhận: đây là séc do ngân hàng thụ lệnh phát ra trước khi người ký phát

hành, nhằm xác nhận khả năng thanh toán của tờ séc do người ký phát lập ra Séc này thường áp dụng trong trường hợp người thụ hưởng không tin tưởng vào khả năng thanh toán của người ký phát

Trang 10

Séc gạch chéo: là loại séc mà trên mặt trước của tờ séc có hai vạch chéo song

song, séc này không thể rút tiền mặt, thường dùng để chuyển khoản Có 2 loại séc gạch chéo là gạch chéo thông thường và gạch chéo đặc biệt Séc gạch chéo thông thường là giữa hai gạch chéo không ghi tên ngân hàng thanh toán, như vậy ngân hàng nào cũng

có thể thanh toán, và người ký phát phải có nhiều tài khoản ở các ngân hàng khác nhau Còn đối với séc gạch chéo đặc biệt thì có ghi tên ngân hàng thanh toán, như vây người ký phát sẽ chỉ cần nộp tiền vào một ngân hàng cụ thể, thậm chí dưới tên ngân hàng thụ lệnh này còn có chữ không thể chuyển nhượng

Séc tiền mặt: Séc dùng để rút tiền mặt không có hai đường gạch chéo song song

bên trái, hoặc không có chữ “chuyển khoản” ở mặt trước tờ séc Người hưởng lợi chỉ được lĩnh tiền mặt mặt tại ngân hàng nơi khách hàng mở tài khoản, séc này ghi đích danh người hưởng lợi và không được chuyển nhượng

Séc du lịch: đây là loại séc đặc biệt do ngân hàng phát hành, ra lệnh cho bất kì chi

nhánh, ngân hàng đại lý nào cũng phải thanh toán cho người cầm séc này Tờ séc du lịch này có in mệnh giá, và có chữ ký thứ nhất của người hưởng lợi, khi người hưởng lợi đến ngân hàng lĩnh tiền thì phải ký tại chỗ chữ ký thứ hai của mình để ngân hàng kiểm tra, đối chiếu rồi mới thanh toán Thời hạn hiệu lực của séc du lịch là vô thời hạn

Séc chuyển khoản: séc này chỉ chuyển khoản số tiền được ghi trên séc từ tài

khoản người ký phát cho cho người hưởng lợi, đồng thời cũng không thể chuyển nhượng Séc chuyển khoản thường được sử dụng trong quan hệ mua bán hàng hóa, để tiện cho việc thanh toán tiền hàng cho người bán thì người mua sử dụng séc chuyển khoản Khi thanh toán bằng séc người mua tiết kiệm bớt được chi phí đi lại, thời gian,

và giảm thiểu rủi ro xảy ra như mất cắp, rơi tiền,…

Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán séc chuyển khoản qua 2 ngân hàng

(1)

(2) (5)

Người thụ hưởng (người bán)

Ngân hàng phục vụ người mua

Ngân hàng phục vụ người bán

Trang 11

11

Chú thích:

(1) Người bán giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua trên cơ sở hợp đồng đã

ký kết

(2) Người mua ký phát hành séc và giao trực tiếp cho người bán

(3) Người bán lập bảng kê nộp séc cùng với các giấy tờ séc gửi vào ngân hàng phụ vụ người bán đề nghị thanh toán

(4) Ngân hàng phục vụ người bán chuyển bảng kê nộp séc kèm giấy tờ séc cho ngân hàng phục vụ người mua

(5) Ngân hàng phục vụ người mua thực hiện kiểm soát, hạch toán, ghi Cợ và gửi giấy báo Nợ cho người phát hành séc

(6) Ngân hàng phục vụ người mua truyền lệnh chuyển Có cho ngân hàng phục

vụ người bán

(7) Căn cứ vào lệnh chuyển có nhận được, ngân hàng phục vụ người bán ghi

Có cho người thụ hưởng

Nhận xét:

Ưu điểm của thanh toán séc: thanh toán bằng séc rất thuận tiện và nhanh chóng,

trong quá trình giao dịch buôn bán người mua chỉ việc ký séc và giao cho người bán

mà không cần đến ngân hàng làm thủ tục

Nhược điểm của thanh toán séc:

Phương thức này người thụ hưởng nhận được séc ngay sau khi giao hàng, dịch

vụ, nhưng tờ séc mới chỉ được coi là giấy hứa trả nợ, thực tế người bán có nhận được đày đủ số tiền hay không còn phụ thuộc vào số dư trên tài khoản của người mua Nên tâm lý của người bán thường lo ngại tài khoản của người mua không còn tiên hoặc người mua làm séc giả, nên người bán thường không hay lựa chọn phương thức thanh toán này

Hiện nay nếu người mua và người bán mở tài khoản cùng một ngân hàng thì khi người bán đến nộp séc, ngân hàng sẽ ghi có cho tài khoản người bán và ghi nợ cho tài khoản người mua Tuy nhiên nếu người bán và người mua mở tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau thì việc thanh toán phải thực hiện qua thanh toán bù trừ của ngân hàng trung ương, mỗi ngày có hai phiên giao dịch vào lúc 10 giờ sang và 3 giờ chiều Việc kiểm tra séc của ngân hàng trung ương chủ yếu vẫn theo cách thủ công trực tiếp do nhân viên kiểm tra Nên nếu số lượng séc cần thanh toán bù trừ quá nhiều sẽ găp nhiều khó khăn như bị chậm trễ về thời gian,…

Trang 12

1.1.6.2 Thanh toán ủy nhiệm thu (hay nhờ thu)

Khái niệm: Ủy nhiệm thu là giấy ủy quyền do người thụ hưởng lập ra nhờ tổ

chức cung ứng dịch vụ thanh toán đứng ra thu hộ tiền hàng hóa dịch vụ, dựa trên cơ sở hàng hóa đã giao, hoặc dịch vụ cung ứng đã hoàn thành

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 186)

Đặc điểm của UNT:

UNT được áp dụng trong trường hợp thanh toán tiền, hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể mở tài khoản thanh toán cùng một ngân hàng, hoặc các chi nhánh ngân hàng cùng hệ thống, khác hệ thống

Khách hàng mua bán phải thống nhất, thỏa thuận dùng hình thức thanh toán UNT với những điều kiện thanh toán cụ thể được ghi trong hợp đồng kinh tế, đồng thời phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng phục vụ mình biết, ngân hàng sẽ căn cứ vào cơ

sở đó để thực hiện UNT

Điều kiện thủ tục thanh toán, thời hạn thanh toán thực hiện UNT được ngân hàng thỏa thuận với người sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với quy định của ngân hàng nhà nước

Sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, người thụ hưởng hay chính là người bán, người cung ứng dịch vụ sẽ lập ra 4 liên ủy nhiệm thu kèm theo hóa đơn giao hàng nộp vào ngân hàng phục vụ mình mình hoặc nộp trực tiếp vào ngân hàng phục vụ người trả tiền (hay chính là người mua) để yêu cầu thu hộ tiền Bên thụ hưởng phải ký tên, đóng dấu, ghi rõ các yếu tố quy định lên các liên UNT

Trong thời gian không quá một ngày kể từ khi nhận được UNT ngân hàng bên mua phải trích chuyển trả tiền từ tài khoản thanh toán của bên mua để trả ngay cho bên bán

Để thu ngay tiền bán hàng theo UNT, bên nhận tiền phải ghi rõ trên giấy UNT yêu cầu ngân hàng bên trả tiền chuyển tiền bằng điện hay fax, và bên nhận chịu mọi chi phí

Trang 13

13

Quy trình thanh toán ủy nhiệm thu

Sơ đồ 1.2 Thanh toán ủy nhiệm thu qua hai ngân hàng

(1)

(6) (3)

Nhận xét:

Ưu điểm: Hình thức thanh toán UNT đơn giản, thuận tiện đối với các doanh

nghiệp tổ chức cung ứng dịch vụ như điện, nước, điện thoại,… các đối tác có niềm tin lẫn nhau

Nhược điểm: Hình thức thanh toán này vẫn có những hạn chế như vẫn có trường

hợp thanh toán chậm, hoặc không có tiền thanh toán do tài khoản thanh toán của bên trả tiền không có đủ số dư, trong trường hợp này bên trả tiền sẽ bị phạt theo quy định

1.1.6.3 Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (hay lệnh chi)

Khái niệm: Lệnh chi hay UNC là lệnh chi tiền do chủ tài khoản lập theo mẫu của

ngân hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích chuyển một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình trả cho người tụ hưởng có tên trên lệnh chi (hay UNC)

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 183)

Người mua (người trả tiền)

Người bán (người lập UNT)

Ngân hàng phục

vụ người mua

Ngân hàng phục

vụ người bán

Trang 14

Điều kiện áp dụng UNC:

UNC dùng để thanh toán các khoản tiền hàng hóa, dịch vụ, nộp thuế, cấp phát vốn cho đơn vị cấp dưới hoặc chuyển tiền tại một chi nhánh, giữa các chi nhánh, cùng

hệ thống, hay khác hệ thống trong phạm vi cả nước

Trong thanh toán UNC bên mua chủ động thanh toán bằng cách lập 4 liên UNC nộp vào ngân hàng phục vụ mình để ngân hàng trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của mình chuyển cho bên thụ hưởng (người cung ứng dịch vụ, hàng hóa) Trên UNC bên trả tiền phải ghi đầy đủ các yếu tố khớp đúng với nội dung giữa các liên UNC

Khi nhận được UNC trong thời gian một ngày làm việc ngân hàng phục vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ số dư, hoặc lệnh chi không hợp lệ

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 183)

Quy trình thanh toán ủy nhiệm chi

Sơ đồ Error! No text of specified style in document 1 Sơ đồ luân chuyển ủy nhiệm

chi qua hai ngân hàng

Trang 15

15

(5) Ngân hàng phục vụ người bán ghi có và gửi giấy báo có cho người bán

Nhận xét:

Ưu điểm: UNC, hay lệnh chi là một phương thức thanh toán đơn giản, tiện lợi,

nhanh chóng phù hợp với việc áp dụng công nghệ thanh toán hiện đại UNC hiện nay đang là hình thức thanh toán chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số các hình thức thanh toán qua ngân hàng

Nhược điểm: Cũng giống như UNT, UNC vẫn còn có những hạn chế nhất định

Hạn chế của UNC đó là không đảm bảo quyền lợi cho bên thụ hưởng (người bán, người cung ứng dịch vụ), bên nhận tiền có thể gặp rủi ro như: bên trả tiền không đủ khả năng thanh toán, chậm trả hay cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Chính

vì vậy hình thức UNC thường chỉ áp dụng khi bên bán và bên mua tin tưởng lẫn nhau

1.1.6.4 Thanh toán bằng thẻ ngân hàng

Khái niệm:

Thẻ thanh toán là hình thức tiền điện tử, xuất hiện lần đầu với tư cách là phương tiện thanh toán tại Mỹ vào những năm 1914, nhưng cho đến tận những năm 1950 thẻ mới được sử dụng rộng rãi, và khoảng những năm 1960 thì thẻ đã sử dụng tại các nước Châu Âu, và ngày nay thì thẻ đã trở thành hình thức thanh toán thông dụng trên toàn thế giới

Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành, phục vụ cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền tại các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đã ký giữa ngân hàng và chủ thẻ (như thẻ Phone card, Master card, ATM card, Vissa card,…)

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 165)

Hình thức của thẻ:

Mặt trước của thẻ:

Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ: mỗi loại thẻ phát hành mang tính đặc

trưng riêng của tổ chức phát hành thẻ Đây được xem như thương hiệu, yếu tố an ninh chống lại sự giả mạo Ví dụ: VISA CARD có ô hình chữ nhật ở góc trái phía trên bao gồm 3 màu xanh, trắng, vàng, và dòng chữ VISA chạy ngang giữa màu trắng, dưới ô này là hình chú chim bồ câu chìm

Số thẻ: số thẻ giành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên mặt thẻ, và được in

lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ,

Trang 16

Họ tên của chủ thẻ: được in nổi là tên cá nhân nếu thẻ là cá nhân, còn nếu là thẻ

công ty thì họ tên chủ thẻ sẽ là tên của người được ủy quyền sử dụng thẻ Ngoài ra có một số thẻ in cả ảnh của chủ thẻ

Thời gian hiệu lực của thẻ: là thời gian mà thẻ được phép lưu hành và sử dụng

(tùy vào từng loại thẻ) và được thống nhất là ngày dương lịch, tháng dương lịch, và năm dương lịch

Kí tự an ninh: là các số mật mã của đợt phát hành, mỗi loại thẻ có ký tự an ninh

kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực Ví dụ: thẻ VISA có chữ V, CV, PV hoặc RV, thẻ MASTER CARD có chữ M và chữ C lồng nhau

Các thông tin khác: số seri, địa chỉ giải đáp thắc mắc khi cần thiết,…

Mặt sau của thẻ:

Dải băng từ: có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành

Ô chữ ký giành cho chủ thẻ: ô này có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ

so sánh, đối chiếu khi thực hiện thanh toán

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 166)

Đặc tính của thẻ

Tính linh hoạt: thẻ có rất nhiều loại đa dạng phong phú, thích hợp với mọi đối

tượng khách hàng

Tính tiện lợi: thẻ ra đời thay thế cho tiền mặt trong lưu thông, mang lại nhiều tiện

ích cho khách hàng, đặc biệt thích hợp với những người có công việc đi xa, du lịch,…khi mang theo thẻ có thể giúp khách hàng rút tiền mặt, thanh toán ở khắp mọi nơi mà không cần mang theo nhiều tiền mặt

Tính an toàn: Tệ nạn xã hội luôn là mối quan tâm lo lắng của nhiều người, khi sử

dụng thẻ khách hàng hoàn toàn có thể yên tâm về nạn cướp giật tiền, làm rơi, làm mất tiền,… Ngay cả khi khách hàng làm mất thẻ, thì ngân hàng vẫn đảm bảo an toàn cho

số tiền trong tài khoản của khách hàng bằng mã PIN, số tài khoản, chữ ký, ảnh,… Điều này thể hiện tính an toàn ưu việt của thẻ so với những phương tiện thanh toán khác

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 169)

Trang 17

17

Các thành phần tham gia thanh toán thẻ

Chủ thẻ: là người có tên in nổi trên thẻ, và sử dụng thẻ theo những khoản hợp

đồng đã ký với ngân hàng phát hành, được ngân hàng phát hành thẻ cho phép sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, rút tiền,…thay tiền mặt theo hạn mức được cấp trên thẻ

Ngân hàng phát hành thẻ: là NHTM được ngân hàng nhà nước cho phép thực

hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, và là thành viên chính thức của tổ chức thẻ quốc tế

Ngân hàng thanh toán thẻ: là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với cơ sở chấp

nhận thẻ và thanh toán các chứng từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình Một ngân hàng có thể vừa đóng vai trò là ngân hàng phát hành thẻ vừa là ngân hàng thanh toán thẻ

Cơ sở chấp nhận thẻ: là tổ chức hay cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ và

đồng ý chấp nhận thẻ làm phương tiện thanh toán Các cơ sở này thường có các trang thiết bị máy móc, thiết bị chuyên dụng để thực hiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ qua thẻ

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 170)

Phân loại thẻ thanh toán

Dựa theo đặc tính kĩ thuật của thẻ:

Thẻ khắc chữ nổi: là thẻ khắc những thông tin cần thiết bằng chữ nổi Ngày nay

không sử dụng thẻ này vì kĩ thuật thô sơ, dễ bị làm giả

Thẻ băng từ: thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa trên băng từ, thẻ này hiện

nay đang được sử dụng khá phổ biến, tuy nhiên vẫn có hạn chế đó là những thông tin được mã hóa bằng băng từ hẹp mang tính cố định, và có thể đọc được trên máy tính, nên vẫn có thể bị lợi dụng lấy mất tiền trong tài khoản

Thẻ điện tử có bộ vi xử lý chip (thẻ thông minh): hiện đang là thẻ mới nhất hiện

nay, dựa trên kĩ thuật xử lý tin học nhờ gắn chip điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo vào thẻ thay thế cho băng từ sau thẻ Ngoài ra cũng có những thẻ thông minh

có cả chíp điển tử và băng từ Thẻ có khả năng lưu trữ thông tin về chủ thẻ, tích điểm thưởng, và số lượng những lần giao dịch tại đơn vị chấp nhạn thẻ Nhờ có tính năng này mà đã giúp cho ngân hàng tiết kiệm được chi phí đối chiếu, kiểm tra thông tin về thẻ và chủ thẻ

Dựa theo chủ thể phát hành thẻ:

Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài

khoản của mình tại ngân hàng Đây đang là loại thẻ được sử dụng nhiều nhất

Trang 18

Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là các loại thẻ du lịch, thẻ vui chơi giải

trí Các tập đoàn kinh doanh lớn, các cửa hiệu lớn phát hành như: thẻ Dinner’s Club, Amex,…

- Theo đặc tính nội dung kinh tế của thẻ

Thẻ tín dụng: là loại thẻ mà người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng

không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đúng hạn), nếu đến hạn thanh toán cho ngân hàng mà chủ thẻ vẫn chưa trả được số tiền đã sử dụng thì chủ thẻ phải chịu lãi trả chậm, và khoản phí Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ có thể chi tiêu trước, trả tiền sau Khi chủ thẻ trả được hết toàn bộ số tiền đã sử dụng trong thẻ tín dụng thì hạn mức tín dụng lại được khôi phục như ban đầu, đây được gọi là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng Các tổ chức phát hành cấp hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng dựa trên các thông tin như thu nhập, năng lực tài chính của khách hàng, địa vị xã hội của khách hàng,…vì vậy mỗi khách hàng có một hạn mức tín dụng khác nhau

Thẻ rút tiền mặt: là loại thẻ dùng để rút tiền mặt từ tài khoản thanh toán của chủ

thẻ, để sử dụng được loại thẻ này yêu cầu chủ thẻ phải có tiền ký quỹ trêm tài khoản, hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi

Thẻ ghi nợ: là loại thẻ có quan hệ trực tiếp với tài khoản thanh toán của chủ thẻ

Để sử dụng loại thẻ này, chủ thẻ phải có tài khoản thanh toán hoạt động thường xuyên, khi sử dụng thẻ này để mua bán hàng hóa, dịch vụ thì giá trị dịch vụ, hàng hóa sẽ được trừ trực tiếp vào tài khoản của chủ thẻ Như vậy người sử dụng thẻ này không phải lưu

ký tiền vào tài khoản, căn cứ để thanh toán là số dư trên tài khoản của chủ thẻ tại ngân hàng, và hạn mức tối đa của thẻ do ngân hàng quy định

Thẻ lưu giá trị: thẻ này cần phải nộp một số tiền nhất định để mua thẻ, sau đó

mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ sẽ bị trừ dần Ví dụ: thẻ điện thoại, thẻ thanh toán phí cầu đường,…

Theo phạm vi sử dụng:

Thẻ nội địa: thẻ được giới hạn phạm vi sử dụng trong một quốc gia

Thẻ quốc tế: là thẻ được sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, và được

chấp nhận trên phạm vi toàn cầu như VISA CARD, MASTER CARD,…

Theo hạn mức của thẻ

Thẻ vàng: là loại thẻ có hạn mức tín dụng cao, thẻ này thường được phát hành

cho những khách hàng có thu nhập, uy tín cao, tiềm lực tài chính mạnh và có nhu cầu chi tiêu lớn

Trang 19

Quy trình thanh toán thẻ

Sơ đồ 1.4 Quy trình thanh toán thẻ

(4)

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, 195)

Chú thích:

(1) Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại cơ

sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý

(2) Cơ sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý khi nhận được thẻ từ khách hàng

sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ, thiêt lập hóa đơn thanh toán và trao hàng hóa cho khách

(3) Cơ sở chấp nhận thẻ giao dịch với ngân hàng, gửi hóa đơn thẻ cho ngân hàng thanh toán

(4) Ngân hàng thanh toán thẻ thanh toán cho cơ sở chấp nhận thẻ (ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp nhận thẻ hoặc ngân hàng đại lý thanh toán

(5) Ngân hàng thanh toán thẻ thanh toán với tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên khác Cuối mỗi ngày ngân hàng tổng hợp các giao dịch phát sinh từ thẻ

do ngân hàng khác phát hành và truyền dữ liệu cho tổ chức thẻ quốc tế

(6) Tổ chức thẻ quốc tế ghi có cho ngân hàng thanh toán Dữ liệu mà tổ chức thẻ quốc tế truyền về bao gồm các khoản ngân hàng thanh toán được trả, những khoản chi phi phải trả cho tổ chức thẻ quốc tế, những giao dịch bị rà soát

Cơ sở chấp nhận thẻ

Ngân hàng phát hành thẻ Chủ thẻ

Ngân hàng thanh toán thẻ

Tổ chức

Trang 20

(7) Tổ chức thẻ quốc tế báo nợ cho ngân hàng phát hành (8) Ngân hàng phát hành thanh toán nợ cho tổ chức thẻ quốc tế

(9) Ngân hàng phát hành gửi sao kê cho chủ thẻ (10)Chủ thẻ thanh toán nợ cho ngân hàng phát hành

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động, trang 195)

Nhận xét:

Ưu điểm thanh toán thẻ: khi sử dụng thẻ khách hàng sẽ tránh được nhiều rủi ro

như: mất cắp, rơi tiền,… Thẻ được thiết kế nhỏ gọn, tiện lợi, dễ dàng cất giữ và mang

đi xa,…

Nhược điểm thanh toán thẻ:

- Có hạn mức rút thẻ, mỗi lần rút không được rút quá …

- Mỗi lần rút đều bị mất phí, có một số trường hợp mất phí mà vẫn không rút được tiền

- Máy ATM hết tiền, hoặc trục trặc, có thể nuốt luôn thẻ

1.1.7 Những rủi ro phát sinh trong thanh toán không dùng tiền mặt

Rủi ro là những biến cố không mong đợi xảy ra dẫn đến tổn thất cho ngân hàng, tổn thất về tài sản, tổn thất về uy tín, rủi ro có thể khiến lợi nhuận thực tế giảm so với lợi nhuận kì vọng của ngân hàng,…Ngân hàng là một trung gian thanh toán nên chịu nhiều rủi ro trong thanh toán như:

1.1.7.1 Rủi ro về mặt pháp lý:

Rủi ro pháp lý là những rủi ro xuất phát từ sự thiếu chặt chễ trong hệ thống văn bản pháp luật có liên quan về hoạt động thanh toán Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng dựa vào hệ thống pháp luật để xem xét mức độ thiệt hại nghiêm trọng để xử lý theo quy định Vì vậy nếu hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ phần nào giúp ngân hàng ngăn ngừa rủi ro xảy ra, tuy nhiên ở Việt Nam hành lang pháp lý được đánh giá là chưa đầy đủ, đồng bộ, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến lĩnh vực thương mại điện và thanh toán điện tử Ví dụ như đối với giao dịch điện tử thì chưa có đủ cơ sở để các ngân hàng phát triển, khai thác các kênh giao dịch điện tử vì chưa tạo được một cơ chế tổng hợp điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trong ngành ngân hàng, chưa có sự chấp nhận đồng bộ các giao dịch điện tử, chứng từ điện tử giữa các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan như: Tổng cục hải quan, tổng cục thuế,…

Ngày 19/11/2005 luật giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua, đây là bước tiến mang tính đột phá của Việt Nam trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển kinh tế xã hội Nó tạo một nền tảng hành lang pháp lý cho các nghiệp vụ, dịch vụ

Trang 21

21

ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện cho các ngân hàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động thương mại điện tử Tuy nhiên để luật này đi vào cuộc sống là một quá trình phấn đấu không phải chỉ riêng ngành ngân hàng mà là của toàn xã hội Hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực thanh toán vẫn cần tiếp tục chỉnh sửa đề phù hợp với thông lệ quốc tế, và nhu cầu sử dụng của người dùng

1.1.7.2 Rủi ro hoạt động:

Rủi ro hoạt động là những rủi ro xảy ra trong quá trình thanh toán Do TTKDTM không sử dụng tiền mặt mà sử dụng tiền ghi sổ, tất cả hoạt động trong quá tình thanh toán đều được xử lý trên hệ thống máy tính, nên không thể tránh được những sai xót

có thể xảy ra Rủi ro có thể do lỗi kĩ thuật, máy móc, hoặc đến từ con người như: sai xót nhầm lẫn khi đọc các con số quá lớn,…rủi ro này hoàn toàn có thể xảy ra vì hàng ngày nhân viên giao dịch phải ngồi trước máy tính liền tục trong nhiều giờ đồng hồ, dẫn đến tình trạng mỏi mắt, hoa mắt, nhìn mờ,…dẫn đến nhập sai số tiền, gây tổn thất cho khách hàng cũng như ngân hàng Quá trình TTKDTM đòi hỏi sự cẩn thận, tỷ mỉ trong từng bước, chính vì vậy mà nhân viên ngân hàng cần có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng các thủ tục, cũng như thực hiện các thao tác nghiệp vụ một cách cẩn thận

để tranh sai xót xảy ra

1.1.7.3 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là tình trạng một người tham gia thanh toán nhưng vì lý do nào

đó mà không thể trả được nợ, rủi ro này gây ra thiệt hại cho người thụ hưởng, hoặc cho chính ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán Ví dụ: đối với khách hàng, rủi ro tín dụng xảy ra có thể khiến khách hàng không đòi được nợ Rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng khi khách hàng chi tiêu vượt quá hạn mức tín dụng nhưng không thể chi trả hoặc trả chậm cả gốc và lãi so với thời hạn trong hợp đồng, gây ra thiệt hại cho ngân hàng

1.1.7.4 Rủi ro thanh khoản:

Là rủi ro xuất phát từ việc mất khả năng thanh toán của chủ thể tham gia thanh toán, rủi ro này có thể xảy ra do hệ thống thanh toán gặp trục trặc, khiến người nhận không nhận được tiền trong tài khoản, hoặc do lỗi của nhân viên đã gửi nhầm tài khoản, hay có thể do khả năng thanh toán tạm thời của người có nghĩa vụ thanh toán gặp vấn đề

1.1.7.5 Rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan Trong trường hợp người mua và người bán không hề biết nhau, thậm chí chưa hề gặp nhau, vì vậy không nắm rõ được thông tin như uy tín, đạo đức năng lực tài chính của nhau, dẫn đến đưa ra

Trang 22

các quyết định sai lầm gây nên rủi ro trong thanh toán Nếu một trong các bên có phẩm chất đạo đức kém, làm giả giấy tờ, chứng từ thanh toán, thì sẽ gây thiệt hại cho các bên liên quan

1.1.7.6 Rủi ro kĩ thuật

Do đặc thù TTKDTM phải sử dụng tiền ghi sổ, nên khách hàng thường xuyên phải tiếp xúc với các công nghệ hiện đại như máy ATM rút tiền, chính vì vậy nếu như máy móc gặp trục trặc, sự cố thì sẽ gây ra những bất lợi cho khách hàng Ví dụ: khách hàng đang cần tiền gấp, nhưng máy ATM lại bị hết tiền, hoặc nuốt thẻ, hoặc trục trặc

kĩ thuật,… khiến khách hàng mất thời gian chờ đợi, ảnh hưởng đến công việc sản xuất kinh doanh

Ngân hàng luôn đứng trước nhiều loại rủi ro khác nhau, khi TTKDTM ngày càng phát triển thì số giao dịch thanh toán, số khách hàng ngày càng tăng Để đảm bảo cho việc thanh toán được diễn ra an toàn, chính xác, nhanh chóng đòi hỏi các nhân viên, cũng như khách hàng có ý thức chấp hành đúng các quy định đề ra, cẩn thận, tỷ mỉ trong từng khâu thanh toán nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra

(Nguồn: Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”,

NXB Lao Động)

1.2 Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

Phát triển TTKDTM là việc NHTM vận dụng tổng hợp các nguồn lực, các công

cụ, phương pháp nhằm gia tăng quy mô TTKDTM Phát triển TTKDTM được hiểu là

sự tăng lên về doanh số thanh toán, về số lượng khách hàng, số lượng các món giao dịch bằng các hình thức TTKDTM

1.2.2 Sự cần thiết phải phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời đã góp phần thay đổi bộ mặt của nền kinh

tế thể hiện qua tốc độ thanh toán nhanh, an toàn và không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý, công nghệ thanh toán hiện đại, con người trở nên văn minh hơn,… Nhờ có TTKDTM mà xã hội đã giảm được những tệ nạn như cướp giật tiền, mọi người không còn lo lắng bị mất trộm, rơi rớt trên đường khi đem một khoản tiền lớn trong người đi

xa nữa TTKDTM giúp cho trình độ văn hóa hiểu biết của con người được nâng cao, con người được tiếp cận với công nghệ hiện đại như internet banking, mobile banking, giúp làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm các chi phí liên quan như: chi phí thời gian, chi phí đi lại,…, đồng thời tạo ra một quy trình thanh toán nhanh chóng tiện lợi, đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế nói chung và hoạt động thanh toán của ngân hàng nói riêng Chính vì vậy mà TTKDTM đang rất cần được phát triển ở các NHTM hiện nay

Trang 23

23

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính

Mức độ hài lòng của khách hàng về thanh toán không dùng tiền mặt

Khách hàng chính là những người chủ yếu mang lại nguồn thu cho ngân hàng Khó có thể đánh giá được chính xác được mức độ hài lòng của khách hàng vì mỗi người có một mức độ thỏa mãn khác nhau Tuy nhiên các ngân hàng luôn cố gắng hết sức để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, bởi một khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng với độ thỏa mãn về nhu cầu càng cao thì khách hàng sẽ ngày càng tín nhiệm ngân hàng, tin tưởng và tiếp tục sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng nhiều hơn, điều này giúp cho TTKDTM ngày càng được phát triển

Mức độ an toàn và chính xác trong cung cấp thanh toán không dùng tiền mặt

Tính an toàn và chính xác: là hai yêu cầu quan trọng của TTKDTM Như ta đã

biết đặc thù của ngân hàng là hoạt động trong môi trường có rủi ro cao, nên nếu ngân hàng cung cấp hoạt động TTKDTM với độ an toàn, chính xác cao thì sẽ tạo được lòng tin của khách hàng, từ đó thu hút được thêm khách hàng mới và giữ chân được khách hàng cũ đến giao dịch tại ngân hàng, từ đó tạo điều kiện cho TTKDTM phát triển và ngược lại

Tính nhanh chóng và kịp thời: thời gian thực hiện giao dịch thanh toán là khoảng

thời gian từ khi khách hàng ra lệnh thanh toán đến khi người nhận tiền được báo có trong tài khoản, đồng thời phía người trả tiền báo nợ Khách hàng luôn quan tâm và mong muốn quá trình thanh toán diễn ra nhanh, nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn Chính vì vậy ngân hàng nào có quy trình xử lý TTKDTM càng nhanh chóng, kịp thời

mà an toàn thì sẽ thu hút được khách hàng tham gia thanh toán nhiều hơn, góp phần phát triển TTKDTM và ngược lại

Tiện ích các dịch vụ đi kèm

Các hình thức TTKDTM của các NHTM hiện nay thường có các tiện ích dịch vụ kèm theo Đây là một hình thức quảng bá, nhằm thu hút khách hàng Hiện nay các ngân hàng đang đưa ra nhiều chính sách ưu đãi, hình thức khuyễn mại, dịch vụ đi kèm

mà khách hàng được hưởng khi sử dụng hình thức TTKDTM tại ngân hàng Ví dụ như: khi khách hàng có thẻ tín dụng của ngân hàng Vietcombank, khách hàng sẽ nhận được những thông tin về du lịch từ các văn phòng dịch vụ du lịch của American Express trên khắp thế giới bao gồm: Thông tin về du lịch, tiện ích thanh toán (séc du lịch, đổi tiền, ứng tiền mặt khẩn cấp,…) dịch vụ trợ giúp khẩn cấp toàn cầu, thay thế thẻ khẩn cấp,… khi cần thiết Hay nhân dịp mừng sinh nhật 22 của VP bank, từ 24/8-18/10/2015 VP bank triển khai chương trình ưu đãi “thanh toán cực nhanh-nhận quà

Trang 24

cực đã”, thông qua chương trình này khách hàng có cơ hội nhận ngay hàng ngàn phần thưởng tiền mặt khi tham gia thanh toán trực tuyến cùng VPbank,… Chính vì vậy mà ngân hàng nào có các tiện ích, dịch vụ đi kèm đa dạng, thực tế thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng tham gia thanh toán qua ngân hàng đó hơn, từ đó tạo điều kiện để phát triển TTKDTM

1.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng

Mức độ tăng trưởng doanh số từ thanh toán không dùng tiền mặt

Doanh số là một chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá sự phát triển TTKDTM, Doanh số TTKDTM là số tiền được khách hàng thực hiện thanh toán thông qua ngân hàng theo dưới các hình thức TTKDTM Khi đó mức tăng trưởng doanh số TTKDTM được xác định theo công thức:

Mức độ tăng

trưởng doanh số =

Doanh sốTTKDTM năm (n) – Doanh số TTKDTM năm (n-1)

Doanh số TTKDTM năm (n-1) Chỉ tiêu này cho biết số tiền khách hàng thực hiện thanh toán theo các hình thức TTKDTM năm nay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước Qua đó giúp ngân hàng nắm được tình hình doanh số TTKDTM của các hình thức thanh toán từ đó

có những biện pháp và chính sách kịp thời giúp ngân hàng quản lý điều tiết kinh doanh được tốt hơn Chỉ tiêu này cao chứng tỏ nhu cầu thanh toán của người dân cao, lượng tiền thanh toán lớn Đây là điều kiện thuận lợi để ngân hàng mở rộng và phát triển TTKDTM mô các giao dịch TTKDTM tăng tức quy mô TTKDTM của ngân hàng đang phát triển

Mức độ tăng trưởng thu nhập từ hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

Thu nhập là chỉ tiêu cơ bản được sử dụng để đo lường hiệu quả kinh doanh cuả ngân hàng khi phát triển TTKDTM

Thu nhập từ hoạt động TTKDTM là số tiền ngân hàng thu các dịch vụ TTKDTM như: phí phát hành séc, phí thanh toán qua thẻ, qua UNC, UNT,… Mức gia tăng thu nhập từ TTKDTM được xác định theo công thức:

Mức độ tăng trưởng

Thu nhập năm (n) – Thu nhập năm (n-1)

Thu nhập năm (n-1) Chỉ tiêu mức độ tăng trưởng thu nhập từ hoạt động TTKDTM cho biết tổng số tiền ngân hàng thu từ hoạt động TTKDTM năm nay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước, qua đó đánh giá được tình hình biến động của từng hình thức TTKDTM của ngân hàng

Mức độ gia tăng số món thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 25

Số món TTKDTM loại i năm (n) – Số món thanh toán loại i năm (n-1)

Số món thanh toán loại i năm (n-1)

Chỉ tiêu mức độ gia tăng số món TTKDTM cho biết số lượng thanh toán giao dịch của mỗi loại hình thức TTKDTM năm nay tăng bao nhiêu phần trăm so với năm trước Qua đó có thể đánh giá được tình hình phát triển của từng hình thức TTKDTM của ngân hàng Nếu chỉ tiêu mức độ gia tăng số món TTKDTM cao chứng tỏ hoạt động TTKDTM loại (i) của ngân hàng đã và đang được quan tâm, hoạt động thu hút khách hàng được đẩy mạnh Khi đó ngân hàng cần có những biện pháp nhằm củng cố tạo dựng niềm tin vững chắc hơn, nâng cao hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng

Mức gia tăng số lƣợng khách hàng thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng

Chỉ tiêu mức độ gia tăng số lượng khách hàng TTKDTM qua ngân hàng cho biết

số lượng khách hàng năm nay tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước, chỉ tiêu được xác định qua công thức:

Trang 26

Chi phí đầu tƣ vào thanh toán không dùng tiền mặt

Chi phí đầu tư vào TTKDTM là các chi phí như: chi phí đầu tư thêm cho các máy ATM, máy POS, hay chi phí tu chỉnh sửa chữa nâng cấp bảo trì các máy móc sử dụng trong TTKDTM, chi phí quảng cáo,… Mức độ gia tăng chi phí được đánh giá qua công thức

Chi phí đầu tư

vào TTKDTM =

Chi phí đầu tư năm (n) - Chi phí đầu tư năm(n-1)

Chi phí đầu tư năm(n-1) Chi phí đầu tư vào TTKDTM cao chứng tỏ ngân hàng trong năm nay đã đầu tư hơn về các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho TTKDTM, đồng thời quan tâm xúc tiến các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền các tiện ích khi sử dụng các hình thức TTKDTM của ngân hàng cho mọi người nhằm mục tiêu gia tăng số lượng khách hàng, tăng thu nhập từ hoạt động TTKDTM cho ngân hàng Tuy nhiên chỉ tiêu này không nên quá cao vì chi phí này sẽ làm giảm thu nhập của ngân hàng

Số lƣợng máy ATM (Automated Teller Machine) và máy POS (Point Of Sales)

Máy rút tiền tự động ATM là một thiết bị không còn xa lạ với người dân hiện nay, nó cho phép giao dịch tự động với khách hàng, nhận dạng khách hàng, thực hiện các yêu cầu của khách hàng như: kiểm tra tài khoản, rút tiền, chuyển khoản, thnah toán tiền hàng hóa, dịch vụ,…

Hệ thống máy POS là hệ thống máy chấp nhận thanh toán thẻ, giúp khách hàng thanh toán tại các trung tâm thương mại, siêu thi,…khách hàng có thể thanh toán trong nội địa hoặc quốc tế Thẻ ngân hàng có liên kết với các tổ chức thanh toán quốc tế như: VISA, MASTER CARD, AMEX, hay thẻ tín dụng do ngân hàng Việt Nam phát hành đều có thể thanh toán trên các máy POS

Để có thể tiếp cận và thu hút khách hàng các NHTM hiện nay đang không ngừng gia tăng số lượng máy ATM, máy POS về cả số lượng và chất lượng trên khắp các tỷnh thành nhằm mở rộng và phát triển TTKDTM

Chi phí giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt

Chi phí cũng là một tiêu chí cạnh tranh của các NHTM trên lĩnh vực TTKDTM Ngân hàng nào có mức chi phí giao dịch thấp hơn sẽ dễ dàng trong việc thu hút khách hàng sử dụng các dịch vụ, các hình thức thanh toán qua ngân hàng hơn

Trang 27

27

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

1.3.1 Nhân tố kiểm soát được

1.3.1.1 Quy trình thanh toán không dùng tiền mặt

Khách hàng luôn mong muốn quy trình cũng như các thủ tục thanh toán được diễn ra nhanh chóng, đơn giản thuận tiện trong cách thức làm việc Với quy trình thủ tục thanh toán nhanh gọn, kết hợp nhịp nhàng giữa các bước sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng phát hiện kịp thời, ngăn ngừa các rủi ro xảy ra, thu hút nhiều khách hàng, từ đó

mở rộng và đa dạng hóa các hình thức TTKDTM Tuy nhiên phải luôn quan tâm đảm bảo an toàn trong quy trình, tránh những sai xót xảy ra, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng của quy trình thanh toán, đồng thời khẳng định được uy tín của ngân hàng

1.3.1.2 Quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng

Nếu các ngân hàng có mạng lưới rộng khắp cả nước sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đến giao dịch, nói cách khác nếu mạng lưới chân rết càng rộng thì NHTM sẽ càng thực hiện được chức năng thanh toán của mình một cách

dễ dàng, đồng thời với chính sách đa dạng hóa sản phẩm sẽ giúp ngân hàng đạt được mục tiêu an toàn, sinh lời, giảm rủi ro Ngoài ra khi đa dạng hóa các loại hình kinh doanh ngân hàng sẽ có nhiều nguồn thu từ việc thu phí dịch vụ, trên cơ sở đó có thể giảm phí suất thanh toán, tạo điều kiện cạnh tranh với các NHTM khác, khuyến kých TTKDTM phát triển

1.3.1.3 Chất lượng nguồn nhân lực

Theo điều tra nghiên cứu thì con người là tài nguyên vô giá của ngân hàng, nếu biết tận dụng và khai thác tiềm năng này tốt thì ngân hàng sẽ ngày càng vững mạnh, phát triển Ngày nay máy móc hiện đại dần thay thế cho các thao tác thủ công, đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ nghiệp vụ cao, và khả năng xử lý tình huống linh hoạt, Như vậy vấn đề nguồn nhân lực ở đây không đòi hỏi số lượng mà yêu cầu cao về chất lượng TTKDTM hiện nay không còn mới mẻ với chúng ta nhưng để thật sự am hiểu sâu về quy trình, nội dung nghiệp vụ thì các ngân hàng cần không ngừng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,…cho các nhân viên để có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán của khách hàng, đồng thời giúp cho TTKDTM của ngân hàng ngày càng phát triển Ví dụ như các NHTM hiện nay thường xuyên tổ chức các lớp nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên ở các phòng ban, ngoài ra còn tổ chức cuộc thi cán bộ ngân hàng thông thái nhằm khích lệ động viên tinh thần rèn luyện, học hỏi của các nhân viên

1.3.1.4 Hoạt động maketing

Maketing trong hoạt động thanh toán là một hình thức quảng cáo, tuyên truyền, giới thiệu các sản phẩm TTKDTM đến với người tiêu dùng Hiện nay tuy rằng

Trang 28

TTKDTM đã rất phổ biến, nhưng sự phổ biến này lại chỉ tập trung ở trung tâm thành phố lớn, ven các tỷnh thành phát triển, còn những nơi huyện, xã,…thì TTKDTM vẫn còn khá mới mẻ Chính vì vậy mà ngân hàng cần tập trung đẩy mạnh hoạt động maketing để quảng bá sâu rộng về lợi ích cũng như sự tiện lợi của hình thức TTKDTM trong cuộc sống hàng ngày Ví dụ: ngân hàng có thể đầu tư về quảng cáo trên tivi, đài báo truyền thông về các hình thức TTKDTM của ngân hàng, ngoài ra còn có thể cử nhân viên tư vấn và mở thẻ miễn phí cho sinh viên, người dân ở các thành phố, huyện chưa phát triển,…

1.3.1.5 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Khoa học công nghệ hiện nay là yếu tố vô cùng quan trọng đối với kinh doanh nói chung và TTKDTM nói riêng của các ngân hàng hiện nay Các NHTM đang tăng cường ứng dụng các nghiệp vụ ngân hàng điện tử như: internet banking, bomile banking,… Với các hình thức này sẽ giúp tiết kiệm thời gian cho khách hàng Khách hàng không cần tốn thời gian, chi phí đi lại để đến ngân hàng giao dịch mà vẫn có thể thực hiện được nhu cầu giao dịch của mình Bằng cách này các NHTM sẽ thu hút được nhiều khách hàng bởi những tiện ích của hình thức thanh toán hiện đại này mang lại

1.3.2 Nhân tố không kiểm soát được

1.3.2.1 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế thể hiện thông qua những biến số kinh tế như nhu nhập quốc dân, tốc độ tăng trưởng thu nhập quốc dân, mức thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, Sự phát triển ổn định của các nhân tố này là điều kiện thuận lợi để phát huy chức năng thanh toán của ngân hàng, đồng thời tác động mạnh đến nhu cầu và cách thức sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cảu khách hàng Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, cá biến số vĩ mô có dấu hiệu tốt, tình hình sản xuất kinh doanh phát triển thúc đẩy quá trình mua bán diễn ra thường xuyên, chi tiêu thực tế của dân cư tăng nhanh sẽ làm tăng nhu cầu tiêu dùng, dẫn đến nhu cầu thanh toán hàng hóa, dịch

vụ cao, tạo triển vọng phát triển TTKDTM Ngược lại nếu nền kinh tế suy thoái, kinh

tế vĩ mô bất ổn định sẽ gây mất lòng tin nghiêm trọng của người dân về triển vọng thu nhập của mình, qua đó thu nhập trong tương lai của người dân dự kiến giảm dẫn đến nhu cầu chi tiêu giảm, kéo theo nhu cầu thanh toán hàng hóa dịch vụ giảm, hoạt động TTKDTM không thể phát triển được

1.3.2.2 Môi trường chính trị

Môi trường chính trị ổn định, không xảy ra xung đột, đảo chính, nội chiến sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh tạo niềm tin cho người dân về sự phát triển kinh tế vững mạnh, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán hàng hóa, dịch vụ, tăng tỷ trọng thanh toán qua ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút

Trang 29

29

được lượng tiền mặt lớn trong xã hỗi, nhờ đó các ngân hàng có thêm nguồn vốn để đầu

tư kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức TTKDTM

1.3.2.3 Môi trường pháp lý

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu sự chi phối của luật pháp, chỉ cần một thay đổi nhỏ của pháp luận cũng tạo ra những cơ hội và thách thức cho ngân hàng Nếu một hệ thống pháp luật hoàn thiện, rõ ràng, có hiệu quả, có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ ngành sẽ giúp ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả hơn, tạo nền tảng cho quá trình nâng cao hiệu quả việc phát triển TTKDTM của các NHTM Chẳng hạn như các quy định hướng dẫn cụ thể về séc, sử dụng séc, sẽ giúp cho công tác quản lý ngân hàng được dễ dàng hơn,…

1.3.2.4 Môi trường văn hóa xã hội

Các nhân tố văn hóa như tập quán xã hội, bản sắc dân tộc, tâm lý tiêu dùng, chi tiêu, trình độ dân trí thói quen, lối sống của từng vùng miền tác động đến nhu cầu của người tiêu dùng, qua đó ảnh hưởng đến hoạt động TTKDTM của ngân hàng

Quy mô và tốc độ tăng dân số, mật độ dân số, cơ cấu dân số cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TTKDTM vì thông thường những khu vực kinh tế phát triển tập trung đông dân cư thì nhu cầu mua sắm tiêu dùng tăng cao, hoạt động TTKDTM có khả năng phát triển cao như ở các đô thị hay thành phố lớn…

1.3.2.5 Môi trường khoa học-công nghệ

Những năm gần đây sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo nên một bước đột phá trong lĩnh vực thanh toán, tác động mạnh đến sự phát triển hệ thống thanh toán qua ngân hàng Không ai có thể phủ nhận những đóng góp của công nghệ khoa học đối với đời sống nói chung và lĩnh vực thanh toán trong ngân hàng nói riêng, điển hình như các NHTM hiện nay đều có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác của khách hàng thông qua mạng điện tử internet toàn cầu

Yếu tố công nghệ không chỉ quan trọng với các doanh nghiệp mà còn là yếu tố

vô cùng cấp thiết đối với ngân hàng Các ngân hàng luôn chú trọng công nghệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp giải quyết công việc một cách nhanh chóng và hiệu quả Khi hệ thống máy ATM, máy POS, được đưa vào hoạt động đã tạo nên bộ mặt mới cho TTKDTM, các chứng từ bằng giấy đã được thay bằng chứng từ điện tử mang lại những cải biến lớn về thời gian thanh toán, khối lượng thanh toán, chất lượng thanh toán,…chứng tỏ công nghệ không chỉ cho phép ngân hàng thay đổi về quy trình nghiệp vụ mà còn thay đổi về phương thức giao dịch, rút ngắn thời gian thanh toán Với nền kinh tế hiện nay đang mở cửa, các giao dịch trong và ngoài nước tăng nhanh, chính vì vậy các ngân hàng cần cố gắng hoàn thiện đưa công nghệ hiện đại vào hoạt

Trang 30

động ngân hàng, khai thác tối đa những tiện ích công nghệ, từ đó tạo điều kiện phát triển TTKDTM đáp ứng được nhu cầu thanh toán trong và ngoài nước

1.3.2.6 Yếu tố tâm lý khách hàng

Trong nền kinh tế nhỏ và lạc hậu, người dân có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán, bởi với những giao dịch mua bán nhỏ thì tiền mặt đem lại sự thuận tiện, nhanh chóng, đây là một trở ngại đối với việc phát triển TTKDTM Ngoài ra còn cps một số nguyên nhân như: thuế đánh quá cao khiến con người nảy sinh hành vi trốn thuế, trình độ dân trí thấp kém cũng sinh ra tâm lý ngại sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại có độ phức tạp, vậy muốn để người dân thích ứng và chuyển hướng sang TTKDTM các ngân hàng cần phải tích cực tuyên truyền quảng bá, gia tăng các dịch vụ tiện ích đi kèm, thúc đẩy quy trình thanh toán nhanh gọn, tránh các thủ tục rườm rà

Trang 31

31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 khóa luận đã trình bày được những nội dung cơ bản về TTKDTM của NHTM Khóa luận đã đề cập được những vấn đề như khái niệm, đặc điểm, vai trò, phân loại của TTKDTM và sự cần thiết phải phát triển TTKDTM trong nền kinh tế hiện nay cùng các chỉ tiêu đánh giá Ngoài ra khóa luận còn cho ta thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển TTKDTM

Những lý luận trên đã khái quát được tình hình TTKDTM của NHTM hiện nay như thế nào, và làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu ở chương 2:

“Thực trang phát triển TTKDTM tại NHTMCP Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội”

Trang 32

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần

Công Thương

Tên gọi: Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam Tên quốc tế: Vietnam Bank for Industry and Trade

Tên giao dịch quốc tế: Vietinbank

Mã giao dịch SWIFT: ICBVVNVX Ngày thành lập: 26/3/1988

Trụ sở chính: Tầng 11, số 108 Trần Hưng Đạo – Hoàn Kiếm - Hà Nội Điện thoại: 043.942.1158

Fax : 043.942.1032 Wedsite: www.vietinbank.vn Slogan: Nâng cao giá trị cuộc sống

Giai đoạn 1: từ tháng 7/1988 đến hết năm 1990

NHTMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) tiền thân của ngân hàng Công Thương Việt Nam được thành lập với tên gọi ngân hàng chuyên doanh Công Thương Việt Nam theo nghị định 53/NĐ –HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về

tổ chức bộ máy NHNNVN và chính thức đổi tên thành: “ngân hàng Công Thương Việt Nam” theo quyết định số 402/CT của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/11/1990

Trang 33

33

Trong giai đoạn này ngân hàng Công Thương chỉ thực hiện nhiệm vụ quản lý như một liên hiệp xí nghiệp đặc biệt, các chi nhánh thực hiện chế độ hạch toán độc lập

Giai đoạn 2: từ tháng 1/1991 đến tháng 9 năm 1996

Sau khi pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực (tháng 10/1990) theo quyết định số 402/CT của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngân hàng Công Thương Việt Nam mới thực sự trở thành một NHTM có chức năng kinh doanh tiền tệ Mô hình tổ chức kinh doanh được định hình rõ: Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một pháp nhân thuộc

sở hữu của Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có các chi nhánh là các đơn

vị thành viên hạch toán phụ thuộc

Ngày 27/3/1993 Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký quyết định 67/QĐ-NH5 về việc thành lập NHCT Việt Nam thuộc NHNN Việt Nam

Ngày 21/9/1996 được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính Phủ, Thống đốc NHNN

đã ký quyết định số 285/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHCT Việt Nam theo mô hình Tổng công ty Nhà nước được quy định tại quyết định số 90/QĐ-TTG ngày 7/3/1994 của Thủ tướng

Giai đoạn 3: từ tháng 9/1996 đến tháng 7/2009

Theo mô hình tổng công ty Nhà nước, Ngân hàng Công Thương Việt Nam được quản lý bởi Hội đồng quản trị và điều hành bởi Tổng giám đốc, ngân hàng có các chi nhánh là thành viên hạch toán phụ thuộc (chi nhánh cấp 1), chi nhánh cấp trực thuộc (chi nhánh cấp 2)

Ngày 15/4/2008: NHCT đổi tên thương hiệu từ INCOMBANK sang VIETINBANK

Ngày 31/7/2008: NHCT Việt Nam đón nhận chứng chỉ ISO 9001-2000

Ngày 23/9/2008 Thủ tướng Chinh Phủ đã ký quyết định 1354/QĐ-TTG phê duyệt phương án cổ phần hóa NHCT Việt Nam

Ngày 25/12/2008 NHCT Việt Nam tổ chức bán đấu giá cổ phần ra công chúng lần đầu thành công và thực hiện chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần

Ngày 4/6/2009: Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất NHTMCP Công Thương Việt Nam

Ngày 9/7/2009: Đổi tên NHCT Việt Nam thành NHTMCP Công Thương Việt Nam theo giấy phép thành lập và hoạt động của Thống đốc NHNN Việt Nam số 142/GP-NHNN, ngày 03/07/2009)

Giai đoạn 4: từ tháng 7/2009 đến nay

Ngân hàng đã cổ phần hóa và chuyển đổi thành công sang mô hình NHTMCP, trong đó Nhà nước nắm giữ tỷ lệ sở hữu vốn chi phối, NHTMCP Công thương tiếp tục

Trang 34

thực hiện chiến lược trở thành Tập đoàn tài chính mạnh, hàng đầu nắm giữ và phát huy vai trò ngân hàng chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính Việt Nam

Mạng lưới hoạt động

Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển đến nay NHTMCP Công Thương Việt Nam là một trong bốn NHTM quốc doanh lớn nhất thị trường hiện nay với tổng tài sản chiếm khoảng 10% tổng tài sản toàn hệ thống, thị phần cho vay chiếm 11.6% của toàn hệ thống Với thương hiệu tốt, mối quan hệ chặt chẽ và nhiều khách hàng truyền thống cùng nền tảng tài chính vững mạnh NHTMCP Công Thương có mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch đứng thứ 2 toàn quốc sau ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Việt Nam với mạng lưới rộng khắp 56 tỷnh thành bao gồm 1 Hội sở chính, 3 Sở giao dịch, 145 chi nhánh, 527 phòng giao dịch, 1166 quỹ tiết kiệm,

1042 máy rút tiền tự động ATM, 5 văn phòng đại diện, và 4 công ty con gồm công ty cho thuê tài chính, công ty Cổ phần Chứng khoán NHCT (VietinbankSC), công ty Bất động sản và đầu tư tài chính NHCT Việt Nam, và công ty Bảo hiểm NHCT Việt Nam Cùng với 3 đơn vị sự nghiệp bao gồm: Trung tâm Thẻ, Trung tâm Công nghệ thông tin, trường Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực Ngoài ra NHCT Việt Nam còn là sáng lập viên và là đối tác góp vốn liên doanh với ngân hàng INDOVINA, và góp vốn vào 8 công ty trong đó có CTCP Chuyển mạch tài chính Quốc gia Việt Nam, CTCP Xi măng Hà Tiên, CTCP Cao su Phước Hoà, NHTMCP Gia Định nay là NHTMCP Bản Việt, NHTMCP Sài Gòn Công Thương,… Hiện nay NHCT đang có quan hệ đại lý với hơn 850 ngân hàng trên toàn thế giới, và là thành viên của hiệp hội của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), tổ chức phát hành và thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế,…

2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần

Công Thương, chi nhánh Đông Hà Nội

Tên gọi: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương chi nhánh Đông Hà Nội Địa chỉ: 284 Hà Huy Tập, thị trấn Yên Viên, Gia Lâm Hà Nội

Số điện thoại: 0438783159

Số Fax: 0438782040 NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội tiền thân là của NHTMCP Công Thương chi nhánh Yên Viên NHTMCP Công Thương chi nhánh Yên Viên được hình thành vào tháng 1/2001 trên cơ sở nâng cấp Phòng giao dịch Yên Viên lên thành chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHTMCP Công Thương chi nhánh Chương Dương,

và đến tháng 4/2003 thì được nâng lên thành chi nhánh cấp 1 trực thuộc NHTMCP Công Thương Việt Nam

Trang 35

35

NHTMCP Công Thương chi nhánh Đông Hà Nội là một trong những thành viên của NHTMCP Công Thương Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội Chi nhánh có trụ sở tại 284 đường Hà Huy Tập - thị trấn Yên Viên - Gia Lâm – Hà Nội Kể từ ngày thành lập đến nay NHTMCP Công Thương chi nhánh Đông Hà Nội đã và đang không ngừng cố gắng phấn đấu trở thành một trong số những đơn vị hoạt động có hiệu quả của NHTMCP Công Thương Việt Nam

2.1.3 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh

Đông Hà Nội

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)

2.1.4 Chức năng nhiệm vụ các phòng ban

Ban giám đốc: Ban giám đốc là cơ quan quyền lực cao nhất trong chi nhánh

Đứng đầu chi nhánh là giám đốc, dưới giám đốc chi nhánh là 3 phó giám đốc chi nhánh Giám đốc và phó giám đốc được gọi chung là ban giám đốc, ban giám đốc nhận các chính sách của NHNN và NHTMCP Công Thương, dựa vào phương hướng mục tiêu của NHMCP Công Thương mà đề ra định hướng hoạt động cho chi nhánh của mình Ban giám đốc chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động của chi nhánh, đồng thời trực tiếp giao nhiệp vụ cho các phòng ban, và nhận nhiệm vụ từ cấp trên Ban giám đốc phải:

P quản lý rủi ro

Khối quản lí tác nghiệp

P kế toán

GD

P tiền tệ ngân quỹ

Khối hỗ trợ

P tổng hợp

P tổ chức hành chính

P điện toán

Phòng giao dịch

PGD loại 1

PGD loại 2 Phó giám đốc

Trang 36

- Có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động của chi nhánh với cấp trên

- Chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của báo cáo tài chính của chi nhánh

- Lưu giữ và đảm bảo an toàn cho các chứng từ kế toán, hồ sơ liên quan đến tài chính kế toán của chi nhánh

- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng, tổng hợp thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước

- Quản lý chặt chẽ và tuyệt đối an toàn tiền mặt, giấy tờ có giá, ngoại tệ, vàng bạc đá quý, hồ sơ tài sản thế chấp của chi nhánh

Phòng khách hàng doanh nghiệp: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp quan hệ giao

dịch với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức kinh tế để khai thác vốn và thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng và thực hiện quảng cáo tiếp thị, giới thiệu các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng

Phòng khách hàng cá nhân: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp quan hệ giao dịch với

khách là cá nhân, thực hiện giới thiệu, quảng cáo và hướng dẫn khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng

Phòng quản lý rủi ro: Là phòng nghiệp vụ thực hiện dự đoán xu hướng của thị

trường, kiểm soát các khoản nợ cho vay, nếu có nợ xấu thì phòng phải đề ra phướng hướng xử lý

Phòng kế toán: Là phòng trực tiếp giao dịch với khách hàng, tham mưu cho

giám đốc và tổ chức thực hiện công tác tài chính, chi tiêu nội bộ, thực hiên công tác hạch toán kế toán, cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán,

xử lý hạch toán giao dịch, xử lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến các thanh toán viên theo đúng quy định của ngân hàng

Chức năng: là phòng nghiệp vụ thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng, các

công việc, nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh Ngoài ra phòng kế toán còn có chức năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến vấn đề thanh toán, xử lý các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo quy định của Nhà nước và NHTMCP Công Thương

Nhiệm vụ:

- Thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng như:

+ Mở, đóng tài khoản + Thực hiện giao dịch rút, gửi tiền từ tài khoản cho khách hàng + Thực hiện mua bán ngoại tệ,thanh toán chuyển tiền

+ Thực hiện giải ngân, thu nợ, thu lãi,…

Trang 37

37

+ Thực hiện nghiệp vụ thấu chi, chiết khấu chứng từ có giá

+ Kiểm tra, tính và thu phí của khách hàng khi khách hàng sử dụng các dịch

vụ ngân hàng

- Thực hiện kiểm soát sau:

+ Thực hiện kiểm soát tài khoản điều chuyển vốn (ngoại tệ và VND) với trụ

sở chính, tra soát với ngân hàng ngoài hệ thống, chuyển tiền giao dịch của doanh nghiệp và cá nhân

+ Thực hiện kiểm tra các báo cáo kế toán

+ Kiểm soát tất cả các bút toán giao dịch, điều chỉnh của phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm, điểm giao dịch theo quy định

+ Thực hiện kiểm soát các giao dịch trong và ngoài quầy theo thẩm quyền, tổng hợp liệt kê

- Thực hiện các công tác liên quan đến thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử liên ngân hàng

- Thực hiện các giao dịch nội bộ và hạch toán chi trả lương cho nhân viên

- Quản lý thông tin

+ Duy trì, quản lý hồ sơ thông tin khách hàng

+ Lưu giữ chứng từ, giấy tờ có giá, các chứng từ gốc,…của giao dịch viên toàn chi nhánh,…

Phòng tiền tệ kho quỹ: Là phòng nghiệp vụ quản lý kho quỹ, quản lý tiền mặt

theo quy định của NHNN và NHTMCP Công Thương, có nhiệm vụ ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các giao dịch viên, thu tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu tiền mặt lớn, và tham mưu cho giám đốc về điều hành tiền mặt hàng ngày để đảm bảo

an toàn, hiệu quả

Phòng tổng hợp: Là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc, dự kiến kế hoạch

kinh doanh, tổng hợp phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh và thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh

Phòng tổ chức hành chính: Thực hiện các công tác tổ chức cán bộ, đào tạo cán

bộ, thực hiện quản trị văn phòng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh

Phòng điện toán: Thực hiện các công tác quản lý duy trì hệ thống thông tin điện

toán tại chi nhánh, bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng máy tính của chi nhánh

Trang 38

+ Nhận tiền gửi không kì hạn và có kì hạn bằng VND và ngoại tệ của cá nhân,

tổ chức trong nền kinh tế theo quy định + Thực hiện phát hành giấy tờ có giá (chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kì phiếu, Và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước

+ Cung cấp các dịch vụ ngân hàng

- Tổ chức công tác hạch toán kế toán bảo đảm phản ánh kịp thời các nghiệp vụ phát sinh tại phòng giao dịch

- Thực hiện tuyên truyền quảng cáo, cung cấp các thông tin về sản phẩm dịch

vụ mà phòng giao dịch cung cấp cho khách hàng Thực hiện tiếp thị thu hút khách hàng về tiền gửi, các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền,…

- Chấp hành chế độ giao nhận bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy

tờ có giá theo quy định của ngân hàng Nhà nước

Mặc dù các phòng ban hoạt động độc lập với nhau song vẫn có sự tương tác để hoạt động các phòng trở nên thống nhất, đem lại hiệu quả cao trong công việc Mỗi phòng ban đều là một mắt xích quan trọng và không thể thiếu trong việc cấu thành nên NHTMCP Công Thương chi nhánh Đông Hà Nội vững mạnh như ngày nay

Trang 39

39

hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn bằng ngoại tệ và VNĐ,… hay huy động vốn theo hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trá phiếu, giấy tờ có giá,…Bên cạnh đó ngân hàng đưa ra những mức lãi suất phù hợp, hấp dẫn để thu hút tiền gửi từ khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhằm đáp ứng vốn cho chi nhánh thực hiện tốt hoạt động kinh doanh, cân đối giữa dòng tiền ra – vào một cách hợp lý

Qua bảng 2.1, tổng nguồn vốn của NHTMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Đông Hà Nội có sự gia tăng tương đối đồng đều trong 3 năm 2012, 2013, 2014 Đây là kết quả ngoài sự mong đợi của chi nhánh trong thời kì kinh tế khó khăn hiện nay Tổng nguồn vốn huy động năm 2013 đạt 5.901,78 tỷ đồng tăng 806,01 tỷ so với năm 2012 tương ứng với tăng 15,82% Năm 2014 tổng nguồn vốn huy động được là 7214,11 tỷ đồng tăng 1.312,33 tỷ đồng so với năm 2013 và tương ứng với tăng 22,24% Mức gia tăng của năm 2014 cao hơn so với mức tăng của 2013 nguyên nhân là do nền kinh tế

có những dấu hiệu khởi sắc sau một thời gian dài ảm đạm Tổng cục thống kê vừa chính thức công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI của tháng 6 năm 2014 tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 1,38% so với tháng 12 năm 2013 Như vậy sau nửa năm chỉ số lạm phát theo cách tính của Việt Nam thì mới ở mức rất thấp, thậm chí thấp nhất trong vòng 13 năm qua Cụ thể cuối năm 2013 là 101,38; trong tháng 5 năm 2014 chỉ số giá tiêu dùng giảm còn 100,3; chỉ số giá vàng giảm cụ thể là chỉ số giá vàng vào tháng 12 năm 2013 là 101,26 và chỉ số này tại tháng 5 năm 2014 là 99,88 Tình hình kinh tế vĩ

mô ổn định là mục tiêu hàng đầu của Chính phủ đề ra, điều này đã tác động không nhỏ đến lòng tin của người dân với tiền đồng Kết quả là lượng tiền gửi vào ngân hàng tăng mạnh hơn so với năm 2013

Trang 40

Biểu đồ 2.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần

Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014

(Nguồn: Báo cáo tài chính NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội)

Xét về quy mô

Năm 2012 nền kinh tế của Việt Nam tiếp tục chịu những ảnh hưởng bất ổn định của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và nợ công Châu Âu chưa được giải quyết Việc thực hiện kịp thời nghị định số 13/2012/NQ – CP Chính phủ ban hành với

ưu tiên chính là ổn định nền kinh tế vĩ mô, nhờ đó làm phát giảm được ở mức dưới 10%, giá vàng cũng có xu hướng giảm, lãi suất của ngân hàng theo đó cùng giảm dần, nền kinh tế dần đi vào ổn định

Bước sang năm 2013 nền kinh vĩ mô đã tương đối ổn định chỉ số giá tiêu dùng CPI tăng thấp, lạm phát ở mức 6,04% thấp nhất trong 10 năm qua, giá vàng chững lại

và có dấu hiệu giảm Ổn định nền kinh tế vĩ mô là mục tiêu hàng đầu của Chính phủ, điều này đã tạo được lòng tin của người dân với tiền đồng, kết quả là tổng lượng tiền gửi vào ngân hàng tăng mạnh, đặc biệt là gửi bằng nội tệ là 4.154,73 tỷ đồng tăng 507,47 tỷ đồng tương ứng với tăng 13,91% so với năm 2012

Năm 2014 theo đà phát triển của nền kinh tế NHTMCP Công Thương chi nhánh Đông Hà Nội đã đẩy mạnh các hình thức quảng bá thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế như các chương trình khuyễn mãi gửi tiền bốc thăm trúng quà, chương trình tri ân khách hàng với những khách hàng gửi tiền với kì hạn trên một năm

sẽ nhận được những quà tặng có giá trị cho khách hàng như áo mưa, ô dù, mũ bảo hiểm,… Nhờ vậy mà năm 2014 ngân hàng đã thu hút được một lượng tiền gửi vô cùng lớn là 7214,11 tỷ đồng tăng 1312,33 tỷ đồng so với năm 2013 tương ứng với 22,24%

,02000,04000,06000,08000,0

Ngày đăng: 11/06/2016, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Thanh Thủy, (2014), “Giáo trình nghiệp vụ thanh toán”, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ thanh toán
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2014
5. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà Nội, (2012-2014), Báo cáo tổng hợp6. Các website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp
2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà Nội, (2012), Báo cáo tài chính Khác
3. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà Nội, (2013), Báo cáo tài chính Khác
4. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Hà Nội, (2014), Báo cáo tài chính Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Quy trình thanh toán séc chuyển khoản qua 2 ngân hàng - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Sơ đồ 1.1. Quy trình thanh toán séc chuyển khoản qua 2 ngân hàng (Trang 10)
Sơ đồ 1.2. Thanh toán ủy nhiệm thu qua hai ngân hàng - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Sơ đồ 1.2. Thanh toán ủy nhiệm thu qua hai ngân hàng (Trang 13)
Sơ đồ Error! No text of specified style in document..1  Sơ đồ luân chuyển ủy nhiệm - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
rror ! No text of specified style in document..1 Sơ đồ luân chuyển ủy nhiệm (Trang 14)
Sơ đồ 1.4. Quy trình thanh toán thẻ - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Sơ đồ 1.4. Quy trình thanh toán thẻ (Trang 19)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức NHTMCP Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội (Trang 35)
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 (Trang 46)
Bảng 2.2. Tình hình dư nợ cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.2. Tình hình dư nợ cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – Chi nhánh Đông Hà Nội 2012-2014 (Trang 52)
Bảng 2.3. Tình hình bảo lãnh của Ngân hàng thương mại cổ phần - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.3. Tình hình bảo lãnh của Ngân hàng thương mại cổ phần (Trang 54)
Bảng 2.5. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.5. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần (Trang 57)
Bảng 2.6.Tỷ trọng doanh số các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.6. Tỷ trọng doanh số các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt (Trang 61)
Bảng 2.7. Kết quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.7. Kết quả thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại (Trang 64)
Bảng 2.9. Số món của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân  hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.9. Số món của các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt của Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương – chi nhánh Đông Hà Nội (Trang 72)
Bảng 2.8 cho ta thấy thu nhập từ hoạt động TTKDTM tại chi nhánh ngân hàng có - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.8 cho ta thấy thu nhập từ hoạt động TTKDTM tại chi nhánh ngân hàng có (Trang 74)
Bảng 2.11.  Số lƣợng các máy ATM, POS trên địa bàn hoạt động của Ngân hàng - THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÔNG HÀ NỘI
Bảng 2.11. Số lƣợng các máy ATM, POS trên địa bàn hoạt động của Ngân hàng (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w