1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI

85 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm vào đó là việc nhiều chủ DNVVN chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp,… Điều này thể hiện qua một số vi

Trang 1

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA

VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 thì “Doanh nghiệp là

tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.

Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và phát triển Vì thế người ta dựa trên các tiêu thức khác nhau để phân loại doanh nghiệp như phân loại dựa vào vốn và tài sản, ngành nghề kinh doanh,…

Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (World Bank) và công ty Tài chính Quốc tế (IFC) năm 2003, các DNVVN được phân chia theo quy mô như sau:

Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro – enterprise): Có đến 10 lao động, tổng tài sản không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100.000 USD

Doanh nghiệp nhỏ (Small – enterprise): Có không quá 50 lao động, tổng tài sản

có giá trị không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 3.000.000 USD

Doanh nghiệp vừa (Medium – enterprise): Có không quá 300 lao động, tổng tài sản có trị giá không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thu không quá 15.000.000 USD

Việc quy định như thế nào là doanh nghiệp lớn, như thế nào là doanh nghiệp vừa

và nhỏ là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển phát triển kinh tế Trên cơ sở đó mỗi nước sẽ chọn cho mình những tiêu chí khác nhau

để phân loại doanh nghiệp sao cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước

Tại Việt Nam, theo Khoản 1, Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ-CP ban hành ngày 30/06/2009 của Chính Phủ về trợ giúp phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ:

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” cụ thể như sau:

Trang 2

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động Tổng

nguồn vốn Số lao động

Tổng nguồn vốn Số lao động

I Nông nghiệp,

lâm nghiệp và

thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 đến 200 người

Từ trên 20 tỷ đến 100 tỷ đồng

Từ trên 200 đến 300 người

II Công nghiệp

và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 đến 200 người

Từ trên 20 tỷ đồng đến

100 tỷ đồng

Từ trên 200 đến 300 người III Thương mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 đến 50 người

Từ trên 20 tỷ đến 50 tỷ đồng

Từ trên 50 đến 100 người

(Nguồn: Khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009)

Trên những cơ sở phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa DNVVN trong điều

kiện hiện nay: “DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 100 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế

Các DNVVN hoạt động dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đồng thời rất đa dạng về ngành nghề kinh doanh, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế như thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp,… Vì với quy mô nhỏ, chi phí SXKD thấp nhờ tận dụng được nguồn tài nguyên trên địa bàn hoạt động như lực lượng lao động, nguyên vật liệu giá rẻ,… nên các DNVVN có thể phát triển với mọi ngành nghề, khiến các ngành nghề trở nên đa dạng Điều này góp phần tạo thêm sức mạnh và chỗ đứng cho DNVVN trong cộng đồng doanh nghiệp lớn

Năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường

Các DNVVN nhờ có cấu trúc và quy mô nhỏ nên dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển hướng kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng, các quyết định về sản

Trang 3

phẩm và giá cả thường mang tính phản ứng nhanh với các biến động của thị trường Cùng với đó là sự sẵn sàng mạo hiểm, khai thác triệt để cơ hội vừa tìm ra mà không ngại rủi ro, trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại và ảnh hưởng nặng nề như các doanh nghiệp lớn vì bản thân doanh nghiệp lớn từ lâu đã có uy tín trên thị trường

và trong lòng khách hàng nếu sai sót trong một sản phẩm thì hệ lụy kéo theo là rất lớn DNVVN cũng biết được sức cạnh tranh của mình đối với các doanh nghiệp lớn là kém, nên các DNVVN hay luồn lách vào các thị trường ngách, nơi mà có các ngành nghề hoặc sản phẩm chưa được khai thác và lợi nhuận thu về cũng là dựa trên những cuộc kinh doanh mạo hiểm Nhờ những đặc tính này mà DNVVN đang dần mở rộng được quy mô và tự khẳng định mình trên thị trường cạnh tranh hiện nay

Bộ máy quản lý gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhƣng năng lực quản trị chƣa cao

Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNVVN tương đối gọn, không có quá nhiều các khâu trung gian Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các quyết định, chỉ thị đến với người lao động một cách nhanh chóng, nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh Tuy nhiên, việc đưa ra quyết định nhanh chóng, trực tiếp thường dẫn đến rủi ro cao khi những quyết định này là thiếu tính chuẩn xác Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế một bộ phận lãnh đạo DNVVN thiếu kiến thức quản trị và kỹ năng, kinh nghiệm quản lý, không am hiểu sâu về kiến thức kinh doanh, quản lý, kinh tế - xã hội, văn hóa, luật pháp và kỹ năng quản trị kinh doanh, nhất là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế Điều này khiến cho doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động xấu từ môi trường bên ngoài, khó đứng vững khi nền kinh tế biến động Thêm vào đó là việc nhiều chủ DNVVN chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp,… Điều này thể hiện qua một số việc như không minh bạch thông tin tài chính để có thể tránh nghĩa vụ đóng thuế và vay mượn vốn từ các tổ chức tín dụng, việc quản lý tài chính còn nhiều lỗ hổng khiến cho nguồn vốn thất thoát khi đầu tư một số dự án, chất lượng hàng hóa không được nâng cao khi trình độ quản lý trong vận hành dây chuyền sản xuất còn nhiều bất cập,…

Năng lực tài chính thấp

Tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp thường

là vốn chủ sở hữu của các chủ doanh nghiệp, vì là cá nhân nên năng lực tài chính có hạn Vì vậy các DNVVN thường bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu Đầu tiên là khả năng về vốn bị

Trang 4

Khó tiếp cận đƣợc nguồn vốn ngân hàng

Đa phần các DNVVN không thể tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng vì bản thân các doanh nghiệp này không đáp ứng được điều kiện vay vốn của ngân hàng như thiếu tài sản đảm bảo, các thông tin DNVVN cung cấp còn nhiều thiếu sót, hay SXKD gặp nhiều khó khăn làm doanh nghiệp quay vòng vốn chậm, không đem về lợi nhuận dự kiến, khiến doanh nghiệp luôn trong trạng thái kinh doanh không tốt cũng như không tạo ra được uy tín trên thị trường

Hiện nay mới chỉ có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được với nguồn vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải tiếp tục sử dụng nguồn vốn tự có hoặc cho vay từ nguồn vốn khác với chi phí rất cao Đó là nhận định của một số đại biểu tại buổi hội thảo “Nâng cao khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh Việt Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN 2015” [19] Tức là khả năng DNVVN

có được vốn vay của ngân hàng là rất thấp, có những lý do thuộc về doanh nghiệp nhưng cũng có những lý do thuộc về ngân hàng như năng lực thẩm định còn hạn chế, nhưng lý do chủ yếu là sự thận trọng trong các quyết định cho vay, do yêu cầu đảm bảo an toàn vốn và lòng tin vào các DNNVV Vì thế ngân hàng thường việc khắt khe trong công tác cho vay, cứng nhắc trong quy trình cho vay vốn, khiến doanh nghiệp cảm thấy việc vay được vốn của ngân hàng trở nên xa rời Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng mở rộng quy mô sản xuất cũng như hiệu quả trong hoạt động SXKD của DNVVN, khiến những định hướng phát triển doanh nghiệp chỉ nằm trên giấy, những khó khăn trong hoạt động kinh doanh, thiếu vốn để duy trì sản xuất vẫn cứ tiếp diễn, từ đó hạn chế sự phát triển trong mọi hoạt động của doanh nghiệp

Trang thiết bị, công nghệ lạc hậu

Trong môi trường quốc tế cạnh tranh gay gắt như ngày nay thì việc đổi mới công nghệ được xem là công cụ chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và bền vững, nhưng những năm qua DNVVN do năng lực tài chính thấp, không

Trang 5

tiếp cận được nguồn vốn từ ngân hàng nên các DNVVN luôn sử dụng công nghệ lạc hậu, máy móc trang thiết bị dây chuyền công nghệ cũ

Theo thống kê từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, hiện nay cả nước có gần

600 nghìn doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN Phần lớn đều đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ Trong đó có đến 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 60 – 70 của thế

kỷ trước, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% thiết bị là đồ tân trang, chỉ có 20% là nhóm ngành sử dụng công nghệ cao [15]

Do những hạn chế về trình độ công nghệ như hiện nay mà các DNVVN rất khó tham gia vào những dự án lớn, sản phẩm tạo ra chất lượng thấp, không thu về được lợi nhuận như dự kiến, hạn chế khả năng cạnh tranh của DNVVN trên thị trường

Năng lực cạnh tranh trên thị trường thấp

Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường không có đủ sức lực cạnh tranh trên thị trường

so với các doanh nghiệp lớn, bởi vì các doanh nghiệp này có quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận vốn yếu, trang thiết bị công nghệ lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản lý còn yếu kém Đa phần các chủ DNVVN thường không tìm ra được bước đi đúng đắn trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt vì bản thân các chủ doanh nghiệp này thường không được đào tạo bài bản về kỹ năng quản lý doanh nghiệp, cũng như việc hoạch định các chiến lược phát triển Do đó các vấn đề liên quan đến vốn, chiến lược phân phối sản phẩm đều gặp khó khăn Vì vậy sản phẩm của DNVVN trên thị trường khó lòng có thể cạnh tranh với doanh nghiệp lớn

Ngày nay, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thị trường thế giới, hàng loạt Hiệp định thương mại được ký kết giữa Việt Nam với các nước châu Á, châu Âu, đã mở ra con đường cho các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận được với thị trường nước ta Vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một bước tiến quan trọng vì nếu năng lực cạnh tranh không được cải thiện việc bị các doanh nghiệp lớn thâu tóm hoặc lấn áp là điều không thể tránh khỏi

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

Góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước

Các DNVVN là chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, do hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực, DNVVN đã và đang cung cấp một khối lượng lớn hàng hóa, dịch vụ đáng kể cho nền kinh tế, góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm quốc dân Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2014, hiện cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang

Trang 6

6

hoạt động thực tế với tổng số vốn đăng ký khoảng 121 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp Hàng năm các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 40% GDP, 30% thu nộp ngân sách nhà nước, 33% giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu và thu hút 51% lao động [19]

Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng

Do quy mô về vốn nên doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có xu hướng tập trung vào các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp lớn Cụ thể là sản xuất những linh kiện, phụ tùng, sản phẩm bao bì,… phụ giúp các doanh nghiệp lớn lắp ghép thành một sản phẩm hoàn chỉnh Đa phần các doanh nghiệp lớn hiện nay chỉ tập trung vào sản xuất các bán thành phẩm quan trọng, còn các bán thành phẩm còn lại chủ yếu là nhập khẩu Hiện nay trên thị trường giá thành để nhập khẩu các linh kiện từ nước ngoài có giá thành khá cao hoặc nếu mua ở các nước có giá thành rẻ thì tốn rất nhiều chi phí như chuyên chở, bảo hiểm, thuế nhập khẩu,… Vì vậy DNVVN đã góp phần làm giảm gánh nặng nhập khẩu, đáp ứng các nhu cầu của các doanh nghiệp lớn một cách nhanh chóng, thuận tiện, góp phần quan trọng vào phát triển loại hình dịch vụ phụ trợ

Góp phần phân phối lưu thông hàng hóa xuất khẩu, mở rộng thị trường

Trong những năm vừa qua, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta về mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh doanh xuất nhập khẩu, tận dụng cơ hội đó nhiều DNVVN đã chuyển mình sang những ngành hàng có thế mạnh xuất khẩu như hoạt động trong lĩnh vực đồ gỗ nội thất, chế biến thủy sản, công nghiệp phụ trợ,… hoặc ngay từ lúc khởi nghiệp nhiều DNVVN đã định hướng doanh nghiệp theo hướng xuất khẩu Vì vậy sản phẩm của các DNVVN này thường tiếp cận luôn với thị trường quốc tế, thúc đẩy lượng hàng hóa nội địa xuất khẩu, từ đó mở rộng mối quan hệ với nhiều quốc gia Qua đó thấy được DNVVN đang

có chiến lược tiếp cận khá tốt thị trường quốc tế, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển

Tạo việc làm gia tăng thu nhập cho người lao động

Do sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh, DNVVN

đã và đang thu hút một số lượng lớn lao động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh DNVVN thường tập trung ở các ngành nghề không đòi trình độ kỹ thuật chuyên môn cao nên đã tạo nhiều cơ hội cho những lao động phổ thông có việc làm với những ngành nghề như may mặc, chế biến nông sản,… Thêm vào đó, hiện nay khi

mà các doanh nghiệp có xu hướng mua bán và sáp nhập với nhau thì việc thừa nguồn nhân lực dẫn đến cắt giảm là điều tất yếu Vì vậy sự phát triển và tồn tại của các

Trang 7

DNVVN đã góp phần tạo sự ổn định trong việc làm cho người lao động, giải quyết thất nghiệp, lại đón nhận được những lao động có trình độ cao Ngoài ra việc trả lương phù hợp với năng lực người lao động là yếu tố làm tăng năng suất lao động xã hội, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện Đồng thời làm cho cuộc sống người lao động trở nên tốt hơn

Là trụ cột của nền kinh tế địa phương

Nếu như các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, tăng sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương Các DNVVN thường biết tận dụng các thế mạnh của vùng như đất đai, tài nguyên khoáng sản, trình

độ lao động,… để phát triển các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, và các ngành công nghiệp chế biến Ngoài ra còn chủ động tích cực trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống như gốm sứ, thêu dệt, mây tre đan… Chính những điều này

đã góp phần làm địa phương trở nên sinh động hơn, nhiều ngành được đa dạng phát triển hơn, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ, mà còn thu hút được sự chú ý từ Đảng và Chính phủ, nhờ đó mà các DNVVN được hưởng các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế Từ đó trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế địa phương nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung

1.2 Khái quát cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Theo Mai Văn Bạn (2011), giáo trình “Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại”, Nhà

xuất bản Tài Chính, Hà Nội thì “Cho vay là việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị NHTM (người sở hữu) sang khách hàng (người sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lượng giá trị lớn hơn ban đầu”

Theo Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì: “Cho vay

là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Vậy có thể hiểu một cách khái quát “Cho vay DNVVN của NHTM là một hình thức cấp tín dụng mà theo đó ngân hàng giao vốn cho DNVVN để sử dụng vào mục đích đầu tư, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời hạn nhất định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết”

Trang 8

8

1.2.2 Đặc điểm cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

Về quy mô khoản vay: Quy mô các khoản vay phụ thuộc vào chu kì sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô dự án hay các dự án hợp đồng kinh tế được ký kết Quy mô khoản vay của các DNVVN thường không quá lớn vì các doanh nghiệp này chủ yếu vay vốn để tiếp tục hoạt động SXKD, mua sắm nguyên vật liệu cần thiết cho quá trình sản xuất, hay mua sắm dây chuyền trang thiết bị có giá trị nhỏ Còn các khoản vay có quy mô lớn thì các doanh nghiệp này đa phần không tiếp cận được bởi năng lực tài chính thấp, ngân hàng không tin tưởng vào khả năng sử dụng vốn, nên ngân hàng rất ít khi cho DNVVN vay những khoản vay có quy mô lớn như này

Thời gian cho vay: Là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp bắt đầu nhận

vốn cho đến thời điểm trả hết gốc và lãi theo như thỏa thuận trong hợp đồng Thời gian cho vay DNVVN của NHTM rất đa dạng có ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Các khoảng thời gian này phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư hay phương án SXKD như việc thu mua nguyên vật liệu đầu vào hay

dự án mở rộng quy mô doanh nghiệp, xây dựng nhà xưởng,… nhưng đa phần các khoản cho vay DNVVN thường trong ngắn hạn vì năng lực tài chính của DNVVN không đủ để ngân hàng có thể tin tưởng, nếu xảy ra rủi ro ngân hàng còn kịp thời xử lý Đối với thời gian trung và dài hạn thì thường là các dự án có quy mô lớn nên ngân hàng thường xem xét kỹ lưỡng trước khi cho vay, nếu khả thi thì DNVVN có thể tiếp cận được với khoảng thời gian này

Tài sản đảm bảo: Với sự không ổn đinh trong hoạt động kinh doanh của

DNVVN như vốn, nguồn nhân lực, ngành nghề kinh doanh, khả năng phân tích và nghiên cứu thị trường kém nên cho vay DNVVN tiềm ẩn nhiều rủi ro về hoạt động SXKD Khi một yếu tố bất lợi tác động từ bên ngoài như nền kinh tế đi xuống, giá cả nguyên vật liệu đầu vào bất ngờ tăng lên hay việc gia tăng đối thủ cạnh tranh trên thị trường cũng sẽ làm doanh nghiệp điêu đứng, bởi bản chất quy mô vốn nhỏ, năng lực ứng phó với thị trường chưa cao dễ bị tác động, khiến doanh nghiệp dễ lâm vào tình cảnh khó khăn Điều này khiến cho việc phân phối và tiêu thụ sản phẩm đầu ra gặp nhiều trở ngại dẫn tới lợi nhuận không đạt được như chỉ tiêu đề ra, hoạt động của toàn

bộ doanh nghiệp bị ảnh hưởng Do đó nguồn thu nợ từ hiệu quả sử dụng vốn không đảm bảo chắc chắn cho ngân hàng thu nợ, vì vậy trước tình hình đó NHTM thường yêu cầu các DNVVN phải có tài sản đảm bảo khi vay vốn và giá trị của nó phải lớn hơn rất nhiều so với giá trị khoản vay, vì theo thời gian tài sản đảm bảo bị khấu hao, mất dần giá trị và một yếu tố quan trọng nữa của TSĐB là nó phải có tính thanh khoản

Trang 9

trên thị trường, như vậy mới đảm bảo cho ngân hàng không bị mất toàn bộ số vốn cho vay và không ảnh hưởng lớn tới hoạt động của ngân hàng

Nguồn trả nợ vay: Nguồn trả nợ của doanh nghiệp chủ yếu là từ hiệu quả sử

dụng vốn vay Chính vì vậy ngân hàng luôn xem xét, kiểm tra kỹ lưỡng đối với phương án/dự án mà doanh nghiệp xin vay vốn, đồng thời thẩm định năng lực tài chính tài chính của doanh nghiệp để chắc chắn doanh nghiệp biết sử dụng vốn vay một cách hiệu quả nhất để tạo ra nguồn trả nợ cho ngân hàng Đối với vay ngắn hạn, DNVVN thường trả nợ bằng doanh thu bán hàng, đối với vay trung và dài hạn, nguồn trả nợ là từ lợi nhuận sau thuế của dự án kinh doanh

1.2.3 Nguyên tắc cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Hoạt động cho vay DNVVN của NHTM phải dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời Các nguyên tắc này được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của NHTW với các NHTM

Nguyên tắc thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay

Để đảm bảo khả năng thu hồi nguồn vốn của ngân hàng, DNVVN phải cam kết

sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn, sử dụng vốn hiệu quả và theo đúng quy định của pháp luật Khi DNVVN đảm bảo sử dụng vốn vay theo đúng quy định sẽ là tiền đề để ngân hàng tin tưởng giao vốn Tiếp đó, các phương án kinh doanh của doanh nghiệp phải chứng minh được khả năng sinh lời cũng như thu hồi lại được vốn đầu tư để đảm bảo trả nợ được cho ngân hàng.Sau khi xác nhận những điều trên, ngân hàng sẽ cho DNVVN vay vốn Tiếp đó, ngân hàng phải có các biện pháp giám sát để chắc chắn doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng cho vay Nếu sử dụng vốn vay sai mục đích, ngân hàng phải có các biện pháp xử lý nhanh chóng nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xẩy đến cho ngân hàng

Nguyên tắc thứ hai: Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng

Doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đi vay vốn từ ngân hàng phải cam kết hoàn trả được gốc và lãi theo đúng như cam kết trong hợp đồng vì phần lớn nguồn vốn cho vay của ngân hàng nguồn gốc chủ yếu đến từ các khoản tiền gửi của khách hàng Bản thân ngân hàng cũng là người đi vay vì thế ngân hàng phải chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền gốc và lãi cho người gửi tiền khi đến hạn Khi các khoản vay của DNVVN không được hoàn trả đúng hạn thì ngân hàng sẽ bị mất vốn dẫn đến khả năng thanh khoản trong ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng của ngân hàng Vì vậy nguyên tắc này đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của các NHTM

Trang 10

10

1.2.4 Điều kiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thứ nhất, có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

Quan hệ cho vay giữa ngân hàng và khách hàng là quan hệ được pháp luật bảo vệ

vì vậy nó phải được lập trên cơ sở quy định của pháp luật Chủ doanh nghiệp hay người đại diện đi vay vốn của doanh nghiệp cần phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân

sự để đảm bảo tính hợp pháp trong hợp đồng cho vay Đồng thời, trong quan hệ cho vay sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản do đó cần có sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của pháp luật Cụ thể như việc DNVVN không thể trả nợ cho ngân hàng thì TSĐB doanh nghiệp đem đi thế chấp sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho ngân hàng, sau đó ngân hàng sẽ phát mại tài sản đó để bù đắp khoản

nợ không trả được của DNVVN Như vậy, đòi hỏi DNVVN phải có đầy đủ tư cách pháp lý trong quá trình vay vốn để đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng vay

Thứ hai, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phải đúng với những gì đã cam kết trong hợp đồng Khi vốn vay được cam kết sử dụng hợp pháp sẽ tạo tiền đề cho việc tiếp cận vốn của DNVVN trở nên đơn giản hơn Vì vậy muốn tạo dựng được uy tín trong mắt của ngân hàng và khả năng vay được vốn trong các lần vay sau thì doanh nghiệp cần phải thực hiện đúng điều kiện này Khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay bất hợp pháp thì các hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị đình chỉ dẫn đến khả năng ngân hàng không thu hồi lại được cả vốn lẫn lãi, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng

Thứ ba, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

Một doanh nghiệp được gọi là có khả năng tài chính là một doanh nghiệp có nguồn lực tài chính ổn định, đảm bảo được khả năng thanh khoản tốt, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời… đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường Khi doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt thì ngân hàng sẽ bớt đi một phần rủi ro trong việc thu hồi nợ gốc và lãi, sẽ sẵn sàng tài trợ vốn cho các phương án/dự án mà doanh nghiệp xin vay Khả năng tài chính là một trong những yếu

tố cần đối với các DNVVN vì nó là điều kiện giúp DNVVN tiếp cận được vốn và cũng

là điều kiện để doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ đúng thời hạn với ngân hàng, nhận được sự tin tưởng giao vốn từ phía ngân hàng Vì vậy ngân hàng rất đề cao

Trang 11

những DNVVN có năng lực tài chính lành mạnh vì nó vừa đảm bảo tính an toàn cho hoạt động ngân hàng

Thứ tư, có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật

Doanh nghiệp vừa và nhỏ phải có các dự án đầu tư kinh doanh khả thi và chắc chắn phải sinh lời trong tương lai bởi vì đây là nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp và

là cơ sở tạo nên uy tín cho ngân hàng trong việc cho vay Vì vậy khi đi vay vốn doanh nghiệp phải thể hiện rõ được các phương án/dự án kinh doanh của mình và lợi nhuận thu về được bao nhiêu thông qua các phương án/dự án kinh doanh đó Bên cạnh đó, các dự án xin vay vốn phải phù hợp với quy định của Nhà nước ban hành, phù hợp với nguồn lực tài chính của doanh nghiệp vì nếu không phù hợp với khả năng của doanh nghiệp sẽ không tiếp cận được vốn vay Đây là yếu tố vô cùng quan trọng để đảm bảo DNVVN tiếp cận được vốn vay, giúp doanh nghiệp sinh lời đồng thời giảm bớt rủi ro cho ngân hàng và DNVVN

Thứ năm, thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định pháp luật

Đảm bảo tiền vay là công cụ đảm bảo nghĩa vụ và trách nhiệm của DNVVN trong quan hệ vay vốn Ngoài ra, đảm bảo tiền vay còn là nguồn thanh toán thứ cấp cho ngân hàng thương mại Trong trường hợp gặp phải rủi ro, ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn huy động, cũng như chất lượng cho vay của ngân hàng thì các biện pháp đảm bảo tiền vay sẽ giúp ngân hàng tránh được rủi ro trong hoạt động thanh khoản Vì vậy các biện pháp đảm bảo tiền vay giúp ngân hàng tạo ra các cơ sở pháp lý và kinh tế, ràng buộc giữa ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn giúp ngân hàng thu nợ, giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng trong quá trình cho vay đối với DNVVN

1.2.5 Vai trò cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một tất yếu khách quan trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này sử dụng vốn vay của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn trong các hoạt động sản xuất hay các phương

án mở rộng kinh doanh, đồng thời nâng cao khả năng sử dụng vốn của mình Vì vậy nguồn vốn ngân hàng đầu tư cho các DNVVN đóng vai trò rất quan trọng, giúp phát triển các DNVVN cũng như thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời nó cũng tác động ngược trở lại đối với hệ thống ngân hàng thúc đẩy ngân hàng có các

Trang 12

12

biện pháp đổi mới nhằm hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng hay thanh toán ngoại hối,… Từ đó tạo nên sự tăng trưởng vững bền trong lâu dài của hệ thống NHTM

1.2.5.1 Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh

Các DNVVN hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay, một trong những nguồn vay là từ các NHTM, đó là nguồn tài trợ hiệu quả vì nó thỏa mãn được nhu cầu về vốn cũng như đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn trong trạng thái hoạt động ổn định để có thể tồn tại và phát triển trong tương lai Nguồn vốn vay từ NHTM còn đảm bảo cho DNVVN có thể cải tiến kỹ thuật, đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sức ép cạnh tranh với đối thủ trên thị trường Mặt khác để hoạt động SXKD diễn ra liên tục không bị gián đoạn, DNVVN cần phải dự trữ một lượng nguyên vật liệu nhất định mà để thực hiện được điều này cần phải có vốn Chính vì vậy cho vay DNVVN của NHTM sẽ giúp cho DNVVN thực hiện được mục đích của mình và đảm bảo hoạt động SXKD được ổn định và phát triển

Giúp tăng khả năng cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều tất yếu, nó sẽ làm cho doanh nghiệp luôn luôn hướng tới sự đổi mới như đổi mới trong công nghệ hay trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo khả năng đứng vững trên thị trường Chính vì vậy các DNVVN luôn tìm mọi cách để có thể có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường và vốn vay từ NHTM sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể có được khả năng này một cách nhanh nhất Khi có được vốn vay trong tay các DNVVN sẽ xúc tiến các hoạt động, phương án sản xuất, mua sắm trang thiết bị, nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào, tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt nhất tới tay người tiêu dùng

Từ đó tạo sức ép cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần những điều này sẽ tác động hoàn toàn tích cực tới doanh nghiệp, giúp DNVVN tạo nên bước đột phá mới trên thị trường, thu hút các nhà đầu tư, tạo nên một chỗ đứng vững chắc trong cộng đồng doanh nghiệp

Nắm bắt đƣợc các cơ hội kinh doanh mới

Thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các DNVVN luôn phải tìm kiếm những cơ hội kinh doanh đem đến nguồn lợi nhuận lớn để doanh nghiệp có sự phát triển và đứng vững trên thị trường Chính vì thế, cho vay DNVVN của NHTM chính là chỗ dựa vững chắc khi doanh nghiệp tìm kiếm và nắm bắt được các cơ hội kinh doanh, nhất là trong thời buổi kinh tế hội nhập, biến những cơ hội đó thành cơ hội kinh doanh

có giá trị, tận dụng được thời cơ mà không lo thiếu vốn Các cơ hội kinh doanh có thể

Trang 13

kể đến như mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp cận với thị trường hàng hóa dịch vụ trên thế giới,… Từ đó có thể thấy cho vay DNVVN của NHTM tác động rất lớn tới hoạt động của bộ phận doanh nghiệp này, giúp DNVVN có thể phát triển và tiến xa hơn với các cơ hội kinh doanh từ bên ngoài thế giới

1.2.5.2 Đối với ngân hàng thương mại

Mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng

Cho vay DNVVN mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, vì hiện nay DNVVN chiếm đa phần trong tổng số doanh nghiệp Khi cho vay DNVVN, với các phương án/dự án kinh doanh khả thi, tới thời gian đáo hạn các doanh nghiệp này phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi khoản vay, góp phần làm tăng thu nhập cho ngân hàng Thêm vào

đó khi ngân hàng cho vay DNVVN còn phát sinh nhiều chi phí trong thủ tục hồ sơ vay vốn, tạo thêm nguồn thu cho ngân hàng Khi doanh nghiệp trả được nợ thì doanh nghiệp này trở thành khách hàng tiềm năng của ngân hàng, ngân hàng sẽ tìm mọi cách

để giữ chân khách hàng, tạo nhiều điều kiện tốt, ưu đãi khi cho vay với hi vọng gia tăng nguồn thu từ bộ phận khách hàng này

Nâng cao năng lực canh tranh trong nền kinh tế thị trường

Khi cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, vô hình chung ngân hàng đã tạo ra một chỗ dựa vững chắc cho cộng đồng DNVVN Từ đó sẽ có rất nhiều DNVVN tìm đến với ngân hàng xin vay vốn Việc thu hút một số lượng khách hàng như vậy sẽ giúp cho các ngân hàng nâng cao được năng lực cạnh tranh trong hệ thống NHTM Từ đó mở rộng thị phần, chiếm lĩnh thi trường Khi NHTM thực hiện tốt nghiệp vụ cho vay, sẽ gia tăng được lượng khách hàng trung thành, tăng cường được các mối hệ, giúp ngân hàng mở rộng thêm nhiều loại hình dịch vụ khác như Internet Banking, Home Banking, Phone Banking… tạo tiền đề cho việc thu hút thêm một lượng lớn khách hàng, giúp đơn giản hóa việc cho vay và thanh toán các khoản vay, gia tăng khả năng cạnh trạnh giữa các ngân hàng, tạo chỗ đứng vững chắc trong hệ thống NHTM Thêm vào đó việc cho vay các DNVVN sẽ giúp ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư, phân tán rủi ro, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thị trường

1.2.5.3 Đối với nền kinh tế

Góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế

Ngân hàng thương mại cung cấp nguồn vốn hỗ trợ cho DNVVN để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư, đổi mới, nâng cao trang thiết bị, nhằm mang đến chất lượng sản phẩm tốt nhất để có thể cạnh tranh trên thị trường, giúp cho nền kinh tế trở nên sôi động, góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ

Trang 14

14

động cho vay đã góp phần gián tiếp thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế bởi vì khi tiền

từ nền kinh tế vào trong hệ thống NHTM, các ngân hàng này sẽ tìm cách để đưa tiền trở lại nền kinh tế, giúp cho nền kinh tế phát triển và cho vay DNVVN chính là cách hiệu quả mà các NHTM đang tiến hành Nền kinh tế cũng vì thế mà không bị chững lại mà ngày càng có nhiều bước tiến triển vọng hơn

Tạo công ăn việc làm thu nhập cho người lao động

Cho vay DNVVN đóng vai trò gián tiếp điều chỉnh cơ cấu vùng, lãnh thổ vì DNVVN thường tập trung ở địa phương nơi có nhiều lực lượng lao động, giúp nền kinh tế địa phương bấy lâu chỉ tập trung chuyên môn hóa ngành nông nghiệp nay đã dần chuyển sang ngành công nghiệp, lực lượng lao động cũng vì thế mà có cơ hội tìm kiếm việc làm với mức thu nhập tốt hơn Vì vậy, khi ngân hàng tạo điều kiện cho các DNVVN vay vốn sẽ giúp các doanh nghiệp này thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng hiệu quả sản xuất, từ đó cũng góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và tạo đà cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần an sinh xã hội

1.2.6 Phân loại cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

1.2.6.1 Phân theo thời hạn cho vay

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả cả gốc và lãi theo đúng như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng

Có thể chia các loại hình cho vay theo thời gian như sau:

Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời gian cho vay tới 12 tháng Mục đích của loại hình cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc hình thành, mua sắm tài sản lưu động, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của DNVVN trong hoạt động kinh doanh Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, được sử dụng để đầu tư mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên được sử dụng chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như mua sắm và lắp đặt dây chuyền sản xuất mới, xây dựng xí nghiệp, nhà xưởng mới, hoặc các dự án đầu tư xây dựng cơ bản khác

1.2.6.2 Phân theo mục đích sử dụng vốn

Cho vay bổ sung vốn lưu động: Là việc NHTM cho DNVVN vay vốn, giúp doanh nghiệp trang trải chi phí phát sinh trong quá trình SXKD như thiếu vốn mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho nhân viên,…

Trang 15

Cho vay theo dự án đầu tư: Là việc NHTM cho vay dựa trên dựa án đầu tư do DNVVN lập Chủ yếu tài trợ cho việc hình thành nên TSCĐ, dự án có độ phức tạp cao,…

1.2.6.3 Phân theo phương thức cho vay

Cho vay theo hạn mức tín dụng

Là hình thức cho vay mà ngân hàng cấp cho DNVVN một hạn mức tín dụng nhất định.các DNVVN được vay nợ và trả nợ làm nhiều lần trong kỳ, chỉ cần đảm bảo số

dư nợ trên tài khoản tiền vay không vượt quá hạn mức tín dụng mà ngân hàng cung cấp Hạn mức này được cấp dựa trên cơ sở kế hoạch SXKD, giá trị tài sản thế chấp, tài sản cầm cố bảo lãnh (nếu có),… Mỗi lần vay, DNVVN trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng vốn hợp pháp Phương thức này áp dụng đối với các DNVVN có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, có năng lực tài chính tốt, SXKD ổn định, có lãi và có uy tín với ngân hàng

Cho vay từng lần

Là phương thức cho vay của ngân hàng đối với các DNVVN không có nhu cầu vay vốn thường xuyên Vốn vay này chỉ tham gia vào vào khoảng thời gian nhất định của chu kỳ SXKD Mỗi lần vay vốn DNVVN phải lập hồ sơ vay vốn theo quy định Việc thẩm định, xét duyệt cho vay, quản lý giám sát tình hình sử dụng vốn vay và thu hồi nợ được thực hiện theo hợp đồng cho vay Doanh nghiệp có thể rút vốn một lần hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn nhưng không vượt quá số tiền cho vay trong hợp đồng cho vay Phương thức cho vay này yêu cầu DNVVN phải có TSĐB, và thường được áp dụng với các DNVVN chưa có uy tín với ngân hàng

1.2.6.4 Phân theo hình thức đảm bảo

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay tức DNVVN hoặc của người thứ ba (bên bảo lãnh) Hình thức cho vay này áp dụng đối với các DNVVN chưa có uy tín cao đối với ngân hàng

Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay dựa trên uy tín của doanh nghiệp vay vốn hoặc bên bảo lãnh, thường được gọi là tín chấp Cho vay tín chấp chỉ áp dụng với những doanh nghiệp lâu năm, có quan hệ tốt với ngân hàng, có

uy tín trên thị trường, có khả năng cạnh tranh, tài chính lành mạnh và hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Trang 16

16

1.2.7 Quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng Trong đó, các giai đoạn cụ thể được xây dựng theo một trình tự nhất định

kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị xin vay vốn cho đến khi kết thúc hợp đồng Đây là một quy trình nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn theo một trật tự nhất định đồng thời có quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau Quy trình này có thể cụ thể hóa theo các bước sau:

Bước 1: Tiếp nhận nhu cầu vay vốn và hướng dẫn doanh nghiệp vừa và nhỏ lập hồ sơ vay vốn

Đây là bước đầu tiên, khâu căn bản quy trình cho vay Khi một DNVVN đến ngân hàng và đề nghị ngân hàng cho vay vốn, cán bộ tín dụng sẽ trao đổi với khách hàng, tìm hiểu sơ bộ về ngành nghề kinh doanh, nhu cầu vay vốn, mục đích sử dụng vốn,…từ đó cán bộ tín dụng (CBTD) sẽ xác định xem dự án kinh doanh của doanh nghiệp có khả thi hay không, có nằm trong phạm vi và khả năng của khách hàng hay không Nếu phù hợp, CBTD sẽ hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn Lập hồ sơ vay vốn là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các bước sau này, nhất là bước thẩm định cho vay và ra phán quyết cho vay

Thông thường, một bộ hồ sơ đề nghị xin vay vốn sẽ cần những loại giấy tờ sau:

- Giấy đề nghị xin vay vốn;

- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của DNVVN chẳng hạn như Giấy phép đăng ký ngành nghề kinh doanh theo quy định pháp luật, Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Điều lệ hoạt động,… Nếu là người đại diện cho doanh nghiệp đi vay vốn thì cần có quyết định văn bản của Hội đồng quản trị;

- Phương án/dự án kinh doanh đầu tư, kế hoạch trả nợ;

- Báo cáo tài chính những năm gần nhất;

- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay;

- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết

Bước 2: Thu thập thông tin

Để có cơ sở thẩm định DNVVN vay vốn cũng như nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, ngân hàng có thể thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau:

Thông tin do DNVVN lập và nộp cho ngân hàg trong hồ sơ vay vốn như thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hàng vi dân sự, thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của DNVVN, thông tin về đảm bảo tín dụng

Trang 17

Thông tin thu được qua khảo sát điều tra thực tế tại nơi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như dây chuyền máy móc công nghệ có phù hợp với ngành nghề kinh doanh, nguyên vật liệu đầu vào có đảm bảo chất lượng,…

Ngoài ra ngân hàng còn kiểm tra thông tin doanh nghiệp qua đối tác làm ăn của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp khi kinh doanh với bạn hàng Thêm vào đó ngân hàng còn tìm hiểu thị trường đối với phương án sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đề nghị vay vốn, các thông tin liên quan tới dự án mà doanh nghiệp đang chuẩn

bị tiến hành

Bước 3: Thẩm định cho vay

Dựa vào các thông tin đã thu thập được, CBTD tiến hành thẩm định doanh nghiệp vay vốn cũng như nhu cầu vay vốn của DNVVN Đây là khâu quan trọng nhất cũng là khâu khó khăn nhất, đòi hỏi trình độ chuyên môn và năng lực phán đoán, phân tích của CBTD Thông thường nội dung thẩm định bao gồm:

Thẩm định phi tài chính Thẩm định tư cách pháp lý và năng lực hành vi dân sự của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đây chính là điều kiện cần của một doanh nghiệp khi muốn vay vốn từ ngân hàng, việc thẩm định năng lực pháp lý và hành vi của doanh nghiệp sẽ là căn cứ để thẩm định các bước tiếp theo trong quá trình phân tích cho vay Việc thẩm định này bao gồm các nội dung sau:

- Thứ nhất, xác định trụ sở hoạt động của DNVVN và cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh để thành lập hợp pháp;

- Thứ hai, xác định thời hạn hiệu lực của Quyết định thành lập, giấy phép kinh doanh, giấy phép hành nghề;

- Thứ ba, nghiên cứu về biên bản góp vốn của các thành viên sáng lập, hình thức góp vốn của họ là gì, tiền mặt hay tài sản Nếu là tài sản thì đã chuyển giao quyền sở hữu hay chưa

Ngoài ra còn đánh giá một vài yếu tố không liên quan đến tài chính DNVVN như

cơ cấu bộ máy nhân sự, trình độ, đạo đức người điều hành, kinh nghiệm của ban lãnh đạo, lĩnh vực hoạt động chủ yếu, thị phần,…

Trang 18

18

Thẩm định tài chính

Thẩm định năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thông qua tình hình tài sản – nguồn vốn, tình hình SXKD, hiệu quả mang lại trong các năm trước và tại thời thời điểm hiện tại Một doanh nghiệp dù có khả năng tài chính tốt nhưng nếu doanh nghiệp không đưa ra một phương án SXKD hiệu quả thì khả năng xảy ra rủi ro là rất cao và ngược lại Nếu một doanh nghiệp có khả năng tài chính thấp nhưng lại có phương án/dự án kinh doanh khả thi thì cũng có thể không đủ khả năng để quản lý dự án dẫn đến rủi ro Vì vậy thẩm định năng lực tài chính của doanh nghiệp là rất quan trọng

Thẩm định các biện pháp đảm bảo tiền vay

Kiểm tra tình hình thực tế của TSĐB Phân tích, thẩm định bảo đảm tiền vay và định giá bảo đảm tiền vay Thẩm định tính pháp lý của TSĐB như TSĐB là sổ đỏ thì không được tẩy xóa, nếu là hàng hóa thì cần kiểm tra kỹ lưỡng chứng từ, hóa đơn kho hàng, hàng hóa này là tài sản chung hay tài sản riêng Đối với tài sản là nhà đất thì giao dịch qua sàn giao dịch nhà đất, nếu là dây chuyền sản xuất thì giá trị còn lại ghi trên sổ sách tại thời điểm thẩm định nhưng ngân hàng vẫn phải xem xét cách tính khấu hao của doanh nghiệp để tính lại

Bước 4: Ra phán quyết cho vay

Sau quá trình thẩm định, CBTD sẽ báo cáo, đề xuất tín dụng và dựa trên cơ sở này lãnh đạo ngân hàng sẽ đưa ra quyết định cho vay Cụ thể để ra phán quyết cho vay,

Trang 19

CBTD cần lập các tài liệu cần thiết sau: Báo cáo thẩm định, tờ trình Giám đốc, biên bản xác định TSĐB, hợp đồng cho vay,… Tuy nhiên, đây cũng là khâu khó xử lý nhất

và thường phạm phải những sai lầm Để hạn chế sai sót trong giai đoạn quyết định này các ngân hàng thường chú trọng hai vấn đề:

- Thu thập và xử lý thông tin có được một cách đầy đủ và chính xác làm cơ sở

mô nhỏ thường được trao cho cá nhân phụ trách Mức độ lớn, nhỏ về quy mô vốn thông thường sẽ do mỗi ngân hàng quyđịnh

Sau khi ra phán quyết cho vay, kết quả có thể là chấp thuận hoặc từ chối cho vay, tuỳ vào kết quả phân tích và thẩm định ở giai đoạn trước Nếu từ chối cho vay, ngân hàng sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do cho doanh nghiệp được rõ

Bước 5: Ký kết hợp đồng cho vay

Sau khi ngân hàng và DNVVN thảo thuận và thống nhất được các điều kiện trong hợp đồng cho vay, hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng cho vay Hợp đồng cho vay là văn bản thỏa thuận giữa DNVVN và ngân hàng trong đó ngân hàng cam kết cho DNVVN vay một khoản tiền với thời gian là lãi suất nhất định Hợp đồng cho vay mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên Vì vậy ngân hàng và DNVVN phải tuân thủ nghiêm túc các điều khoản của pháp luật quy định và cam kết thực hiện đúng hợp đồng

Bước 6: Giải ngân

Giải ngân là bước tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết Giải ngân

là việc ngân hàng phát tiền cho vay khách hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng

Trang 20

20

toán của khách hàng, kiểm tra các căn cứ phát tiền vay theo quy định Việc phát tiền vay phải đảm bảo nguyên tắc có hàng hóa, dịch vụ đối ứng, phù hợp với mục đích vay vốn có hóa đơn chứng từ cung cấp hàng hóa, dịch vụ bên bán,… Tuy nhiên, việc giải ngân cũng phải đảm bảo thuận lợi tránh gây khó khăn và phiền hà cho các doanh nghiệp xin vay vốn

Bước 7: Giám sát khoản vay

Đây là bước khá quan trọng nhằm mục tiêu đảm bảo cho tiền vay được sử dụng đúng mục đích cam kết, kiểm soát rủi ro tín cho vay, phát hiện và giải quyết kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả năng thu nợ sau này Một số phương pháp giám sát có thể áp dụng:

- Theo dõi tài khoản thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng;

- Phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo định kỳ;

- Giám sát doanh nghiệp thông qua việc trả lãi định kỳ từ đó đánh giá khả năng trả nợ đúng hạn của doanh nghiệp;

- Giám sát hoạt động của doanh nghiệp thông qua các đối tác làm ăn;

- Khảo sát thực tế tại địa điểm SXKD của doanh nghiệp;

- Kiểm tra các hình thức đảm bảo tiền vay;

- Giám sát vay vốn thông qua những nguồn thông tin khác

Bước 8: Thanh lý hợp đồng cho vay

Đây là giai đoạn kết thúc của quy trình cho vay bước này bao gồm:

- Thu nợ gốc và lãi;

- Tái xét hợp đồng cho vay;

- Thanh lý hợp đồng cho vay

Thu nợ

Ngân hàng tiến hành thu nợ từ doanh nghiệp theo đúng những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Tùy tính chất của khoản vay và tình hình tài chính của doanh nghiệp, hai bên thỏa thuận và lựa chọn một trong những hình thức thu nợ sau:

- Thu lãi một lần, thu tiền gốc khi đáo hạn;

- Thu lãi định kỳ, thu tiền gốc khi đáo hạn;

- Thu cả gốc và lãi khi đáo hạn;

- Thu lãi định kỳ, thu gốc định kỳ

Trang 21

Nếu đến hạn trả nợ mà doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì ngân hàng có thể xem xét cho gia hạn nợ hoặc chuyển sang nợ quá hạn để sau này có biện pháp xử

lý thích hợp nhằm đảm bảo thu hồi nợ

Tái xét hợp đồng cho vay

Việc tái xét hợp đồng cho vay thực chất là tiến hành phân tích điều kiện khoản vay đã được cấp nhằm mục tiêu đánh giá chất lượng khoản vay, phát hiện rủi ro để có hướng xử lý kịp thời

Thanh lý hợp đồng cho vay

Khi hết hạn hợp đồng cho vay, DNVVN hoàn trả lại cho ngân hàng toàn bộ vốn

và lãi như trong hợp đồng vay vốn đã ghi Khi khách hàng trả hết nợ, CBTD tiến hành phối hợp với bộ phận kế toán đối chiếu, kiểm tra về số tiền nợ gốc, lãi, phí,… để hoàn tất toán khoản vay và làm thủ tục hoàn trả TSĐB cho DNVVN vay vốn, đồng thời lưu giữ thông tin về khách hàng

1.3 Chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trên thế giới cũng như tại nước ta hiện nay, việc các NHTM ngày càng đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa các hình thức cho vay, mở rộng các dịch vụ ngân hàng ngoài các dịch vụ truyền thống,… đã đem về cho ngân hàng nguồn doanh thu lớn nhưng cũng góp phần làm tăng tính rủi ro trong hoạt động như rủi ro cho vay, rủi ro thanh khoản, hay việc phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho khách hàng trong quá trình giao dịch trực tuyến Việc DNVVN đang chiếm số lượng lớn trong nền kinh tế (hiện nay cả nước có khoảng trên 500.000 nghìn DNVVN, chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động [16]) thì hoạt động cho vay vay DNVVN là điều kiện cần thiết cho sự phát triển vững chắc của kinh tế.Vì vậy ngân hàng luôn tìm cách khắc phục, hạn chế những rủi ro mà hoạt động cho vay DNVVN gây ra Chính vì vậy, chất lượng cho vay DNVVN có tính quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Từ đó, việc xem xét chất lượng cho vay DNVVN được đánh giá theo ba góc độ sau:

Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, chất lượng cho vay là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các khoản vay, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động SXKD Thêm vào đó thủ tục ngắn gọn đơn giản đảm bảo quy tắc và quy chế cho vay làm sao để DNVVN tiếp cận được vốn vay một cách nhanh chóng nhất

Đối với Ngân hàng thương mại, chất lượng cho vay DNVVN phải đảm bảo được mức độ an toàn và hiệu quả thu lại được từ khoản vay Khi cho vay, điều mà ngân

Trang 22

22

hàng quan tâm là khoản vay đó phải được thu hồi lại đúng hạn (cả gốc và lãi), đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí thấp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Đối với nền kinh tế, chất lượng cho vay phải góp phần tạo ra hiệu quả như thúc đẩy nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, khám phá và khai thác tiềm năng trong nền kinh tế

Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: “Chất lƣợng cho vay DNVVN là sự thỏa mãn nhu cầu vay vốn của DNVVN, đảm bảo an toàn, mang lại lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế”

1.3.2 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Việc nâng cao chất lượng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng đối với ngân hàng, bản thân doanh nghiệp hay cả nền kinh tế

1.3.2.1 Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chất lượng cho vay DNVVN càng được nâng cao thì khả năng tiếp cận vốn của các DNVVN càng dễ dàng hơn Đối với các phương án/dự án kinh doanh như mở rộng quy mô doanh nghiệp, đầu tư vào các ngành nghề kinh doanh khác, hay hợp tác làm ăn với đối tác của doanh nghiệp,… việc nâng cao chất lượng cho vay DNVVN sẽ giúp cho doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu về vốn, nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh, tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí cho các dự án, góp phần giúp cho DNVVN làm ăn

có hiệu quả hơn khi các hoạt động sản xuất không bị ngưng trệ, có khả năng tiếp cận với công nghệ mới, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Việc nâng cao chất lượng cho vay DNVVN còn giúp doanh nghiệp đơn giản hóa các hoạt động SXKD bởi vì doanh nghiệp sẽ được bổ sung vốn lưu động một cách nhanh chóng, dễ dàng thu về các khoản lợi nhuận lớn, nâng tầm ảnh hưởng cũng như uy tín của DNVVN trên thị trường

1.3.2.2 Đối với ngân hàng thương mại

Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, việc nâng cao chất lượng cho vay chính là chìa khóa thành công cho các ngân hàng, bởi vì cho vay là một trong những hoạt động sinh lời của ngân hàng Khi các ngân hàng tìm cách nâng cao chất lượng cho vay tức là ngân hàng tìm kiếm các khoản vay mang lại lợi tức cao nhất, có độ an toàn cao và giảm tối thiểu rủi ro gặp phải khi cho vay Mỗi một khoản cho vay đi nếu đảm bảo khả năng thu về được cả gốc và lãi sẽ đem lại lợi ích cho ngân hàng góp phần làm tăng lợi nhuận và có thể vượt qua những chỉ tiêu dự kiến Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng cho vay sẽ giúp tăng uy tín của ngân hàng trong các khoản cho vay, vì khi nâng cao được chất lượng cho vay chính là nâng cao khả năng cho vay vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối và tối đa hóa lợi nhuận thu về được, từ đó tăng cường được

Trang 23

khả năng cạnh tranh so với đối thủ Ngoài ra, chất lượng cho vay còn phản ánh được chính sách hoạt động của ngân hàng, trình độ kỹ năng quản lý của ngân hàng trong việc giám sát các khoản vay Vì vậy, nâng cao chất lượng cho vay DNVVN của NHTM là xu thế khách quan và nằm trong sự phát triển lâu dài của ngân hàng

1.3.2.3 Đối với nền kinh tế

Nâng cao chất lượng cho vay DNVVN sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng, ổn định

và bền vững hơn bởi vì DNVVN hiện nay đang là động lực thúc đẩy nền kinh tế Khi chất lượng cho vay được nâng cao đồng nghĩa với việc DNVVN tiếp cận được vốn, doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn đó để phát triển hoạt động của doanh nghiệp mình Nếu các DNVVN phát triển thì sẽ có những đóng góp lớn vào nền kinh tế tạo sự thúc đẩy nền kinh tế đi lên, cùng với đó thì các khoản nợ gốc cùng với lãi của ngân hàng được thu về đầy đủ đúng hạn, các khoản vốn được luân chuyển đúng theo kế hoạch của ngân hàng, bảo đảm an toàn cho hệ thống NHTM cũng như sự an toàn cho cả nền kinh

tế Các khoản vốn vay cứ thế mà được luân chuyển liên hồi kịp thời phục vụ mục tiêu của DNVVN trong từng kỳ hoạt động, thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh, tạo môi trường tiềm năng, tạo công ăn việc làm, tránh được tình trạng lạm phát,… nền kinh tế cũng vì thế mà ổn định, từng bước tăng trưởng và đạt được những thành tựu như mong muốn

1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3.3.1 Chỉ tiêu định tính

Uy tín ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, để tồn tại và phát triển các NHTM phải tạo ra cho mình chỗ đứng vững chắc nhất là trong lòng khách hàng.Vì vậy việc tạo dựng uy tín trong cho vay, cũng như chứng tỏ được chất lượng cho vay DNVVN là

ưu tiên hàng đầu của các NHTM Uy tín của ngân hàng được tạo dựng từ nhiều khía cạnh như thông qua các chính sách phát triển, tính chuyên nghiệp trong cách xử lý các

hồ sơ vay vốn, quá trình thực hiện cho vay hay sẵn sàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các DNVVN trên nguồn lực sẵn có của ngân hàng Nếu các khía cạnh này được ngân hàng giải quyết tốt thì việc phản ánh chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng cao, uy tín từ đó cũng được xây dựng trong lòng khách hàng

Đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chất lượng cho vay của ngân hàng với DNVVN được cho là tốt khi ngân hàng nắm bắt được tâm tư nguyện vọng cũng như đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng vốn của DNVVN, tạo dựng cho họ cơ hội tiếp xúc rộng hơn với thị trường hay nắm bắt được

Trang 24

Thái độ phục vụ của cán bộ tín dụng

Trong quá trình giao tiếp với khách hàng, cán bộ tín dụng phải thể hiện sự năng động, nhiệt tình, tạo cảm giác thoái mái cho khách hàng, tạo cho các DNVVN cảm giác mình được tôn trọng Vì bản thân các DNVVN luôn cảm thấy thiếu tự tin khi tới ngân hàng vay vốn vì họ biết với năng lực tài chính của bản thân sẽ khó lòng tiếp cận được vốn và ngân hàng cũng không mặn mà với phương án mà họ đưa ra, vì ngân hàng e ngại rủi ro Chính vì vậy thái độ phục vụ của cán bộ tín dụng là hết sức quan trọng, nó sẽ tác động tới tâm lý của khách hàng, cùng với các kỹ năng xử lý chuyên môn sẽ gây được ấn tượng mạnh đối với khách hàng, tạo sự tin tưởng, từ đó doanh nghiệp sẽ sẵn sàng cung cấp những thông tin liên quan đến doanh nghiệp với hi vọng

có được vốn vay Vì vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chính là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phản ánh chất lượng cho vay tốt của một ngân hàng

1.3.3.2 Chỉ tiêu định lượng

- Tỷ trọng doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN cho ta biết phần trăm doanh số cho vay DNVVN trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng Tỷ trọng này tăng qua các năm càng thể hiện vị trí cho vay DNVVN trong tổng doanh số cho vay là lớn, hay ngân hàng đã chú trọng tới việc tài trợ vốn cho DNVVN, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cho vay, chất lượng cho vay dần được nâng cao Tỷ trọng này tăng lên phần nào có thể thấy

Tỷ trọng doanh số cho vay

doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh số cho vay doanh nghiệp

vừa và nhỏ

Tổng doanh số cho vay

Trang 25

nguồn vốn của ngân hàng không còn bị ứ đọng, nguồn vốn trở lại nền kinh tế thông qua hoạt động SXKD của doanh nghiệp đã trở nên mạnh mẽ hơn, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển

- Tỷ trọng dƣ nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tỷ trọng này cho ta biết dư nợ cho vay DNVVN chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng Chỉ số này tăng giảm qua các năm sẽ cho biết tốc độ tăng trưởng của hoạt động cho vay của ngân hàng qua các năm là ổn định hay không Nếu tỷ trọng này tăng lên chứng tỏ các khoản vay DNVVN đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, chứng tỏ ngân hàng ngày càng mở rộng cho vay DNVVN, cho vay đối tượng này được nhiều hơn, góp phần từng bước nâng cao chất lượng cho vay trong việc thỏa mãn tối đa nhu cầu của DNVVN, mang lại lợi nhuận nhiều hơn từ các khoản vay Tuy vậy không có nghĩa chỉ tiêu này tăng thì chất lượng cho vay được tăng lên vì dư nợ cho vay có tiềm ẩn rủi ro, những khoản khách hàng chưa trả lại cho ngân hàng có thể phát sinh nợ quá hạn, nợ xấu, gây thất thoát nguồn vốn, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, ảnh hưởng tới hoạt động cho vay làm cho chất lượng cho vay kém đi

- Hệ số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa doanh số cho vay và doanh số thu nợ DNVVN, nó còn được dùng để đánh giá khả năng thu nợ của ngân hàng đối với các khoản cho vay ra Chỉ tiêu này càng cao tức là ngân hàng thu nợ được nhiều từ DNVVN, chứng tỏ khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là tốt, từ đó giúp chất lượng cho vay DNVVN trong ngân hàng được nâng cao bởi vì khi đó ngân hàng đã đảm bảo được tính an toàn và hạn chế tối thiểu rủi ro trong các khoản vay đó Nếu chỉ tiêu này giảm xuống chứng tỏ ngân hàng khó khăn trong công tác thu hồi nợ, khả năng thu hồi

nợ của ngân hàng không tốt, dẫn đến việc vốn cho vay không trở lại được ngân hàng, phát sinh rủi ro trong khoản vay, làm chất lượng cho vay DNVVN giảm sút

Hệ số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

=

Doanh số cho vay

Tỷ trọng dư nợ trong cho

vay doanh nghiệp vừa và

Trang 26

26

- Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết cứ 100 đồng dư nợ hiện hành thì có bao nhiêu đồng đã quá hạn Tỷ lệ này là chỉ tiêu đánh giá rủi ro cho vay DNVVN cũng như chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ dư nợ quá hạn cho vay DNVVN chiếm số lượng lớn trong tổng dư nợ cho vay dẫn đến chất lượng các khoản vay thấp, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn, ngược lại, tỷ lệ này giảm xuống tức dư nợ quá hạn cho vay DNVVN đã không còn chiếm phần lớn trong tổng dư nợ, chứng tỏ chất lượng cho vay đang tốt dần lên, các khoản vay đã được trả đúng hạn hoặc các khoản vay quá hạn đã được hoàn trả Chỉ tiêu này phản ánh rất rõ chất lượng cho vay về tính an toàn cũng như khả năng sinh lời Từ đó cho thấy muốn nâng cao chất lượng cho vay thì ngân hàng cần phải biết cách đánh giá kỹ lưỡng và kiểm soát tốt các khoản vay để tránh dẫn đến nợ quá hạn Khi các DNVVN không trả nợ đúng hạn thì ngân hàng phải nhanh chóng có các biện pháp thiết thực để giảm thiểu thiệt hại bất ngờ có thể xảy đến bất cứ lúc nào như đôn đốc doanh nghiệp trả nợ, tích cực đòi nợ, giám sát chặt chẽ hoạt động SXKD và trích lập ngay dự phòng rủi ro cho các khoản vay

Theo quyết định số 22/VBHN-NHNN ban hành ngày 04/06/2014 quy định về phân loại nợ, trích lập DPRR trong hoạt động ngân hàng thì nợ được phân thành năm nhóm sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi

bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2 Điều này

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ

nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu) Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều này

Trang 27

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến

180 ngày Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh

kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theohợp đồng tín dụng Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều này

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều này

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều này

- Tỷ lệ nợ xấu cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ phản ánh tỷ trọng của nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng Đây là chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cho vay và độ an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng hay nói cách khác chính là thước đo đo lường mức

độ rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ nợ xấu cho vay DNVVN chiếm số lượng lớn trong tổng dư nợ cho vay DNVVN, nó phản ánh những rủi ro trong cho vay mà ngân hàng có thể gặp phải, đồng thời chứng tỏ chất lượng cho vay DNVVN kém, khi ngân hàng không kiểm soát tốt các khoản nợ vay, dẫn đến việc vốn không thể quay vòng trở lại ngân hàng và ngân hàng có khả năng mất vốn cao

Trang 28

28

Vì vậy đó không chỉ là sự báo động sự phát sinh các khoản thanh lý lớn trong tương lai mà còn thể hiện sự giảm sút thu nhập ở hiện tại do các khoản nợ này không còn đem lại được lợi nhuận, lợi nhuận ít không đáng kể hay chính là khả năng mất luôn vốn, gây nên tổn thất lớn cho ngân hàng

Tỷ lệ này cho ta biết trong 100 đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng nợ xấu hay nợ xấu cho vay DNVVN chiếm bao nhiêu phần trăm trong nợ quá hạn cho vay DNVVN Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ nợ xấu cho vay DNVVN chiếm số lượng lớn trong nợ quá hạn cho vay DNVVN, từ đó phản ánh chất lượng cho vay DNVVN thấp bởi nợ xấu là những khoản nợ có nguy cơ mất vốn cao, là những khoản nợ hiếm còn

có thể sinh lời, ngược lại nếu tỷ lệ này giảm xuống, cho thấy chất lượng cho vay DNVVN đang tốt lên bởi các khoản vay đã được trả lại hay có tiềm năng được trả lại, ngân hàng chuyển nhóm nợ lên cho doanh nghiệp Qua đó thấy được chỉ tiêu này phản ánh rất rõ chất lượng cho vay, muốn chất lượng cho vay được tốt lên cần có những biện pháp tích cực trong công tác kiểm soát và đánh giá rủi ro khoản nợ, góp phần đảm bảo tính an toàn trong các khoản vay cũng như tính an toàn trong hoạt động của ngân

hàng

- Vòng quay vốn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Chỉ tiêu này phản ánh tần suất sử dụng vốn hay số vòng chu chuyển vốn vay Do vậy vòng quay vốn cho vay ngân hàng càng cao tức nguồn vốn của ngân hàng có tốc

độ luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa, đồng vốn ngân hàng bỏ ra được sử dụng hiệu quả, tiết kiệm chi phí Qua đó thấy được khả năng quản lý vốn của ngân hàng, từ đó đánh giá được hiệu quả cũng như

Vòng quay vốn cho vay

doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thu nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 29

chất lượng cho vay thông qua việc đem lại nguồn lợi nhuận cho ngân hàng, cũng như khả năng thỏa mãn nhu cầu vay vốn của DNVVN

- Tỷ lệ trích lập rủi ro cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tỷ lệ này cho biết dự phòng rủi ro trong cho vay DNVVN được trích so với dư

nợ bình quân cho vay DNVVN Tỷ lệ này tăng lên qua các năm chứng tỏ dự phòng rủi

ro cho các khoản vay được trích lập càng nhiều, chất lượng cho vay đối với DNVVN càng kém vì các khoản vay đã không còn đảm bảo được độ an toàn, và mang rủi ro cao, khiến ngân hàng có nguy cơ mất đi lợi nhuận và tốn thêm chi phí trích lập khiến ngân hàng tổn thất trong hoạt động cho vay Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể chỉ tính dựa trên

dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5, nợ trong các nhóm này càng tăng thì tỷ lệ được trích lập càng lớn Một ngân hàng có dự phòng rủi ro tăng theo từng năm thì đó là một ngân hàng có chất lượng cho vay không tốt

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.3.4.1 Nhân tố kiểm soát được

- Từ phía ngân hàng Chính sách cho vay

Chính sách cho vay là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp cho vay để đạt được những mục tiêu đã hoạch định của ngân hàng Chính sách cho vay phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích cho vay, tạo sự thống nhất trong hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời Chính sách cho vay có vai trò quan trọng trong việc tạo sự thống nhất và hiệu quả của hoạt động cho vay nói chung và hoạt động cho vay DNVVN nói riêng

Chính sách cho vay DNVVN bao gồm các chính sách về doanh nghiệp, hạn mức cho vay, lãi suất và thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ, các khoản đảm bảo và chính sách

xử lý các tài sản có vấn đề,…

Chính sách cho vay càng được xây dựng cụ thể, chi tiết và khoa học càng giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng khoản vay, cân bằng mục tiêu tối đa hóa lợi

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Dự phòng rủi ro cho vay doanh nghiệp

vừa và nhỏ được trích

= x100%

Dư nợ bình quân cho vay doanh nghiệp

vừa và nhỏ

Trang 30

30

nhuận, hạn chế rủi ro, đảm bảo tăng trưởng cho toàn bộ hoạt động ngân hàng, đầu tư

an toàn theo đúng chiến lược phát triển của ngân hàng Do vậy, một chính sách cho vay đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, từ đó tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng các khoản vay, đảm bảo sinh lời trên cơ sở phân tán rủi ro, quản lý được các hiện tượng nợ xấu, hạn chế rủi ro trong cho vay và góp phần quyết định đến sự thành công của ngân hàng

Quy trình cho vay

Quy trình cho vay là tập hợp những nội dung, các bước tiến hành từ cho vay đến thu nợ nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay Quy trình cho vay gồm có tám bước khâu thẩm định đóng vai trò quan trọng nhất vì nó sẽ quyết định trực tiếp tới chất lượng món vay

Quy trình cho vay hợp lý sẽ giúp cho các món vay hiệu quả hơn, giảm bớt được thời gian và chi phí Việc thực hiện tốt các nội dung, quy định trong từng bước cùng với việc phân tích hiệu quả cho vay sẽ giúp ngân hàng kiểm soát được các khoản vay, tạo sự thống nhất và linh hoạt với từng khoản vay, từ đó tránh được rủi ro cũng như nâng cao được chất lượng cho vay

Một quy trình cho vay cụ thể và chi tiết sẽ là phương tiện đắc lực để ngân hàng kịp thời tìm ra các sai sót, kiểm soát được các khoản vay và theo đó có thể đưa ra các quyết định đúng đắn Quy trình cho vay cần được xây dựng một cách thống nhất và có

sự linh hoạt với từng khoản vay, điều này tác động tích cực đến chất lượng khoản vay

Công tác kiểm tra, giám sát các khoản vay

Công tác kiểm tra, giám sát các khoản vay có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro cho các khoản vay Công việc này phải được tiến hành đồng thời giữa thanh tra, kiểm tra nội bộ ngân hàng cùng với giám sát doanh nghiệp xin vay vốn Việc kiểm soát tốt và theo dõi sát sao các khoản vay sẽ hạn chế rủi ro tới mức thấp nhất trong hoạt động ngân hàng Để đảm bảo an toàn cho các khoản vay, ngân hàng cần thẩm định, đánh giá chặt chẽ, chính xác như vậy sẽ hạn chế được tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, không hiệu quả của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện và xử lý sai phạm, giảm nguy cơ mất vốn của ngân hàng Bên cạnh đó, để công tác kiểm tra, giám sát các khoản vay được tiến hành một cách chặt chẽ, khách quan, trung thực thì đòi hỏi ngân hàng phải có một đội ngũ kiểm soát có chuyên môn cao, có trách nhiệm, hoạt động hiệu quả, giúp ngân hàng phát hiện những lỗ hổng tiềm ẩn rủi ro góp phần nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay DNVVN nói riêng

Trang 31

độ bảo cao Công nghệ phát triển còn là công cụ hữu ích trong việc phân tích và quản

lý các khoản vay, đảm bảo tính an toàn cũng như khả năng sinh lời từ các khoản cho vay Khi doanh nghiệp tới ngân hàng vay vốn, doanh nghiệp sẽ phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán và phải có một số dư nhất định trong đó Với công nghệ hiện đại ngân hàng sẽ nắm bắt và quản lý tốt hơn số tiền mà doanh nghiệp gửi vào hay rút ra khỏi tiền khoản Từ đó nhận biết được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp có gì bất ổn định để tiến hành rà soát và xử lý nhanh chóng, tránh tổn thất nghiêm trọng cho ngân hàng Ngoài ra, công nghệ hiện đại cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của NHTM, giúp ngân hàng thu hút khách hàng, thỏa mãn nhu cầu vay vốn một cách tốt nhất, làm ngắn gọn lại các bước tỏng quy trình vay vốn, giúp khách hàng nhanh chóng tiếp cận được khoản vay từ đó mới nâng cao được chất lượng cho vay của ngân hàng

- Từ phía các doanh nghiệp vừa và nhỏ Năng lực tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Năng lực tài chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, là cơ sở để đánh giá khả năng sinh lời, sức mạnh tài chính cũng như triển vọng của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh thì đó chính là cơ sở để chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho DNVVN tiếp cận được với vốn vay, tạo cơ sở đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu doanh nghiệp năng lực tài chính không vững mạnh, doanh thu thu về không đạt chỉ tiêu đề ra, lợi nhuận doanh nghiệp thấp thì doanh nghiệp không đủ khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng, từ đó làm giảm chất lượng cho vay của ngân hàng Vì vậy DNVVN cần phải nâng cao năng lực tài chính của bản thân, đó chính là yếu tố tác động tới chất lượng cho vay của NHTM

Phương án sản xuất kinh doanh

Doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn tiếp cận được vốn vay của các NHTM thì phải

có các phương án, dự án kinh doanh có tính khả thi, phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp, chắn đem lại lợi ích cho doanh nghiệp trong tương lai, là cơ sở sinh lời giúp doanh nghiệp trả nợ cho ngân hàng Một phương án kinh doanh tốt là một

Trang 32

32

phương án thể hiện ngay được giá trị của nó khi còn ở trên giấy, là phương án mà tác động tốt tới chất lượng cho vay DNVVN như sự sẵn lòng cho vay, tính an toàn được đảm bảo cao, lợi nhuận thu về lớn Nếu phương án SXKD của doanh nghiệp không có tính khả thi, khó có khả năng sinh lời ngân hàng sẽ không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn từ doanh nghiệp Chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng cũng vì thế mà bị ảnh hưởng vì vậy DNVVN nên nắm bắt những điều đó, sử dụng vốn vay vào các phương án SXKD đem lại hiệu quả cao như vậy mới tác động tích cực đến chất lượng cho vay của các NHTM

1.3.4.2 Nhân tố không kiểm soát được

Môi trường kinh tế

Nền kinh tế luôn có sự biến động và tác động mạnh mẽ đến mọi thành phần nằm trong nó Ví dụ như nền kinh tế phát triển, tăng trưởng ổn định thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng mới đạt được hiệu quả Bởi vì môi trường kinh tế

ổn định giúp doanh nghiệp vững tâm trong các hoạt động kinh doanh, đầu tư, thúc đẩy hoạt động SXKD phát triển đem lại hiệu quả, đạt lợi nhuận cao Qua đó thúc đẩy hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp, đồng thời giúp ngân hàng mở rộng

và nâng cao được chất lượng cho vay Nếu nền kinh tế trì trệ, thiếu sức sống, các doanh nghiệp sẽ không có đầu ra, hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng, quy

mô doanh nghiệp từ đó cũng bị thu hẹp Hoạt động tín dụng của các NHTM cũng vì thế mà gặp khó khăn khiến chất lượng cho vay không thể đạt hiệu quả Thêm vào đó, môi trường kinh tế có tính cạnh tranh cao sẽ thúc đẩy DNVVN không ngừng mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng hoạt động của mình, tạo uy tín để đảm bảo cho những

khoản vay, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý bao gồm các quy định của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền Các quy định về cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay của ngân hàng Vì vậy với một môi trường pháp lý thống nhất, ổn định sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng lập kế hoạch phát triển, chủ động trong kinh doanh, ngược lại, nếu các quy định, chính sách thường xuyên thay đổi sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng, gây thiệt hại cho ngân hàng, ảnh hưởng tới hoạt động cho vay Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp đặc biệt là DNVVN nếu môi trường pháp lý thông thoáng, ổn định các văn bản, quy định pháp luật đồng bộ, kịp thời sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, mang lại thu nhập cao hơn qua đó tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng

Trang 33

Môi trường chính trị - xã hội

Mỗi quốc gia có một môi trường chính trị xã hội khác nhau Một môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ thu hút nhiều nhà đầu nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho các DNVVN phát triển, điều này tác động khá lớn tới hệ thống hoạt động của ngân hàng NHTM, các ngân hàng cũng sẽ mạnh dạn đầu tư hơn vào các phương án/dự án của doanh nghiệp, tạo tiền đề cho chất lượng cho vay được cải thiện Vì vậy bất cứ biến động nào về chính trị hay xã hội cũng đều gây ra sự xáo động cho toàn bộ nền kinh tế do đó để doanh nghiệp lẫn ngân hàng có thể hoạt động ổn định và lâu dài thì nhân tố môi trường – xã hội ổn định rất là quan trọng

Trang 34

34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã khái quát các vấn đề cơ bản về DNVVN, cho vay DNVVN và chất lượng cho vay DNVVN Đặc biệt trong chương 1 đã đề cập chi tiết đến những chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay DNVVN cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DNVVN, tạo tiền đề cho khóa luận tiếp tục nghiên cứu và làm rõ thực trạng chất lượng cho vay DNVVN tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương

Trang 35

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI

2.1 Khái quát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội

Tên ngân hàng : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương Tên giao dịch quốc tế: SAIGONBANK FOR INDUSTRY AND TRADE Tên gọi tắt : SAIGONBANK

Hội sở chính : Số 2C, Phó Đức Chính, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương là Ngân hàng Thương mại Cổ phần đầu tiên (của Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước), được thành lập trong

hệ thống ngân hàng Thương mại Cổ phần tại Việt Nam hiện nay, ra đời ngày 16 tháng

10 năm 1987, trước khi có Luật Công ty và Pháp lệnh Ngân hàng, với vốn điều lệ ban đầu là 650 triệu đồng và thời gian hoạt động là 50 năm Sau 27 năm hoạt động, Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Công Thương đã tăng vốn điều lệ từ 650 triệu đồng lên 4.000 tỷ đồng và có mạng lưới trải khắp đất nước với 33 chi nhánh và 51 phòng giao dịch cùng

05 quỹ tiết kiệm

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội là một chi nhánh trực thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, được khai trương và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 18 tháng 01 năm 1994, đánh dấu sự có mặt của Saigonbank tại Thủ đô Hà Nội Sau nhiều năm hoạt động, trụ sở chính của Saigonbank chi nhánh Hà Nội được tu sửa và nâng cấp khi đó chi nhánh đã dời địa điểm hoạt động tới địa chỉ 162-164 phố Thái Hà, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội Sau khi việc tu sửa được hoàn thành, ngày 26 tháng 01 năm 2015 chi nhánh đã trở về nơi hoạt động cũ là 11A Đoàn Trần Nghiệp, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Trong những năm đầu mới thành lập, chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn như thị trường và quy mô kinh doanh còn nhỏ hẹp, nhiều khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp không biết đến Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, thêm vào đó chi nhánh còn phải đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt của các NHTM quốc doanh trên địa bàn Hà Nội lúc bấy giờ Lúc đầu, hoạt động của chi nhánh còn đơn điệu, mỗi tháng chỉ vài món vay hay thực hiện dịch vụ chuyển tiền cho khách hàng vì vậy lợi

Trang 36

36

nhuận đạt được của chi nhánh là không đáng kể Trước tình hình khó khăn, Ban lãnh đạo của chi nhánh đã có các biện pháp nhằm khắc phục các yếu điểm tồn tại của chi nhánh như nâng cao uy tín, hình ảnh của chi nhánh thông qua việc mở rộng tín dụng song song với nâng cao chất lượng và an toàn vốn, tiến hành đa dạng hóa khách hàng,

đa dạng hóa dịch vụ Đồng thời chi nhánh còn hiện đại hóa trang bị công nghệ, có các khóa đào tạo cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp hơn trong việc phục vụ khách hàng Điều này giúp hoạt động kinh doanh của chi nhánh đạt bước tăng trưởng tốt, thu hút được nhiều khách hàng và đạt yêu cầu phát triển hội nhập của kinh tế

Ngày nay, vị thế cũng như tầm ảnh hưởng của Saigonbank chi nhánh Hà Nội càng được nâng cao hơn khi có thêm 05 phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Việc

có mặt các phòng giao dịch trên địa bàn Hà Nội đã từng bước khẳng định sự phát triển trong hoạt động kinh doanh cũng như sự lớn mạnh của Saigonbank chi nhánh Hà Nội

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội

2.1.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương

chi nhánh Hà Nội

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Saigonbank chi nhánh Hà Nội

(Nguồn: Phòng hành chính nhân sự Saigonbank chi nhánh Hà Nội) 2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận

Ban Giám đốc

- Giám đốc: Là người chịu trách nhiệm chung trực tiếp lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động của chi nhánh theo quy định của Nhà nước, NHNN, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật, của cấp trên về quyết định của mình

- Phó Giám đốc: Có trách nhiệm hỗ trợ cùng Giám đốc trong việc điều hành mọi hoạt động chung của toàn chi nhánh

Phòng kinh

doanh

Ban Giám Đốc

Phòng kế toán

Phòng hành chính nhân sự

Phòng ngân quỹ

Các phòng giao dịch Phòng tín

dụng

Trang 37

Phòng kinh doanh

- Nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội trong địa bàn hoạt động, đề xuất và xây dựng chiến lược huy động vốn, đầu tư tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn

- Tổng hợp, phân tích hoạt động kinh doanh trong quý, năm

- Xây dựng, theo dõi và quyết toán các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh,

đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại đối tượng khách hàng nhằm

mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh

Phòng kế toán

- Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định của NHNN, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương

- Thực hiện tiếp quỹ, nhận quỹ, thu chi tiền mặt tại đơn vị khách hàng

- Thực hiện các dịch vụ kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế theo quy định

- Thực hiện các dịch vụ kiều hối và chuyển tiền

- Cung cấp thông tin, số liệu về tình hình tài chính cho Ban lãnh của đạo chi nhánh

- Thực hiện công tác tổ chức nhân sự và phát triển nguồn lực tại chi nhánh

Trang 38

 Phòng giao dịch Xuân Thủy

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội

2.1.3.1 Huy động vốn

Huy động vốn là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng của các NHTM bởi nó quyết định sự phát triển cũng như sự hoạt động lâu dài của cả hệ thống ngân hàng Do vậy, các ngân hàng luôn tìm mọi cách để huy động các nguồn vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế (TCKT) khác rồi đem nguồn vốn huy động được đi đầu tư, đưa nguồn vốn trở lại nền kinh tế thông qua hoạt động cấp tín dụng

Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội đã luôn quan tâm và đặt công tác huy động vốn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mang tính chiến lược trong hoạt động kinh doanh của mình Nguồn vốn hoạt động của chi nhánh chủ yếu là nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư, bên cạnh đó chi nhánh còn nhận vốn ủy thác của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế và vốn điều chuyển từ Ngân hàng cấp trên Vốn huy động của Saigonbank chi nhánh Hà Nội bao gồm cả nội

tệ và ngoại tệ và Chi nhánh huy động vốn dưới hình thức chủ yếu sau:

- Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán nội tệ và ngoại tệ của các tầng lớp dân cư, các TCKT bao gồm tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn

- Nhận tiền gửi, vốn ủy thác của các tổ chức tín dụng (TCTD)

Đặc biệt gần đây, khi thị trường huy động vốn ngày càng biến động với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các TCTD, sự cạnh tranh trong công tác huy động vốn ngày càng quyết liệt hơn.Vì vậy Saigonbank chi nhánh Hà Nội đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đẩy mạnh công tác huy động, thu hút nguồn vốn về chi nhánh mình

Trang 39

Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội

Đơn vị tính: Triệu đồng

(Nguồn: Phòng kinh doanh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội)

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Chênh lệch 13/12 Chênh lệch 14/13

đối (%) Tuyệt đối

Tương đối (%)

Tổng nguồn vốn huy động 402.386,54 389.658,48 356.908,72 (12.728,06) (3,16) (32.749,76) (8,40) Huy động từ nền kinh tế 402.386,54 389.658,48 356.908,72 (12.728,06) (3,16) (32.749,76) (8,40)

2 Tiền gửi của khách hàng 402.020,37 389.346,75 356.480,43 (12.673,62) (3,15) (32.866,32) (8,44)

Trang 40

40

Qua bảng số liệu 2.1 về tình hình huy động vốn, có thể nhận thấy tổng nguồn vốn

mà Saigonbank chi nhánh Hà Nội huy động được trong giai đoạn 2012 – 2014 có sự giảm đáng kể Năm 2013 nguồn vốn huy động giảm 3,16% so với năm 2012, tương đương với từ 402.386,54 triệu đồng giảm xuống 389.658,48 triệu đồng Đến năm 2014, nguồn vốn huy động tiếp tục giảm 8,40% so với năm 2013 từ mức 389.658,48 triệu đồng xuống 356.908,72 triệu đồng Điều này xảy ra là do trong năm 2012 chi nhánh phải rời sang địa điểm hoạt động mới vì địa điểm cũ đang trong quá trình xây mới lại Vốn hoạt động trên địa bàn quận Hai Bà Trưng lâu năm, Saigonbank chi nhánh Hà Nội đã xây dựng được uy tín và thu hút được một số lượng khách hàng đông đảo và có tính ổn định, nên khi chuyển sang địa điểm mới (quận Đống Đa) chi nhánh đã phần nào mất đi một lượng khách hàng có quan hệ lâu năm với chi nhánh Thêm vào đó trên địa bàn quận Đống Đa có rất nhiều chi nhánh của các NHTM nổi tiếng xét về mặt uy tín cũng như chất lượng dịch vụ hơn hẳn Saigonbank chi nhánh Hà Nội như Vietcombank, Vietinbank, Techcombank,… Vì vậy sự giảm sút trong nguồn vốn huy động là điều khó có thể tránh khỏi

Xét theo thành phần kinh tế

Vốn huy động từ các tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 99% tổng nguồn vốn huy động), do đặc thù trên địa bàn khu vực chi nhánh hoạt động - quận Đống Đa Đây là một trong những quận chính của thủ đô Hà Nội tập trung nhiều dân

cư nên chi nhánh đã mang về cho mình được một số lượng lớn khách hàng Thêm vào

đó, bản thân là một chi nhánh trực thuộc ngân hàng thương mại cổ phần nên lãi suất huy động thường cao hơn so với các ngân hàng thương mại Nhà nước, với yếu tố tâm

lý khách hàng gửi tiền để hưởng lãi suất thì đây là một điểm thu hút đặc biệt của chi nhánh Nhìn chung chi nhánh đã có nhiều nỗ lực duy trì ổn định nguồn vốn hoạt động thông qua các hoạt động khuyến khích người gửi tiền gửi bằng lãi suất như lãi tiền gửi theo quý sẽ cao hơn so với tiền gửi theo tháng hay các chương trình khuyến mãi như gửi tiền tiết kiệm trúng quà đầu xuân, từ đó hoàn thành nhiệm vụ của Ngân hàng cấp trên giao cho đó là thực hiện tái cơ cấu nguồn vốn huy động theo hướng tăng tỷ trọng huy động từ dân cư và doanh nghiệp, điều chỉnh cân đối nguồn vốn huy động và cho vay, bảo đảm an toàn thanh khoản của chi nhánh

Xét theo thời hạn

Việc phân chia nguồn vốn theo thời hạn sẽ giúp cho chi nhánh sử dụng vốn hợp

lý, đảm bảo an toàn và phòng chống rủi ro khi dùng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các dự án dài hạn Về hoạt động huy động vốn theo thời hạn thì Saigonbank

Ngày đăng: 11/06/2016, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Thùy Duyên, Ngân hàng Nhà nước: “Lãi suất không còn là cản trở”, VnEconomy, http://vneconomy.vn/tai-chinh/ngan-hang-nha-nuoc-lai-suat-khong-con-la-can-tro-20130920084710604.htm, 20/09/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãi suất không còn là cản trở
13. Hồng Chi, Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp lớn cho GDP của Hà Nội, Thời báo tài chính Việt Nam, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2014-12-26/doanh-nghiep-vua-va-nho-dong-gop-lon-cho-gdp-cua-ha-noi-16522.aspx, 26/12/2014 Link
14. Huy Kiên, Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo: “Thành phố sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cổng giao tiếp điện tử, http://hanoi.gov.vn/30/- Link
15. Minh Nhật, Bài toán đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp, Nhân dân điện tử, http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_kinhte/_mobile_tintuc/item/26912402.html, 18/07/2015 Link
16. Nâng cao khả năng tiếp cận vốn của các DNVVN, misa, https://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/47577/Nang-cao-kha-nang-tiep-can-von-cua-cac-DNNVV, 18/11/2014 Link
17. Phân loại cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng, Luật Dương gia, http://luatduonggia.vn/phan-loai-cho-vay-theo-hop-dong-tin-dung-cua-to-chuc-tin-dung, 19/01/2015 Link
19. Thúy Hà, Có tới gần 70% số doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận vốn, Vietnamplus, http://www.vietnamplus.vn/co-toi-gan-70-so-doanh-nghiep-nho-va-vua-kho-tiep-can-von/291893.vnp, 18/11/2014 Link
1. PGS.TS Mai Văn Bạn (2011), Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Đại học Thăng Long, NXB Tài Chính, Hà Nội Khác
2. PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2007), Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
3. Bộ Công Thương (2014), Nghị định số 19/VBHN-BCT về quy định chi tiết luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, Hà Nội Khác
4. Ngân hàng Nhà nước (2011), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Hà Nội Khác
5. Ngân hàng Nhà nước (2014), Quyết định số 22/VBHN-NHNN về ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, Hà Nội Khác
6. Ngân hàng Nhà nước (2014), Thông tư 09/2014/TT-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Hà Nội Khác
9. Saigonbank chi nhánh Hà Nội, Báo cáo kết quả kinh doanh các năm 2012, 2013 và 2014, Hà Nội Khác
11. Saigonbank chi nhánh Hà Nội, Mục tiêu và phương hướng phát triển năm 2015, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tiêu chí xác định doanh ngiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam  Quy mô - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng 1.1. Tiêu chí xác định doanh ngiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam Quy mô (Trang 2)
2.1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương (Trang 36)
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội (Trang 39)
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (Trang 42)
Bảng 2.3. Tình hình doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng   Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng 2.3. Tình hình doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội (Trang 51)
Bảng 2.4. Tình hình doanh số thu hồi nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân  hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng 2.4. Tình hình doanh số thu hồi nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Công Thương chi nhánh Hà Nội (Trang 52)
Bảng 2.5. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng Thương - THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Bảng 2.5. Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng Thương (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w