Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn tới tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản
Trang 1CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro là biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn tới tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định Trong hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động của ngân hàng nói riêng thì vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi Vì thế, các nhà quản trị không thể loại bỏ được rủi ro mà chỉ có thể phát hiện kịp thời để có những biện pháp chủ động xử lý Trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, các nhà quản trị phải biết nhận biết và dự đoán trước các rủi ro để sớm đưa ra các giải pháp phòng ngừa chống đỡ tác hại của nó
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp vụ ngân hàng và đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại là hoạt động có nhiều rủi ro nhất và phức tạp nhất Hoạt động tín dụng liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế Mỗi rủi ro trong các lĩnh vực này đều tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại luôn đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hoá rủi ro Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có những giải pháp thích hợp để quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, là khả năng gây ra tổn thất, thiệt hại của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ (vốn gốc và/hoặc lãi) theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất Nhận thức được vấn đề này sẽ giúp ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
1.1.2.1 Rủi ro hệ thống
Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các khoản vay của ngân hàng Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, tốc độ làm phát thay đổi,… là những minh chứng cho rủi ro hệ thống,
Trang 22
những biến đổi này tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro hệ thống bao gồm các loại sau:
(1) Rủi ro thị trường: Rủi ro xuất hiện do phản ứng của các nhà kinh doanh đối
với các hiện tượng trên thị trường Chẳng hạn như sự thiếu quy hoạch phân bổ đầu tư một cách hợp lý dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, nếu để sự canh tranh phát triển một cách tự phát mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước sẽ dẫn đến sự ra tăng quá đáng vốn đầu tư tại các ngành đó, gây khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
(2) Rủi ro lãi suất: Rủi ro này xảy ra khi sự biến đổi lãi suất thị trường thay đổi
không theo dự tính của ngân hàng Sự thay đổi lãi suất thị trường có thể ảnh hưởng mạnh đến lợi nhuận và chi phí của ngân hàng
(3) Rủi ro hoạt động: Là loại rủi ro dẫn đến tổn thất trực tiếp (hoặc gián tiếp
cho ngân hàng Rủi ro hoạt động không phải là một khái niệm mới đối với các ngân hàng Chúng xảy ra hàng ngày trong ngành ngân hàng, có thể ảnh hưởng tới uy tín và kết quả kinh doanh của ngân hàng như lỗi trong khi ghi sổ sách kế toán, lỗi th tín dụng, hay một số thiết bị trong hoạt động ngân hàng bị hỏng Một số sự kiện có thể gây ra tổn thất rất lớn như các hoạt động kinh doanh chứng khoán trái ph p, tham nhũng, làm giả sổ sách hay các yếu tố bên ngoài như thiên tai, hỏa hoạn
1.1.2.2 Rủi ro phi hệ thống
Rủi ro phi hệ thống là rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc một nhóm tài sản, nghĩa là rủi ro này chỉ liên quan đến một khoản vay cụ thể nào đó Rủi ro phi hệ thuống bao gồm các loại sau:
(1) Rủi ro tín dụng do đọng vốn: Đây là rủi ro mà ngân hàng huy động vốn
nhưng không có kênh cho vay hoặc đầu tư Để huy động được vốn, ngân hàng phải trả lãi hay nói cách khác là chi phí vốn Nếu không cho vay ra được, ngân hàng vẫn phải chịu chi phí cho nguồn vốn đầu vào Nếu tình trạng này kéo dài ngân hàng sẽ gặp trở ngại đáng kể
(2) Rủi ro trong thu hồi vốn và lãi: Rủi ro này gắn liền với hoạt động quan
trọng nhất và có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại đó là hoạt động tín dụng Rủi ro hoạt động thu hồi vốn và lãi là khả năng tổn thất xảy ra khi khách hàng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đúng hạn gốc và lãi Theo quy định trong văn bản hợp nhất 22/VBHN-NHNN thì rủi ro tín dụng trong hoạt động thu hồi vốn và lãi được phân loại như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín
dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; các khoản nợ
Trang 3quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc
và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ
nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến
180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động ngân hàng luôn đối diện với rủi ro Có hai nhóm nguyên nhân cơ bản dưới đây:
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Môi trường kinh tế - xã hội
Rủi ro tín dụng xuất phát từ sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của môi trường kinh tế thế giới, cùng những rủi ro tất yếu từ quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách không hợp lý dẫn đến khủng hoảng về đầu tư trong một số ngành
Môi trường kinh tế tác động mạnh đến lĩnh vực kinh doanh ngân hàng cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì các doanh
Trang 44
nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ cho ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng bị suy thoái, mất ổn định làm cho các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt đông kinh doanh, sản xuất bị đình trệ, sức mua giảm sút, hàng hóa ứ đọng Điều này làm cho các doanh nghiệp làm ăn k m hiệu quả, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới việc trả nợ cho ngân hàng
Ngoài ra, các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng, có thể gây khó khăn cho một số khách hàng của ngân hàng khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao đã làm tăng tỷ lệ lạm phát dẫn đến giá của các nguyên liệu đầu vào tăng, giá thành sản phẩm tăng, hàng hóa khó tiêu thụ được Hơn nữa, việc nhập khẩu tràn lan những mặt hàng mà ở trong nước
có thể sản xuất được, từ đó làm tăng tính cạnh tranh cho các hàng hóa trong nước, chậm tiêu thụ,… Trong một môi trường kinh tế lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội còn lớn thì hoạt động sản xuất kinh doanh còn có nhiều cơ hội để phát triển và ngược lại, khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt k o theo đồng tiền nội địa bị mất giá dẫn đến kinh doanh trong nước gặp nhiều trở ngại và khó khăn khiến cho rủi ro tín dụng tăng, khả năng thu hồi vốn tín dụng của ngân hàng bị hạn chế
Môi trường pháp lý
Cùng với môi trường Kinh tế - Xã hội, môi trường pháp lý tạo nên môi trường cho vay của các ngân hàng thương mại Môi trường cho vay có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực, có thể hạn chế hay làm tăng thêm rủi ro đối với các hoạt động kinh doanh
tín dụng của ngân hàng thương mại
Việc triển khai luật và các văn bản đã có vào hoạt động của ngân hàng còn chậm chạp và gặp nhiều vướng mắc bất cập như việc cưỡng chế thu hổi nợ đều có quy định
là trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay Nhưng trên thực tế các ngân hàng thương mại không làm được điều này,
vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải một cơ quan quyền lực Nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng
để xử lý hoặc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay cho Tòa án xử lý qua con đường tố tụng rất phức tạp với những thủ tục rườm rà, dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết kịp thời nợ tồn đọng và tài sản tồn đọng
Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh
Đây là những rủi ro mà cả khách hàng và ngân hàng đều không lường trước được đối với khoản tín dụng của mình, khách hàng gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng Mặc dù loại rủi ro này có thể được hạn chế bằng cách mua bảo hiểm, nhưng khi loại rủi ro này xảy ra cả khách hàng và ngân hàng cũng phải mất
Trang 5nhiều thời gian để lấy được khoản tiền bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm để trả nợ vay cho khách hàng
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Từ phía khách hàng
Những nguyên nhân chủ yếu từ phía khách hàng như:
Sử dụng vốn vay sai mục đích, không có thiện trí trả nợ vay: Lợi dụng điểm sơ
hở của ngân hàng trong khâu thẩm định hồ sơ vay vốn, nhiều khách hàng sử dụng hồ
sơ giả để xin vay vốn Vì vậy nhiều khách hàng lập dự án kinh doanh để xin vay vốn nhưng khi được giải ngân lại sử dụng với mục đích khác, đầu tư những dự án thiếu an toàn Điều này làm cho nguồn trả nợ của khách hàng bấp bênh, thậm chí là mất khả năng thanh toán Nhiều khách hàng đến hạn thanh toán lại trốn tránh nhiệm vụ, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc thu hồi nợ khiến thu nhập của ngân hàng giảm và còn làm thất thoát vốn
Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền để mở rộng
quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư để thay đổi cung cách quản lý, đầu tư cho bộ phận giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh lớn vượt quá
tư duy quản lý chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của những dự án có tính khả thi
mà đáng ra phải rất thành công trên thực tế
Tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch: Khách hàng xin vay vốn không đủ
khả năng tài chính để trả nợ, gây khó khăn cho việc thu hồi nợ của ngân hàng Ngoài
ra, những thông tin, chứng chỉ do khách hàng cung cấp chỉ mang tính hình thức chứ không phải là thực chất nên khi cán bộ ngân hàng phân tích tài chính thường thiếu thực tế Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng luôn coi nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để ngăn ngừa và hạn chế hậu quả của rủi ro tín dụng
Từ phía ngân hàng
Ngân hàng là một ngành kinh doanh đặc biệt, đi vay rồi cho vay để hưởng phần chênh lệch lãi Do đó ngân hàng luôn phải xem xét kỹ lưỡng trước khi cho vay để đạt hiểu quả, tránh rủi ro mất vốn Vì thế rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ phía ngân hàng thường là các nguyên nhân sau:
Chính sách tín dụng không hợp lý: Quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn
tới cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập chung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hay một ngành kinh tế nào đó
Trang 66
Do thiếu am hiểu về thị trường: Thiếu thông tin hay phân tích thông tin không
đầy đủ dẫn đến cho vay không hợp lý
Do cạnh tranh của các ngân hàng: Các ngân hàng mong muốn có lợi nhuận cao
hơn các ngân hàng khác
Do cán bộ tín dụng: Các cán bộ không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, không chấp
hành đúng quy trình cho vay Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ nghiệp vụ; cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh
Do tài sản đảm bảo: Việc định giá tài sản không chính xác, không thực hiện đầy
đủ các thủ tục pháp lý cần thiết, hay không đảm bảo các nguyên tắc về tài sản đảm bảo
là dễ định giá, dễ chuyển nhượng quyền sở hữu và dễ tiêu thụ Ngoài ra, có thể do tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp hoặc tranh chấp giữa các ngân hàng dẫn đến không phát mại được tài sản
1.1.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng
1.1.4.1 Đối với ngân hàng thương mại
Hoạt động của một ngân hàng thương mại tại một quốc gia có liên quan đến cả
hệ thống ngân hàng, các tổ chức Kinh tế - Xã hội và cá nhân trong nền kinh tế tại quốc gia đó Do vậy nếu một ngân hàng có rủi ro trong hoạt động tín dụng cao không chỉ ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng, làm giảm tính thanh khoản mà còn ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng cùng hệ thống và các bộ phận kinh tế khác Nếu NHNN và Chính phủ không kịp thời can thiệp thì sẽ tác động lớn đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền, họ sẽ đồng loạt rút tiền ra khỏi ngân hàng làm cho các ngân hàng vô hình dung mất đi khả năng thanh toán Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các ngân hàng khác
Những ngân hàng thương mại trực tiếp tham gia nghiệp vụ do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí) làm cho nguồn vốn ngân hàng bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn huy động, làm cho lợi nhuận giảm sút, nợ xấu tăng cao, thậm trí nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới phá sản Nếu lợi nhuận không đủ thì ngân hàng phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp thiệt hại Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của NHTM
Trang 71.1.4.2 Đối với nền kinh tế
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay vẫn là quyền sở hữu của những người gửi tiền vào ngân hàng Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng
Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản cho một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn; hoạt động kinh tế bất ổn định và trì trệ; lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh
tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Mặt khác, mối liên hệ tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất mạnh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước liên quan
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng ở các mức
độ khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay Nặng nhất thì ngân hàng không thể thu hồi được nợ gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hiệu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng cần phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro chính là trung tâm của hoạt động quản trị điều hành của mỗi ngân hàng thương mại Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro chính là quá trình các ngân hàng thương mại áp dụng các nguyên lý, phương pháp và kinh nghiệm quản trị ngân hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để ngăn chặn tổn thất cho ngân hàng, đồng thời không ngừng nâng cao sức mạnh
và uy tín của ngân hàng trên thương trường Quản trị rủi ro là bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại, đồng thời với mỗi loại rủi
ro cụ thể lại áp dụng những phương pháp quản trị riêng Theo Basel II: “Quản lý rủi
ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính
Trang 81.2.2 Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng
Phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một nền kinh tế thị trường Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa thoát khỏi tư tưởng bao cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn Vì thế để nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mà ngân hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, có như thế thì ngân hàng mới mở rộng được các dịch vụ của mình như dịch vụ tư vấn giúp ngân hàng tránh khỏi được những rủi ro không đáng có
Nâng cao năng lực cạnh tranh
Điều quan trọng để thu hút được khách hàng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng
là yếu tố thương hiệu và tính an toàn, gia tăng được tiện ích, dịch vụ khác biệt và đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho khách hàng sử dụng Để ngân hàng có thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh này, một trong những yếu tố không thể thiếu là phải tăng cường công tác quản trị và nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng nhằm giữ chân khách hàng, giúp ngân hàng nắm bắt được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh
để chủ động trong việc tìm kiếm đầu ra phù hợp cho nguồn vốn
Đảm bảo tính thanh khoản
Tính thanh khoản của ngân hàng được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết Vì vậy quản trị rủi ro tín dụng là vô cùng cần thiết, góp phần đảm bảo tính an toàn cho nguồn vốn của ngân hàng, giúp ngân hàng có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu của khách hàng
Trang 9Đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hoạt động tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất, vì vậy ngân hàng không thể không quan tâm đến sự an toàn với các khoản cho vay Chính vì thế, vấn đề nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với ngân hàng để
có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh một cách tối ưu, vừa là yếu tố đảm bảo cho ngân hàng duy trì hoạt động, vừa giúp ngân hàng phát triển
Gia tăng uy tín
Một trong những tiêu chí để khách hàng lựa chọn và tìm đến với ngân hàng là chất lượng sản phẩm dịch vụ cũng như uy tín thương hiệu của ngân hàng Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng giúp cho ngân hàng cung cấp dịch vụ tốt hơn, đáp ứng nhu cầu kịp thời hơn và tạo lòng tin đối với khách hàng
1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Nhận diện rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi trên con đường tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận và rủi ro là hai yếu tố song hành trong quá trình kinh doanh tiền tệ Lĩnh vực tiền tệ nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao thì ở đó rủi ro có thể xảy ra cũng rất lớn Điều kiện tiên quyết để quản trị rủi ro là phải nhận diện được rủi ro Nhận diện rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và khách hàng, bao gồm: Việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng, cũng như của doanh nghiệp vay vốn nhằm thống kê tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có những biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng loại rủi ro phù hợp Một số dấu hiệu rủi ro cụ thể từ phía khách hàng và ngân hàng như:
Từ phía khách hàng
- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính của khách hàng mà không cố sự giải thích minh bạch và thuyết phục
- Có biểu hiện không thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng
- Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ
- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không có lý do hoặc thiết căn
cứ thuyết phục mang tính kế hoạch về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn nợ
- Chậm thanh toán các khoản lãi, gốc khi đến hạn
Trang 1010
- Sự sụt giảm bất thường trong số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng
- Xuất hiện các khoản nợ do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công nợ chậm hơn dự kiến
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo bị giảm sút so với định giá khi cho vay
- Chấp nhận các nguồn vay với giá cao với mọi điều kiện
Từ phía ngân hàng
- Đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng
- Cấp tín dụng theo cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hoặc các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng
- Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá, hạ thấp lãi suất cho vay, hoặc thực hiện chiến lược giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không có quan hệ với các tổ chức tín dụng khác mặc dù biết rõ khoản tín dụng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao
1.2.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro là quá trình tính toán tần suất xuất hiện rủi ro, tiến độ và mức độ nghiêm trọng của rủi ro để có thể đưa ra biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng cần thiết Muốn vậy, phải thu thập số liệu, lập ma trận đo lường và phân tích, đánh giá Để đo lường rủi ro đối với ngân hàng người ta sử dụng hai tiêu chí: Tần suất xuất hiện của rủi
ro và biên độ của rủi ro Thông thường, các ngân hàng sử dụng một mô hình tiêu biểu
để xác định mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng trước những thông tin thu thập được hay còn gọi là phân tích rủi ro tín dụng như:
(1) Mô hình 5C trong phân tích tín dụng
Mô hình 5C trong phân tích tín dụng bao gồm:
- Capacity - Cash flow (Năng lực - Luồng tiền dự tính trả nợ)
- Capital (Cấu trúc vốn)
- Collateral (Tài sản thế chấp)
- Character (Thái độ, sự thể hiện của khách hàng)
Trang 11- Conditions (Các điều kiện khác)
Thực chất mô hình này sử dụng những tiêu chuẩn đánh giá tín dụng qua hai mảng chính là phân tích tài chính và phân tích phi tài chính:
(1.1) Phân tích phi tài chính: Là phân tích các yếu tố ít hoặc nhiều liên quan trực
tiếp đến vấn đề tài chính của khách hàng Phân tích phi tài chính bao gồm nhiều vấn đề
như:
Tính pháp lý của khách hàng
Khoản tín dụng đề nghị cấp
Tính cách của khách hàng, uy tín của họ trong cuộc sống, trong kinh doanh
Tình hình quản trị doanh nghiệp, khả năng và uy tín của Hội đồng Quản trị, Ban điều hành, Giám đốc,… và những người có ảnh hưởng lớn đến khả năng tài chính của khách hàng
Triển vọng và vị thế của khách hàng trên thị trường
Sản phẩm và chiến lược phát triển trong tương lai của khách hàng
Các chính sách có liên quan đến khách hàng
Phân tích phi tài chính này rất có ý nghĩa với ngân hàng và là bộ phận quan trọng trong phân tích tín dụng Kết quả phân tích phi tài chính sẽ tăng thêm cơ sở chắc chắn cho các quyết định tài trợ của ngân hàng
(1.2) Phân tích tài chính: Là phân tích hiện trạng tài chính và dự báo về tài chính
trong tương lai của khách hàng nhằm tìm kiếm và ước lượng những trường hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng, làm cơ sở cho các quyết định cấp tín dụng của ngân hàng
Trong phân tích tài chính, ngân hàng sẽ quan tâm đến các vấn đề:
- Tài sản của khách hàng: Các thông tin về tài sản cho thấy quy mô, chất
lượng tài sản - rất quan trọng đối với quyết định chi vay Hơn nữa, một phần tài sản của khách hàng luôn được coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi nợ khi khách hàng mất khả năng sinh lời
- Các khoản nợ của khách hàng: Liên quan đến việc đánh giá các khoản nợ
của khách hàng, ngân hàng sẽ phân tích các chỉ số hoạt động đối với khách hàng:
Chỉ số vòng quay các khoản phải thu
Chỉ số vòng quay hàng tồn kho
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả
Trang 1212
Chỉ số vòng quay TSCĐ
Tỷ lệ CF đầu tư TSCĐ/Khấu hao
- Khả năng sinh lời của khách hàng: Là yếu tố quyết định khả năng hoàn trả
vốn và lãi cho ngân hàng Khi phân tích khả năng sinh lời, ngân hàng sẽ chú ý tới nhóm chỉ tiêu như:
Tỷ lệ hoàn vốn (ROI)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
- Khả năng thanh toán của khách hàng: Khả năng thanh toán ngắn hạn được
đo lường bằng khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản ngắn hạn để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền
Đánh giá khả năng vay và thanh toán nợ (so sánh EBIT và lãi vay phải trả,
so sánh dòng tiền từ hoạt động SXKD và nợ dài hạn đến hạn, so sánh dòng tiền từ hoạt động SXKD với lãi vay)
Phân tích lưu chuyển tiền tệ (luồng tiền từ hoạt động SXKD, hoạt động đầu
tư, hoạt động tài chính)
- Phân tích, đánh giá phương án, dự án đầu tư: Là quá trình kiểm tra, đánh
giá lại dự án (khách hàng đã soạn thảo) một cách kỹ lưỡng Thẩm định dự án nhằm xác định khả năng chắc chắn của việc thu hồi nợ, hưởng lãi từ dòng tiền mang lại từ dự án mà chủ đầu tư với tư cách là người đi vay đã chứng minh và cam kết Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động tín dụng cũng như hiệu quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng
- Phân tích và đánh giá TSĐB: Thẩm định TSĐB nhằm dự toán giá trị của
TSĐB đó, để quyết định xem đã đủ để đảm bảo cho khoản vay trong tường hợp xảy ra vỡ nợ hay chưa
Thông qua phân tích tài chính, ngân hàng xác định được như cầu vay vốn hợp lý của khách hàng cùng với thời hạn vay và kỳ hạn trả nợ hợp lý Ngoài ra, phân tích tài chính cũng tiên lượng được những rủi ro có thể xảy ra với khoản tín dụng sẽ cấp
Trang 13Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay
Từ đó, hàm số phân biệt của Altman có dạng như sau:
Z = 1,2X 1 + 1,4X 2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó: X1 = Tỷ số “Vốn lưu động ròng/Tổng tài sản”
X2 = Tỷ số “Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản”
X3 = Tỷ số “Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Tổng tài sản”
X4 = Tỷ số “Thị giá cổ phiếu/Giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5 = Tỷ số “Doanh thu/Tổng tài sản”
Chỉ số Z đo lường toàn bộ mức độ rủi ro của người vay Nếu khách hàng có điểm
số thấp hơn 1,81 sẽ bị xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao Cụ thể như sau:
Z > 2,99 : Lành mạnh 1,81 < Z < 2,99: Không rõ ràng
Z < 1,81 : Vỡ nợ
Mô hình được xây dựng trên nền kinh tế của nước Mỹ, dành riêng cho những doanh nghiệp sản xuất đã cổ phần hóa có quy mô lớn (từ 1 triệu USD trở lên) Qua đó lượng hóa được khả năng phá sản của doanh nghiệp, cũng như phần rủi ro tín dụng mà ngân hàng cho vay phải gánh chịu một cách đơn giản và nhánh chóng Ngoài ra, các thông tin và số liệu vận dụng vào mô hình hoàn toàn có thể thu thập nhanh chóng trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp và loại bỏ được yếu tố chủ quan của người phân tích
(3) Mô hình xếp hạng của Moody’s
Mô hình xếp hạng của Moody’s là mô hình xếp hạng tín nhiệm nhằm mục đích đánh giá các rủi ro tín dụng liên quan đến nghĩa vụ tài chính của một tổ chức trong
Trang 14(Nguồn: Báo cáo của Moody’s)
Mô hình này giúp cho ngân hàng có thể đo lường được khả năng ngân hàng đó cần sự giúp đỡ từ bên ngoài để tránh đổ vỡ
(4) Mô hình xếp hạng tín dụng (chấm điểm tín dụng)
Mô hình điểm tín dụng là quy trình đánh giá xác xuất một khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tìa chính của mình đối với ngân hàng Mô hình sử dụng những số liệu phản ánh đặc điểm của người vay (các thông tin phi tài chính, BCTC, thông tin được lưu trữ tại ngân hàng, … để tính toán xác xuất của rủi ro tín dụng hoặc
để phân loại khách hàng trên cơ sở mức độ rủi ro đã được xác định
Nguyên tắc chấm điểm tín dụng là cán bộ tín dụng sẽ thu được điểm ban đầu và điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng:
- Điểm ban đầu: Là điểm của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng
- Điểm tổng hợp: Bằng điểm ban đầu nhân với trọng số
- Trọng số: là mức độ quan trọng của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng (chỉ số
tài chính hoặc yếu tố phi tài chính x t trên góc độ tác động rủi ro tín dụng
Trang 15Đối tượng áp dụng mô hình chấm điểm là khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân:
(4.1) Xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp
Ngân hàng căn cứ vào ba tiêu chí để xếp hạng tín dụng cho doanh nghiệp:
- Loại hình doanh nghiệp: Ngân hàng phân loại doanh nghiệp để xếp hạng theo ngành kinh tế và theo quy mô
Theo ngành kinh tế gồm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ
Theo quy mô gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ Quy mô doanh nghiệp được đánh giá dựa trên các tiêu chí như vốn, doanh thu, nghĩa vụ nộp thuế, số lượng lao động
- Các chỉ tiêu tài chính: Như chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu
về đòn bẩy tài chính, chỉ tiêu về khả năng sinh lời
- Các chỉ tiêu phi tài chính: Như chỉ tiêu về uy tín trong giao dịch, chỉ tiêu về
chất lượng quản lý, chỉ tiêu liên quan đến dòng tiền
Sau khi đã phân loại và cho điểm dựa vào các chỉ tiêu trên, ngân hàng sẽ căn cứ xem mức độ tin cậy của các thông tin và tính ra điểm xếp hạng tín dụng cụ thể Sau đó, ngân hàng tính toán ra tổng điểm cuối cùng và xếp hạng doanh nghiệp vào 10 hạng theo chuẩn mực: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D
Tùy vào đánh giá và cho điểm tại mỗi ngân hàng khác nhau, ngân hàng sẽ giải thích ý nghĩa và đánh giá tình hình tài chính và rủi ro tài chính của khách hàng, tạo cơ
sở cho việc ra quyết định cho vay và giám sát sau khi cho vay
(4.2) Xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân
Khách hàng cá nhân khi có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có mối quan hệ tín dụng lâu dài với ngân hàng, ngân hàng thực hiện việc đánh giá cho điểm và xếp hạng tín dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc xem xét cho khách hàng vay vốn tại đơn vị
Mô hình đánh giá và cho điểm khách hàng cá nhân thường dựa trên các thông tin lịch sử thu thập từ các giao dịch với ngân hàng và việc xác định trọng số phù hợp với từng chỉ tiêu dựa vào công tác thống kê của ngân hàng
Các thông tin cần thu thập, đánh giá và cho điểm khách hàng cá nhân như:
- Cá nhân người vay vốn
- Người vay liên quan
- Tình trạng hôn nhân
Trang 1616
- Tài sản và nghĩa vụ nợ
- Lịch sử giao dịch với ngân hàng
Khoản vay được chấp thuận sẽ có tổng điểm lớn hơn hoặc bằng mức điểm đã quy định tại ngân hàng và từ đó ngân hàng sẽ đưa ra phán quyết tín dụng với khách hàng
1.2.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro tín dụng là một trong các nội dung quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng Đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng
Các điều kiện cơ sở của mỗi khoản vay thường xuyên biến đổi, tác động vào vị thế tài chính, năng lực hoàn trả của người vay nên phải thực hiện kiểm soát và xem xét định kỳ các khoản vay NHTM cần phải kiểm soát, đánh giá được những đặc tính quan trọng nhất đối với mỗi khoản vay như đánh giá quá trình thanh toán của khách hàng, đáng giá chất lượng và tình trạng của tài sản thế chấp, đánh giá sự thay đổi trong tình hình tài chính và nhu cầu tín dụng của người vay, theo dõi thường xuyên đối với các khoản vay
Kiểm soát khoản cho vay là đòi hỏi bắt buộc đối với ngân hàng, qua đó ngân hàng có thể phát hiện ra nhanh hơn các khoản vay có vấn đề, giúp các nhà quản trị đánh giá toàn bộ rủi ro tiềm tàng của ngân hàng và nhu cầu vốn của nó trong tương lai Trên cơ sở đánh giá được mức độ rủi ro tín dụng đối với một khoản tài trợ mà ngân hàng đưa ra những biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng ở mức dự kiến bằng cách
sử dụng một số biện pháp kiểm soát rủi ro như sau:
(1) Kiểm tra, rà soát trước, trong và sau khi cho vay: Ngân hàng yêu cầu cán
bộ tín dụng quản lý những khoản vay của mình một cách chặt chẽ ngày từ khi nhận được hồ sơ tín dụng nhằm đảm bảo được tính an toàn cho khoản vay, và kịp thời kiểm soát cũng như xử lý một cách nhanh chóng khi rủi ro tín dụng xảy ra
(2) Thực hiện giao dịch đảm bảo: Khi thấy dấu hiệu các khoản vay có vấn đề,
ngân hàng yêu cầu khách hàng thực hiện giao dịch đảm bảo như việc cầm cố, thế chấp tài sản, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp… góp phần đảm bảo cho khả năng thu hồi nợ của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ
(3) Hợp đồng hoán đổi tín dụng
Hợp đồng hoán đổi tín dụng là một công cụ tín dụng phái sinh, trong đó hai tổ chức cho vay thỏa thuận trao đổi cho nhau một phần các khoản vay thanh toán theo hợp đồng tín dụng mỗi bên
Trang 17Thông thường sẽ có một bên thứ ba (được cả hai tổ chức cho vay tín nhiệm) tham gia vào hợp đồng này với vai trò là tổ chức trung gian điều chuyển các khoản thanh toán mỗi bên
Hợp đồng này giúp cho các ngân hàng đa hạng hóa danh mục tài sản, giúp các bên nhận được các khoản thanh toán từ một hệ thống thị trường khác, giảm sự phụ thuộc vào một thị trường truyền thống
(4) Hợp đồng quyền chọn tín dụng
Hợp đồng quyền chọn tín dụng là cam kết quy định quyền và nghĩa vụ giữa tổ chức tín dụng (người mua quyền) và tổ chức kinh doanh quyền chọn (người bán quyền Trong đó người mua quyền có quyền mua hoặc quyền bán một khoản tín dụng nhất định (với những điều kiện về thu nhập và rủi ro được xác định trước và có nghĩa
vụ trả phí mua quyền cho người bán quyền)
Đây là công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong giá trị tài sản tín dụng và giúp bù đắp mức phí vay cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút Nhưng mặt khác cũng làm phát sinh một khoản chi phí đối với ngân hàng nên trong trường hợp ngân hàng không thực hiện quyền sẽ làm giảm thu nhập ròng từ khoản tín dụng Cũng như các công cụ khác, hợp đồng quyền chọn tín dụng lại chứa đựng một rủi ro tín dụng từ phía tổ chức bán quyền nếu tổ chức này không thực hiện giao dịch như cam kết
(5) Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
NHTM phân ra làm 2 loại dự phòng là dự phòng chung và dự phòng cụ thể:
- Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể Dự phòng chung được tính bằng 0,75% tổng số dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 sau khi đã kháu trừ tài sản đảm bảo
- Dự phòng cụ thể là khoản dự phòng được trích lập trên cơ sở phân loại các khoản nợ theo quy định để xử lý những khoản rủi ro cụ thể có thể xảy ra Theo Văn bản hợp nhất 22/2014/VBHN-NHNN ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với năm nhóm nợ quy định như sau: Nhóm 1 là 0%, nhóm 2 là 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%, nhóm 5 là 100% (riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, tổ chức tín dụng trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng)
Trang 1818
Một khoản cho vay được cho là có vấn đề khi ngân hàng nhận thấy sự suy giảm trong khả năng trả nợ của khách hàng hoặc giá trị tài sản đảm bảo bị giảm sút Khi đó, ngân hàng sẽ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cho các khoản vay này để hạn chế một cách nhanh nhất tổn thất từ những khoản vay đó
1.2.3.4 Tài trợ rủi ro tín dụng
Tài trợ rủi ro tín dụng là việc ngân hàng dùng các nguồn tài chính trong và ngoài ngân hàng bù đắp tổn thất các khoản cho vay khi rủi ro xảy ra Nợ rủi ro sau khi được
xử lý sẽ được thu hồi hoặc được chuyển qua theo dõi ngoại bảng
Mặc dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra Khi đó cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc
về giá trị pháp lý Sau đó cần thiết lập những biện pháp tài trợ rủi ro phù hợp và tìm kiếm các nguồn tài trợ rủi ro tín dụng như:
(1) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: Khi các khoản vay đến hạn mà khách hàng có
dấu hiệu không trả được nợ, ngân hàng sẽ xem xét lại thông tin và khả năng trả nợ của khách hàng để cơ cấu lại thời hạn trả nợ, để giảm thiểu được nợ xấu phát sinh và khuyến khích khách hàng trả nợ cho ngân hàng
Các biện pháp cơ cấu lại nợ bao gồm hai hình thức:
(1.1) Gia hạn nợ: Gia hạn nợ vay là việc tổ chức tín dụng chấp thuận kéo dài
thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay, vượt quá thời hạn cho vay
đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng
(1.2) Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng
chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi
(2) Xử lý tài sản đảm bảo
Qua nhận diện và giám sát rủi ro, ngân hàng yêu cầu khách hàng đảm bảo khoản vay bằng tài sản để khi rủi ro xảy ra, khách hàng không trả được nợ, ngân hàng sẽ dùng chính tài sản đảm bảo đó để bù đắp tổn thất gây ra cho ngân hàng
(3) Chứng khoán hóa các khoản cho vay
Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản) Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền Chứng khoán
Trang 19hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng
có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao
Các bên tham gia vào hoạt động chứng khoán hóa các khoản cho vay:
- Người vay nợ
- Ngân hàng phát hành chứng khoán trên cơ sở các khoản cho vay
- Tổ chức được ủy thác và nhà đầu tư mua chứng khoán đó
Khi các tài sản được thanh toán, ngân hàng sẽ chuyển khoản thanh toán này cho người sở hữu những chứng khoán được mua bán tự do Tổ chức được ủy thác sẽ có trách nhiệm giám sát và bảo đảm người đi vay thực hiện đầy đủ những yêu cầu chuyển giao các khoản nợ và cung cấp đầy đủ các dịch vụ cam kết Đồng thời tổ chức ủy thác tập trung và phân phối cho nhà đầu tư những khoản thu nhập từ các khoản cho vay Quy trình chứng khoán hóa được tóm tắt như sau:
- Ngân hàng cho vay đối với khách hàng
- Khách hàng chuyển giao các chứng từ nợ
- Ngân hàng phát hành chứng khoán trên các khoản cho vay
- Tổ chức ủy thác bán chứng khoán cho các nhà đầu tư và thu tiền về
- Ngân hàng thu hồi vốn từ bán chứng khoán
- Tổ chức ủy thác giám sát người vay
- Các khoản tiền trả nợ của người đi vay được chuyển giao đến nhà đầu tư thông qua ngân hàng và tổ chức ủy thác
Công cụ này giúp cho ngân hàng tạo ra các tài sản có tính thanh khoản cao trên
cơ sở các tài sản có tính thanh khoản k m hơn và tạo thêm thu nhập, nguồn vốn mới cho ngân hàng
(4) Chuyển giao rủi ro tín dụng
Chuyển giao rủi ro là việc sắp xếp để một vài đối tượng gánh chịu hoàn toàn hay một phần tổn thất xảy ra Có thể chuyển giao cho công ty bảo hiểm, người kinh doanh rủi ro hoặc cho ngân sách nhà nước Các cách thức chuyển giao rủi ro: Chuyển giao rủi
ro cho người kinh doanh rủi ro (các công ty bảo hiểm); chuyển giao rủi ro cho bên mua nợ; chuyển giao rủi ro cho ngân sách Nhà nước (đối với những khoản vay theo chỉ định của Chính phủ)
Trang 2020
(5) Sử dụng thƣ bảo lãnh tín dụng
Thư bảo lãnh tín dụng là cam kết đảm bảo hoàn trả vốn và lãi của khoản vay đúng thời hạn ngay cả khi người vay vốn phá sản hoặc không tuân thủ mọi điều khoản trong hợp đồng tín dụng
Công cụ này giúp người đi vay nhận được khoản tín dụng với chi phí thấp và các điều khoản linh hoạt hơn Bên cạnh đó góp phần đảm bảo chắc chắn hơn với khoản vay nên giảm thiểu được đáng kể rủi ro tín dụng
Tuy thư tín dụng là công cụ hữu hiệu phòng ngừa rủi ro tín dụng nhưng bản thân
nó cũng chứa đựng những rủi ro rất lớn Khi rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng có quyền yêu cầu được chi trả từ bên bảo lãnh nếu có đầy đủ tài liệu đảm bảo quyền yêu cầu thanh toán theo quy định Rủi ro tín dụng còn xảy ra khi ngân hàng phát hành thư tín dụng không thể chi trả theo cam kết của hợp đồng
(6) Sử dụng nghiệp vụ bán các khoản vay
Bán nợ là việc ngân hàng bán quyền yêu cầu thu nhập đối với các khoản cho vay cho một bên thứ ba Sau khi khoản vay xuất hiện dấu hiệu rủi ro, ngân hàng tập hợp các tài sản có rủi ro (trái phiếu những khoản nợ có rủi ro tín dụng) và bán cho các nhà đầu tư khác để chuyển đổi sở hữu khoản nợ nhằm quản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng Hoạt động này có sự tham gia của người đi vay tiền (khách hàng), ngân hàng cho vay (người bán nợ và người mua nợ
Đây là công cụ giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, giảm chi phí vốn và tăng cường đa dạng hóa; giảm bớt tốc độ tăng tài sản của ngân hàng nên hạ thấp mức vốn chủ sở hữu yêu cầu; cho phép ngân hàng loại bỏ những tài sản có tỷ suất sinh lời thấp ra khỏi danh mục, tạo chỗ cho những tài sản có tỷ suất sinh lời cao hơn khi lãi suất thị trường tăng; đồng thời làm tăng tính thanh khoản của danh mục tài sản Nhưng cũng có thể làm cho ngân hàng mất đi những khoản tín dụng chất lượng tốt nếu không được xem xét kỹ lưỡng
Hoạt động bán nợ được thực hiện dưới ba hình thức:
- Bán nợ tham gia: Người mua nợ không phải là một bên trong hoạt động tín
dụng giữ ngân hàng và người đi vay Chỉ khi có những thay đổi quan trọng trong hoạt động tín dụng thì người mua nợ mới có thể tác động đến các điều khoản của hoạt động tín dụng, nên người mua nợ phải đối mặt với rủi ro tín dụng lớn từ phía ngân hàng bán nợ và người đi vay tiền
- Chuyển nhượng nợ: Quyền sở hữu khoản cho vay được chuyển cho người mua
nợ và người mua nợ có quyền yêu cầu trực tiếp đối với người đi vay về các
Trang 21điều khoản của hợp đồng tín dụng Khi đó người mua nợ chỉ phải đối mặt với rủi ro tín dụng từ người đi vay
- Bán nợ từng phần: Là việc ngân hàng chia một khoản nợ dài hạn thành các
khoản nợ ngắn hạn và bán lại trên thị trường Người mua nợ sẽ nhận được một phần trong tổng số tiền lãi của khoản vay Ngân hàng vẫn là người chịu rủi ro
vỡ nợ của khách hàng, nhưng kỳ hạn thực tế của danh mục tài sản đã được cơ cấu lại
dụng dự phòng chung
1.2.4 Các tiêu trí đánh giá quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM Do đó, quản trị rủi ro tín dụng là một nội dung quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Tuỳ theo mục đích phân tích mà người ta đưa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau Trong phạm vi bảng báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh, ta có thể
áp dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một chỉ số quan trọng để đo lường, đánh giá chất lượng cũng như rủi ro của nghiệp vụ tín dụng, cho thấy tình hình nợ quá hạn tại ngân hàng, đồng thời phản ảnh khả năng quản trị tín dụng của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện năng lực quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng càng k m, và ngược lại
Trang 2222
Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức <= 5% Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng chưa đánh giá hết được hoạt động tín dụng tại một ngân hàng Bởi bên cạnh những ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do thực hiện tốt các khâu trong quay trình tín dụng, còn có những ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp do cho vay đảo nợ hoặc không chuyển được nợ quá hạn đúng quy định, …
Bên cạnh chỉ tiêu về nợ quá hạn, người ta còn dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để phân tích thực chất tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục tín dụng của ngân hàng, bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ xấu trên 100 đồng dư nợ tín dụng Tổng nợ xấu của ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn Chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực trạng tình hình tín dụng tại ngân hàng
Theo quy định của NHNN, thì tỷ lệ nợ xấu an toàn là mức dưới 3% Nếu tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng >= 3% cho thấy rủi ro tín dụng trong hoạt động tại ngân hàng rất lớn Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, Vì thế tỷ lệ nợ xấu càng cao thì công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng càng k m và ngược lại
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu trên nợ quá hạn = x 100%
Nợ quá hạn
Tỷ lệ này cho ta biết trong 100 đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng nợ xấu
Tỷ lệ này càng cao thì càng chứng tỏ nợ xấu đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ quá hạn; tương đương với việc thu nợ của ngân hàng sẽ khó khăn hơn, thậm chí là không thu hồi được Điều này phản ánh chất lượng tín dụng kém, đồng thời thể hiện công tác quản trị rủi ro tín dụng còn hạn chế tại ngân hàng
Trang 23Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ =
Doanh số cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả trong việc thu nợ của ngân hàng trong một thời gian nhất định Nó cho thấy cứ 1 đồng tài trợ cho khách hàng thì thu về được bao
nhiêu đồng vốn hệ số này càng cao thì khả năng thu hồi nợ của ngân hàng càng tốt,
cũng như năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng đạt hiệu quả cao và ngược lại
DPRR tín dụng đƣợc trích
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro = x 100%
Dƣ nợ bình quân
Chỉ số này cho biết bao nhiêu % dư nợ được trích lập dự phòng Lợi nhuận đang
là nguyên nhân hàng đầu khiến các ngân hàng tính toán, cân nhắc có nên trích đúng,
đủ dự phòng rủi ro hằng năm Các ngân hàng luôn chọn sức ép trong kinh doanh khiến
họ phải giấu đi những khoản nợ đáng lẽ phải trích dự phòng rủi ro một cách sòng
phẳng Khi dự phòng tăng lên, đồng nghĩa việc bảo đảm an toàn cho ngân hàng đang
lớn hơn sức ép lợi nhuận từ cổ đông, quản lý của Nhà nước về dự phòng rủi ro cũng
đang chặt chẽ hơn Vì thế, chỉ số càng cao cho thấy công tác quản trị rủi ro tín dụng
của ngân hàng đang tiêu cực và rủi ro tín dụng cao, chỉ số này thấp phản ánh chất
lượng cải thiện của các khoản nợ trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng
đòi nợ Tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng tín dụng càng tốt, chứng tỏ công tác quản trị
rủi ro tín dụng tại ngân hàng tốt và ngược lại
Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = x 100%
Dƣ nợ bình quân
Trong đó:
Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ
Dư nợ tín dụng bình quân trong kỳ =
2
Trang 2424
Vòng quay vốn tín dụng thể hiện tốc độ luân chuyển các khoản vay mà ngân hàng cấp cho nền kinh tế, nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết ngân hàng có thể thu nợ được khách hàng bao nhiêu để lại cấp tín dụng mới
Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng phản ánh một đồng vốn được ngân hàng sử dụng cho vay mấy lần trong một năm và cũng đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm Vòng quay càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất lưu thông hàng hóa, đồng nghĩa với khả năng thu hồi nợ để cấp tín dụng mới đang tăng lên, cũng như công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng
có hiệu quả tốt Với một số vốn nhất định, vòng quay vốn tín dụng càng nhanh thì ngân hàng càng tiết kiệm được chi phí, tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác, do đó, càng tạo ra nhiều lợi nhuận cho ngân hàng và cũng đảm bảo được khả năng trả nợ của các khách hàng vay vốn, giúp cho ngân hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng xảy ra
Vốn cấp I + Vốn cấp II
Tài sản có đã điều chỉnh rủi ro
Trong đó:
Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp ; quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ; quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ; lợi nhuận không chia (lợi nhuận giữ lại); thặng dư cổ phần trừ đi phần mua cổ phiếu quỹ (nếu có) và loại trừ các khoản như lợi thế thương mại; khoản lỗ kinh doanh bao gồm các khoản lỗ lũy kế; các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác, công ty con
Vốn cấp 2 bao gồm 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định; 40% số
dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính; quỹ dự phòng tài chính (tối đa bằng 1,25% tổng tài sản “có” rủi ro của ngân hàng); trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn một số quy định như thời hạn tối thiểu 5 năm, không được đảm bảo bằng tài sản của chính TCTD, v.v…và các công cụ nợ khác thỏa mãn những điều kiện theo luật định (không vượt quá 50% giá trị vốn cấp 1) Vốn cấp 2 có giá trị tối đa bằng vốn cấp 1
Tài sản “có” rủi ro bao gồm cả tài sản nội bảng và tài sản ngoại bảng Các tài
sản ngoại bảng như các khoản cam kết, bảo lãnh thư tín dụng, thanh toán, hoặc các hợp đồng giao dịch ngoại tệ, lãi suất, v.v… sẽ được quy hệ số chuyển đổi để quy về giá trị tài sản nội bảng, sau đó, chúng cũng được gán trọng số rủi ro, và quy về giá trị tài sản rủi ro có trọng số để tính tổng giá trị tài sản có rủi ro Tổng giá trị tài sản có rủi
ro sẽ khác tổng giá trị tài sản của ngân hàng Các tài sản có rủi ro của ngân hàng được
Trang 25phân tỷ trọng rủi ro cho từng loại, tùy theo mức độ rủi ro khác nhau mà trọng số rủi ro
có thể dao động quanh các mức 0%, 20%, 50% và 100% Ví dụ: Tiền mặt, vàng vốn rất thanh khoản, và chúng được xem có trọng số rủi ro bằng 0% Trong khi đó, các khoản cho vay khách hàng được coi là một trong những tài sản có rủi ro cao nhất, và trọng số rủi ro của chúng bằng 100%
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng, được tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng (vốn nòng cốt và vốn bổ sung) so với tổng tài sản đã điều chỉnh của ngân hàng
Chính vì thế, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Khi tính toán tỉ lệ
an toàn vốn tối thiểu, người ta x t đến hai loại vốn: vốn cấp I (vốn nòng cốt) và vốn cấp II (vốn bổ sung , trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn Ngoài yêu cầu đảm bảo cho CAR từ 8% trở nên, các ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không được vượt quá 100% vốn cấp I Hệ số CAR >= 8% cho thấy khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn cao và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành tốt Hay nói cách khác, khi hệ số này >= 8% tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa
tự bảo vệ ngân hàng, vừa bảo vệ những người gửi tiền
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân
- Đối với lãnh đạo cấp cao cần phải có khả năng quản lý, khả năng tổ chức và phân cấp hoạt động, khả năng tổng hợp và phân tích để có thể nắm chắc các thông tin về mọi hoạt động của hệ thống Từ đó đặt ra chiến lược phát triển và
tổ chức thực hiện các chính sách đó
- Đối với cán bộ ngân hàng trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh cần có khả năng tổ chức hoạt động, khả năng điều hành, khả năng nhận biết, đánh giá các rủi ro trong hoạt động
Trang 2626
- Đối với các nhân viên ngân hàng và đặc biệt là các cán bộ tín dụng ngân hàng cần phải có khả năng đánh giá các rủi ro liên quan tới từng đối tượng khách hàng
Cán bộ ngân hàng luôn phải đề cao đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn lên hàng đầu, nếu điều này bị vi phạm sẽ gây nên rủi ro tác nghiệp và những hậu quả lớn đối với ngân hàng nói chung, tạo ra thêm những lỗ hổng khó kiểm soát trong hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nói riêng
Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro
Đối với ngân hàng thương mại, rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng có liên quan đến mọi hoạt động của ngân hàng Do đó đặt ra yêu cầu đối với công tác quản trị rủi ro phải được tổ chức chặt chẽ và có hệ thống, có sự phân cấp và phân
quyền nhiệm vụ cũng như trách nhiệm cụ thể đối với các cấp cán bộ trong ngân hàng
Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng phải đảm bảo sự giám sát và kiểm soát đối với mọi hoạt động của hệ thống cũng như có thể đánh giá và nhận định những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai
Một ngân hàng có bộ máy quản trị rủi ro tín dụng khoa học, có tính tổ chức cao giúp ngân hàng đánh giá và kiểm soát rủi ro tín dụng một cách nhanh chóng, kịp thời
để đưa ra các giải pháp hạn chế, tài trợ tủi ro Đó là cơ sở đảm bảo cho mọi hoạt động của ngân hàng có hiệu quả và ngược lại, nếu ngân hàng có bộ máy hoạt động rời rạc, lạc hậu thì sẽ không có đủ khả năng để nhận biết rủi ro kịp thời, cũng như không thể
xử lý được khi rủi ro tín dụng xảy ra
Công nghệ trong quản trị rủi ro tín dụng
Công nghệ ngân hàng hiện đại là một trong những đòi hỏi quan trọng hàng đầu
để hỗ trợ hoạt động quản trị đạt hiệu quả, cùng với sự hỗ trợ của hệ thống phần mềm hiện đại, khoa học thì mọi hoạt động thu thập và xử lý thông tin có thể được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, từ đó giúp cho việc ra quyết định của các cấp được kịp thời, góp phần giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị rủi ro cho ngân hàng
Trang 27Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được cụ thể hóa thông qua quy trình và chính sách tín dụng của ngân hàng đó Mỗi ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng và quy trình tín dụng thông suốt để việc hạn chế và kiểm soát rủi ro được kịp thời và hiệu quả
Tính hiệu quả trong hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng
Hệ thống này đóng vai trò quan trọng đối với công tác quản trị rủi ro nói chung
và công tác nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng nói riêng, nó quyết định tính chính xác và tin cậy của hệ thống thông tin trong nội bộ hệ thống ngân hàng
Hệ thống kiểm soát nội bộ phải được hệ thống một cách chặt chẽ và có sự phân cấp quyền giữa bộ phận quản lý và bộ phận điều hành, đảm bảo tính độc lập trong hoạt động Hệ thống kiểm soát nội bộ gặp vấn đề sẽ tạo ra những nguyên nhân chủ quan từ chính ngân hàng làm cho rủi ro tín dụng gia tăng và k o theo đó việc quản trị rủi ro với một hệ thống không đồng nhất sẽ không bao giờ có hiệu quả
Tính liên kết giữa các phòng ban, các chi nhánh hay các cấp lãnh đạo trong cùng một hệ thống ngân hàng
Để có được một hệ thống hoạt động tốt trong ngân hàng thì các chính sách và quy định của ngân hàng phải được thực thi một cách đồng bộ, nhất quán, tránh sự chồng chéo giữ các cấp và các bộ phận
Giữa hội sở chính và các chi nhánh, cũng như các phòng ban phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau Từ đó tạo điều kiện cho các nguồn thông tin được tập trung và tạo hiệu quả hoạt động cao nhất cho toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chúng và hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nói riêng
Năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh trên thị trường
Năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh của một ngân hàng được thể hiện ở quy mô vốn chủ sở hữu, thị phần, mạng lưới chi nhánh, …
Một ngân hàng có năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh lớn có thể dễ dàng tham gia vào các hoạt động mang tính sinh lời cao vì họ có thể dễ dàng chống đỡ trước những rủi ro trong kinh doanh và những thay đổi của môi trường hoạt động Do đó, đây là một yếu tố quan trọng góp phần quyết định kết quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng của một ngân hàng, đặc biệt là khâu kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro
1.2.5.2 Từ phía khách hàng
Ý thức khi vay vốn của khách hàng: Nhu cầu tín dụng và thái độ trách nhiệm
của bản thân khách hàng đối với việc sử dụng và trả nợ ngân hàng - đây là yếu tố quan trọng cần được xem x t trước tiên khi phân tích tín dụng và đánh giá mức độ rủi ro tín
Trang 2828
dụng để đưa ra những biện pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Khách hàng có ý thức trả nợ và thực hiện các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động và giúp cho công tác quản trị rủi ro tại ngân hàng được dễ đang hơn và ngược lại, nếu khách hàng không có ý thức trả nợ cho ngân hàng, đồng nghĩa với việc nợ xấu gia tăng, ngân hàng sẽ phải tốn thêm nhân lực và chi phí để xử lý khoản vay đó
Loại hình kinh doanh của khách hàng: Đặc thù về từng lĩnh vực ngành nghề
của doanh nghiệp - tính chất đặc thù của từng lĩnh vực ngành nghề và thị trường hoạt động cũng như các yếu tố về năng lực quản lý, tài chính của doanh nghiệp quyết định mức độ rủi ro tín dụng của từng khoản tiền vay
Cung cấp thông tin tín dụng: Ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc
cung cấp và đảm bảo tính chính xác của thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu Quản trị rủi ro đòi hỏi phải đánh giá và giám sát hoạt động sử dụng vốn của doanh nghiệp thường xuyên, mà nguồn thông tin quan trọng nhất là nguồn thông tin do doanh nghiệp cung cấp Tuy nhiên độ chính xác và tin cậy của các thông tin này phụ thuộc và khả năng và ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp các thông tin đó Thu thập được nguồn thông tin xác thực, ngân hàng sẽ đánh giá nợ một cách chính xác, nhận biết rủi ro kịp thời và có những biện pháp hợp lý cho công tác quản trị rủi ro tín dụng
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Kết thúc chương một, đề tài đã hệ thống lại cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM Đề tài đã nghiên cứu bản chất, nguyên nhân rủi ro tín dụng, chỉ ra ảnh hưởng của tín dụng đối với ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế, đồng thời, cũng nêu ra nội dung quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM
Từ những cơ sở lý luận nêu trên, chương hai sẽ tập trung vào việc phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng và làm rõ những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh TP Hưng Yên giai đoạn 2012 - 2014, tập trung cho sản phẩm cho vay DNVVN
Trang 302.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Agribank là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Tính đến 31/12/2014, vị thế dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳng định trên nhiều phương diện:
- Tổng nguồn vốn: 634.505 tỷ đồng
- Vốn tự có: 29.605 tỷ đồng
- Tổng tài sản: trên 70.507 tỷ đồng
- Tổng dư nợ: 530.600 tỷ đồng
- Mạng lưới hoạt động: gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc
- Nhân sự: gần 40.000 cán bộ, nhân viên
Agribank là một trong số các ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất Việt Nam với trên 1.000 ngân hàng đại lý tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong những năm tới, Agribank xác định kiên trì mục tiêu và định hướng phát triển theo hướng tập đoàn tài chính ngân hàng mạnh, hiện đại có uy tín trong nước, vươn tầm ảnh hưởng ra thị trường tài chính khu vực và thế giới
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Thành phố Hưng Yên
NHNo&PTNT chi nhánh TP Hưng Yên là một chi nhánh trực thuộc NHNo& PTNT tỉnh Hưng Yên, là một ngân hàng cấp thành phố trực thuộc tỉnh và bắt đầu đi vào hoạt động kinh doanh từ ngày 20 tháng 12 năm 1996 cùng với việc tái lập tỉnh Hưng Yên Mặc dù chi nhánh đã có hơn 17 năm hoạt động trên lĩnh vực tài chính tiền
tệ gặp nhiều khó khăn nhưng toàn thể cán bộ nhân viên đã cố gắng đoàn kết đưa chi nhánh đi lên Tuy chức năng và nhiệm vụ của chi nhánh có những thay đổi để phù hợp với thị trường, song về bản chất Agribank chi nhánh TP Hưng Yên vẫn là một ngân
Trang 31hàng quốc doanh mà hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn Ngay từ những ngày đầu thành lập NHNo&PTNT chi nhánh TP Hưng Yên gặp rất nhiều khó khăn, từ phương tiện làm việc đến đội ngũ cán bộ công nhân viên nhưng lãnh đạo chi nhánh đã biết chủ động nắm bắt tình hình và vượt qua khó khăn ban đầu Năm 1995 là năm kết thúc kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (1990 - 1995) và bắt đầu
từ năm 1996 ngân hàng ra đời, trong lúc nhà nước chuẩn bị kế hoạch kinh tế xã hội
1996 - 2000 Việc ra đời ngân hàng tuy mới nhưng cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách của địa phương
NHNo&PTNT chi nhánh TP Hưng Yên ra đời sau các ngân hàng cùng đóng trên địa bàn như Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh TP Hưng Yên, Ngân hàng TMCP Đầu tư phát triển Việt Nam chi nhánh TP Hưng Yên… Cơ sở vật chất kĩ thuật ban đầu đi vào hoạt động còn thiếu thốn, xuất phát từ con số không, chưa tìm được khách hàng… Hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và của NHNo&PTNT nói riêng gặp không ít khó khăn Trong khi đó địa bàn nhỏ hẹp lại có nhiều tổ chức tín dụng nên thị phần kinh doanh của ngân hàng bị chia s Điều đó ảnh hưởng không ít đến hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh
TP Hưng Yên Để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, ngân hàng đã khắc phục khó khăn, động viên các cán bộ quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu Ban giám đốc ngân hàng đã chỉ đạo sát sao về công tác mở rộng mạng lưới hoạt động, công tác khơi tăng nguồn vốn, mở rộng tín dụng đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng và an toàn vốn Cụ thể về công tác huy động vốn, đa dạng hình thức huy động và thời gian hoạt động, có chế độ khuyến khích vật chất đối với khách hàng có số dư tiền gửi lớn, ổn định, trang bị công nghệ tiên tiến, đổi mới phong cách phục vụ khách hàng
NHNo&PTNT chi nhánh TP Hưng Yên đã hòa nhịp kịp thời với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và với phương châm “Hiệu quả kinh doanh của bạn hàng là mục tiêu hoạt động của ngân hàng”, chi nhánh đã chú trọng đổi mới trong mọi lĩnh vực hoạt động, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội
2.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Thành phố Hƣng Yên giai đoạn năm 2012 - 2014
2.2.1 Khái quát về tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Thành phố Hưng Yên giai đoạn năm 2012 - 2014
2.2.1.1 Tình hình doanh số cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 3232
(1) Phân theo thời gian
Bảng 2.1 Doanh số cho vay DNVVN phân theo thời gian
giai đoạn năm 2012 - 2014
Nhìn vào bảng và biểu đồ trên ta thấy, tổng doanh số cho vay DNVVN tăng
mạnh từ năm 2012 đến năm 2014 Năm 2012, doanh số cho vay DNVVN là
170.015,22 triệu đồng Trong năm 2013 doanh số này đã tăng thêm 35.255,79 triệu
đồng so với năm trước và tương ứng với mức tăng là 20,74% Do năm 2013, trong bối
cảnh nền Kinh tế - Xã hội trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng dưới sự
lãnh đạo của các bộ, ngành Trung ương chỉ đạo quyết liệt thực hiện kế hoạch phát triển
Kinh tế - Xã hội thì các doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng trong địa bàn
TP Hưng Yên đã mở rộng quy mô và số lượng một cách nhanh chóng trong mọi lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ Đặc biệt là các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp Sang đến năm 2014, con số này đạt tới 368.625,98 triệu đồng; tăng
163.354,97 triệu đồng so với năm 2013 và tương ứng với mức tăng là 79,58% Giai
đoạn 2011 - 2015, doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh tăng khá nhanh cả về số
lượng, quy mô, loại hình và chất lượng hoạt động Tính đến hết năm 2014, trên địa bàn
tỉnh có 5.927 doanh nghiệp đăng ký thành lập với tổng số vốn đăng ký 50.361 tỷ đồng
và 3.110 triệu USD; trong đó gần 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa Từ đó thúc đẩy
đầu tư, tác động không nhỏ đến doanh số cho vay DNVVN tại ngân hàng Con số trên
thể hiện AgriBank chi nhánh TP Hưng Yên đã làm khá tốt công việc tìm đầu ra cho
nguồn vốn, cũng như sự phát triển của các DNVVN trong khu vực
Ngoài ra, để nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh, Chi nhánh đã
thực hiện khoán chỉ tiêu tùy vào từng thời điểm, cho từng bộ phận cụ thể để cho điểm
cán bộ nhân viên Đối với CBTD, số điểm đạt tối đa là 70 điểm, dựa vào các chỉ tiêu
như tăng trưởng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, thu nợ xử lý rủi ro, thu lãi cho
vay,… cuối hàng tháng và cuối hàng năm Chi nhánh sẽ cho điểm cán bộ và phân phối
Trang 33tiền lương theo tỷ lệ tăng trưởng mà cán bộ đạt được, nếu không đạt đủ chỉ tiêu thì cán
bộ sẽ bị trừ tối đa 50% tổng số điểm Vì thế, để tăng trưởng nhanh doanh số cho vay
cũng như khả năng thu hồi nợ thì CBTD luôn ưu tiên những khoản vay trong ngắn hạn,
nên doanh số cho vay trong ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay
(trong 3 năm lần lượt là 73,56%; 75,03%; 76,51% và tăng đều qua các năm Đây cũng
là lý do doanh số cho vay DNVVN trong dài hạn có tỷ trọng thấp hơn và có mức tăng
năm hoạt động, đương đầu với không ít khó khăn, vì thế sự xuất hiện các khoản cho
vay có đảm bảo bằng tài sản chiếm phần lớn trên tổng doanh số cho vay và tăng đều
trong quá trình hoạt động Nhưng bên cạnh đó các khoản vay không có tài sản đảm
bảo cũng tăng dần qua các năm
Doanh số cho vay DNVVN có tài sản đảm bảo năm 2013 đạt 185.462,36 triệu đồng, so với năm 2012 đã tăng thêm 33.026,71 triệu đồng tương ứng với mức tăng
21,67% Sang đến năm 2014, doanh số lên tới 339.403,80 triệu đồng tương ứng với
mức tăng 83,02 triệu so với năm 2013 Cho vay không có tài sản đảm bảo có mức tăng
ít hơn so với khoản vay có tài sản đảm bảo Cụ thể là năm 2013 tăng 12,68% so với
năm 2012 và năm 2014 tăng 47,39% so với năm 2013
Nhìn chung, tình hình cho vay DNVVN tại NHNo&PTNT chinh nhánh TP Hưng Yên giai đoạn 2012 - 2014 có mức tăng trưởng khá cao Nguyên nhân là do Chi nhánh
đã có những chính sách đúng đắn, chủ yếu tập trung cho vay các DNVVN có tiềm lực
Trang 3434
về tài chính, nhu cầu vay vốn nhiều, phần lớn mục đích vay là để bổ sung vốn lưu
động, vay ngắn hạn và vay với hình thức có đảm bảo bằng tài sản
2.2.1.2 Tình hình doanh số thu nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
(1) Phân theo thời gian
Bảng 2.3 Doanh số thu nợ DNVVN phân theo thời gian giai đoạn năm 2012 - 2014
Nhìn vào bảng trên ta thấy, doanh số thu nợ trong cho vay DNVVN tại Chi
nhánh cũng tăng qua các năm Năm 2012 ở mức 145.932,75 triệu đồng; nghĩa là sang
đến năm 2013 đã tăng thêm 21.225,94 triệu đồng tương ứng với mức tăng 14,55%;
năm 2014 đạt 276.703,76 triệu đồng, so với năm 2013 đã tăng thêm 109.545,07 triệu
đồng tương ứng với mức tăng 65,53% Tuy thu nợ có tăng thêm, nhưng x t thấy con
số tăng thêm này vẫn chưa được cân đối với mức tăng của doanh số cho vay Từ đây
có thể thấy được trong ngân hàng đã xuất hiện rủi ro tín dụng và cần phải chú ý vào
vấn đề năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Từ tỷ trọng và mức tăng của doanh số cho vay, doanh số thu nợ ngắn hạn tăng
dần qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số thu nợ, nhưng con số này
tăng nhiều nhất vào năm 2014 đạt 276.703,76 triệu đồng, tăng 65,53 % so với năm
2013 Kết quả này phù hợp với doanh số cho vay Các khoản vay trong giai đoạn năm
2012 - 2014 chủ yếu là cho vay trong ngắn nên việc thu hồi nợ cũng được tiến hành dễ
dàng hơn Đặc biệt là từ năm 2013 đến 2014, thu nợ trong ngắn hạn và dài hạn đều
tăng trưởng mạnh (ngắn hạn tăng 65,90%; dài hạn tăng 63,95% Một phần nguyên
nhân là do chính sách cho điểm CBTD của Chi nhánh đã góp phần thúc đẩy hiệu quả
làm việc của nhân viên
Trang 35(2) Phân theo TS đảm bảo Bảng 2.4 Doanh số thu nợ DNVVN phân theo TSĐB giai đoạn năm 2012 - 2014
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
tài sản đảm bảo cũng chiếm tỷ trọng lớn hơn không có tài sản đảm bảo Thu nợ cho
vay DNVVN có tài sản đảm bảo năm 2012 là 133.207,41 triệu đồng, nhưng bên không
có tài sản đảm bảo chỉ có 12.725,34 triệu đồng Sang năm 2013 con số của từng loại
tăng thêm lần lượt là 19.425,19 triệu đồng và 1.800,75 triệu đồng tương ứng với mức
tăng là 14,58% và 14,15% Năm 2014, thu nợ cho vay có TSĐB tăng 66,01% và thu
nợ cho vay không có TSĐB tăng 60,56% so với năm 2013
Nhìn chung, tình hình thu nợ trong cho vay DNVVN tại Chi nhánh cũng được cải thiện đáng kể qua các năm, nhưng so với mức tăng của doanh số cho vay thì con số
này vẫn được cho là còn hạn chế Một phần là do nền kinh tế toàn cầu nói chung và
nền kinh tế tại địa bàn nói riêng chưa được ổn định, một phần do chính sách và cách
thức quản trị rủi ro tín dụng tại bản thân Chi nhánh còn hạn chế, chưa đạt được đúng
những yêu cầu, chỉ tiêu do Trung ương đề ra, tạo ra sự chênh lệch khá nhiều giữa việc
cho vay đi và thu nợ về như trên
2.2.1.3 Tình hình dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để tiếp tục tăng trưởng có chất lượng, cơ cấu tín dụng chuyển dịch tích cực, tập trung mạnh vào lĩnh vực truyền thống, sở trường của Agribank đó là nông nghiệp,
nông thôn, sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ và NHNN
Trang 3636
(1) Phân theo thời gian
Bảng 2.5 Dư nợ cho vay DNVVN phân theo thời gian giai đoạn năm 2012 - 2014
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Dư nợ cho vay DNVVN trong ngắn hạn năm 2012 là 92.586,88 triệu đồng Năm
2013 tăng thêm 18.465,86 triệu đồng so với năm 2012 tương ứng với mức tăng
19,94% Năm 2014 tăng thêm 57.159,23 triệu đồng so với năm 2013 và tương ứng với
mức tăng 51, 47% Dư nợ ngắn hạn trong 2 năm qua chủ yếu tập trung trong lĩnh vực
nông nghiệp, công thương nghiệp
Dư nợ cho vay trong trung và dài dạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn do các khoản cho
vay trung, dài hạn có đặc điểm là không thể thu hồi nợ hết ngay trong năm mà chỉ thu
một phần, nhưng cũng đã tăng dần qua từng năm Dư nợ này tại chi nhánh trong thời
gian qua chủ yếu tập trung ở ngành nông nghiệp và các DNVVN hoạt động trong lĩnh
vực xây dựng nhà ở dân dụng
Nguyên nhân do giai đoạn năm 2012 - 2014 hàng loạt các DNVVN mới ra đời tại
địa bàn TP Hưng Yên nên nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng tăng và có đủ
điều kiện để Ngân hàng cho vay nên đã được đáp ứng Bên cạnh đó, mỗi năm Chi
nhánh sẽ xem x t và đưa ra những gói hỗ trợ giảm lãi suất vay cho doanh nghiệp trong
một thời gian nhất định trong năm, áp dụng cho các khoản vay đáp ứng các điều kiện
cho vay theo quy định hiện hành; hoặc các khoản vay từ 30 tỷ đồng trở lên (vay đầu tư
hoặc vay từng lần); hoặc các khoản vay có dư nợ tăng lên tối thiểu 30 tỷ đồng trong
thời gian gần nhất với thời điểm Chi nhánh đang áp dụng gói giảm lãi suất Hoạt động
này đã góp phần làm tăng dư nợ cho Chi nhánh nói chung và cho toàn bộ hệ thống
NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng, đặc biệt là dư nợ trong dài hạn từ năm 2013 đến
2014 đã có mức tăng trưởng cao (78,68%)
Trang 37(2) Phân theo TS đảm bảo Bảng 2.6 Dư nợ cho vay DNVVN phân theo TSĐB giai đoạn năm 2012 - 2014
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%) Tuyệt đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)
Như đã nói, các khoản cho vay có tài sản đảm bảo luôn được ưu tiên nhất định,
để góp phần hạn chế tổn thất cho ngân hàng khi khoản cho vay gặp vấn đề nên dư nợ
cho vay có tài sản đảm bảo cũng chiếm tỉ trọng cao hơn không có tài sản đảm bảo
Năm 2012, dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo là 83.624,44 triệu đồng; năm 2013 đã
tăng lên 116.454,20 triệu đồng tương ứng với mức tăng 39,26% so với năm 2012; năm
2014 tăng 73,89% so với năm 2013 Bên cạnh đó thì cho vay không có tài sản đảm bảo
năm 2012 chỉ là 33.496,62 triệu đồng; năm 2013 tăng 15,77% so với năm 2012 và năm
2014 tăng thêm 15,14% so với năm 2013
(3) Phân theo nhóm nợ Bảng 2.7 Dư nợ cho vay DNVVN phân theo nhóm nợ giai đoạn năm 2012 - 2014
Trang 3838
Trong điều kiện hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của NHTM, rủi ro tín dụng là rủi ro chủ yếu mà ngân hàng phải đối mặt Rủi ro tín dụng được thể hiện rõ nhất thông qua việc phân loại nợ theo từng nhóm tại mỗi ngân hàng, góp phần giúp ngân hàng có thể theo dõi chi tiết tình hình các khoản nợ vay để đưa ra những biện pháp kịp thời giảm thiểu tối đa tổn thất cho ngân hàng Qua bảng số liệu trên ta thấy, dư nợ cho vay DNVVN phân theo nhóm nợ tại NHNo&PTNT chi nhánh TP Hưng Yên giai đoạn năm 2012 - 2014 ở tất cả các nhóm
nợ đều tăng Điều đáng chú ý và lo ngại ở đây là nợ trong 2 nhóm cuối (nhóm 4 và nhóm 5) có mức tăng cao nhất, chứng tỏ nợ xấu tại ngân hàng trong giai đoạn này rất cần chú ý đến Tình hình cụ thể như sau:
- Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Đây là nhóm nợ chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng dư nợ tại ngân hàng (năm 2012 đạt 87,51%, năm 2013 là 87,26%, năm 2014 là 87,12% trên tổng dư nợ) Năm 2012, dư nợ nhóm 1 là 102.488,72 triệu đồng Năm 2013 đã tăng lên 135.453,47 triệu đồng; so với năm 2012 tăng thêm 32.964,75 triệu đồng tương ứng với mức tăng 32,16% Sang đến năm 2014, doanh số cho vay tăng mạnh nên tổng dư nợ cho vay tại nhóm 1 cũng tăng 58,96% so với năm 2013
- Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Năm 2012 nợ nhóm 2 có số dư nợ là 10.910,13
triệu đồng; nghĩa là năm 2013 con số này đã tăng thêm 3,905,115 triệu đồng
so với năm tước tương ứng với mức tăng 35,79% Năm 2014 lại tăng thêm 8.514,06 triệu đồng so với năm 2013 tương ứng với mức tăng 57,47%
Biểu đồ 2.1 Dƣ nợ cho vay DNVVN phân theo nhóm nợ
giai đoạn năm 2012 - 2014
(Nguồn: Phòng kế toán)