1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU

88 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 4,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần biết rõ số lượng và giá trị của mỗi loại tài sản ngắn hạn để sử dụng hợp lý và đạt hiệu quả cao.. Thông thường là phân chi

Trang 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Tài sản ngắn hạn

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về tài sản ngắn hạn

Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư liệu sản xuất mà nó bao gồm hai bộ phận chính là tư liệu lao động và đối tượng lao động

Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất thì đối tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và sẽ được thay thể bởi những đối tượng lao động khác ở những chu kỳ tiếp theo

Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp thành thực thể của sản phẩm, một số khác lại bị mất đi như các loại nhiên liệu Bât kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có các đối tượng lao động Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp

Tón lại, tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kì của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kì kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là tài sản ngắn hạn

[1]

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường là từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần biết rõ số lượng và giá trị của mỗi loại tài sản ngắn hạn để sử dụng hợp lý và đạt hiệu quả cao

1.1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Vận động và luân chuyển không ngừng

TSNH tham gia vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh: dự trữ - sản xuất – lưu thông Quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài sản ngắn hạn Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần

Trang 2

2

vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hòa thành một vòng chu chuyển

Có tính thanh khoản cao

TSNH dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ để đáp ứng nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nà không tốn chi phí lớn nên cũng rất phức tạp và khó quản lý, tránh thất thoát

Được phân bố trong tất cả các khâu

TSNH được phân bổ trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất với tư cách là đối tượng lao động hoặc tư liệu lao động, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục và không bị gián đoạn, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán

và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản

Đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất

Các khoản đầu tư TSNH thường có thể điều chỉnh tăng giảm tùy thuộc vào sự biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh nên có thể nhanh chóng ứng biên theo tình hình hoạt động của doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của tài sản ngắn hạn

TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Tài sản ngắn hạn giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định và tránh lãng phí, tổn thất vốn, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản

Do vậy, TSNH là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nhiệp Ngoài việc đầu tư cho các tài sản dài hạn như máy móc, nhà xưởng,… doanh nghiệp còn phải bỏ ra một khoản tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy có thể thấy TSNH là điều kiện tiên quyết cần có để doanh nghiệp thực hiệc hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường và liên tục Lượng TSNH có hợp lý đồng bộ thì mới không làm gián đoạn quá trình sản xuất

Bên cạnh đó, TSNH cũng là một công cụ giúp phản ánh quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Nhu cầu lượng hàng hóa, vật tư dự trữ ở các khâu nhiều hay ít phản ánh nhu cầu TSNH TSNH luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số hàng hóa vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian luân chuyển và mức độ luân chuyển có hợp lý và đạt yêu cầu hay không Bở vậy thông qua sự vận động của

Trang 3

tài sản ngắn hạn có thể đánh giá được hiện trạng sử dụng TSNH của doanh nghiệp có hợp lý hay không

Không những thế, TSNH còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được tự chủ trong việc sử dụng vốn, vì vật khi muốn mở rộng quy mô doanh nghiệp thì cần có thêm một lượng vật tư hàng hóa nhất định để dự trữ và đưa và sản xuất Đặc biệt còn giúp cho doanh nghiệp nắm được các cơ hội kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thanh toán và duy trì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, giúp doanh nghiệp tránh khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán và góp phần chặn đứng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp

Vì vậy có thể nói TSNH góp phần quan trọng, giúp doanh nghiệp hoạt động bình thường và liên tục, ổn định TSNH là không thể thay thế được trong bất kì loại hình doanh nghiệp nào, thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào Do đó quản lý TSNH là hoạt động không thể thiếu trong quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích tình hình TSNH và từ đó đưa

ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

1.1.3 Phân loại tài sản ngắn hạn

Tùy theo mục đích nghiên cứu mà TSNH được phân chia theo các tiêu chí khác nhau Thông thường là phân chia theo hai cách với các tiêu chí sau đây:

Phân loại tài sản ngắn hạn theo vai trò của TSNH đối với quá trình sản xuất kinh doanh

Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, TSNH được chia thành:

- Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán

- Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong

khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…

- Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại

trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng dự trữ trong kho, hàng gửi bán, tài sản trong quá trình lưu thông như tiền mặt, các khoản nợ phải thu của khách hàng

Trang 4

4

Cách phân chia này giúp xác định tỷ trọng của TSNH trong từng khâu Do đó, nhà quản trị sẽ có những điều chỉnh kịp thời khi có những dấu hiệu bất ổn trong việc phân bổ TSNH ở từng khâu Đặc biệt là tại khâu lưu thông vì khi mà tỷ trọng TSNH trong khâu này tăng lên đồng nghĩ với việc doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn

Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán

Đây có thể nói là cách phân loại phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam Tài sản ngắn hạn được phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán Theo cách phân loại này, TSNH bao gồm các thành phần sau:

- Tiền mặt

Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng Tiền mặt được sử dụng để trả lương cho cán bộ công nhân viên, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ

Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất

- Đầu tư tài chính ngắn hạn

Tài sản tài chính ngắn hạn bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kì kinh doanh như tín phiếu kho Bạc, Kỳ phiếu ngân hàng, hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời

và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm

- Phải thu ngắn hạn

Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu của khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm

Trang 5

1.2 Tổng quan về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay đều phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế Có thể nói nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp Đó cũng là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại và phát triển

Theo P.Samuelson và W.Nordhaus, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi không thể tăng sản lượng của một loạt hàng hoá này mà không cắt giảm một loạt hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó." Quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất

xã hội, việc phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao

Có tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỉ lệ giữa sự tăng lên của 2 đại lượng kết quả và chi phí Quan điểm này chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải hiệu quả của toàn bộ phần tham gia vào quá trình kinh tế

Có quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả

và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này là Manfred Kuhn

"Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế, nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí

Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí

Trang 6

6

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất kinh doanh

Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì những mục tiêu khác nhau như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm một mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu Để đạt được mục tiêu này, tất cả các doanh nghiệp cần phải nỗ lực khai thác triệt để và có hiệu quả nguồn tài sản của mình Như vậy, có thể thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một thước đo giúp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất Hay có thể hiểu rằng hiệu quả sử dụng TSNH chính là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được xét trong một kì kế toán nhất định

Để đảm bảo mục đích trên, doanh nghiệp cần phải có những chính sách sử dụng hợp lý, hiệu quả từng đồng TSNH, làm sao để TSNH mỗi năm mua được nhiều nguyên, nhiên,vật liệu được hơn, đồng thời tăng mức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ góp phần nâng cao doanh thu

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH

Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ giai đoạn cung cấp dùng tiền

để mua nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, sau đó và tiến hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Muốn cho quá trình sản xuất liên tục, doanh nghiệp cần có một lượng vốn lớn nhất định để đầu tư vào từng giai đoạn của quá trình sản xuất Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu như Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu thì TSNH đóng một vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng các loại TSNH một cách hiệu quả

Để đạt được hiệu quả sử dụng TSNH đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cố gắng và

có nhưng chiến lược hợp lý từ khâu sản xuất tới khâu cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH là yêu cầu tất yếu, quan trọng của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay

1.2.3 Thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Để phân tích được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp, thông tin

sử dụng cần phải chính xác và khách quan, đảm bảo mọi chỉ tiêu đều được tính toán một cách thuận tiện và dễ dàng nhất Có hai nguồn thông tin được sử dụng đó là nguồn thông tin đầu vào và nguồn thông tin đầu ra, trong đó, bao gồm “Bảng cân đối kế toán” với hệ thống khoản mục tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn và “Báo cáo kết quả kinh

Trang 7

doanh” của doanh nghiệp” trong giai đoạn 2012-2014 Không chỉ giới hạn trong phạm

vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà còn mở rộng sang các thông tin chung về kinh

tế, thuế, tiền tệ; các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp, mà cụ thể là ngành hóa chất

1.2.4 Phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh

nghiệp

1.2.4.1 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu và được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu cần phân tích Để tiến hành so sánh cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính Như

sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh, mục tiêu so sánh

-Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để

so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước ) và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân

-Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch

-Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian

Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:

+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay đổi vềtài chính của doanh nghiệp

+So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số liệutrung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh nghiệp được hay chưa được

+So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ

Để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, các kỹ thuật so sánh được sử dụng là:

So sánh bằng số tuyệt đối:

 Số tuyệt đối: là số biểu hiện quy mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế Nó là cơ sở để tính toán các loại số liệu khác

Trang 8

8

 So sánh bằng số tuyệt đối: là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ phân tích so với gốc Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế

So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung:

+ So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung là kết quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích cới trị số kỳ gốc đã được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô

So sánh bằng số tương đối:

+ Số tương đối hoàn thành kế hoạch tính theo tỷ lệ: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Nó phản ánh tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu kinh tế

Số tương đối hoàn thành kế hoạch =

Chỉ tiêu kỳ phân tích

x 100% Chỉ tiêu kỳ gốc

So sánh số tương đối hoàn thành kế hoạch vừa tính được với 100%

+ So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là dạng đặc biệt của số tương đối, nó biểu hiện tính chất và đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thế chung nào đó có cùng một tính chất

1.2.4.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ

Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa trên

ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính

Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:

+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Trang 9

+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: qua chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính

+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp

+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp

1.2.4.3 Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp phân tích dùng để xác định mức

đô ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của các chỉ tiêu phân tích

Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố được xác định bằng cách thay thế lần lượt và liên tục các yếu tố giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu thay đổi Từ đó xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến đối đối tượng kinh tế nghiên cứu Để áp dụng phân tích các hoạt động kinh tế cần thực hiện theo trình tự nội dung sau:

- Trước hết, phải biết đựơc số lượng các nhân tốt ảnh hưởng, mối quan hệ của chung với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính của chỉ tiêu

- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này

- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên - Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn các nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch - Thay thế xong một nhân

tố, phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó, lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế

- Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch hoặc kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)

- Ví dụ khái quát như sau:

Giả định chỉ tiêu A cần phân tích; A tuỳ thuộc vào 3 nhân tố ảnh hưởng, theo thứ

tự a, b và c; các nhân tố này có quan hệ tích số chỉ tiêu A, từ đó chỉ tiêu A được xác

định cụ thể như sau: A = a b c

Trang 10

Đối tượng cụ thể của phân tích được xác định là: A 1 - A 0 = ΔA

 Chênh lệch nói trên có thể được giải thích bởi ảnh hưởng của ba nhân tố cụ thể

là a, b và c; bằng phương pháp thay thế liên hoàn, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lần lượt được xác định như sau:

 Thay thế lần 1: Thay thế nhân tố a:

a 1 b 0 c 0 - a 0 b 0 c 0 = Δa

Δa là ảnh hưởng của nhân tố a

 Thay thế lần 2: Thay thế nhân tố b

a 1 b 1 c 0 - a 1 b 0 c 0 = Δb

Δb là kết quả ảnh hưởng của nhân tố b

 Thay thế lần 3: Thay thế nhân tố c

a 1 b 1 c 1 - a 1 b 1 c 0 = Δc

Δc là nhân tố ảnh hưởng của nhân tố c

 Tổng hợp ảnh hưởng của ba nhân tố:

Δa + Δb + Δc = ΔA = A 1 - A 0

Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích, được sử dụng kết hợp nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất

1.2.5 Đánh giá cơ cấu TSNH và chính sách quản lý tài sản ngắn hạn (Chính sách

quản lý TSNH cấp tiến, thận trọng, dung hòa)

1.2.5.1 Cơ cấu TSNH

Bên cạnh việc so sánh sự biến động TSNH giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, còn cần phải phân tích xem tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số TSNH và xu hướng biến động của chúng theo thời gian để thấy được mức độ hợp lý của việc phân

bổ Qua việc xem xét cơ cấu tài sản và sự biến động về cơ cấu tài sản của nhiều kỳ kinh doanh, có thể dễ dàng hơn trong việc chọn ra các quyết định như đầu tư vào loại tài sản nào là thích hợp, đầu tư và thời điểm nào

Trang 11

Cơ cấu TSNH là tỷ trọng của các TSNH như: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, TSNH khác,… so với tổng TSNH có trong doanh nghiệp Từ tỷ trọng này, doanh nghiệp sẽ đưa ra các nhận định về mức độ sử dụng hiệu quả TSNH, đồng thời thấy được mức chên lệch giữa các khoản mục Ở các doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu TSNH cũng không giống nhau Việc phân tích cơ cấu TSNH theo cách các khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những đặc điểm riêng của TSNH mình đang quản lý, từ đó có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp

Mặt khác, thông qua việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi cơ cấu TSNH trong những thời kỳ khác nhau có thể cho thấy những chuyển biến tích cực cũng như tiêu cực trong công tác quản lý TSNH của doanh nghiệp

Tỷ trọng tiền các khoản tương đương tiền (K)

K = Tiền và các khoản tương đương tiền x 100%

Tổng TSNH Tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng giá trị, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả thuế, trả nợ,… Đây là một loại tài sản đặc biệt, nó là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, được sử dụng tức thời để đáp ứng như cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra Ngoài ra tiền mặt là loại tài sản có

tỷ lệ sinh lời thấp thậm chí tiền giấy tại quỹ và tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp tại ngân hàng có tỷ lệ sinh lời bằng không

Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng TSNH của doanh nghiệp thì khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền chiếm bao nhiêu phần trăm Chỉ tiêu này càng lớn chứng

tỏ lượng tiền công ty đang nắm giữ càng đáp đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp, thuận lợi trong hoạt động đầu tư, chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp cao Tuy nhiên nếu tiền và các khoản tương đương tiền quá lớn cũng sẽ không tốt bởi khi đó khả năng sinh lời thấp khiến cho việc sử dụng TSNH không hiệu quả, khả năng xảy ra gian lận, rủi ro, mất mát càng cao

Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá nhỏ thì doanh nghiệp cũng gặp phải những hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh như khả năng thanh toán nhanh thấp Do đó, doanh nghiệp cần phân tích tỷ trọng này và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm xác định lượng dự trữ tiền và các khoản tương đương tiền một cách hợp lý

Tỷ trọng các khoản phải thu của doanh nghiệp

Tỷ trọng các khoản phải thu =

Giá trị các khoản phải thu KH

x 100%

Tổng TSNH

Trang 12

12

Các khoản phải thu của doanh nghiệp có nhiều loại, trong đó chủ yếu là các khoản phải thu người mua và trả trước cho người bán Ngoài ra còn có một số khoản khác như thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác

và dự phòng các khoản phải thu khó đòi Có nhiều loại chi phí phát sinh như chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ khi các khoản phải thu tăng lên và rủi ro khách hàng không trả được nợ, rủi ro này càng lớn khi thời gian cấp tín dụng càng dài

Tỷ trọng các khoản phải thu cho biết các khoản phải thu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng TSNH của doanh nghiệp Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ doanh nghiệp đang quản lý tốt các khoản nợ phải thu, có chính sách bán hàng và thu nợ hợp lý Ngược lại, nếu chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn nhiều, làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp

Khoản phải thu này tăng hoặc giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau và rất khó nắm bắt Vì thế nhà quản trị cần theo dõi sát sao các khoản phải thu của doanh nghiệp,

có những chính sách quản lý chặt chẽ trong khâu thanh toán Xem xét kỹ năng lực tài chính của khách hàng và tình hình thanh toán của khách hàng trước khi đưa ra quyết định cấp tín dụng

Tỷ trọng hàng tồn kho của doanh nghiệp

Tỷ trọng hàng tồn kho =

Giá trị hàng tồn kho

x 100%

Tổng TSNH Trong quá trình luân chuyển TSNH phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp Dự trữ tồn kho bao gồm: hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ trong kho, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm tồn kho, hàng hóa gửi bán, dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Chỉ tiêu này cho biết giá trị hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng TSNH của doanh nghiệp

Để quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục và không bị gián đoạn, đòi hỏi doang nghiệp phải xác định được lương hàng tồn kho dự trữ hợp lý Lượng hàng tồn kho dự trữ hợp lý là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh liên tục, vừa không gia tăng chi phí tồn kho gây ứ đọng vốn Một doanh nghiệp có hệ thống cung cấp tốt sẽ giảm được lượng hàng tồn kho mà không ảnh hưởng đến tính liên tục của quá trình kinh doanh

Tuy nhiên giá trị của chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp (sản xuất hay kinh doanh thương mại) và chính

Trang 13

sách dự trữ cũng như tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp Phân tích tỷ trọng hàng tồn kho cũng cần xem xét trong mối tương quan với sự tăng trưởng của doanh nghiệp Một doanh nghiệp hoạt động ở thị trường mới bùng nổ và doanh thu của doanh nghiệp tăng nhiều năm có thể dẫn đến gia tăng dự trữ hàng tồn kho để đáp ứng cầu nhu của thị trường.Ngược lại, trong giai đoạn kinh tế suy thoái thì tỷ trọng hàng tồn kho có xu hướng giảm Khi hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSNH và có xu hướng tăng cho thấy lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp là lớn, kéo theo các loại chi phí sẽ tăng theo, đồng thời khả năng tiêu thụ sản phẩm giảm và trựn tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH Ngược lại nếu hàng tồn kho chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm có nghĩa là doanh nghiệp dự trữ quá ít hàng và sẽ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của khách hàng, đánh mất cơ hội kinh doanh và cũng khiến hiệu quả sử dụng TSNH giảm

Các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần thường xuyên xác định và so sánh các chỉ tiêu tài chính căn bản theo thời gian hoặc so với mục tiêu cần đạt được để đánh giá thực trạng và diễn biến tình hình tài chính của doanh nghiệp hàng năm Nhất là khi đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì giá trị các loại tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng TSNH

1.2.5.2 Chính sách quản lý TSNH cấp tiến

[2]

Sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản cấp tiến và quản lý nợ cấp tiến tạo nên chính sách tài sản ngắn hạn cấp tiến Với chính sách này, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn tài sản ngắn hạn để tài trợ cho tài sản cố định, duy trì TSNH ở mức thấp nhất Việc dùng nguồn vốn huy động với chi phí thấp, thời gian ngắn để đầu tư vào những tài sản có giá trị lớn và thời gian thu hồi dài sẽ ảnh hưởng đến cân bằng tài

Trang 14

14

chính của doanh nghiệp, nó làm cho cân bằng tài chính kém bền vững và mất an toàn

do không có dự cân bằng giữa tài sản và nguồn tài trợ của nó Vì vậy doanh nghiệp sẽ gặp phải vấn đề mất khả năng thanh toán các khoản nợ Tuy nhiên ưu điểm của chính sách này là chi phí huy động tài sản thấp hơn, thời gian quay vòng tiền được rút ngắn Tóm lại, với chính sách này, chi phí thấp đem lại cho doanh nghiệp thu nhập cao và rủi

ro cao, vì thế kỳ vọng cũng tăng cao

1.2.5.3 Chính sách quản lý TSNH thận trọng

Chính sách này là sự kết hợp giữa mô hình quản lý tài sản thận trọng và quản lý

nợ thận trọng Doanh nghiệp đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, duy trì TSNH ở mức cao nhất Do đó cân bằng tài chính trong trường hợp này là bền vững và doanh nghiệp sẽ không gặp phải cấn đề mất khả năng thanh toán trong ngắn hạn Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm như: khả năng thanh toán được đảm bảo, tính ổn định của nguồn tài sản cao và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh Tuy nhiên, doanh nghiệp lại mất chi phí huy động tài sản cao hơn do lãi suất dài hạn thường cao hơn lãi suất ngắn hạn, thời gian quay vòng tiền dài Tóm lại, với chính sách này, doanh nghiệp có mức rủi ro thấp nhưng mang lại thu nhập cũng thấp

1.2.5.4 Chính sách quản lý TSNH dung hòa

Để dung hòa giữa rủi ro và thu nhập, doanh nghiệp có thể lựa chọn chính sách dung hòa: kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc kết hợp quản lý tài sản cấp tiến với quản lý nợ thận trọng Chính sách này dựa trên cơ sở nguyên tắc tương thích: TSNH được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn Hay cũng có thể nói doanh nghiệp cố gắng duy trì nguồn TSNH bằng nguồn tài sản dài hạn Với chính sách này, gần như doanh nghiệp

sẽ không gặp phải rủi ro nào Do đó sự cân bằng về thời gian giữa tài sản và nguồn vốn Tuy nhiên hầu như không một doanh nghiệp nào áp dụng được chính sách này Trên đây là các mô hình cơ bản về ba chính sách quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một chính sách tài sản ngắn hạn riêng và việc quản lý tài sản ngắn hạn tại mỗi doanh nghiệp sẽ mang những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, nội dung chính của quản lý tài sản ngắn hạn vẫn là quản lý các

bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn

Trang 15

1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu

1.3.1 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá tổng quát

1.3.1.1 Chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán ngắn hạn là năng lực đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán trong thời gian ngắn hạn của doanh nghiệp Các chỉ số này xác định năng lực đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đến hạn của doanh nghiệp Với dòng tiền đủ lớn, doanh nghiệp có thể trang trải các nghĩa vụ tài chính của mình, nhờ vào đó mà doanh nghiệp sẽ không lâm vào tình trang kiệt quệ tài chính hay vỡ nợ Chỉ số đo lường khả năng thanh toán phổ biến nhất là hệ số thanh toán hiện hàng và hệ số thanh toán nhanh

Hệ số thanh toán hiện hành

Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành

Hệ số thanh toán hiện hành =

Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hay có thể nói, 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn Hệ số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp Hệ số thanh toán hiện hành càng cao thì doanh nghiệp càng được các nhà đầu tư tin tưởng

Nếu hệ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy khả năng thanh toán của doanh nghiệp đang ở mức báo động và có dấu hiệu khó khăn về tài chính Nếu hệ số này lớn hơn 1, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản

nợ Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu

tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác việc quản lý TSNH không hiệu quả

Hệ số thanh toán nhanh

Hệ số thanh toán nhanh =

Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn Trong các tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho có độ rủi ro cao (dễ gặp khó khăn trong vấn đề tiêu thụ, giá trị hàng tồn kho hàng kì thường chỉ là đánh giá chủ quan của doanh nghiệp) nên các nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh Vì thế

có thể nói hệ số này nói lên tình trạng tài chính ngắn hạn của một công ty có lành

Trang 16

16

mạnh không Nếu một công ty có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, nó sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và, cần phải rất cẩn trọng khi đầu tư vào những công ty như vậy Phân tích sâu hơn nữa, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho, đây là một ví dụ của các công ty bán lẻ Trong trường hợp này tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối thấp Ngoài ra cần phải so sánh hệ số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước để nhận diện xu hướng biến động, so sánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá tương quan cạnh tranh

Khả năng thanh toán tức th i

Hệ số thanh toán tức thời =

Tiền + Các khoản tương đương tiền

∑Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán tức thời là một chỉ tiêu thể hiện khả năng sử dụng tiền mặt

và các khoản tương đương tiền để thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được đảm bảo bằng bao nhiêu đơn vị tiền và các khoản tương đương tiền

Nếu chỉ tiêu này cao, doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ nhanh chóng do giữ lượng lớn TSNH dưới dạng tiền mặt và đầu tư tài chính ngắn hạn, tuy nhiên nếu lượng tiền mặt dự trữ quá lớn sẽ dẫn đến ứ đọng vốn, giảm khả năng sinh lời Ngược lại, nếu chỉ tiêu này quá thấp, doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian hơn để đáp ứng các khoản nợ

Tuy nhiên khó có thể nói khả năng thanh toán tức thời cao hay thấp ở mức nào là tốt hay không tốt Vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào các khoản phải thu và dự trữ mà nó phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp và của người phân tích

1.3.1.2 Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả

Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó khi phân tích hệ số này thì cần phân tích các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh l i

 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS)

Trang 17

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu được xác định bằng công thức:

Tỷ suất sinh lời trên doanh thu =

Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Chỉ tiêu ROS cho biết khả năng tạo lợi nhuận từ doanh thu, phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thuần thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROS càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có các biện pháp quản lý chi phí hiệu quả Khi so sánh tỷ suất giữa các năm, sự biến động của tỷ suất này phản ánh sự biến động về hiệu quả ảnh hưởng các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm

Ý nghĩa: Tỷ số này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi, tỉ số càng lớn có nghĩa là lãi càng lớn Tỷ số này mang giá trị âm có nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ

 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA được tính bằng công thức sau:

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản =

Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản

Từ đó có thể thấy ROA là chỉ số đo khả năng tạo lợi nhuận đầu tư tài sản, phản ánh 1 đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế ROA càng cao chứng tỏ hiệu quả sản xuất của tài sản càng cao, hay có thể nói doanh nghiệp

sử dụng tài sản có hiệu quả Để có được cái nhìn khách quan và chính xác, cần so sáng chỉ số này với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc tỷ lệ chung của ngành

Ý nghĩa: Nếu tỷ số này lớn hơn 0, có nghĩa doanh nghiệp đang làm ăn có lãi Tỷ

số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản

để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp

Theo phương pháp DuPont (1 chỉ số được tách thành 2 hay nhiều chỉ số khác) thì ROA được tính bằng:

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế x Doanh thu thuần

Doanh thu thuần Tổng tài sản Như vậy, ROA chịu tác động của 2 yếu tố là ROS và số vòng quay tổng tài sản

Để tăng ROA, doanh nghiệp cần thay đổi hợp lý 2 yếu tố trên Để đánh giá chính xác ROA, cần so sánh với bình quân hoặc với các doanh nghiệp tương tự cùng ngành do

Trang 18

18

chỉ số này phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh trong kỳ và đặc điểm kinh doanh từng ngành nghề khác nhau

 Tỷ suất sinh lời trên tài sản chủ sở hữu (ROE)

Tỷ suất sinh lời trên tài sản chủ sở hữu đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản

cổ phần phổ thông, phản ánh 1 đồng tài sản cổ đông tạo ra bao nhiêu lợi nhuận sau thuế ROE càng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh

Ý nghĩa: Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi, nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ

ROE =

Lợi nhuận sau thuế Tài sản chủ sở hữu ROE còn được tính bằng:

1.3.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá chung

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (Số vòng quay TSNH)

Chỉ tiêu này còn được gọi là số vòng quay tổng tài sản ngắn hạn, là thước đo khái quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Công thức tính là:

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần

Tổng tài sản ngắn hạn

Tỷ số này cho biết mỗi đồng tài sản ngắn hạn tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu Hay có thể nói các tài sản quay được bao nhiêu vòng Giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (doanh thu thuần) và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong một kỳ Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao, từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Khi phân tích chỉ tiêu này, cần xem xét kĩ ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài sản của doanh nghiệp để có kết luận chính xác và đưa ra biện pháp hợp lý nhằm tăng tốc độ quay vòng của tài sản

Trang 19

Tỷ suất sinh l i trên tài sản ngắn hạn (ROCA)

Tỷ suất sinh lời trên tài sản ngắn hạn (ROCA) đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản ngắn hạn, phản ánh 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh

Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Doanh nghiệp được đánh giá sử dụng TSNH tốt hay kém một phần là do chỉ tiêu này phản ảnh

ROCA = Lợi nhuận sau thuế

Tài sản ngắn hạn

Mô hình Dupont là một kỹ thuật được dùng để phân tích khả năng sinh lời của

mọt doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, mô hình Dupont được vận dụng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính để phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân chỉ tiêu cần phân tích theo một trình tự nhất định

Theo đó ROCA được tính bằng:

x Doanh thu thuần Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn Như vậy, ROCA chịu tác động của hai yếu tố là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và

số vòng quay tài sản ngắn hạn

Thứ nhất là hiệu suất sử dụng số vòng quay tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ sức sản xuất của các tài sản ngắn hạn càng nhanh, đó là nhân tố tăng sức sinh lời của tài sản ngắn hạn, cụ thể hơn số vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn lại bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố là tổng số luân chuyển thuần và tài sản ngắn hạn Nếu tổng số luân chuyển thuần lớn và tài sản ngắn hạn nhỏ thì số vòng quay lớn Tuy nhiên trong thực

tế hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, khi tài sản ngắn hạn tăng thì tổng số luân chuyển thuần cũng tăng ví dụ như khi doanh nghiệp nới lỏng hơn chính sách tín dụng thương mại, dẫn đến khoản phải thu khách hàng tăng, hàng tồn kho tăng

và doanh thu thuần cũng tăng lên… Trên cơ sở đó, nếu doanh nghiệp muốn tăng vòng luân chuyển của tài sản ngắn hạn thì cần phân tích các nhân tố liên quan phát hiện những mặt tích cực và tiêu cực của từng nhân tố để có biện pháp nâng cao số vòng quay của tài sản ngắn hạn thích hợp

Trang 20

20

Thứ hai là, tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao thì sức sinh lời của tài sản ngắn hạn càng tăng Tuy nhiên có thể thấy rằng sức sinh lời của doanh thu ảnh hưởng bởi hai nhân tố là doanh thu và chi phí, nếu doanh thu cao và chi phí thấp thì tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng và ngược lại Tuy nhiên, trong thực tế khi doanh nghiệp tăng doanh thu thì kéo theo mức chi phí cũng tăng lên như chi phí giá vốn, chi phí quản lý, chi phí bán hàng… Chính vì vậy, để có thể tăng được tỷ suất sinh lời trên doanh thu, doanh nghiệp cần nghiên cứu những nhân tố cấu thành nên tổng chi phí để

có các biện pháp điều chỉnh phù hợp, đồng thời có các biện pháp đẩy nhanh tốc độ bán hàng, tăng doanh thu và giảm các khoản giảm trừ doanh thu

Có thể thấy phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bằng mô hình Dupont

có ý nghĩa lớn đối với quản trị doanh nghiệp thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản

lý của doanh nghiệp

Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn

Mức tiết kiệm TSNH là lượng tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp tiết kiệm được

do tăng tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn ở kỳ này so với kỳ trước Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn do tăng tốc độ luân chuyển được thể hiện qua hai chỉ tiêu:

Mức tiết kiệm tuyệt đối

Nếu quy mô doanh nghiệp không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH

đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng TSNH rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác Nói cách khác, do mức luân chuyển TSNH không thay đổi nhưng

do tăng tốc độ luân chuyển TSNH nên doanh nghiệp cần ít vốn hơn cũng như có thể tiết kiệm một lượng TNSH Lượng TSNH doanh nghiệp tiết kiệm được được tính theo công thức:

Trong đó: : Tài sản ngắn hạn tiết kiệm tuyệt đối

M0 : Doanh thu thuần kỳ trước

V0, V1 : Vòng quay tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này (V1> V0)

Trang 21

Mức tiết kiệm tương đối

Nếu quy mô doanh nghiệp được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển TSNH đã giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm TSNH hoặc bỏ ra số TSNH ít hơn so với trước Lượng TSNH doanh nghiệp tiết kiệm được là mức tiết kiệm tương đối, được tính theo công thức:

Trong đó: : Tài sản ngắn hạn tiết kiệm tương đối

M1 : Doanh thu thuần kỳ này

V0, V1 : Vòng quay tài sản ngắn hạn kỳ trước và kỳ này (V1>

V0)

Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn

Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn để phản ánh số ngày thực hiện một vòng quay TSNH Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ tốc độ thu hồi TSNH của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Công thức:

K = 365

V Trong đó: K : Kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn

V : Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ

1.3.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá từng bộ phận cấu thành TSNH

Nhóm các chỉ tiêu đánh giá thời gian quay vòng là các hệ số đo lường khả năng quay vòng tài sản của doanh nghiệp Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả

Hệ số hoạt động đôi khi còn được gọi là hệ số luân chuyển hay hệ số hiệu quả do đó khi đi phân tích hệ số này cần phân tích các chỉ tiêu sau:

Vòng quay khoản phải thu

Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền do thực hiện chính sách bán chịu cho khách hàng và các khoản tạm ứng chưa thanh toán do thực hiện các khoản trả trước cho người bán

Vòng quay các khoản phải thu là một chỉ tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp đã áp dụng với khách hàng Công thức:

Trang 22

22

Vòng quay các khoản phải thu =

Doanh thu thuần Bình quân các khoản phải thu Trong đó bình quân các khoản phải thu được tính bằng công thức:

Bình quân các khoản phải thu = Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ

2 Khi khách hàng thanh toán các khoản nợ đã đến hạn thì có nghĩa các khoản phải thu đã quay được một vòng Chỉ số vòng quay càng cao cho thấy doanh nghiệp càng được khách hàng trả nợ nhanh, đồng nghĩa với việc vốn bị chiếm dụng giảm Nhưng cũng cần phải so sánh với doanh nghiệp cùng ngành để có những chiến lược cạnh tranh tín dụng hợp lý

Thời gian thu nợ trung bình được tính bằng công thức:

Thời gian thu nợ trung bình = 360

Vòng quay các khoản phải thu Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân trong bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp có thể thu hồi các khoản phải thu của mình Như vậy có thể thấy chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì thời gian thu nợ bình quân càng nhỏ và ngược lại Kỳ thu nợ bình quân cao hay thấp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét các mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp Tuy nhiên với đa số doanh nghiệp thì chỉ tiêu này càng thấp càng tốt và ngược lại

Trang 23

Bình quân giá trị hàng lưu kho = Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ

2 Chỉ tiêu này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào Chỉ

số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao thì cũng không tốt vì chứng tỏ lượng hàng dữ trữ trong kho không nhiều, nếu như cầu thị trường tăng đột biến thì doanh nghiệp sẽ không có khả năng kịp thời đáp ứng như cầu của khách hàng và có nguy cơ mất khách hàng Bên cạnh đó, nếu dữ trữ không đủ nguyên nhiên vật liệu để đáp ứng cho sản xuất thì sản xuất sẽ bị ngưng trệ,

vì vậy cần duy trì lượng hàng tồn kho đủ lớn để đảm bảo cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Thời gian luân chuyển kho trung bình = 360

Vòng quay hàng tồn kho Bên cạnh việc xem xét vòng quay hàng tồn kho, nhà quản trị cũng cần xem xét thời gian luân chuyển kho trung bình (hay còn gọi là thời gian quay vòng hàng tồn kho) để có những chính sách bán hàng hợp lý Thời gian luân chuyển kho trung bình cho biết cứ bao nhiêu ngày thì lượng hàng tồn kho lại được quay vòng một lần Hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càn bán được nhiều hàng Tuy nhiên, trong quá trình phân tích đánh giá cũng cần xem xét cụ thể những yếu tố khác để có nhận xét khách quan hơn

Thời gian lưu kho trung bình = 360

Hệ số lưu kho Cũng giống với thời gian luân chuyển kho trung bình, thời gian lưu kho trung bình sẽ cho nhà quản trị biết tình hình bán hàng của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các chính sách hợp lý Thời gian lưu kho trung bình là khoảng thời gian trung bình hàng hóa được lưu giữ trong kho Thòi gian lưu kho được kéo dài đồng nghĩa hệ số lưu kho thấp, hàng tồn kho nhiều, vòng quay tiền bị kéo dài Mức dự trữ kho lớn cũng làm cho doanh nghiệp tốn chi phí lưu kho, bảo quản hàng hóa và ngược lại Vì thế doanh

nghiệp cần duy trì chỉ số này thấp

Vòng quay các khoản phải trả

Vòng quay các khoản phải trả = GVHB

Bình quân phải trả người bán

Trang 24

24

Trong đó bình quân các khoản phải trả người bán được tính bằng công thức:

Bình quân phải trả người bán= Giá trị đầu kỳ + Giá trị cuối kỳ

2 Vòng quay các khoản phải trả cho biết số lần trả nợ của doanh nghiệp trong một chu kỳ kinh doanh, hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng được các khoản nợ dài Tuy nhiên nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Lợi ích của việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng

Thời gian trả nợ trung bình = 360

Hệ số trả nợ Thời gian trả nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày

để trả nợ Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp tốt Tuy nhiên chiếm dụng quá lâu có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác

Th i gian quay vòng tiền

Thời gian quay vòng tiền mặt phản ánh khoảng thời gian kể từ khi doanh nghiệp thanh toán tiền mua hàng hóa đầu vào cho tới khi doanh nghiệp thu được tiền về

Thời gian

quay vòng tiền mặt =

Kỳ thu tiền bình quân +

Thời gian quay vòng hàng lưu kho

- Kỳ trả tiền bình quân Chỉ tiêu thời gian quay vòng tiền là sự kết hợp của ba chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý hàng lưu kho, khoản phải thu, khoản phải trả Thời gian quay vòng tiền ngắn chứng tỏ doanh nghiệp sớm thu hồi được tiền mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý hiệu quả khi giữ được thời gian quay vòng hàng tồn kho và các khoản phải thu ở mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ Tuy nhiên cũng tùy vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động

Hầu hết các doanh nghiệp đều mong muốn có thời gian quay vòng tiền ngắn do chỉ khi nào dòng tiền thực sự quay trở lại doanh nghiệp, kinh doanh mới thực sự đạt hiệu quả trên thực tế và thời gian quay vòng tiền càng ngắn, doanh nghiệp thu hồi tài sản càng nhanh Tuy nhiên, để làm được điều đó các doanh nghiệp buộc phải cung cấp chính sách tín dụng thương mại thắt chắt, đồng thời tăng khả năng chiếm dụng tài sản

Trang 25

của khách hàng Điều này dẫn tới những ảnh hưởng không có lợi trong mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau chính vì vậy để đưa ra một quyết định tài chính, ngoài việc phân tích các chỉ tiêu, nhà quản trị doanh nghiệp cũng phải xác định và xem xét các nhân tố tác động để

từ đó có cái nhìn khái quát nhất Có nhiều nhân tố ảnh hưởng nhưng về cơ bản có thể chia các nhân tố đó thành góc độ nghiên cứu là chủ quan và khách quan

1.4.1 Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nằm bên trong nội tại doanh nghiệp, thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp, có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng Đây chính là nhân tố đánh giá trình độ quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn, là nhân tố chính tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn

Nhân tố con ngư i

Để tiến hành hoạt động sản xuất thì không thể thiếu nhân tố con người, nhân tố con người thể hiện ở hai mặt quản lý và lao động

Vai trò của nhà quản lý thể hiện thông qua khả năng kết hợp một cách tối ưu các yếu tố sản xuất để tạo ra lợi nhuận cao với chi phí thấp nhất Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, nhà quản lý sẽ là người phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, để từ đó có những giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp Ngoài ra vai trò của nhà quản lý còn thể hiện qua sự nắm bắt các cơ hội kinh doanh và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất Nếu nhà quản lý thực hiện tốt vai trò của minh sẽ làm cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, kết quả hoạt động tốt, hiệu quả sử dụng vốn cao

Vai trò của người lao động thể hiện ý thức trách nhiệm và lòng nhiệt tình trong công việc, bên cạnh đó là tay nghề chuyên môn cao và am hiểu về quy trình sản xuát của doanh nghiệp Người lao động nếu hội tụ đầy đủ các yếu tố này sẽ góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp

Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là yếu tố quyết định trong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm của mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnh hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn Để đi vào sản xuất

Trang 26

26

thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu, mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gian thu hồi tài sản càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn

Cơ sở vật chất của doanh nghiệp

Đây cũng là một nhân tố hết sức quan trọng, bởi ngoài việc chọn mua những nguyên vật liệu tốt thì việc doanh nghiệp có được những thiết bị máy móc tốt phục vụ cho quy trình sản xuất kinh doanh cũng sẽ góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp tạo

ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng Một doanh nghiệp có những trang thiết bị tốt

sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễ dàng hơn Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang thiết bị tốt, máy móc đưa vào dây chuyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng hơn và giảm đáng kể các rủi ro trong quá trình sản xuất Ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng TSNH không cao

1.4.2 Các nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan là các nhân tố từ bên ngoài tác động vào toàn bộ thị trường nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, các nhân tố này nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp vì thế rất khó để nắm bắt Doanh nghiệp cần phải linh động điều chỉnh các chính sách sao cho phù hợp với thị trường

Chính sách pháp lý của nhà nước

Hệ thống pháp luật được đặt ra nhằm quản lý và điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các quy định do nhà nước đặt ra một phần trực tiếp và gián tiếp sẽ tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động phải tuân theo quy định của pháp luật về thuế, về lao động, bảo vệ môi trường,

an toàn lao động

Nếu doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực được nhà nước khuyến khích thì họ

sẽ được tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển và ngược lại Ngoài ra trong điều kiện cơ chế thị trường, chỉ một sự thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý của nhà nước sẽ làm ảnh hưởng lớn đến đến hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, nếu nhà nước tạo ra

cơ chế chặt chẽ, đồng bộ ổn định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng

Trang 27

Môi trư ng kinh tế

Nhân tố này là tổng hợp của các yếu tố như tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mức độ thất nghiệp hay lãi suất ngân hàng…tác động tới tốc độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua đó nó tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng

Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển, doanh nghiệp sẽ làm ăn thuận lợi hơn Luồng tiền vào doanh nghiệp tăng, phải thu giảm Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái

số lượng hàng hóa bán được giảm đi, tồn kho tăng lên Do vậy các nhà quản trị cần phải theo dõi sự biến động của nến kinh tế để có điều chỉnh kịp thời

Thị trường tài chính lại là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hang hóa Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đồng thời cũng thhúc đẩy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp

Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Vì thế vấn đề sống còn của một doanh nghiệp là làm sao để có khả năng chiến thắng các đối thủ cạnh tranh Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp nào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều người mua Từ đó sẽ nẩy sinh không ít rắc rối về vấn đề cải thiện chất lượng, nâng cao dịch vụ nhưng không làm gia tăng quá nhiều chi phí Đây là một bài toán khó đối với các nhà quản trị

Nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mã như thế nào Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mại quảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh

Thuế nhập khấu

Thuế nhập khẩu càng cao thì giá trị hàng hóa sẽ bị đội lên đo đó làm hạn chế sức cạnh tranh của mặt hàng của doanh nghiệp Ngược lại, thuế nhập khẩu giảm, chi phí cho việc nhập khẩu sẽ thấp làm tăng lợi nhuận nhập khẩu Do vậy, hiệu quả thuế nhập khẩu cho doanh nghiệp được cải thiện Chính phủ cần điều chỉnh thuế như thế nào để dung hòa được lợi ích của các chủ thể kinh tế: người tiêu dùng, doanh nghiệp và nhà

Trang 28

Kết luận chương 1: Trong chương 1, những lý luận cơ bản về TSNH cùng một

số vấn đề liên quan tới hiệu quả sử dụng TSNH trong DN đã được đề cập Phần đầu chương tập trung làm rõ khái niệm TSNH thông qua tìm hiểu các đặc điểm, vai trò và cách phân loại TSNH Phần tiếp theo đề cập đến hiệu quả sử dụng TSNH trong DN, xem xét các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Phần cuối chương là những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng TSNH trong DN

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN

HẠN TẠI CÔNG TY CP XNK HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU

2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu hóa chất và thiết bị kim ngưu

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Vài nét về Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu

Tên công ty :Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thiết bị và hóa chất Kim Ngưu

Tên giao dịch :Kimnguu Instrument & Chemical Im-Ex Joint Stock Company

Tên viết tắt :KIMMEX JSC

Lĩnh vực KD :Thiết bị thí nghiệm và hóa chất

Trụ sở chính :Số 85 Đức Giang, Long Biên, Hà Nội

VP giao dịch :Số 9 ngõ 51 Lãng Yên, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Thành lập :Tháng 6/2000

Vốn điều lệ :30 tỷ đồng Việt Nam

Mã số thuế :0101515887 Điện thoại :+ 84.4.39842258

4 Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cung cấp thiết bị phòng thí nghiệm hoá chất tinh khiết, hoá chất công nghiệp Tiền thân của công ty chỉ là cửa hàng kinh doanh thiết bị, hoá chất hoạt động trên 10 năm tại số 40 Kim Ngưu do ông Nguyễn Đức Việt, một người có nhiều kinh nghiệm trong ngành điều hành

Ngày 30 tháng 06 năm 2004, Công ty CP XNK Hóa chất và thiết bị Kim Ngưu được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0101515887 tại Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội Với mục tiêu tăng trưởng thị phần và

đa dạng hoá ngành nghề hoạt động kinh doanh, Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Hoá chất và Thiết bị Kim Ngưu (gọi tắt tên cty là KIMMEX JSC, Tên sản phẩm đăng ký nhãn hiệu VIETCHEM) được thành lập theo hình thức công ty cổ phần thay thế cho

Trang 30

Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, đến nay, công ty đã có hơn 60 đối tác, khách hàng bao gồm các Viện khoa học, đại học, cao đẳng, các công ty chế biến thực phẩm, các công ty nước ngoài tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy nhiệt điện trên cả nước…

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty

Cơ cấu bộ máy là một yếu tố rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải hoạch định kĩ càng để đưa ra một cơ cấu phù hợp nhất với

sứ mệnh cũng như đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp Có rất nhiều phương án nhưng Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu đã chọn hình thức cơ cấu chức năng, với sơ đồ cơ cấu tổ chức như sau:

sự

Nhà máy sản xuất

P.Môi trường

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu

Trang 31

Bộ máy nghiệp vụ và nhiệm vụ của các phòng ban

Để nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp công ty phải có những phòng ban sao cho phù hợp nhất Công ty đã chia thành 7 phòng ban với Hội đồng thành viên đứng đầu, quản lý ban lãnh đạo công ty Ban lãnh đạo công ty sẽ trực tiếp điều hành các phòng kinh doanh, tài chính-kế toán, hành chính-nhân sự, phòng môi trường và nhà máy sản xuất Theo đó, mỗi phòng ban sẽ đều có những chuyên gia tư vấn, góp ý cho hoạt động của công ty Cơ cấu tổ chức này giúp mọi hoạt động của công ty được minh bạch và rõ rang

Phòng Kế hoạch - Kinh doanh

Phòng Kế hoạch-Kinh doanh hoạt động dưới sự chỉ đạo của Trưởng phòng Kế hoạch-Kinh doanh cùng với Phó giám đốc đốc phụ trách kinh doanh, phòng Kế hoạch-Kinh doanh là một bộ phận không thể tách rời của công ty Phòng phụ trách và quản lý các hoạt động liên quan đến kế hoạch kinh doanh trong lĩnh vực hóa chất và thiết bị, từ

đó đưa ra những đóng góp kịp thời cho ban Giám đốc Phòng Kế hoạch-Kinh doanh có các nhiệm vụ chính như sau

Nghiên cứu, đưa ra những chiến lược kinh doanh dài hạn, trung hạn, ngắn hạn cho công ty Đồng thời xây dựng và triển khai kế hoạch khi đã được Ban giám đốc đồng ý

Trang 32

Thực hiện chi trả lương thưởng bảo hiểm cho cán bộ công nhân viên theo đúng tỉ

lệ quy định của pháp luật

Phòng Hành chính - Nhân sự

Phòng Hành chính-Nhân sự là bộ phận cốt cán của công ty, giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác văn phòng, công tác bảo hộ lao động, công tác bảo vệ, công tác phục vụ và một số công tác khác

Phòng Hành chính-Nhân sự có chức năng tham mưu, giúp việc cho ban Giám đốc công ty và tổ chức thực hiện các việc trong lĩnh vực tổ chức lao động, quản lý và

bố trí nhân lực, bảo hộ lao động, chế độ chính sách, chăm sóc sức khỏe cho người lao động, bảo vệ quân sự theo luật và quy chế công ty

Kiểm tra, đôn đốc các bộ phận trong công ty thực hiện nghiêm túc nộ quy, quy chế công ty

Làm đầu mối liên lạc cho mọi thông tin của giám đốc công ty

Nhà máy sản xuất

Nhà máy sản xuất được điều hành bởi Quản lý nhà máy, trực tiếp nhận nhiệm vụ

từ phó giám đốc kỹ thuật và thực hiện mọi công đoạn trong sản xuất Nhà máy sản xuất là nơi tiếp nhận, quản lý và vận hành các thiết bị để sản xuất các sản phẩm theo đúng yêu cầu và chỉ tiêu chất lượng Đảm bảo giao hàng đúng thời hạn và đem đến sự hài lòng cho khách hàng

Trang 33

Phòng môi trường

Vì ngành nghề kinh doanh chính của công ty là hóa chất nên Phòng môi trường

là bộ phận không thể thiếu trong công ty Theo xu hướng phát triển của xã hội, mọi công ty đều được xây dựng dựa trên mục tiêu bảo vệ môi trường trong lành xanh sạch đẹp, vì thế Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu luôn có một bộ phận nghiên cứu về tác hại cũng như hậu quả mà các loại hóa chất gây ra Góp phần giảm thiểu rác thải công nghiệp- một vấn đề nhức nhối của xã hội ngày nay

2.1.3 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh của công ty

Năm 2004, cùng với việc chuyển đổi thành Công ty CP XNK Hoá chất và Thiết

bị Kim Ngưu, công ty cũng đã xác định chức năng chính của công ty là sản xuất và kinh doanh các loại thiết bị vật tư khoa học kỹ thuật, hoá chất tinh khiết và công nghiệp, cung cấp cho các phòng thí nghiệm và các doanh nghiệp sản xuất Một số sản phẩm của công ty như:

Cung cấp hoá chất tinh khiết phòng thí nghiệm của các hãng như Merck/ Duran/ Schott (Đức), Xilong (Trung Quốc), Amersham/ Amresco (Mỹ), Kartell (Ý)

Phân phối thiết bị khoa học của các hãng như: Extech, Vapourtec, Fistreem, Sonoswiss, Ohaus, Velp, Ika, Hettich, Memmert, Hanna, Buchi, Sturdy, Nabertherm , Genereach,

Phân phối độc quyền thiết bị: Extech, Vapourtec, Genereach Cung cấp thiết bị dùng chung phòng thí nghiệm: Cân, tủ sấy, bếp điện, máy khuấy, máy lắc, kính hiển vi, máy cất nước, máy quang phổ, máy sắc ký, tủ hút, lò nung

Cung cấp thiết bị dung cho phòng Sinh học, thủy sản: hệ thống tách chiết DNA/ARN, PCR di động, PCR mini, thiết bị điện di, buồng điện di, thiết bị ủ nhiệt, dập mẫu, tủ cấy, tủ ấm, Thiết bị Môi trường: máy đo pH, đo độ dẫn điện, độ đục, máy xác định COD, BOD, Máy đo độ ổn, đo cường độ ánh sáng, đo tốc độ gió,

Cung cấp các thiết bị Thực phẩm - Dược phẩm: Nồi hấp tiệt trùng, hệ thống phân tích đạm, chất béo, tủ lạnh, tủ bảo quản, máy ly tâm,

Cung cấp các loại hoá chất công nghiệp cơ bản sản xuất tại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức… như: Kiềm, A-xít, Muối kim loại, Hóa chất xử lý nước, Dung môi,….Cung cấp bình và khí Amoniac và Clo hóa lỏng

Dịch vụ: Tẩy rửa cáu cặn đường ống làm mát, bình ngưng hơi nhà máy nhiệt điện, khách sạn Tái sinh hạt trao đổi Ion Thiết kế xử lý nước Bơm, vận chuyển hoá chất nguy hiểm H2SO4, HCl, NaOH

Trang 34

34

Trong các lĩnh vực kinh doanh trên, lĩnh vực mang lại doanh thu chính cho Công

ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu là Cung cấp các loại hóa chất công nghiệp

2.2 Thực trạng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu giai đoạn 2012-2014

Bên cạnh sự thay đổi lớn về tổng tài sản thì cơ cấu tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của công ty trong giai đoạn này lại khá ổn định Nếu trong năm 2012, tỷ trọng tài sản ngắn hạn chiếm 44,32% và tỷ trọng tài sản dài hạn chiếm 55,78% thì sang đến năm 2013, chỉ có sự thay đổi nhẹ trong đó tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn lần lượt là 40,13% và 50,87% Có thể thấy trong hai năm 2012 và 2013, tỷ trọng tài sản dài hạn có phần nhỉnh hơn so với tỷ trọng tài sản ngắn hạn, nhưng đến năm 2014,

tỷ trọng tài sản ngắn hạn lại chiếm nhiều hơn là 62,43%, và tỷ trọng tài sản dài hạn chỉ chiếm 37,57% tổng tài sản

Trang 35

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản của công ty giai đoạn 2012-2014

Từ biểu đồ 2.1, có thể thấy quy mô tài sản của công ty CP XNK hóa chất và thiết

bị Kim Ngưu khá đồng đều qua các năm, và xu hướng tỷ trọng tài sản ngắn hạn đang tăng mạnh hơn Cụ thể, năm 2013 tỷ trọng TSNH của công ty là 40,13%, tương ứng với mức giảm 4,19% so với năm 2012, mức giảm này là không nhiều, tuy nhiên đến năm 2014, tỷ trọng TSNH lại tăng lên 62,43%, tương ứng với mức tăng 22,3% so với năm 2013, đây là một mức tăng khá lớn đã làm thay đổi toàn bộ cơ cấu tài sản của công ty Điều này được lý giải là do sự tăng lên của các khoản mục hàng tồn kho như nguyên vật liệu (tăng 13.771 triệu đồng), hàng hóa (tăng 31.357 triệu đồng) đã dẫn đến

sự tăng lên của TSNH Trong khi đó, tỷ trọng TSDH năm 2013 là 59,87%, tương ứng với mức tăng 4,19% so với năm 2012 Tuy đây là một mức tăng không lớn nhưng được lý giải là do trong năm 2013, công ty chính thức đưa vào hoạt động nhà máy Tân Thành tại Hưng Yên, vì thế không thể tránh khỏi việc tăng đầu tư một số tài sản cố định để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh như 2 xe nâng hàng, 1 xe Ford Transit đưa đón cán bộ công nhân viên đi làm tại Hưng Yên, 3 xe tải nặng phục vụ vận chuyển hóa chất, Năm 2014, tỷ trọng TSDH của 37,57%, giảm 22,3% so với năm

2013 Đây là điều hiển nhiên bởi đồng nghĩa với việc tỷ trọng TSNH tăng lên 22,3% thì tỷ trọng TSDH sẽ giảm đi 22,3%

62,43%

37,57%

Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn

Trang 36

36

Bảng 2.1 Bảng cân đối tài sản năm 2013-2014

Chỉ tiêu

2012-2013

Chênh lệch 2013-2014 Giá trị Tỷ trọng

I Tiền và các khoản tương đương tiền 4.468 7,21 3.222 3,75 3.064 2,30 (1.246) (27,89) (158) (4,90)

II Các khoản phải thu ngắn hạn 3.273 5,28 160 0,19 2.492 1,87 (3.113) (95,11) 2.332 1.457,50

I Các khoản phải thu dài hạn 25.104 40,50 35.849 41,68 28.850 21,70 10.745 42,80 (6.999) (19,52)

1 Phải thu dài hạn của khách hàng 24.366 39,31 35.168 40,89 27.743 20,87 10.802 44,33 (7.425) (21,11)

II Tài sản cố định 8.975 14,48 14.702 17,09 19.709 14,82 5727 63,81 5.007 34,06

1 Tài sản cố định hữu hình 8.776 14,16 11.695 13,60 19.709 14,82 2.919 33,26 8.014 68,53

2 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 199 0,32 3.007 3,50 0 0,00 2.808 1.411,06 (3.007) (100,00)

Đơn vị tính: Triệu đồng

Trang 37

Về tài sản ngắn hạn

Năm 2013, tiền và các khoản tương đương tiền giảm 1.246 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 27,89% so với năm 2012 Sang đến năm 2014, tiền và các khoản tương đương tiền lại giảm tiếp 158 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 4,9% so với năm

2013 Khoản mục này chủ yếu là lượng tiền mặt được công ty giữ tại két và gửi tại ngân hàng, nhằm phục vụ các nhu cầu thanh toán nhanh của công ty như trả tiền hàng, hay thanh toán sớm để nhận các chiết khấu thanh toán Mặc dù đến năm 2014, lượng tiền mặt đã tăng 312 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 1.835,3% so với năm 2013 nhưng lượng tiền gửi ngân hàng lại giảm đáng kể (469,77 triệu đồng) để phục vụ cho thanh toán một số phương tiện vận tải, truyền dẫn Việc dự trữ quá ít tiền mặt dẫn đến rất nhiều rủi ro cho công ty như không đảm bảo khả năng thanh toán các khoản chi thường xuyên, hay thanh toán kịp thời, thanh toán sớm để hưởng chiết khấu thanh toán

từ các nhà cung cấp, vì thế ban lãnh đạo cần có những biện pháp nhằm thu về lượng tiền mặt đã và đang bị chiếm dụng này

Các khoản phải thu ngắn hạn của công ty năm 2013 giảm 3.113 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 95,11% so với năm 2012, tuy nhiên đến năm 2014, khoản mục này lại tăng 2.332 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 1457,5% so với năm 2013 Có thể

lý giải nguyên nhân của việc các khoản phải thu ngắn hạn của công ty tăng giảm không đồng đều qua các năm là do trong năm 2013, công ty đã tăng khoản mục dự phòng phải thu khó đòi lên 1.997 triệu đồng, dẫn đến việc khoản phải thu giảm, tuy nhiên đến năm 2014, công ty đã điều chỉnh khoản mục dự phòng giảm chỉ còn 388 triệu đồng, nên các khoản phải thu lại tăng so với năm 2013 Việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi nhằm mục đích giảm thiểu tối đa các tổn thất bất thường có thể xảy đến với công ty trong tương lai như thiên tai, khách hàng của công ty mất khả năng thanh toán, Các khoản phải thu thực chất là lượng vốn mà công ty bị các đối tác như khách hàng và nhà cung cấp chiếm dụng, hoặc các tài sản bị thiếu mà chưa phát hiện được nguyên nhân đang chờ xử lý, vì thế khoản mục này quá cao chứng tỏ lượng vốn

bị chiếm dụng chiếm dụng nhiều, đầu tư của công ty không đạt hiệu quả Để giữ mối làm ăn lâu dài, tạo quan hệ với các đối tác, công ty cần cân nhắc kỹ các chính sách tín dụng sao cho ít ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của công ty nhất

Biến động nhiều nhất trong giai đoạn này có thể nói đến hàng tồn kho Năm

2013, lượng hàng tồn kho là 20.867 triệu đồng, tăng 7.390 triệu đồng so với năm 2012, tương ứng với mức tăng 54,83% Nếu nói công ty đang rất quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng là nhiệm vụ chính của doanh nghiệp, thì đến năm 2014, khi mà lượng hàng tồn kho tăng mạnh 45.171 triệu, tương ứng với mức tăng 216,47% so với năm 2013, có thể nói công ty đã không thể kiểm soát lượng hàng tồn kho của mình

Trang 38

38

Nguyên nhân là do trong năm 2013, một đối tác cung cấp hóa chất cho công ty là Tập đoàn Merck của Đức đã áp dụng chính sách bán hàng khuyến mãi mua hàng số lượng lớn và thanh toán ngay được hưởng chiết khấu cao, vì thế công ty đã tận dụng để giảm chi phí đầu vào cho sản phẩm, tuy nhiên việc dự trữ quá lớn cũng sẽ khiến công ty mất

đi một nguồn vốn lớn để đầu tư vào các hoạt động sinh lời khác

Tài sản ngắn hạn khác là khoản chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, các khoản thuế phải thu và tài sản ngắn hạn khác của công ty Tài sản ngắn hạn khác của công ty năm 2013 đạt 10.267 triệu đồng, tăng 4.013 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 64,16% so với năm 2012 Nguyên nhân chính của việc tài sản ngắn hạn khác của công ty tăng mạnh trong năm 2013 là vì chi phí thuế GTGT được khấu trừ trong năm 2013 nhiều hơn 4.219 triệu đồng so với năm 2012 Bên cạnh đó, trong năm 2013, do yêu cầu từ việc nhà máy Tân Thành đi vào hoạt động, một số khoản chi phí trả trước ngắn hạn phục vụ cho hoạt động của nhà máy cũng tăng lên như chi phí mua các loại bảo hiểm cháy,nổ trong kì; chi phí một số loại công cụ, dụng cụ thử nghiệm dùng trong kì và chi phí mua các tài liệu kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy Sang đến năm 2014, khoản mục này chỉ tăng nhẹ 11,13% Do trong năm 2014, hoạt động của nhà máy đã đi vào ổn định thì tài sản ngắn hạn sẽ tăng không còn đáng kể

Về tài sản dài hạn

Tổng quan tài sản dài hạn của công ty trong giai đoạn này không có sự biến đổi nhiều, vì thế các khoản mục cũng tương đối đồng đều qua các năm Năm 2013, các khoản phải thu dài hạn tăng 10.745 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 42,80% so với năm 2012, tuy nhiên đến năm 2014 lại giảm 6.999 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 19,52% so với năm 2013 Nguyên nhân của việc này là do trong năm 2014, các khoản phải thu dài hạn của khách hàng đã giảm 7.425 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 21,11% so với năm 2013 Việc khoản phải thu khách hàng dài hạn giảm đồng nghĩa với việc phần vốn bị chiếm dụng đã giảm, điều này là khá tốt cho công ty khi có thêm những cơ hội đầu tư sinh lời khác Tuy nhiên trong tình hình kinh tế của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp sản xuất hóa chất nói riêng ngày càng khó khăn, nếu không có những chính sách bán hàng hợp lý, công ty sẽ khó

có thể giữ được lượng khách hàng cũ và gia tăng lượng khách hàng mới trong thời gian tới

Biến động về tài sản dài hạn lớn nhất trong giai đoạn này là sự tăng lên của tài sản cố định, mà cụ thể là tài sản cố định hữu hình Tài sản cố định hữu hình năm 2013

là 11.695 triệu đồng, tăng 2.919 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 33,26% so với năm 2012 Sang năm 2014, tài sản cố định hữu hình tăng 8.014 triệu đồng, tương ứng

Trang 39

với mức tăng 68,53% so với năm 2013 Nguyên nhân là do trong năm 2014, công ty đã

bổ sung thêm một số máy móc, thiết bị như máy ly tâm, thiết bị ủ nhiệt, máy đo quang vào nhà xưởng và phòng thí nghiệm để phục vụ cho quá trình sản xuất Thêm vào đó

là mua thêm các phương tiện vận tải, truyền dẫn để cung ứng, vẫn chuyển hàng hóa từ nhà máy tới khác hàng Bên cạnh đó, năm 2014, công ty cũng đã bổ sung một số thiết

bị và dụng cụ nhằm phục vụ công tác quản lý của cán bộ công nhân viên

Có thể thấy một số chuyển biến tích cực trong cơ cấu tổ chức quản lý của công

ty, tuy nhiên vẫn còn những điểm chưa hợp lý như dự trữ tăng hàng tồn kho nhiều àm tăng chi phí quản lý kho tăng cao

2.2.1.2 Tình hình nguồn vốn

Nguồn vốn chính là nguồn hình thành nên tài sản, vì thế đồng nghĩa với quy mô tài sản trong giai đoạn 2012-2014 tăng là nguồn vốn trong giai đoạn này cũng tăng Nguồn vốn của Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu năm 2013 cũng tăng 21.493 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 34,68% so với năm 2012, và năm 2014 tăng 9,764 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 11,70% so với năm 2013

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn tại Công ty

(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)

Trang 40

Giá trị

Tỷ trọng

%

Giá trị

Tỷ trọng

%

Giá trị

Tỷ trọng

%

Giá trị

Tỷ trọng

%

Giá trị

Tỷ trọng

4 Người mua trả tiền trước 3.177 5,13 1.816 2,18 5.984 4,50 (1.361) (42,84) 4.168 229,52

5 Thuế và các khoản phải nộp Nhà

Ngày đăng: 11/06/2016, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình quản trị doanh nghiệp phần 2- PGS.TS Lê Văn Tâm, PGS.TS Ngô Kim Thanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
2. Quản trị tài chính doanh nghiệp, Th.S Bùi Anh Tuấn. NXB Nông Nghiệp Khác
4. Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nguyễn Hải Sản, NXB Lao động, Hà Nội Khác
5. Phân tích báo cáo tài chính, PSG.TS. Nguyễn Năng Phúc, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Khác
6. Tài chính doanh nghiệp căn bản , PGS.TS. Nguyễn Minh Kiểu, NXB Lao động xã hội Khác
7. Hồ sơ năng lực Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức Công ty CP XNK hóa chất và thiết bị Kim Ngưu (Trang 30)
Bảng 2.1. Bảng cân đối tài sản năm 2013-2014 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.1. Bảng cân đối tài sản năm 2013-2014 (Trang 36)
Bảng 2.2. Bảng cân đối nguồn vốn năm 2013-2014 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.2. Bảng cân đối nguồn vốn năm 2013-2014 (Trang 40)
Bảng 2.3. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012-2014 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.3. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012-2014 (Trang 42)
Hình  2.1. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty CP XNK hóa chất và - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
nh 2.1. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn của Công ty CP XNK hóa chất và (Trang 50)
Bảng 2.4. Tiền và các khoản tương đương tiền giai đoạn 2012-2014 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.4. Tiền và các khoản tương đương tiền giai đoạn 2012-2014 (Trang 51)
Bảng 2.5. Các khoản phải thu giai đoạn năm 2012-2014 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.5. Các khoản phải thu giai đoạn năm 2012-2014 (Trang 53)
Bảng 2.6. Tình trạng hàng tồn kho năm 2013 - 2014 - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.6. Tình trạng hàng tồn kho năm 2013 - 2014 (Trang 54)
Bảng 2.10. Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh l i của ngành                                                                                                            Đơn vị tính: % - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.10. Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh l i của ngành Đơn vị tính: % (Trang 58)
Bảng 2.11. Vòng quay tài sản ngắn hạn. - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.11. Vòng quay tài sản ngắn hạn (Trang 60)
Bảng 2.14. Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.14. Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn (Trang 63)
Bảng 2.17. Vòng quay các khoản phải trả - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 2.17. Vòng quay các khoản phải trả (Trang 66)
Bảng 3.2. Tỷ lệ phẩn trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 3.2. Tỷ lệ phẩn trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu (Trang 74)
Bảng kế hoạch quản lý hàng tồn kho này sẽ giúp các báo cáo tồn kho được chính  xác, tránh nhầm lẫn do nhân viên thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm toán của - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng k ế hoạch quản lý hàng tồn kho này sẽ giúp các báo cáo tồn kho được chính xác, tránh nhầm lẫn do nhân viên thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm toán của (Trang 81)
Bảng 3.6. Mô hình điểm tín dụng - THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ KIM NGƯU
Bảng 3.6. Mô hình điểm tín dụng (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w