Luật giáo dục năm 2005, điều 28, khoản 2, trang 31 đã nêu “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Sự phát triển của một quốc gia trong thế kỉ 21 sẽ phụ thuộc lớn vào tiềm năng tri thức của dân tộc đó Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Bước vào thiên niên kỉ mới, UNESCO từng có khuyến cáo: “Quốc gia nào, cộng đồng nào coi nhẹ giáo dục hoặc không biết cách làm giáo dục thì đều lạc hậu và điều này còn tồi tệ hơn là
sự phá sản” Lời khuyến cáo là kim chỉ nam cho việc thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục để đất nước vững bước hoàn thành công nghiệp hóa – hiện đại hóa
và thực hiện sự hội nhập quốc tế
Các quốc gia ngày nay đi vào nền kinh tế tri thức trước bối cảnh toàn cầu hóa đều xác định chiến lược con người, chiến lược về nguồn lực con người Chiến lược này phải bắt đầu từ vấn đề nhận thức toàn diện đến quyết tâm, thực hiện phạm trù nhân cách, có quan điểm đúng đắn về hướng đi và phải có giải pháp khả thi để hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Đối với đất nước chúng ta, xuất phát từ mục tiêu giáo dục – đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới phát triển toàn diện phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh đất nước Việt Nam Mục tiêu này xuất phát từ chính sách chung về giáo dục và đào tạo, được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng: “Mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng và tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7, Đảng cộng sản Việt Nam, trang 81) “Nâng cao mặt bằng dân trí, bảo đảm những tri thức cần thiết để mọi người gia nhập cuộc sống xã hội và kinh tế theo kịp tiến trình đổi mới và phát triển đất nước Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn
Trang 2nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8, Đảng cộng sản Việt Nam, trang 199)
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa và đem lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân Có thể khẳng định rằng: “Không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với mỗi con người, đối với kinh tế, văn hóa” Ý thức được điều đó, Đảng ta đã thực sự coi “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Hội nghị TW 4 khóa VII đã khẳng định: “Giáo dục – đào tạo là chìa khóa để mở cửa tiến vào tương lai” Nghị quyết TW 2 khóa VIII lại tiếp tục khẳng định “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục – đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố phát triển nhanh và bền vững” Đại hội lần X (năm 2006) tiếp tục nhấn mạnh “Đảng ta coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển”
Luật giáo dục năm 2005, điều 28, khoản 2, trang 31 đã nêu “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học: bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Con đường học vấn là rộng lớn, muốn đạt được học vấn đích thực thì học phải gắn liền với hành, học gắn với lao động sản xuất với thực tiễn, kết hợp học
và tự học Một người học xong Đại học có thể gọi là có tri thức Song họ không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại, công việc thực tế họ không biết gì cả Thế là họ chỉ có tri thức một nửa Tri thức của họ là tri thức học sách chưa phải tri thức hoàn toàn Muốn thành người hoàn toàn thì phải đem tri thức đó áp dụng vào thực tế
Như vậy trong thời đại mới, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển,
Trang 3biệt là học sinh, tự học là một trong các phương pháp học tập hiệu quả để qua đó rèn cho học sinh khả năng tự tìm tòi, sáng tạo trong học tập, nghiên cứu Đó là điều cần thiết, là nền tảng vững chắc để học sinh vững bước, tự tin ở các lớp học tiếp theo Do đó, mỗi học sinh cần trang bị ngay từ khi còn ngồi học ở trường trung học cơ sở để lên trung học phổ thông và tiếp bước vào Cao đẳng, Đại học
có thể đạt thành tích cao trong kết quả học tập Học sinh Trung học cơ sở cũng
đã được làm quen với phương pháp học tập này Những mặt tích cực của việc tự học là không thể phủ nhận nhưng không phải học sinh nào cũng đạt được kết quả cao với phương pháp học tập này thậm chí một số học sinh còn cảm thấy bị o ép, không chấp nhận cách học mới Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phương pháp tự học của học sinh được thực hiện rộng rãi, thực sự phát huy được hiệu quả, giúp học sinh nhanh chóng lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức có được kết quả học tập tốt nhất ?
Chính vì những băn khoăn, trăn trở trên, tôi đã chọn đề tài “Rèn khả năng
tự học môn Ngữ văn cho học sinh khối 9” Đề tài nghiên cứu nhằm giúp học sinh lớp 9 của trường THCS Thạnh Lợi có ý thức, có kế hoạch học tập theo phương pháp tự học Qua đó phát huy tốt năng lực vốn có của mỗi học sinh
2 Mục đích nghiên cứu:
Nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập theo phương pháp
tự học môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 Qua đó, phát triển các kĩ năng tự học, tự nghiên cứu môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, đáp ứng yêu cầu giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể:
Phương pháp dạy học môn Ngữ văn của giáo viên trung học cơ sở
3.2 Đối tượng:
Bồi dưỡng khả năng tự học môn Ngữ văn cho học sinh lớp 9 của trường THCS Thạnh Lợi
Trang 44 Giả thuyết khoa học:
Học sinh lớp 9 của trường THCS Thạnh Lợi có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tự học Nếu áp dụng các giải pháp nâng cao khả năng tự học cho học sinh lớp 9 thì các em sẽ tích cực tự học hiệu quả góp phần nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng tại các trường THCS trong huyện Tháp Mười Bản thân thử nghiệm tại trường THCS Thạnh Lợi
6 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu việc tự học môn Ngữ văn đối với học sinh lớp 9 trong các trường THCS thuộc huyện Tháp Mười và thử nghiệm tại trường THCS Thạnh Lợi
7 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lí luận: sưu tầm, đọc, tra cứu, nghiên cứu tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Phương pháp quan sát (theo dõi quá trình học tập trên lớp, kiểm tra bài tập, bài soạn ở nhà của học sinh)
Phương pháp thống kê
8 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương II: Thực trạng vấn đề tự học môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 Chương III: Các giải pháp nâng cao khả năng tự học môn Ngữ văn của
học sinh lớp 9 và hiệu quả
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu về vấn đề tự học:
Người đặt nền móng cho ý thức về hành động tự học là nhà giáo dục người Tiệp Khắc J.A Comenxki Các nhà giáo dục học như Rutxo, Pestalogi, Dixtecvec, Usinxki ở thế kỉ 18, 19 đã quan tâm nhiều đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực và tính độc lập sáng tạo của học sinh Bàn về tự học, các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Cảnh Toàn,… đã coi việc tự học như chìa khóa vàng của giáo dục trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1 Tự học:
Theo giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…)
và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học,
ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Nói chung, tự học là quá trình của bản thân người học tích cực độc lập, tự giác chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo bằng những phương pháp phù hợp Tự học là quá trình học tập có thể diễn ra với sự tham gia của giáo viên Mặt khác,
tự học cũng có thể diễn ra không có sự góp mặt của giáo viên Học sinh tự sắp xếp thời gian, chương trình học tập phù hợp
1.2.2 Các hình thức tự học:
1.2.2.1 Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không
có sách và sự hướng dẫn của giáo viên.
Trang 6Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình
1.2.2.2 Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
- Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời
- Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp thắc mắc
1.2.2.3 Tự học có sách, có thầy cùng gặp mặt trong giờ học.
Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác, thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê
Trang 7CHƯƠNG II THỰC TRẠNG 2.1 Thực trạng sự đầu tư và tự học môn Ngữ văn trong nhà trường.
Chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học luôn được quán triệt đến cơ
sở trong nhiều năm qua và nhất là khi Nghị quyết 40 của Quốc hội ngày 9/12/2000 về Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Tuy nhiên trong quá trình tổ chức dạy và học ở các trường do sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó nổi trội nhất là khâu quản lí chuyên môn chưa đồng bộ, đội ngũ giáo viên không đồng đều về năng lực nên còn không ít những bất cập chưa thể khắc phục làm hạn chế ít nhiều đến chất lượng giáo dục, trong đó có tình trạng người học không
tự tìm tòi, khám phá tri thức
Chúng ta ai cũng biết rằng, môn Ngữ văn là môn học chính trong nhà trường, có một vị trí vô cùng quan trọng trong việc bồi dưỡng nhân cách, tâm hồn, tình cảm, cảm xúc của học sinh đối với cái thiện, cái đẹp trong cuộc sống Nhà phê bình văn học Hoài Thanh quan niệm: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẳn có; cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần” Môn Ngữ văn còn góp phần nâng cao trí tuệ, giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp, truyền tải thông tin đến với mọi người một cách tốt nhất, học sinh vận dụng thành thạo ngôn ngữ của dân tộc ở bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Học sinh của thời đại hôm nay có tâm lí học tập khác hơn tâm lí học tập của học sinh thời đại trước Xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa trên toàn cầu đã
và đang in đậm dấu ấn của nó trong tâm lí và tính cách của học sinh Năng lực
tư duy của học sinh ngày càng hiện đại Các em tỏ ra thờ ơ, hời hợt với môn Ngữ văn mà tăng cường đầu tư cho những môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh ngày càng học yếu môn Văn Từ cách hiểu chưa đúng của học sinh, là một giáo viên thiết nghĩ chúng ta cần phải uốn nắn lại cách nghĩ, cách làm của các em Có như vậy thì các em mới vững vàng kiến thức, nắm kiến thức một cách toàn diện
Trang 8Trong việc đổi mới phương pháp giáo dục ngày nay lấy học sinh làm trung tâm thì việc tự học của học sinh vô cùng quan trọng Lịch sử khoa học – nghệ thuật thế giới đã có những tấm gương tự học vĩ đại như nhà bác học Ê-đi-xơn, tác giả của hàng vạn phát minh khoa học có ích cho nhân loại; đại văn hào Nga Mac-xim Gorki, người coi cuộc sống là “Những trường Đại học của tôi”,… Việt Nam cũng có những tấm gương như thế: chủ tịch Hồ Chí Minh, người luôn tự học không ngừng ở mọi lỉnh vực, biết nhiều ngoại ngữ; học giả Đào Duy Anh, tác giả nhiều từ điển, nhiều công trình nổi tiếng,… Trong những năm gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều học sinh giỏi, nhiều thủ khoa là những con em gia đình nghèo nhờ khát vọng mà tự học vươn lên, là điểm sáng trong bức tranh giáo dục đáng tự hào của hôm nay và mai sau
Tuy vậy, trong thực tế hiện nay việc áp dụng phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên ở tất cả các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn Cách học của học sinh vẫn đơn giản là
cố gắng hoàn thành hết các bài tập giáo viên giao về nhà bằng mọi cách có thể và học thuộc lòng trong vở ghi đối với các môn học thuộc Còn giáo viên từ trước đến nay chỉ quan tâm đến cách dạy mà quên đi cách học của học sinh, quên đi phương pháp tự học của người học Đa số giáo viên thường quan niệm kiến thức
là mục đích của quá trình dạy học nên chỉ quan tâm đến phương pháp truyền thụ một chiều thuyết minh hàng loạt các kiến thức trong sách giáo khoa, bài giảng với một hình ảnh quen thuộc thầy đọc trò chép Trước phương pháp giảng dạy của các thầy cô giáo kết hợp với sự thụ động trong quá trình học tập vì thế học sinh luôn phải cố gắng nhớ, lắng nghe, ghi chép toàn bộ những kiến thức từ thầy
cô giáo Và từ thế hệ này đến thế hệ khác chúng ta đào tạo ra được những con người thụ động, giáo điều, nguyên tắc, sách vở, khả năng tư duy, tìm tòi, sáng tạo rất kém
Thực trạng tại các trường trung học cơ sở:
Trang 9Trong tổng số học sinh yếu kém môn Ngữ văn có 100% học sinh không có khả năng tự học
Khả năng tự học môn Ngữ văn của học sinh chiếm khoảng 38,96% trên toàn trường thuộc dạng xem bài, soạn bài trước khi đến lớp
(Số liệu thu thập tại một số trường THCS Hưng Thạnh, THCS Thanh Mỹ, THCS Trường Xuân và khảo sát, thăm dò ý kiến học sinh THCS Vĩnh Châu, Tân Hưng, Long An)
Thực trạng tại trường trung học cơ sở Thạnh Lợi:
Trong tổng số học sinh yếu kém môn Ngữ văn có 100% học sinh không có khả năng tự học
Khả năng tự học môn Ngữ văn của học sinh chiếm khoảng 32,18% trên toàn trường, thuộc dạng xem bài, soạn bài trước khi đến lớp
Khả năng tự học môn Ngữ văn của học sinh khối 9 có 15/49, chiếm tỷ lệ 30,61% trên toàn trường, thuộc dạng xem bài, soạn bài trước khi đến lớp
2.2 Các nguyên nhân.
2.2.1 Đối với giáo viên bô môn.
- Một số giáo viên chưa có kĩ năng soạn bài, vẫn áp dụng cách rập khuôn, máy móc kiểu dạy học truyền thống, chủ yếu giải thích, minh họa, tái hiện, liệt
kê kiến thức theo sách giáo khoa là chính, ít sử dụng câu hỏi tìm tòi, tình huống
có vấn đề,… coi nhẹ rèn luyện thao tác tư duy, năng lực thực hành, ít sử dụng các phương tiện dạy học, ít tổ chức cho học sinh tham gia nghiên cứu, thảo luận
- Thực tế giáo viên thường soạn bài bằng cách sao chép, lấy những bài soạn của bạn bè, đồng nghiệp rồi dạy nên không khai thác sâu kiến thức, chưa sát với nội dung chương trình, chưa hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề từ nhỏ đến lớn trong thực tế đời sống Khi dạy giáo viên thường nặng nề về lí thuyết, không tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập, không hướng dẫn được phương pháp tự học
Trang 10- Phương pháp dạy học phổ biến hiện nay vẫn theo lối mòn cũ, giáo viên truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động lĩnh hội tri thức Thậm chí có giáo viên còn đọc hay ghi những nội dung trên bảng cho học sinh chép vào
- Sợ học sinh không làm được bài (ví dụ như viết đoạn văn hay là viết một bài văn) giáo viên lại phải làm sẵn những đoạn mẫu, bài mẫu cứ thế học sinh học thuộc như vẹt thì ít nhiều cũng có điểm không tệ
2.2.2 Đối với học sinh.
- Chưa bắt nhịp được với phương pháp dạy học mới (phương pháp dạy học tích cực), các em tỏ ra xa lạ từ đó chán nản, sợ giáo viên gọi đến tên mình Phần lớn, học sinh rất hào hứng khi giáo viên hỏi những câu hỏi mà nội dung có liên quan sẳn có trong sách giáo khoa nhưng khi giáo viên hỏi thêm “vì sao …?” hoặc “em hiểu như thế nào…?” thì học sinh thụt những cánh tay đang giơ cao chờ được phát biểu xuống hết
- Một số chưa biết cách tự học môn Ngữ văn như thế nào cho có hiệu quả?
- Không yêu thích, có ý nghĩ lệch lạc đối với bộ môn này thường xem nhẹ Các em có thể đầu tư rất nhiều từ công sức để tự học tập ở nhà rồi kể cả tiền bạc
để đi học thêm cho những môn học khác như Toán, Tiếng anh, Hóa,…
2.3 Hậu quả.
2.3.1 Học sinh.
- Có thói quen ỉ lại ở giáo viên, không chủ động tìm hiểu kiến thức
- Máy móc, rập khuôn với những cái sẵn có Không có khả năng sáng tạo,
bị thụ động trong học tập, lười suy nghĩ sẽ thủ tiêu óc sáng tạo của người học, biến học sinh thành những người quen suy nghĩ diễn đạt bằng những ý vay mượn, bằng những lời có sẵn, lẽ ra phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở
- Hành văn dở, ảnh hưởng lớn đến khả năng diễn đạt trong giao tiếp
2.3.2 Giáo viên.