1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương

123 456 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu luật dạy nghề chỉ rõ dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm ng

Trang 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang là xu thế tất yếu, khách quan và là nhu cầu cấp bách đối với mỗi quốc gia Đó vừa là quá trình hợp tác, vừa là quá trình cạnh tranh để cùng phát triển Trong xu thế đó, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ngày càng quyết liệt, gay gắt hơn Cạnh tranh kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá và đổi mới công nghệ một cách nhanh chóng Trong lĩnh vực kinh tế, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậy, chú trọng phát triển nguồn nhân lực với chất lượng cao chính là chìa khoá để phát triển nền kinh tế

Nguồn nhân lực nói chung, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có chất lượng cao nói riêng đang thật sự trở thành yếu tố quan trọng trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của đất nước, tạo sức mạnh cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước, khu vực và quốc

tế

Trong đường lối phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Đảng và Nhà nước coi việc phát triển dạy nghề có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của đất nước Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với đào tạo nguồn nhân lực tham gia vào xây dựng và phát triển đất nước Mục tiêu luật dạy nghề chỉ rõ dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ

có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước1 Việt nam đã lĩnh hội được vai trò to lớn của giáo dục, cho nên trong sự hội nhập hôm nay, mạng lưới giáo dục ở Việt Nam được mở rộng ra khắp tỉnh thành, với nhiều loại hình đào tạo khác nhau

Bình Dương là tỉnh thuộc vùng miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bình Dương, Đồng

Trang 2

Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước, Long An và Kiên Giang Với lợi thế về điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, gần thành phố Hồ Chí Minh: trung tâm kinh tế - văn hóa của cả nước; đất đai bằng phẳng, nền đất thuận lợi trong xây dựng

cơ bản với suất đầu tư thấp; có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á …; cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển từ 10 - 15 Km; con người Bình Dương cần cù, năng động .Tất cả đã tạo điều kiện cho Bình Dương kết hợp nhuần nhuyễn những nhân tố ''Thiên thời – Địa lợi - Nhân hòa'' để vượt khó đi lên, trở thành một trong những tỉnh, thành phố có tốc độ phát triển nhanh và toàn diện nhất và trong lĩnh vực công nghiệp Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân 15,5%/năm Những thành tựu của Bình Dương trong thời gian qua chính là sự nhạy bén tận dụng thời cơ, tiếp thu nhanh và vận dụng nghiêm túc, sáng tạo các chủ trương, đường lối đổi mới và cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước vào hoàn cảnh và thực tiễn của địa phương; kịp thời đề ra các quyết sách đáp ứng yêu cầu và phù hợp với điều kiện phát triển trong từng thời kỳ, đặc biệt là quyết sách “Trải chiếu hoa” mời gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Bình Dương để sản xuất, kinh doanh, tạo động lực quan trọng để phát triển kinh tế Đến nay, toàn tỉnh có trên 3.200 doanh nghiệp vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư gần 15 ngàn tỷ đồng và trên l.000 doanh nghiệp của 37 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đầu tư hoạt động với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ 700 triệu đô đa Mỹ, bổ sung nguồn vốn và góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển các mặt kinh tế- xã hội của tỉnh

Tỉnh Bình Dương đã tiến hành quy hoạch 25 khu công nghiệp - cụm công nghiệp và đến nay toàn tỉnh có 16 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích và 3.275 ha, trong đó có 7 khu công nghiệp tập trung ở các huyện phía Nam tỉnh, hình thành và hoạt động trong giai đoạn 1995 - 2000, đạt tỷ lệ lấp kín diện tích trên 95% Ngoài ra, tỉnh đang triển khai xây dựng Khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị với quy mô diện tích gần 4.200 ha, trong đó bao gồm các khu trung tâm dịch vụ và nhà ở đa dạng, cao cấp thích hợp cho nhiều đối tượng khác nhau và

6 khu công nghiệp với hạ tầng cơ sở hiện đại tầm cỡ quốc tế và khu vực Các khu công nghiệp mới như Mai Trung, Mỹ Phước 2 và 3, Rạch Bắp, Nam Tân Uyên

Và Khu Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị sẽ là khu vực thu hút đầu tư lớn

Trang 3

của tỉnh trong ngành công nghiệp và dịch vụ trong những năm tới Với chủ trương

“Trải chiếu hoa mời gọi đầu tư” Bình Dương luôn đổi mới, đang và sẽ là điểm đến

lý tưởng của mọi chủ đầu tư trong và ngoài nước

Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Dương thì vai trò người phụ nữ được cải thiện một cách căn bản, phụ nữ ngày càng tham gia vào các hoạt động xã hội nhiều hơn trước, họ vừa đi làm vừa đảm trách công việc nhà, nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình, nấu nướng…… Do vậy, quả là vất vả và khó khăn khi thu xếp làm sao cho ổn định cả việc nhà lẫn việc ngoài xã hội? Trước thực tế đó nhu cầu cần người Giúp việc nhà cho các gia đình ở Bình Dương là rất lớn Thế nhưng, hiện nay tỉnh Bình Dương chưa có chương trình đào tạo hay tài liệu hướng dẫn cụ thể nghề “Giúp việc nhà”, người giúp việc chỉ làm theo kinh nghiệm mang tính tự phát hoặc theo sự hướng dẩn của chủ nhà Chính vì vậy, người nghiên cứu thiết nghỉ cần phải có một chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” ngắn hạn, nhằm trang bị cho người giúp việc những kiến thức, kỹ năng cần thiết, tạo điều kiện cho người giúp việc tự tin hơn trong công việc của mình và giảm bớt gánh nặng của người phụ nữ trong công việc gia đình, giúp người phụ nữ an tâm hơn trong công tác xã hội; nhằm góp phần giải quyết việc làm nói riêng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước nói chung và thực thi một cách hiệu quả mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp đề ra

Xuất phát từ những ý định trên, người nghiên cứu đã mạnh dạn làm đề tài

“ Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương”

Luận văn được thực hiện với sự hướng dẩn của TS Nguyễn Văn Tuấn

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Phát triển chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” đáp ứng nhu cầu xã hội

Trang 4

 Góp phần vào việc xây dựng nguồn nhân lực đang cần thiết cho việc phát

triển nghề Giúp việc nhà tại tỉnh Bình Dương và khu vực Đông Nam Bộ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo nghề

 Khảo sát và đánh giá thực trạng đào tạo nghề giúp việc nhà hiện nay, nhu cầu lao động, nhu cầu học tập nghề giúp việc nhà tại tỉnh Bình Dương

 Đề xuất phát triển chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” trình độ sơ cấp

nghề cho Trung tâm GDTX-KTHN Thuận An- tỉnh Bình Dương

3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Chương trình đào tạo nghề Giúp việc nhà trình độ sơ cấp nếu được xây dựng

và giảng dạy thì sẽ đáp ứng nhu cầu của người học và người tuyển dụng tại tỉnh Bình Dương

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” trình độ sơ cấp

 Người chủ và người lao động đang làm việc tại các gia đình của tỉnh Bình Dương

 Lãnh đạo các cơ sở dạy nghề trong tỉnh Bình Dương

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Những phương pháp nghiên cứu cơ bản sử dụng để thực hiện luận văn là:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tìm hiểu cơ sở pháp lý của đề tài, các mô hình xây dựng và phát triển chương trình đào tạo nghề tiêu biểu trên thế giới, phương pháp tiếp cận đào tạo theo mô-đun

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phương pháp nghiên cứu tài liệu làm cơ sở để phát triển cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thông qua nghiên cứu thực trạng các điều

kiện thực tế, nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá và thiết kế các bảng hỏi để thu nhận thông tin làm cơ sở đánh giá về thực trạng đào tạo nghề, đánh giá nhu cầu nghề nghiệp, việc làm của nghề giúp việc nhà trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến nhận xét của những chuyên gia về lĩnh vực này

Hội thảo chuyên đề: Hội thảo phân tích nghề “Giúp việc nhà”

5.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng toán thống kê xử lý các thông tin

khảo sát để mô tả

6 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Trong điều kiện thực tế nghiên cứu, luận văn thực hiện một số nội dung trong phạm vi như sau:

6.1 Khảo sát thực trạng nhu cầu học nghề giúp việc nhà của người lao động và nhu cầu tuyển dụng của các gia đình tại tỉnh Bình Dương

6.2 Khảo sát thực trạng đào tạo nghề giúp việc nhà tại các gia đình, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương

6.3 Xây dựng đề cương chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” trình độ sơ cấp ở mức thiết kế nội dung chương trình chi tiết mà chưa qua thực nghiệm

7 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

7.1 Tính thực tiễn

Giúp cho các cơ sở đào tạo và các cơ quan quản lý đào tạo có tài liệu đào tạo và quản lý

Trang 6

7.2 Khả năng triển khai ứng dụng vào thực tế

Các kết quả nghiên cứu của đề tài hoàn toàn có khả năng ứng dụng vào thực

tế đào tạo nghề giúp việc nhà cho các trung tâm đào tạo và cung ứng người giúp việc, các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương

8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Cấu trúc luận văn gồm 3 phần:

A PHẦN MỞ ĐẦU

B PHẦN NỘI DUNG

▪ Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chương trình đào tạo nghề

▪ Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển chương trình đào tạo nghề Giúp việc nhà

▪ Chương 3: Phát triển chương trình đào tạo nghề Giúp việc nhà trình độ cấp nghề cho Trung tâm GDTX-KTHN Thuận An-Bình Dương

C PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Trang 7

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 KHÁI NIỆM VÀ THUẬT NGỮ CƠ BẢN

1.1.1 Khái niệm và thuật ngữ về phát triển chương trình

- Chương trình: là tất cả những kinh nghiệm mà cá nhân người học có trong một chương trình giáo dục mà mục đích là để đạt được những mục tiêu và liên quan đến từng mục tiêu cụ thể, đó là kế hoạch trong điều kiện của một khuôn khổ giữa lý thuyết và nghiên cứu hay là sự hành nghề giữa thực tiễn

và truyền thống [45, tr.3]

- Theo Wentling (1993) cho rằng: chương trình đào tạo là một bảng thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (đó có thể là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc một vài năm) Bảng thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khóa học, nó phát họa ra qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho biết phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, và tất cả các cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ [42, tr.5]

- Chương trình học: là quy trình và nội dung của chương trình đào tạo của môn học, ngành học, bộ môn hay trường học Curriculum mang ý nghĩa rộng hơn, chung hơn, Syllabus mang ý nghĩa cụ thể, giới hạn hơn là nội dung giảng dạy cho một môn học (hay đơn vị học tập), thường gắn với một

kỳ kiểm tra để đánh giá kết quả học tập Như vậy, chương trình dạy học là văn bản trong đó phải bao gồm xác định các mục đích (cụ thể có mục tiêu cho từng bài học, môn học, ngành học), nội dung, quá trình, phương pháp dạy học và đánh giá của một chương trình giáo dục [28, tr.4]

Trang 8

- Chương trình: là một hệ thống nhiều cấp độ Bao gồm chương trình dạy học của một quốc gia, một ngành học, bậc học, cấp học, lớp học, môn học, bài học, đơn vị tri thức học tập,…Các chương trình của một ngành học, bậc học,… tức là những chương trình trong đó có nhiều chương trình môn học thì luôn bao gồm chương trình khung và chương trình của từng môn học

Dù chương trình dạy học ở cấp độ vĩ mô (ngành học, bậc học, nghề, …) hoặc vi mô (môn học, bài học) dù ít hay nhiều đều bao gồm 5 yếu tố cơ bản của hoạt động dạy học: mục tiêu dạy học của chương trình; nội dung dạy học; hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; qui trình, kế hoạch triển khai; đánh giá kết quả [42, tr.5]

 Các thành tố của chương trình (Curriculum elements): Một dạng thông tin cụ

thể dưới hình thức của một trong các sản phẩm thuộc về chương trình (Ví dụ:

Tỉ lệ giáo viên/học viên; các yêu cầu đạt được khi tốt nghiệp; các yêu cầu về trang thiết bị…) [34, tr.ix]

 Xây dựng chương trình (Curriculum Development): Một hệ thống thiết kế thực

tiễn và hợp lý bao gồm các công việc: Thu thập các dữ liệu cần thiết, đi đến các quyết định, xác định được nội dung tiêu chí và các hoạt động giảng dạy, thực hiện đánh giá cả về sản phẩm lẫn về quy trình; cũng như sửa chữa, hiệu chỉnh các chương trình có liên quan đến dạy nghề [34, tr.xii]

 Phát triển chương trình (Curriculum Development): là một quá trình thiết kế,

điều chỉnh sửa đổi dựa trên việc đánh giá thường xuyên liên tục2

 Nghề (Job): Là nghề nghiệp trong phạm vi hẹp, cụ thể và chuyên sâu [34,

tr.x]

 Nghề nghiệp (Occupation): Tên chung đặt cho một nhóm công nhân thực hiện

các nhiệm vụ và công việc tương tự nhau với mục đích hành nghề để kiếm sống và thăng tiến [34, tr.x]

 Lĩnh vực nghề nghiệp (Occupational area): Việc phân loại các nghề có liên

quan mật thiết với nhau theo phạm vi và cùng có chung một loại sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ [30, tr.2]

2

Hoàng Ngọc Vinh (tài liệu dịch từ Milagros Campos Valles): Phát triển chương trình đào tạo giáo dục chuyên nghiệp theo năng lực thực hiện – Chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý Hạ Long, 2006, trang 2

Trang 9

 Khảo sát nghề (Occupational research): Một phương thức thu thập dữ liệu về

một nghề cụ thể để có thể xây dựng được nội dung đào tạo nghề Phương thức

đó được thực hiện bằng cách quan sát tại chỗ thao tác công việc của một công nhân, và trao đổi với họ về các công việc mà họ thực hiện [34, tr.x]

 Phân tích nghề (Job Analysis): Một tiến trình nhằm xác định các nhiệm vụ và

công việc mà một công nhân lành nghề phải thực hiện được trong nghề nghiệp

của mình [34, tr.xi]

 Bản mô tả nghề (Job description): Một danh sách chi tiết các nhiệm vụ và

trách nhiệm của một người trong nghề [30, tr.1]

 Nhiệm vụ (Duty): Nhiệm vụ của một nghề là một phát biểu thể hiện một

chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vị trí nào đó trong thực tế sản xuất [34, tr xi]

 Công việc (Task): Một đơn vị việc làm cụ thể, có thể quan sát được của một

việc làm đã hoàn tất (có một khởi điểm và một kết thúc xác định), có thể chia nhỏ thành 2 hay nhiều bước và được thực hiện trong một khoảng thời gian hữu hạn; khi hoàn tất kết quả sẽ có thể là một sản phẩm, bán thành phẩm, một dịch

vụ hoặc một quyết định, mà thông thường người thợ được phân công để thực hiện [34, tr.ix]

 Công việc trong nghề (Job task): Công việc thực hiện của một nghề cụ thể

[34, tr.ix]

 Danh mục công việc (Task listing): Một danh mục các công việc mà các công

nhân lành nghề thực sự có thực hiện trong nghề [34, tr.x]

 Phân tích công việc (Task analysis): Phương pháp phân tích một công việc

trong một ngành nghề nào đó để xác định được các bước để thực hiện được công việc đó, các kỹ năng và kiến thức có liên quan mà người thợ cần có, và các tiêu chuẩn mà giới sản xuất đòi hỏi cho việc thực hiện công việc [34, tr.xi

 Quy trình (Procedure): Các bước theo thứ tự dẫn tới việc hoàn tất một công việc [34, tr.xi]

 Kỹ năng (Skill): Khả năng thực hiện toàn bộ hay một phần của công việc [34,

tr.x]

Trang 10

 Thái độ (Attitude): Các cảm xúc và hành vi bề ngoài của con người đối với

một việc làm hoặc công việc [34, tr.xi]

 Năng lực (Competence): Việc một công nhân thực hiện một công việc bằng

cách thể hiện các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà công việc đó đòi hỏi [34, tr.x]

 Sự thành thạo (Proficiency): Mức độ thực hiện một công việc [34, tr.xi]

 Thực hiện công việc (Performance): Một quy trình quan sát được (đòi hỏi phải

có kiến thức, kỹ năng, và thái độ làm việc phù hợp) để làm “một việc gì đó” theo một tiêu chuẩn chấp nhận được với kết quả là một sản phẩm, một bán

thành phẩm, một quyết định hay một dịch vụ [34, tr.xi]

 Tiêu chuẩn thực hiện (Performance standard): Các tiêu chí được áp dụng

trong một nghề dùng để xác định xem một công việc đã được thực hiện một

cách thỏa đáng hay chưa [34, tr.xi]

 Tiêu chí (Criteria): Tiêu chuẩn đòi hỏi ở người công nhân nhằm đạt tới việc thực hiện thành thạo một mục tiêu công việc [34, tr.xi]

 Trang thiết bị (Equipment): Một nhóm các thiết bị có liên quan với nhau được

sử dụng trong một mục đích cụ thể nào đó [30, tr.4]

 Vật tư hành nghề (Occupational supplies): Gồm các vật tư có liên quan cụ thể

tới đặc tính của từng ngành nghề, được tiêu thụ trong quá trình giảng dạy [30, tr.4]

 DACUM: thuật ngữ được viết tắt từ các chữ cái của cụm từ tiếng Anh

“Develop A Curriculum” (Xây dựng một chương trình) Đây là một phương

pháp phân tích nghề, qua đó một tiểu ban gồm các chuyên gia lành nghề được tập hợp và dẫn dắt bởi một thông hoạt viên đã được đào tạo để cùng xác định danh mục các nhiệm vụ và công việc mà các công nhân lành nghề phải thực hiện trong nghề nghiệp của họ [34, tr.ix]

 Mô-đun (Module): Tập hợp một số công việc có liên quan với nhau nhằm

cung cấp một số kiến thức và kỹ năng để người học có thể hành nghề ngay trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vị trí nhất định của sản xuất [34, tr.ix]

Trang 11

 Đào tạo (Training): Quá trình cải tiến năng lực của con người bằng cách cung

cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để một cá nhân có thể đạt được mục tiêu hành nghề cụ thể [34, tr.ix]

 Học tập (Learning): Việc đạt được các tri thức mới, các kỹ năng mới, và thái

độ làm việc Một thay đổi có thể quan sát được hoặc đánh giá được về thái độ của học viên Một điều mà chỉ có người đó mới có thể tự làm cho chính mình [34, tr.ix]

Trang 12

1.1.2 Khái niệm và thuật ngữ về giáo dục nghề nghiệp

 Dạy nghề (Vocational Training): Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm

trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học Được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp [20, chương 1]

 Giáo dục nghề nghiệp (Technical and Vocational Education): được sử dụng

như một thuật ngữ toàn diện về các khía cạnh của quá trình giáo dục, bổ sung vào nền giáo dục nói chung, bao gồm việc nghiên cứu những công nghệ và các môn khoa học có liên quan, và việc đạt được kỹ năng thực hành, thái độ, sự hiểu biết và kiến thức liên quan đến nghề nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế và cuộc sống xã hội Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật còn có thể được hiểu thêm là:

- Một phần không thể thiếu của nền giáo dục nói chung;

- Môt phương tiện (hoặc cách thức) nhằm chuẩn bị cho các lĩnh vực nghề nghiệp và tham gia hiệu quả vào thế giới việc làm;

- Một khía cạnh của học tập suốt đời và chuẩn bị cho tinh thần trách nhiệm công dân;

- Một công cụ cho việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện về môi trường;

- Một phương pháp để tạo điều kiện xóa đói giảm nghèo [48, tr.7]

 Giáo dục kỹ thuật ( Technical Education): là giáo dục để mưu sinh bằng một nghề nghiệp mà sự thành công phụ thuộc phần lớn vào kiến thức kỹ thuật và

sự hiểu biết về khoa học và công nghệ để ứng dụng vào sản xuất

 Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp: Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục lên trình độ cao hơn [20, chương 2]

Trang 13

 Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp: Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi, và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, mỗi nghề [20, chương 2]

1.1.3 Đào tạo theo nhu cầu xã hội:

 Nhu cầu: “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm

nhận được” [24, tr7] Con người có nhiều nhu cầu đa dạng và phức tạp

Xét dưới góc độ xây dựng chương trình, cần biết nhu cầu của học sinh và nhu cầu của xã hội.Nhu cầu học sinh không thể tách biệt hoàn toàn khỏi nhu cầu xã hội và ngược lại Nhu cầu của nhóm này có liên hệ mật thiết với nhóm kia và thường hài hòa với nhau Chẳng hạn nhu cầu cá nhân về sự khỏe mạnh thể chất thì phù hợp với yêu cầu xã hội về những con người có thể chất khỏe mạnh Phân biệt giữa sở thích và mong muốn của học sinh là cần thiết trong xây dựng chương trình Sở thích ám chỉ thái độ, khuynh hướng thiên về một cái gì đó (Ví dụ ca hát, bóng rổ) Mong muốn bao gồm mơ ước, ao ước hoặc thèm khát một cái gì đó (Ví

dụ mong muốn có căn biệt thự sang trọng, nhiều quần áo hợp thời trang) Theo Peter F.Oliva thì không có mô hình xây dựng chương trình nào được phát triển theo sở thích hay mong muốn của học sinh Tuy nhiên những nhà xây dựng chương trình vẫn không lờ đi những sở thích và mong muốn chính đáng và có thật [50, tr.286-288]

 Thế nào là nhu cầu xã hội?

Nhu cầu xã hội là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều thành phần, trong đó có ba nhóm nhu cầu cơ bản: [6]

Nhu cầu của nhà nước là chiến lược phát triển nguồn nhân lực với tầm nhìn xa đến mười lăm, hai mươi năm, với các ngành nghề đặc biệt, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của đất nước Nhu cầu đào tạo này thường chọn các mục tiêu đi trước, đón đầu về khoa học, công nghệ, vượt trước nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp Nhu cầu đào tạo này có số lượng lớn, có căn cứ và có cơ sở dự doán hàng năm

Nhu cầu của doanh nghiệp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bao gồm đào tạo cán bộ quản lý và lao động chuyên môn trực tiếp Phần lớn nhu cầu của

Trang 14

doanh nghiệp là đào tạo nhân lực lao động chuyên môn trực tiếp, đòi hỏi người học sau khi tốt nghiệp có thể làm việc được, phù hợp với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp Nhu cầu đào tạo này phù hợp với các trình độ: đại học theo hướng trình độ ứng dụng, kỹ thuật viên trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Tuy nhiên nhu cầu đào tạo này chưa được tổng hợp, thiếu thông tin dự báo nhu cầu đào tạo hàng năm

Nhu cầu của người học là nhu cầu cá nhân của học sinh, sinh viên Nhu cầu này thường thay đổi, đa dạng nhưng phải được nghiên cứu và tôn trọng Đó là nhu cầu của bản thân người học để nâng cao trình độ, học để tìm kiếm việc làm, để làm một nghề có thể sống được, học để tìm việc làm cho mình và cho người khác Bên cạnh đó là nhu cầu của gia đình và phụ huynh học sinh, hướng con em

họ lựa chọn ngành nghề theo truyền thống gia đình Nhu cầu của người học thường thay đổi một cách tự phát, theo nhu cầu của thị trường lao động, rất khó xác định nhưng cần phải dự báo

Ba nhóm nhu cầu thường xuyên biến động, thay đổi theo từng giai đoạn, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo ra một tập hợp, có các vòng giao thoa với nhau Tùy theo tầm nhìn và nhiệm vụ đào tạo, nhà trường điều chỉnh số lượng người học, ngành nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp với

xu thế phát triển, thỏa mãn nhu cầu đào tạo của nhà nước, của doanh nghiệp và nhu cầu của bản thân người học

 Đào tạo theo nhu cầu xã hội:

 Đào tạo theo nhu cầu xã hội là các trường phải đào tạo đúng những ngành

mà xã hội cần Nguồn nhân lực được đào tạo không thiếu hay không thừa sẽ tránh sự lãng phí về phía nhà nước là nguồn lực, về người dân là tiền bạc và với người là cơ hội và thời gian

 Đào tạo theo nhu cầu xã hội là người được đào tạo khi ra trường phải đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng, tức là phải làm việc phù hợp với quy mô của doanh nghiệp “Nếu chúng ta đào tạo trình độ làm việc trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chắc chắn không thể thõa mãn nhu cầu của một công

Trang 15

ty đa quốc gia Do đó phải xác định nhà trường sẽ đáp ứng nhu cầu xã hội ở múc độ nào, người sử dụng phải đào tạo lại, đào tạo thêm những gì ”[ 53] Như vậy, cần phải có các cơ quan dự báo về nhu cầu của xã hội về số lượng theo ngành nghề và trình độ đào tạo ở các cấp: quốc gia, vùng miền và từng địa phương với tầm nhìn từ thời gian ngắn cho đến trung và dài hạn “Từng

cá nhân, đơn vị, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng lao động ở từng địa phương phải cung cấp số liệu cho mạng lưới dự báo và năng lực đào tạo của từng trường, phân tích lựa chọn số liệu của từng ngành nghề và trình độ đào tạo thích hợp” [6]

Đào tạo theo nhu cầu xã hội là nhà trường đào tạo những gì mà xã hội cần chứ không phải những gì mà nhà trường có Để đáp ứng những nhu cầu của nhà tuyển dụng thì khi đào tạo nhà trường phải làm những cuộc khảo sát, thống

kê dự báo về nhu cầu của cơ sở sữ dụng lao động và nhu cầu người học để thông tin về số lượng người lao động cần đào tạo và chất lượng đào tạo Mặt khác, gắn kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ làm cho hiệu quả và chất lượng đào tạo sẽ tốt hơn

1.2 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ 1.2.1 Đặc trưng của hệ thống đào tạo nghề hiện đại

Trong thời đại khoa học và công nghệ đang phát triển với tốc độ vũ bão như hiện nay, hệ thống đào tạo nghề không chỉ tạo điều kiện giúp phát huy hết năng lực học tập của người học mà còn phải giúp cho họ có đủ năng lực để đương đầu với những thử thách của một thế giới nghề nghiệp luôn biến động Theo Nguyễn Minh Đường thì một hệ thống dạy nghề hiện đại có các đặc trưng sau:

 Mềm dẻo, linh hoạt với đa mục tiêu, nhiều loại hình để có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường lao động cũng như của người học;

 Có tính liên thông giữa các cấp trình độ, tạo khả năng cho người lao động có khả năng học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ để vươn lên đỉnh cao nghề nghiệp;

 Có khả năng chuyển đổi để người lao động có thể đổi nghề trước sự thay đổi nhanh chóng của sản xuất, của tiến bộ khoa học và công nghệ mà không cần phải học lại từ đầu;

Trang 16

 Thừa nhận năng lực của người nhập học, vì đầu vào của dạy nghề rất đa dạng với nhiều trình độ khác nhau Do vậy, dạy nghề phải có những chương trình thích hợp cho từng đối tượng;

 Các chương trình dạy nghề phải có tính doanh nghiệp để giúp học sinh có thể

tự tạo được việc làm sau khi tốt nghiệp [25, tr.18]

Trang 17

1.2.2 Xu hướng tiếp cận chương trình đào tạo trên thế giới

Có ba hướng tiếp cận trong việc thiết kế chương trình dạy học:

 Tiếp cận nội dung (Content approach): là cách tiếp cận chú trọng chủ yếu đến

nội dung kiến thức cần truyền thụ và mối quan tâm của người lập trình là nội dung kiến thức Quan trọng nhất khi xác định nội dung dạy học theo hướng này là khối lượng và chất lượng kiến thức cần truyền thụ cho người học

 Tiếp cận theo mục tiêu (Objective approach): là cách tiếp cận nhấn mạnh mục

tiêu đào tạo, coi mục tiêu đào tạo là tiêu chí để lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức thi cử và đánh giá kết quả đào tạo Mục tiêu dạy học cũng là chuẩn để đánh giá kết quả học tập

 Tiếp cận phát triển (Development approach): là cách tiếp cận chú trọng phát

triển những năng lực tiềm ẩn của cá nhân, phát triển sự hiểu biết của người học hơn là quan tâm đến việc người học nắm được một khối lượng kiến thức như thế nào [22, tr.141]

Mỗi cách tiếp cận đều có ưu và nhược điểm trong việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Tùy thuộc vào quan điểm của người dạy về mục đích dạy học để có cách tiếp cận phù hợp Do đó, từ những hướng tiếp cận chương trình đào tạo như trên, người nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” theo hướng tiếp cận mục tiêu

1.2.3 Các mô hình phát triển chương trình đào tạo nghề tiêu biểu trên thế giới 1.2.3.1 Mô hình phát triển chương trình đào tạo (Training Development model)

Do Tiến sĩ John Collum, đưa vào đào tạo từ năm 1995 tại Viện Đào tạo Giáo

viên kỹ thuật (TITI), Nepal [49]

Mô hình phát triển Chương trình đào tạo được xây dựng cho hệ thống chương trình đào tạo nghề theo mô-đun, phù hợp với mô hình đào tạo theo năng lực thực hiện Mô hình phát triển gồm các giai đoạn được thể hiện trong sơ đồ 1.1

Trang 18

Sơ đồ 1 1: Mô hình phát triển chương trình đào tạo của John Collum,TITI- Nepal

 Khảo sát thực trạng (Identify Organizational Climate): một số tổ chức xem

đào tạo nghề là cách để giải quyết tất cả các vấn đề của họ Trong giai đoạn của quá trình thiết kế đào tạo, các giảng viên nên trao đổi nhiều người để thu thập dữ liệu về: Nhu cầu tổ chức, kế hoạch hiện tại và tương lai của tổ chức,

phân tích đầu –cuối

Xác định mục đích đào tạo

Xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể

Xác định tiêu chí thành công của đào tạo

Đánh giá đào tạo

Xây dựng công cụ đánh giá

Xem xét lại toàn bộ

các giai đoạn

Tổ chức

đào tạo

Thiết kế hoạt động giảng dạy

Xây dựng tài liệu giảng dạy

Thu thập nguồn lực cho giảng dạy

Tiến hành đào tạo

Hướng dẫn đào tạo tiếp tục

Trang 19

thay đổi lãnh đạo trong tương lai gần, tầm quan trọng nơi tổ chức trong đào tạo Sau quá trình trao đổi đó, giảng viên sẽ có những nhận định rõ ràng, xác thực hơn trong tổ chức đào tạo

 Thực hiện phân tích đầu - cuối (Conduct Front- End Analysis): kết quả của

giai đoạn phân tích đầu - cuối nên là một danh sách kiến thức hay kỹ năng sẽ được giảng dạy trọng tâm trong quá trình đào tạo cùng với tiêu chuẩn thực hiện cho mỗi kỹ năng

 Xác định mục đích đào tạo (Determine training purpose and goals): việc xác

định mục đích đào tạo sẽ cung cấp thêm thông tin về công tác đào tạo Một số mục tiêu được viết như là tiêu điểm cho đào tạo, một số là bổ sung thêm, hoặc

cụ thể hơn kết quả Là mục đích cho toàn bộ chương trình học, xác định năng lực mà người hành nghề thực hiện

 Xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể (Develop training objectives): là xây dựng

mục tiêu cho mỗi mô-đun, hoặc cho từng kỹ năng Đây là mục tiêu thực hiện cuối cùng TPO (Terminal Performance Objective) Mỗi một kỹ năng sẽ được đánh giá theo quy trình và sản phẩm cuối cùng của người học

 Xác định tiêu chí thành công của đào tạo (Determine training success criteria): các tiêu chí được xây dựng trên cơ sở phân tích nghề, từ đó xác định

vị trí cụ thể người hành nghề làm việc Và được viết bằng thẻ kỹ năng, sau khi

đã qua đào tạo, thẻ kỹ năng có sẵn là để xác định tiêu chuẩn thành công của đào tạo

 Xem xét toàn bộ các giai đoạn (Review/ Rivise all phases): nhóm điều phối

xây dựng chương trình sẽ thực hiện công việc hoàn thiện chương trình, luôn theo dõi tiến trình xây dựng chương trình, cùng với chuyên gia nội dung và chuyên gia phương pháp thực hiện theo đúng quy trình Đồng thời tổ chức các hội thảo mời chuyên gia đóng góp ý kiến, thẩm định và ban hành chương trình

 Xây dựng công cụ đánh giá (Develop Evaluation Tool): bộ công cụ đánh giá

nhằm đánh giá năng lực thực hiện cho mỗi kỹ năng Đó là bảng đánh giá quy trình thực hiện thông qua các tiêu chí đánh giá

Trang 20

 Tổ chức đào tạo (Organize the training) bao gồm: sự giao tiếp, ngân quỹ, giá

cả, quyền lợi và sự thỏa thuận cho lợi ích của nhu cầu.Thiết kế các hoạt động

giảng dạy (Design Intructional Activities): thiết kế bài giảng nên xây dựng cho

mỗi kỹ năng Mỗi thẻ kỹ năng sẽ được đánh giá Tất cả các hoạt động nên theo trình tự cho hiệu quả học

 Xây dựng tài liệu giảng dạy (Design Intructional Materials): tất cả những tài

liệu hướng dẫn phải được chuẩn bị có chất lượng

 Thu thập nguồn lực cho giảng dạy (Obtain Intructional resources): nguồn lực

như là: chuyên gia nội dung chính, phim, video, sách, thiết bị phải được sắp xếp đủ thời gian

 Tiến hành đào tạo (Conduct the training): để chứng minh việc xây dựng trở

nên thiết thực

 Hướng dẫn đào tạo tiếp tục (Conduct training follow-up): Một chương trình

đào tạo có ý nghĩa khi nó mang đặc trưng lắp ghép và phát triển Người học được lựa chọn phương thức và thời gian học tập thích hợp Đồng thời họ có thể tham gia vào các khóa bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề trong lãnh vực chuyên môn

 Đánh giá quá trình đào tạo (Evaluate the training): Đánh giá quá trình đào tạo

làm căn cứ bổ sung, điều chỉnh chương trình đào tạo Đánh giá chương trình đào tạo nhằm đưa ra hướng cải thiện chương trình và đề xuất bồi dưỡng nâng cao năng lực đào tạo Đánh giá đào tạo theo quy trình thực hiện các kỹ năng của chương trình

1.2.3.2 Mô hình hệ thống công nghệ đào tạo (Training Technology Systems model – TTS) [47, tr.30]

Do Richard Swanson xây dựng đầu tiên vào năm 1987, phát triển dựa trên lý thuyết và các khái niệm thông dụng trong các lĩnh vực kinh tế, tâm lý, quản lý và giáo dục Mô hình có 5 giai đoạn như sau: phân tích, thiết kế, xây dựng, thực hiện, kiểm soát

Phân tích (Analyze): Trong giai đoạn phân tích, một tổ chức đào tạo và vấn đề

không đào tạo là hai lĩnh vực khác nhau Phân tích hành vi hoạt động để giúp khẳng

Trang 21

định các kết quả đánh giá nhu cầu làm nền tảng, thiết kế, xây dựng và đánh giá một chương trình đào tạo hoàn chỉnh

 Thiết kế (Design): Trong suốt giai đoạn thiết kế, cả việc thiết kế chương trình

và thiết kế bài giảng đều được quan tâm Mô hình chương trình có liên quan đến việc phối hợp một chương trình đào tạo cụ thể với các nhu cầu tổ chức

Tám yếu tố được xem như một quá trình thiết kế gồm có: “Tinh thần sẵn sàng đào tạo; Bài học; Cấu trúc nội dung; Chuỗi các bài giảng; Ngày dạy; Ôn tập

và thực hành; Củng cố và hiểu biết về kết quả” Mỗi bài học được chuẩn bị

như là một chuỗi bài học dựa trên phân tích hành vi hoạt động và 8 yếu tố trên

 Phát triển (Develop): Khi xây dựng chương trình, chúng ta viết phần ôn lại cho

mô hình bài học Chúng ta cần chuẩn bị người dạy và tài liệu dựa trên phương tiện để bổ sung cho bài soạn giáo án Phần này cũng bao gồm phần ôn lại kỹ

và kiểm tra tài liệu để đảm bảo chúng đáp ứng được nhu cầu

Sơ đồ 1 2: Mô hình hệ thống công nghệ đào tạo

( Nguồn: Finch, Curtis R and Crunkilton, John R 1993)

 Thực hiện (Implement): Giai đoạn thực hiện là xử lý việc quản lý và phân phối

giảng dạy Quản lý đào tạo gồm có thời khóa biểu môn học, xúc tiến và quản

4.2 Tổ chức đào tạo

5.3 Theo dõi sau Đào tạo

Chấp nhận để tiếp tục đào tạo

3.2 Lập bài kiểm tra thí điểm cho chương trình đào tạo

soát

5.2 Báo cáo đánh giá hiệu quả đào tạo

1.1 Đánh giá

nhu cầu và đề

xuất

2.1 Thiết kế chương trình

3.1 Phát triển tài liệu đào tạo

4.1 Kế hoạch quản lý chương trình

5.1 Đánh giá đào tạo

Trang 22

giảng dạy, một trong số này được các giáo viên sử dụng khi hướng dẫn riêng cho một đối tượng cụ thể với nội dung và trong ngữ cảnh cụ thể, giúp giáo viên nhất quán nội dung đã được xác định trong giai đoạn phân tích và có thể thực hiện được

 Kiểm soát (Control): Giai đoạn kiểm soát tập trung vào 3 phần: đánh giá và

báo cáo hiệu quả đào tạo, xem lại công tác đào tạo, duy trì công tác đào tạo của giáo viên khi họ trở lại công việc Thông tin này hữu ích vì nó có thể là đầu vào cho các quyết định quản lý gồm công tác xét duyệt chương trình đào tạo

1.2.3.3 Mô hình phát triển chương trình đào tạo nghề (Curriculum Development for Occupational Training – CDOT) [49]

Gồm ba giai đoạn: đánh giá nhu cầu, xây dựng chương trình, thực hiện đào tạo

Sơ đồ 1.3: Mô hình phát triển chương trình đào tạo nghề của Dr.John Collum

Phân tích nhu cầu đào tạo

 Phát triển mục tiêu chương trình

 Thiết kế cấu trúc chương trình

 Phát triển các đặc điểm của chương trình

Thiết kế chương trình

Tài liệu phân tích công việc

 Kiểm tra lại tên công việc

 Lựa chọn các công việc để đào tạo

 Thực hiện phân tích công việc

Phân tích công việc

Hướng dẫn chương trình

 Thực hiện phân tích giảng dạy

 Xây dựng các chỉ số đánh giá sự thực hiện

 Xây dựng mục tiêu học tập

 Xây dựng bộ hồ sơ về năng lực

Phân tích giảng dạy

 Phát triển các tài liệu giảng dạy

Xây dựng tài liệu

Trang 23

1.2.3.4 Mô hình hệ thống xây dựng chương trình giảng dạy (The Systematic

Curriculum & Instructional Development – SCID) [51, tr.22]

A1: Thực hiện phân

tích nhu cầu

A 3: Tiến hành kiểm tra các phần công việc

A 2: Tiến hành phân tích nghề

A 5: Tiến hành phân tích tiêu chuẩn công việc

A 4: Lựa chọn công

tích vấn đáp công việc

B 1: Xác

định phương

pháp đào tạo

B 2: Xây dựng mục tiêu học tập

B 3: Xây dựng hiệu suất đo lường

B 4: Xây dựng

kế hoạch đào tạo

C 1 a: Xây dựng bảng mô

tả năng lực

C 2 a: Xây dựng hướng

dẫn học tập/

Modules

C 1 b: Xây dựng chương trình giảng dạy

C 2 b: Xây dựng giáo án

C 3: Xây dựng phương tiện hỗ trợ

C 4: Kiểm tra thí điểm/Xem xét tài liệu

D 1: Thực thi

kế hoạch đào

tạo

D 2: Tiến hành đào tạo

D 3: Tiến hành đánh giá tổng thể

D 4: Lưu

hồ sơ đào tạo

Thành phần chính PHÂN TÍCH

THIẾT KẾ

XÂY DỰNG

THỰC HIỆN

Hoặc

Trang 24

Sơ đồ 1.4: Sơ đồ SCID (The systemati Curriculum & Instructional Development)

của Trung tâm giáo dục và đào tạo việc làm tại “ The Ohio State University”

Mô hình gồm các giai đoạn như sau:

 Giai đoạn 1: Phân tích chương trình (Curriculum Analysis): bao gồm 6 thành

tố Thành tố thứ nhất, là phân tích nhu cầu, trong đó các nhu cầu thực sự phải được xác định Thành tố thứ hai, là phân tích nghề nên sử dụng phương pháp DACUM Thành tố thứ ba, là kiểm tra công việc phân tích, việc kiểm tra này

có thể mở rộng trong phân tích nghề, với cỡ mẫu phỏng vấn từ một đến 100 hoặc hơn 100 công nhân lành nghề, điều này cung cấp phương tiện đánh giá

về tầm quan trọng và độ khó của của mỗi công việc, thu thập được các thông tin có giá trị về nghề cần phân tích Với các thông tin đã thu thập được, rất dễ

dàng lựa chọn được công việc để đưa vào chương trình Thành tố thứ tư, là lựa chọn công việc để đào tạo trong chương trình Thành tố thứ năm, là phân tích

tiêu chuẩn công việc Thông tin được thu thập trong bước này cực kỳ quan trọng trong việc xác định các bước và các quyết định về thực hiện công việc,

kiến thức, tiêu chuẩn nghề Thành tố thứ sáu, là phân tích công việc trình bày,

đây là kỹ thuật phỏng vấn và quan sát các công nhân lành nghề khi họ thực hiện công việc của họ

 Giai đoạn 2: Thiết kế chương trình giảng dạy (Curriculum Design): gồm 4

thành tố, dựa trên các thông tin đã thu thập ở giai đoạn một Thành tố thứ nhất,

xác định hướng tiếp cận đào tạo trong chương trình, điều quan trọng là loại

chương trình giảng dạy nào cần phải xây dựng Thành tố thứ hai, là xây dựng các mục tiêu học tập cho mỗi công việc hay nhóm công việc Thành tố thứ ba,

là xây dựng tiêu chuẩn đo lường mức độ hoàn thành công việc Thành tố thứ

tư, là lập kế hoạch đào tạo, kế hoạch này phải được lập một cách chi tiết và đề cập đến nhiều khía cạnh

Trang 25

 Giai đoạn 3: Xây dựng hướng dẫn (Instructional development): bao gồm 4

thành tố, thường được sử dụng cho các chương trình giảng dạy dựa trên năng

lực hoặc dựa trên thành tích công việc Thành tố thứ nhất là xây dựng bảng

mô tả năng lực Thành tố thứ hai, là xây dựng các hướng dẫn học tập hoặc các mô-đun học tập (Đối với chương trình truyền thống thì thành tố đầu tiên là, xây dựng các chương trình hướng dẫn Thành tố thứ hai trong chương trình này là xây dựng giáo án Thành tố thứ ba, là xây dựng các phương tiện hỗ trợ,

đó có thể là những tấm phim đèn chiếu đơn giản, poster, các slide trình chiếu,

hoặc các băng hình video… Thành tố cuối cùng, trong giai đoạn này là kiểm

tra thí điểm và xem xét lại tài liệu, bước này rất quan trọng cần đầu tư nhiều

về kinh tế và thời gian để điều chỉnh và cải tiến những điểm cần thay đổi

 Giai đoạn 4: Thực hiện đào tạo (Training Implementation) gồm 4 bước: Bước

thứ nhất, bắt đầu bằng việc thực hiện kế hoạch đào tạo đã được xây dựng ở giai đoạn thiết kế Bước thứ hai, sau khi thử nghiệm là việc tiến hành đào tạo Bước thứ ba, là tiến hành đánh giá định hình Bước cuối cùng là lưu hồ sơ đào

tạo

 Giai đoạn 5: Đánh giá chương trình (Program Evaluation): giai đoạn cuối

cùng này bao gồm cả 3 thành tố: sau khi đánh giá sơ bộ đã hoàn tất, Bước Thứ nhất, là đánh giá tổng thể để thu thập các số liệu sử dụng cho việc duy trì hay cải tiến chuơng trình đào tạo Thứ hai, là phân tích và lý giải những thông tin thu thập sẽ giúp đưa ra các kiến nghị về cải tiến chương trình Bước cuối cùng

trong giai đoạn này là hiệu chỉnh những hoạt động Hoàn tất giai đoạn đánh giá sẽ tạo ra dữ liệu về kết quả hoàn thành công việc trong việc xây dựng bất

kỳ chương trình đào tạo nào

Từ những mô hình phát triển chương trình của các tác giả như trên, người nghiên cứu thấy rằng các bước cần thiết để phát triển chương trình là đi từ bước phân tích đến bước cuối cùng là đánh giá Cho nên người nghiên rút ra nhiệm vụ cơ bản và các bước cần thiết để phát triển một chương trình đào tạo nghề là: khảo sát thực trạng hoặc nhu cầu, phương án xây dựng, thực hiện, kiểm tra và đánh giá

1.2.4 Phát triển chương trình trên cơ sở phân tích nghề

1.2.4.1 Phân tích nghề

Trang 26

Phân tích nghề được tiến hành trước khi xây dựng chương trình, kết quả phân tích nghề làm cơ sở cho công tác xây dựng chương trình đào tạo nghề Trong giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp có các phương pháp phân tích nghề:

 Phân tích nghề theo phương pháp cổ điển

 Phân tích nghề theo phương pháp chuyên gia

 Phân tích nghề theo phương pháp DACUM

Trong đề tài này người nghiên cứu sử dụng “Phương pháp phân tích nghề theo DACUM”, bởi vì:

 Đây là phương pháp nhanh nhất (không quá 2 ngày) và như vậy kinh tế nhất để

có thể thu thập thông tin về các nhiệm vụ và công việc mà người hành nghề đang thực hiện trong thời điểm phân tích nghề;

 Thành viên tiểu ban chuyên gia là những người lao động lành nghề, không bao gồm những người thuộc lĩnh vực đào tạo nhằm hạn chế thấp nhất ý muốn chủ quan của người xây dựng chương trình;

 Biểu đồ DACUM phản ánh khách quan một bức tranh tổng thể là một ma trận bao gồm các nhiệm vụ, công việc, kiến thức liên quan, dụng cụ/ thiết bị và đặc điểm người hành nghề, được hình thành từ một hội thảo gồm các chuyên gia lành nghề;

 Cập nhật hoá được nội dung đào tạo cho sát thực với nhu cầu của hoạt động nghề nghiệp;

 Lôi kéo được các nhà doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất vào quá trình xác định nội dung đào tạo Tạo được mối liên hệ chặt chẽ giữa đào tạo với sản xuất và việc làm

Phân tích nghề theo phương pháp DACUM

DACUM là một phương pháp phân tích nghề và một trong những ứng dụng của nó nhằm để phát triển các chương trình đào tạo Dự án “Tăng cường các Trung tâm Dạy nghề” (SVTC) do Thụy Sĩ tài trợ, tiếp cận với phương pháp DACUM và

áp dụng vào hoạt động xây dựng chương trình dạy nghề dành cho hệ đào tạo ngắn

Trang 27

hạn của các Trung tâm dạy nghề (nay là đào tạo nghề trình độ sơ cấp) trong giai đoạn 1995- 2008

Phương pháp này cũng được Dự án giáo dục Kỹ thuật và dạy nghề (VTEF) sử dụng trong quy trình xây dựng các tiêu chuẩn kỹ năng nghề

Bản chất của phân tích nghề theo phương pháp DACUM là sự phối hợp hoạt động của một nhóm các chuyên gia nội dung (là những người đang trực tiếp hoạt động một cách thành đạt trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình) với một chuyên gia phương pháp Các chuyên gia nội dung là nguồn tư liệu phong phú với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề Chuyên gia phương pháp là người nắm vững các nguyên tắc, quy trình và cách thức tiến hành một phân tích nghề theo phương pháp DACUM Chuyên gia phương pháp không áp đặt ý tưởng của mình, mà chỉ đưa ra các gợi ý, dẫn dắt, phối hợp sự hoạt động của các chuyên gia nội dung để chính họ nói ra được một cách chính xác và đầy đủ những gì họ thường làm trong suốt quá trình hoạt động nghề nghiệp của họ [1, tr.3]

 Triết lý phân tích nghề theo DACUM [1, tr.3]

- Người lao động lành nghề có thể mô tả nghề chính xác hơn bất kỳ ai khác;

- Cách hữu hiệu để định nghĩa một nghề là mô tả những công việc mà người lao động lành nghề của nghề đó thực hiện;

- Mọi công việc đều đòi hỏi những kiến thức, kỹ năng, dụng cụ và thái độ nhất định để thực hiện

 Tổ chức và quy trình phân tích nghề theo phương pháp DACUM

Phân tích nghề theo phương pháp DACUM gồm 3 giai đoạn như sau:

- Chuẩn bị thực hiện hội thảo phân tích nghề theo phương pháp DACUM;

- Thực hiện hội thảo phân tích nghề trong tiểu ban DACUM;

- Thẩm tra sơ đồ phân tích nghề

* Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực hiện hội thảo phân tích nghề theo phương pháp DACUM

Lập kế hoạch hội thảo

Trang 28

- Bảo đảm thủ tục hành chính

- Xác định qui mô tiểu ban DACUM (8 – 12 người)

- Thời gian biểu hoạt động

- Chọn phòng hội thảo: Phòng tiến hành hội thảo và cách bố trí chỗ ngồi cho các thành viên tham gia được quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và phát huy hết được năng lực của các thành viên tham gia phân tích nghề Phương tiện sử dụng chính trong phân tích nghề theo DACUM là các thẻ bìa màu cỡ A5 và cao su dính tạm thời, gồm 2 màu để phân biệt giữa công việc và nhiệm vụ

- Quyết định quan sát viên

- Kế hoạch theo dõi các hoạt động

Hoạt động xác định các thành viên tham gia hội thảo phân tích nghề

Hai thành phần quan trọng quyết định sự thành công của việc phân tích nghề theo phương pháp DACUM là các chuyên gia nội dung (Expert workers) và chuyên gia phương pháp hay còn gọi là “thông hoạt viên DACUM” (DACUM facilitator):

- Nhóm chuyên gia nội dung gồm 8-12 người Đó là những người trực tiếp hành nghề, có kinh nghiệm và thành công trong nghề đang phân tích, có hiểu biết đầy đủ về trách nhiệm và thực sự làm được thành thạo các công việc của nghề Tiêu chuẩn lựa chọn chuyên gia nội dung:

+ Là người đang trực tiếp hoạt động trong nghề

+ Là người giỏi nghề, làm thành thạo các công việc trong nghề

+ Cởi mở, không định kiến

+ Đảm bảo tham gia suốt thời gian hội thảo

+ Không phải là giáo viên đang dạy, không phải là cán bộ quản lý

- Thông hoạt viên DACUM là người được đào tạo cẩn thận (có chứng chỉ hành nghề), đây là người dẫn chương trình làm cho quá trình phân tích nghề được dễ dàng và thuận lợi Tuy vậy, thông hoạt viên DACUM không được là

Trang 29

nhà chuyên môn về nghề cần phân tích để tránh sự áp đặt chủ quan Thông hoạt viên DACUM sẽ áp dụng phương pháp công não (Brain storming) với nhóm chuyên gia nội dung trong suốt quá trình hội thảo phân tích nghề

Nhóm chuyên gia nội dung làm việc với sự điều khiển của thông hoạt viên Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia nội dung: là đưa ra được danh mục các nhiệm vụ và các công việc của một nghề Danh mục này phải sát thực và hiện hữu

* Giai đoạn 2: Thực hiện hội thảo phân tích nghề theo phương pháp DACUM

Nguyên tắc làm việc trong hội thảo phân tích nghề theo DACUM

- Mọi thành viên đều bình đẳng như nhau

- Các ý tưởng được chia sẻ một cách tự do

- Mỗi lần một người phát biểu

- Tất cả ý kiến đều được xem xét

- Ý kiến được ghi lên thẻ

- Tránh chỉ trích các câu phát biểu vì có thể hạn chế các ý tưởng

- Cân nhắc kỹ từng câu phát biểu công việc

- Không sử dụng tài liệu tham khảo

- Tất cả các quyết định đều được đa số chuyên gia nhất trí

- Thoải mái, vui vẻ

Trang 30

Tiến trình hoạt động của hội thảo

- Thông hoạt viên DACUM định hướng cho các thành viên tham gia hội thảo phân tích nghề xác định rõ các khái niệm để phát biểu chính xác: nhiệm vụ; phát biểu về một nhiệm vụ; công việc; phát biểu về một công việc

- Thông hoạt viên điều khiển tiểu ban DACUM phát biểu các nội dung

 Xác định các tên nghề, phạm vi hoạt động của nghề: Đưa ra một giải thích ngắn gọn, để hiểu biết nhưng đủ để biết rõ về nghề;

 Xác định nhiệm vụ của nghề: Được hiểu là những phần việc, chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vị trí trong sản xuất Một nhiệm vụ thường bao gồm

từ 6-20 công việc Một nghề thường có từ 8-12 nhiệm vụ Câu phát biểu một nhiệm vụ bắt đầu bằng một động từ, bổ ngữ và phần chuyên môn;

 Xác định các công việc phải thực hiện trong từng nhiệm vụ cụ thể;

 Xem xét và chọn lọc những phát biểu về nhiệm vụ và công việc;

 Liệt kê dụng cụ, thiết bị và kiến thức liên hệ với công việc;

 Xếp thứ tự các nhiệm vụ và công việc;

 Xác định trình độ thực hiện công việc;

 Xác định tính chất nghề nghiệp và đặc điểm tích cách người thợ

* Giai đoạn 3: Thẩm tra sơ đồ phân tích nghề

Thông thường việc thẩm tra sơ đồ phân tích được thực hiện ngay sau khi hội thảo phân tích nghề, với số lượng từ vài chục tới vài trăm người bằng phương pháp gửi thư Tham gia góp ý cho sơ đồ phân tích nghề là các chuyên gia trực tiếp làm việc và thành công trong nghề, đại diện cho các khu vực địa lý và các trình độ khác nhau của nghề

 Định dạng sơ đồ phân tích nghề: Kết quả phân tích nghề theo phương pháp

DACUM có thể được định dạng theo 2 cách:

- Hình thành một ma trận bao gồm các ô nhiệm vụ và công việc

Trang 31

- Hình thành một danh mục tên các nhiệm vụ và công việc như một trang văn bản

Trang 32

1.2.4.2 Phđn tích công việc [1, tr.6]

 Tất cả câc công việc xuất hiện trong sơ đồ phđn tích nghề đều phải được mô tả chi tiết theo câc nội dung sau

- Kiến thức, kỹ năng, thâi độ cần thiết để thực hiện từng bước công việc;

- Câc quyết định, tín hiệu, lỗi thường gặp trong từng bước công việc

- Câc bước thực hiện trong từng công việc theo sơ đồ DACUM;

- Tiíu chuẩn thực hiện của từng bước công việc;

- Dụng cụ, trang thiết bị, vật liệu cần thiết để thực hiện từng bước công việc;

- Kiến thức, kỹ năng, thâi độ cần thiết để thực hiện từng bước công việc;

- Câc quyết định, tín hiệu, lỗi thường gặp trong từng bước công việc

 Định dạng phiếu mô tả công việc: Kết quả mô tả chi tiết câc công việc để thể hiện trong câc phiếu mô tả công việc

1.2.5 Tiíu chí đânh giâ đăo tạo nghề

Theo Donald Kirkpatrick, nếu lấy mục tiíu lă đăo tạo đối tượng đê có việc lăm, kết quả đăo tạo có thể được đânh giâ tối thiểu theo bốn bậc khâc nhau Đđy lă một trong những mô hình thường hay được trích dẫn nhiều nhất trong câc tăi liệu về đăo tạo nghề Câc tiíu chí âp dụng cho câc bậc năy cần được xđy dựng trong giai đoạn thiết kế ban đầu của khóa đăo tạo Những tiíu chí năy cần được đânh giâ trong

vă sau khóa đăo tạo Tất cả câc bậc liín quan tương hỗ với nhau vă đều quan trọng [15, tr.24] Mư ï c đ ô ü thà nh cô ng củ a

trong cá c tô ø chư ï c

đ à o tạ o nghề

THẤ P

CAO GIÁ TRỊ

Donald Kirkpatrick

Mức độ thănh công của đăo tạo trong tổ chức

GIÂ TRỊ

THẤP

Trang 33

Sơ đồ 1.5: Mức độ thành công của đào tạo trong tổ chức của Donaild Kikpatrick

 Bậc 1: Phản ứng (Reaction):Cách dễ nhất để đánh giá sự thành công của một khóa đào tạo nghề đơn giản là hỏi các học viên cảm tưởng của họ về khóa đào tạo Tuy không phải bao giờ cũng có cơ sở, các dữ liệu về phản ứng cần được thu thập cả trong thời gian khóa đào tạo lẫn vào cuối khóa Sử dụng những biểu mẫu và bảng câu hỏi đơn giản sẽ giúp cho công việc này trở nên dễ dàng

Bậc 2: Thu hoạch về kiến thức, kỹ năng (Gain in knowledge, skills): Trước khi

bắt đầu một khóa đào tạo nghề, cần vạch ra mục tiêu thiết thực về trình độ kiến thức và kỹ năng tối thiểu mà học viên cần đạt được trong quá trình đào tạo Từ đó, biết được các học viên đáp ứng được các mục tiêu học tập hay không

 Bậc 3: Năng lực hành nghề (Performance): Học viên thực sự thực hiện kỹ

năng sau khóa đào tạo chứ không chỉ trình diễn khả năng thực hiện kỹ năng đó trong khóa học Thu thập dữ liệu về “thực hiện” thông thường chỉ làm sau khóa đào tạo, trong công việc

 Bậc 4: Kết quả của tổ chức (Org Results): Để biết mục tiêu của khóa đào tạo

đã đạt được, kết quả thực sự của một khóa đào tạo quan trọng hơn nhiều so với mọi tiêu chí khác Khóa học chỉ thành công thực sự khi học viên sử dụng các

kỹ năng đã học để tạo nên thành quả Thu thập dữ liệu về “kết quả” thường chỉ

có thể làm sau khi khóa học đã kết thúc và tại nơi làm việc và đây là công việc khó khăn

Như vậy, trước khi thực hiện khóa đào tạo thì phải quyết định cần phải đánh giá kết quả khóa đào tạo đó như thế nào Các tiêu chí về sự thành công cho phép sau

đó nhìn nhận khóa đào tạo một cách khách quan

1.2.6 ĐÀO TẠO NGHỀ THEO MÔ-ĐUN

1.2.6.1 Xây dựng chương trình đào tạo nghề theo Mô-đun

Năm 1994, kết quả khảo sát các Trung tâm Dạy nghề để chuẩn bị cho các hoạt động Xây dựng chương trình dạy nghề của Dự Án SVTC tại Việt Nam đã dẫn đến một số kết luận sau:

 Các chương trình đào tạo nghề tại các Trung tâm Dạy nghề vẫn còn nặng về cung cấp kiến thức mà ít quan tâm đến kỹ năng thực hành cho học viên

 Mục tiêu đào tạo chương trình và các bài dạy thường không cụ thể

Trang 34

 Nội dung của chương trình hay các khóa học thường chỉ là danh mục các bài học do đó khó không thể hiện rõ khả năng hành nghề trong tương lai

 Cấu trúc chương trình nghề bao gồm nhiều khóa học được sắp xếp đơn tuyến theo hướng bắt buộc người học phải học toàn bộ các kỹ năng của một nghề nên không tạo điều kiện cho người học được lựa chọn theo nhu cầu và hoàn cảnh sống

 Thời lượng của chương trình vẫn còn nặng về lý thuyết

 Chưa kết nối rõ ràng các thông tin giữa sản xuất và đào tạo trong việc xây dựng chương trình do đó khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất chưa cao

 Chưa có một nguyên tắc về xây dựng chương trình cho dạy nghề ngắn hạn, các cơ sở dạy nghề chủ yếu chỉ tham khảo lẫn nhau cách xây dựng chương trình hoặc các chương trình sẵn có [34, tr.3]

Thực tế khảo sát còn cho thấy đối tượng học nghề ngắn hạn ở các cơ sở dạy nghề rất đa dạng với nhiều trình độ đầu vào khác nhau và đến từ nhiều địa phương khác nhau Cho nên quan điểm người nghiên cứu về tiếp cận xây dựng chương trình đào tạo nghề theo mô-đun, bao gồm danh mục các nhiệm vụ và công việc của nghề, trên cơ sở phân tích nghề DACUM và cập nhật thông tin từ nhu cầu xã hội, nhà tuyển dụng nhằm xác định năng lực hành nghề cho người học, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động, là giải pháp thực tế có hiệu quả trong giáo dục đào tạo nghề nghiệp nước ta hiện nay

1.2.6.2 Sơ lược về tình hình đào tạo nghề theo Mô-đun ở Việt Nam

Nhiều nước trên thế giới đã áp dụng mô-đun vào trong chương trình đào tạo nghề bởi phương thức đào tạo này có nhiều ưu điểm mà đặc biệt là đào tạo công nhân, kỹ thuật viên và nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ Hai tổ chức quốc tế lớn là UNESCO (Tổ chức Khoa học và Giáo dục quốc tế) và ILO (Tổ chức lao động quốc tế) không chỉ khuyến khích mà còn tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các nhóm mô-đun trong đào tạo nghề nói riêng và đào tạo nói chung Đối với ILO

đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo module hoàn chỉnh ILO đặt nhiệm vụ “quốc tế hóa” các mô-đun đào tạo Tuy nhiên, do trình độ kỹ thuật công nghệ mà công cụ lao động ở mỗi nước có sự khác nhau Như vậy, vấn đề “quốc tế hóa” các tài liệu học tập sẽ gặp nhiều khó khăn Bởi vậy, các đơn nguyên học tập phải cần chỉnh sửa cho phù hợp với hoàn cảnh mỗi nước, còn các nghề đặc thù phải

tự biên soạn giảng dạy chứ không tham khảo ở nước nào

Trang 35

Ở Việt Nam, việc tiếp cận đào tạo nghề theo mô-đun chỉ thật sự phát triển khi

có Dự án SVTC được thực hiện vào tháng 10/1994 theo Hiệp định song phương giữa 2 chính phủ Việt Nam và Thụy Sĩ Theo đó, Bộ LĐTB &XH là cơ quan chủ quản, Hợp tác phát triển Thụy Sĩ (SDC) là đơn vị tài trợ đã ủy nhiệm cho Tổng cục dạy nghề và tổ chức Swisscontact quản lý và thực hiện Dự án Mục tiêu của Dự án

là nhằm tăng cường năng lực cho các Trung tâm dạy nghề trong việc cung cấp kỹ năng nghề để người học có nhiều cơ hội hơn khi tham gia thị trường lao động

1.2.7 PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ THEO HƯỚNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI

Chương trình đào tạo được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

 Hiện nay việc xây dựng chương trình đào tạo của nhiều trường chưa dựa trên:

 Kết quả khảo sát thị trường

 Phân tích nhu cầu đào tạo

 Tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp

 Việc xây dựng chương trình đào tạo có sự tham gia của nhà tuyển dụng và doanh nghiệp chưa được phổ biến nhân rộng Việc tổ chức đánh giá chương trình đào tạo với sự tham gia của doanh nghiệp, cựu sinh viên, hội nghề nghiệp… không được thường xuyên để điều chỉnh chương trình

 Các trường mới thành lập, các ngành mới mở chỉ là sao chép chương trình đào tạo của một cơ sở nào đó có sẵn mà ít khi được xây dựng thích ứng với đặc điểm của trường, của ngành, của địa phương và trên cơ sở phân tích, khảo sát nhu cầu lao động

 Một số chương trình đào tạo chất lượng chưa cao cũng do các nguyên nhân thiếu đội ngũ chuyên gia phát triển chương trình đào tạo, thiếu các tiêu chuẩn nghề nghiệp làm cơ sở để xây dựng chương trình

Học tập kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về mô hình đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động đang được một số trường quan tâm nghiên cứu

Trang 36

 Mô hình đào tạo song hành có quá trình đào tạo nghề nghiệp tổ chức song hành tại nhà trường và doanh nghiệp trong suốt qúa trình đào tạo, đặc biệt là trong đào tạo các ngành về du lịch và quản lí khách sạn Mô hình đào tạo luân phiên

có quá trình đào tạo được thực hiện ở hai địa điểm Giữa mô hình đào tạo luân phiên và song hành có điểm khác nhau là mô hình song hành có lý thuyết và thực hành được gắn với nhau theo chủ đề có thời lượng ngắn theo tuần, còn mô hình luân phiên có thời lượng dài hơn theo từng giai đoạn

 Việc áp dụng mô hình đào tạo xen kẽ giữa học tập ở trường và cơ sở sản xuất được xem là một hình thức thử nghiệm nhằm gắn kết giữa đào tạo và thị trường lao động ( Trường Đại học Hoa Sen là một ví dụ)

 Một số trường đã tổ chức hội thảo, ký kết hợp tác với các doanh nghiệp nhằm đào tạo theo nhu cầu xã hội ( Ví dụ như Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật, trường Đại Học Nông Lâm,…)

Xây dựng danh mục nghề nghiệp là việc làm quan trọng để đảm bảo công tác thống

kê, dự báo nhu cầu nhân lực theo chuẩn mực chung Danh mục nghề nghiệp cần phân loại theo tiêu chuẩn quốc tế, có mô tả nghề nghiệp, những ngành kinh tế sữ dụng, cơ sở đào tạo ra nghề đó

 Để gắn đào tạo theo nhu cầu xã hội, tiêu chuẩn đào tạo phải bám sát tiêu chuẩn nghề

Việc đổi mới mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo phải căn cứ vào yêu cầu tại nơi làm việc trong hiện tại và tương lai [6]

1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội hiện nay là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà làm công tác nghề nghiệp Đào tạo của nhà trường cũng phải hướng đến những gì mà xã hội cần chứ không phải những gì mà nhà trường có Vì vậy khi phát triển chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà”, người nghiên cứu đã tiếp cận một số vấn đề để làm cơ sở cho luận văn nghiên cứu như sau:

 Người nghiên cứu đã tham khảo và kế thừa một số mô hình đào tạo nghề của các tác giả trên thế giới để rút ra cách thức tiến hành xây dựng một chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, nhân lực, tình hình kinh tế - xã hội,

Trang 37

văn hóa của địa phương là: khảo sát thực trạng, xác định nhu cầu, xác định mục tiêu, phân tích nghề, xây dựng và đánh giá chương trình

 Trong thực tiễn, chương trình đào tạo phản ánh rõ quan điểm dạy học của tác giả thiết kế lên nó Vì vậy, khi xây dựng chương trình yếu tố tiên quyết là phải xác định hướng tiếp cận Hướng tiếp cận quy định thành phần cấu trúc của toàn bộ hệ thống từ chương trình đào tạo đến các hoạt động dạy và học Người nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” theo hướng tiếp cận mục tiêu, coi mục tiêu đào tạo là tiêu chí để lựa chọn nội dung đào tạo, cách thức thực hiện và đánh giá hiệu quả đào tạo Với mục tiêu của chương trình đào tạo nghề này là người học sau khi ra trường có đủ trình độ và khả năng vào làm việc trong các gia đình cần người giúp việc nhà chuyên nghiệp với mức lương hấp dẫn

 Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, để tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Phương thức đào tạo nghề theo mô-đun được chọn

là phương thức phù hợp và hiệu quả để người nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân người học, yêu cầu của nhà

sử dụng lao động và xã hội hiện nay Đây là phương thức mà nội dung chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích nghề DACUM Với phương thức này, các mô-đun được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề giúp người học nghề có thể hành nghề sau khóa học Mặt khác, việc thiết kế chương trình nghề có các mô-đun cơ bản và mô-đun nâng cao sẽ tạo điều kiện cho người học có thể học trở lại nếu muốn nâng cao trình độ mà không phải đi lại từ đầu Đó cũng chính là tạo điều kiện cho người học có thể “học suốt đời” với quan điểm luân phiên nối tiếp về đào tạo ( Training), đào tạo lại (Retraining) và bồi dưỡng ( Upgrading) nhằm có cơ hội về việc làm, cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp trước những thay đổi liên tục trong xã hội hiện nay

 Năng lực chỉ có thể xác định thông qua các hoạt động của người lao động được tổng hợp, tinh lọc và tích hợp hình thành nên các mô-đun giảng dạy Các mô-đun được xây dựng trên cơ sở phân tích nghề theo phương pháp DACUM

Từ bảng danh mục nhiệm vụ và công việc của nghề, người nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nghề theo các mô-đun, với các công việc phù hợp Qua đó, xác định được các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học phải đạt được những tiêu chuẩn mà trong nghề thừa nhận, đồng thời thể hiện những kỳ vọng mà người chủ mong muốn khi tuyển dụng những người được đào tạo nghề

Trang 38

Tóm lại: người nghiên cứu cho rằng việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” theo mô-đun là cần thiết và phù hợp, giúp người học sau khi được đào tạo có cơ hội hướng đến và hoàn thiện các năng lực cần phải có của người lao động kỹ thuật trong điều kiện mới, đó chính là năng lực hành nghề, năng lực xã hội, năng lực thích ứng, năng lực sáng tạo và năng lực tự phát triển để

xã hội ngày càng phát triển, kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững

Trang 39

Chương 2:

CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ

Hồ Chí Minh, phía tây giáp

Tây Ninh, phía đông giáp

Đồng Nai Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một

Khí hậu Bình Dương mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình hằng năm

là 26,5 °C Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 - 2.000mm với số ngày có mưa là

120 ngày Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và

áp thấp nhiệt đới

2.1.2 Tài nguyên:

2.1.2.1 Tài nguyên rừng:

Hình 2.1: Bản đồ hành chánh tỉnh Bình Dương

Trang 40

Tính đến năm 2002, tỉnh Bình Dương có 13.923 ha Trong đó: Rừng tự nhiên

là 5.936 ha, rừng trồng 7.987 ha

2.1.2.2 Tài nguyên khoáng sản:

Bình Dương có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, nhất là khoáng sản phi kim loại có nguồn gốc magma, trầm tích và phong hoá đặc thù Đây

là nguồn cung cấp nguyên liệu cho những ngành công nghiệp truyền thống và thế mạnh của tỉnh như gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai khoáng

Kết quả thăm dò địa chất ở 82 vùng mỏ lớn nhỏ, cho thấy Bình Dương có 9 loại khoáng sản gồm: kaolin; sét; các loại đá xây dựng (gồm đá phun trào andezit,

đá granit và đá cát kết); cát xây dựng; cuội sỏi; laterit, than bùn…

2.2 TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH BÌNH DƯƠNG: 2.2.1 Đặc điểm dân số:

Dân số trên địa bàn tỉnh là 1.482.636 người, tăng 766.208 người so với năm

1999, trong đó tỷ lệ nam chiếm 48,10%, tỷ lệ nữ chiếm 51,90%, mật độ dân số 550 người/km² (theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009) Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác Kết quả điều tra dân số năm 2009 cho thấy: Trong 10 năm từ 1999-

2009 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm

Trên địa bàn Bình Dương có 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó là người Hoa, người Khơ Me

Với số dân tăng gấp đôi trong vòng 10 năm (1999 – 2009), chủ yếu là lượng lao động nhập cư từ các nơi khác đến làm việc nên dân số trong độ tuổi lao động chiếm trên 50% Tuy số người trong độ tuổi lao động cao, nhưng chưa qua đào tạo nên số lượng lao động đáp ứng nhu cầu sản xuất của các doanh nghiệp không lớn Chính vì vậy, việc đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp là rất lớn

2.2.2 Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương:

Vùng đất Bình Dương - Thủ Dầu Một ra đời cùng lúc với lịch sử hình thành Sài Gòn - Đồng Nai, từ thuở Nguyễn Hữu Cảnh "mang gươm đi mở cõi" Bắt đầu những năm 90, với chính sách trải thảm đỏ chào đón các nhà đầu tư, Bình Dương phút chốc trở thành địa phương phát triển năng động nhất trong tứ giác kinh tế trọng

Ngày đăng: 11/06/2016, 08:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. 1:  Mô hình phát triển chương trình đào tạo của John Collum,TITI- Nepal - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Sơ đồ 1. 1: Mô hình phát triển chương trình đào tạo của John Collum,TITI- Nepal (Trang 18)
Sơ đồ 1.3: Mô hình phát triển chương trình đào tạo nghề của Dr.John Collum - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Sơ đồ 1.3 Mô hình phát triển chương trình đào tạo nghề của Dr.John Collum (Trang 22)
Hình 2.1: Bản đồ hành chánh tỉnh Bình Dương - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Hình 2.1 Bản đồ hành chánh tỉnh Bình Dương (Trang 39)
Bảng 2.1: Tiêu chí khảo sát về thực trạng và nhu cầu học nghề giúp việc nhà của - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Bảng 2.1 Tiêu chí khảo sát về thực trạng và nhu cầu học nghề giúp việc nhà của (Trang 44)
Bảng 2.2: Tiêu chí khảo sát về thực trạng và nhu cầu  tuyển dụng đào tạo nghề giúp - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Bảng 2.2 Tiêu chí khảo sát về thực trạng và nhu cầu tuyển dụng đào tạo nghề giúp (Trang 45)
Bảng 2.4: Tiêu chí khảo sát thực trạng về chương trình đào tạo nghề “ Dịch vụ chăm sóc - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Bảng 2.4 Tiêu chí khảo sát thực trạng về chương trình đào tạo nghề “ Dịch vụ chăm sóc (Trang 46)
3.1.2.1. Hình ảnh minh họa tại buổi hội thảo (tham khảo thêm Phụ lục 10) - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
3.1.2.1. Hình ảnh minh họa tại buổi hội thảo (tham khảo thêm Phụ lục 10) (Trang 66)
3.2.1.2. Sơ đồ cấu trúc mô-đun của chương trình - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
3.2.1.2. Sơ đồ cấu trúc mô-đun của chương trình (Trang 71)
Bảng 3.2: Tiêu chí khảo sát chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” - Phát triển chương trình đào tạo nghề giúp việc nhà theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội tại tỉnh Bình Dương
Bảng 3.2 Tiêu chí khảo sát chương trình đào tạo nghề “Giúp việc nhà” (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w