Một khái niệm về chất lượng vừa mang tính đơn giản vừa dễ hiểu và có tính chất quảng bá rộng rãi đối với tất cả mọi người, đặc biệt là với người tiêu dùng, với các tổ chức, hoạt động sản
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
- -TIỂU LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG
Giảng viên hướng dẫn :
Học viên thực hiện :
HÀ NỘI – 2016
Trang 2Trình bày hiểu biết về “Quản lý chất lượng tập trung”
Bài Làm
I Tổng quan về chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm
1 Tổng quan về chất lượng sản phẩm
Trên thế giới, khái niệm về chất lượng sản phẩm đã từ lâu luôn gây ra
những tranh cãi phức tạp Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các khái
niệm về chất lượng nói chung và chất lượng sản phẩm nói riêng được nêu ra
dưới các góc độ khác nhau của mỗi cách tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt
Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của
sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không
phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách
thể khác Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của
nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách
thể Theo quan điểm này thì chất lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức
trừu tượng, nó không phù hợp với thực tế đang đòi hỏi
Một khái niệm về chất lượng vừa mang tính đơn giản vừa dễ hiểu và có
tính chất quảng bá rộng rãi đối với tất cả mọi người, đặc biệt là với người tiêu
dùng, với các tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ cũng
như với các phương pháp quản trị chất lượng trong các tổ chức, các doanh
nghiệp
Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng
Chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là một sự đạt một mức độ
hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi
người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất
Như vậy, theo nghĩa này thì chất lượng vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng của
nó Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
1
Trang 3trọng hơn, khái niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định hướng
được chất lượng Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà
không có khả năng áp dụng trong kinh doanh
Một quan điểm thứ 3 về chất lượng theo định nghĩa của W.A.Shemart
-một nhà quản lý người Mỹ Là người khởi xướng và đạo diễn cho quan điểm
này đối với vấn đề về chất lượng và quản lý chất lượng, Shemart cho rằng: Chất
lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những
đặc tính của sản phẩm, phản ánh giá trị sử dụng của nó
So với những khái niệm trước đó về chất lượng thì ở khái niệm này
Shemart đã coi chất lượng như là một vấn đề cụ thể và có thể định lượng được
Theo quan điểm này thì chất lượng sản phẩm sẽ là một yếu tố nào đó tồn tại
trong các đặc tính của sản phẩm và vì tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm
nên chất lượng sản phẩm cao cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sản
phẩm những đặc tính tốt hơn phản ánh một giá trị cao hơn cho sản phẩm và như
vậy chi phí sản xuất sản phẩm cũng cao hơn làm cho giá bán của sản phẩm ở
một chừng mực nào đó khó được người tiêu dùng và xã hội chấp nhận Do vậy,
quan điểm về chất lượng này của Shemart ở một mặt nào đó có một ý nghĩa nhất
định nhưng nhìn chung đây là một quan điểm đã tách rời chất lượng với người
tiêu dùng và các nhu cầu của họ Nó không thể thỏa mãn được các điều kiện về
kinh doanh và cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay
Quan điểm thứ 4 về chất lượng xuất phát từ phía người sản xuất Theo họ
quan điểm này, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu
chuẩn, những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước trong khâu
thiết kế sản phẩm Theo quan điểm này, chất lượng gắn liền với vấn đề công
nghệ và đề cao vai trò của công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm với chất lượng
cao Quan điểm này cho rằng “Chất lượng là một trình độ cao nhất mà một sản
phẩm có được khi sản xuất”
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
2
Trang 4Do xuất phát từ phía người sản xuất nên khái niệm về chất lượng theo
quan điểm này còn có nhiều bất cập mang tính chất bản chất và khái niệm này
luôn đặt ra cho các nhà sản xuất những câu hỏi không dễ gì giải đáp được Thứ
nhất, do đề cao yếu tố công nghệ trong vấn đề sản xuất mà quên đi rằng vấn đề
sản phẩm có đạt được chất lượng cao hay không chính là người tiêu dùng nhận
xét chứ không phải do các nhà sản xuất nhận xét dựa trên một số cơ sở không
đầy đủ và thiếu tính thuyết phục, đó là công nghệ sản xuất của họ Thứ hai, câu
hỏi đặt ra cho các nhà sản xuất là họ lấy gì để đảm bảo rằng quá trình sản xuất
được thực hiện trên công nghệ của họ không gặp một chở ngại hay rắc rối nào
trong suốt quá trình sản xuất, và một điều nữa, liệu công nghệ của họ có còn
thích hợp với nhu cầu về các loại sản phẩm, kể cả sản phẩm cứng loại và sản
phẩm thay thế trên thị trường hay không
Như vậy, theo khái niệm về chất lượng này các nhà sản xuất không tính
đến những tác động luôn luôn thay đổi và thay đổi một cách liên tục của môi
trường kinh doanh và hệ quả tất yếu của nó, trong khi họ đang say xưa với
những sản phẩm chất lượng cao của họ thì cũng là lúc nhu cầu của người tiêu
dùng đã chuyển sang một hướng khác, một cấp độ cao hơn
Để khắc phục những hạn chế còn tồn tại và những khuyết tật trong các
khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lượng
sản phẩm Khái niệm này một mặt phải đảm bảo được tính khách quan, mặt
khác phải phản ánh được vấn đề hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà chất
lượng sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh nghiệp, cho tổ chức Cụ
thể hơn, khái niệm về chất lượng sản phẩm này phải thực sự xuất phát từ hướng
người tiêu dùng Theo quan điểm này thì: “Chất lượng là sự phù hợp một cách
tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng”, với khái niệm trên về
chất lượng thì bước đầu tiên của quá trình sản xuất kinh doanh phải là việc
nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng về các loại sản phẩm hàng
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
3
Trang 5hóa hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp định cung cấp trên thị trường Các nhu cầu
của thị trường và người tiêu dùng luôn luôn thay đổi đòi hỏi các tổ chức, các
doanh nghiệp định cung cấp trên thị trường Các nhu cầu của thị trường và
người tiêu dùng luôn luôn thay đổi đòi hỏi các tổ chức, các doanh nghiệp tham
gia sản xuất kinh doanh phải liên tục đổi mới cải tiến chất lượng, đáp ứng kịp
thời những thay đổi của nhu cầu cũng như của các hoàn cảnh các điều kiện sản
xuất kinh doanh Đây là những đòi hỏi rất cơ bản mang tính chất đặc trưng của
nền kinh tế thị trường và nó đã trở thành nguyên tắc chủ yếu nhất trong sản xuất
kinh doanh hiện đại ngày nay Đó là sự thiếu chủ động trong các quyết định sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sự phụ thuộc quá nhiều và phức tạp của
doanh nghiệp vào khách hàng, người tiêu dùng có thể sẽ làm cho vấn đề quản lý
trở nên phức tạp và khó khăn hơn Tuy vậy, nó là một đòi hỏi tất yếu mang tính
chất thời đại và lịch sử
Ngoài các khái niệm đã nêu ở trên, còn một số khái niệm khác về chất
lượng sản phẩm cũng được đưa ra nhằm bổ sung cho các khái niệm đã được nêu
ra trước đó Cụ thể theo các chuyên gia về chất lượng thì chất lượng là:
Sự phù hợp các yêu cầu
Chất lượng là sự phù hợp với công dụng
Chất lượng là sự thích hợp khi sử dụng
Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
Chất lượng là sự phù hợp các tiêu chuẩn (bao gồm các tiêu chuẩn thiết kế
và các tiêu chuẩn pháp định)
Chất lượng là sự thỏa mãn người tiêu dùng
- Theo tiêu chuẩn ISO – 8402/1994 Chất lượng là tập hợp các đặc tính
của một thực thể nào đó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã xác định hoặc cần đến
- Theo định nghĩa của ISO 9000/2000 Chất lượng là mức độ của một tập
hợp các đặc tính vốn có đáp ứng được yêu cầu
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
4
Trang 6- Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quóc tế Chất lượng là tổng thể các chi tiêu,
những đặc trưng sản phẩm thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng,
phù hợp với công dụng mà người tiêu dùng mong muốn với chi phí thấp nhất và
thời gian nhanh nhất
Như vậy, chất lượng sản phẩm dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau
dựa trên những cách tiếp cận khác nhau đều có một điểm chung nhất Đó sự phù
hợp với yêu cầu Yêu cầu này bao gồm cả các yêu cầu của khách hàng mong
muốn thỏa mãn những nhu cầu của mình và cả các yêu cầu mang tính kỹ thuật,
kinh tế và các tính chất pháp lý khác Với nhiều các khái niệm dựa trên các quan
điểm khác nhau như trên, do vậy trong quá trình quản lý chất lượng cần phải
xem xét chất lượng sản phẩm trong một thể thống nhất Các khái niệm trên mặc
dù có phần khác nhau nhưng không loại trừ mà bổ sung cho nhau Cần phải hiểu
khái niệm về chất lượng một cách có hệ thống mới đảm bảo hiểu được một cách
đầy đủ nhất và hoàn thiện nhất về chất lượng Có như vậy, việc tạo ra các quyết
định trong quá trình quản lý nói chụng và quá trình quản lý chất lượng nói riêng
mới đảm bảo đạt được hiệu quả cho cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp hay tổ chức
2 Tổng quan về quản lý chất lượng sản phẩm
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: Quản lý chất lượng là
một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách,
mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định
chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng
trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng
Các phương pháp quản lý chất lượng
a) Phương pháp kiểm tra chất lượng
Phương pháp này được hình thành từ lâu và chủ yếu là tập trung vào khâu
cuối cùng (sản phẩm sau khi sản xuất) Căn cứ vào các yêu cầu kỹ thuật, các tiêu
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
5
Trang 7chuẩn đã được thiết kế hay các quy ước của hợp đồng mà bộ phận kiểm tra chất
lượng tiến hành kiểm tra nhằm ngăn chặn các sản phẩm hư hỏng và phân loại
sản phẩm theo các mức chất lượng Do vậy, khi muốn nâng cao chất lượng sản
phẩm người ta cho rằng chỉ cần nâng cao các tiêu chuẩn kỹ thuật bằng cách tăng
cường công tác kiểm tra Tuy nhiên với cách kiểm tra này không khai thác được
tiềm năng sáng tạo của từng cá nhân trong đơn vị để cải tiến, nâng cao chất
lượng sản phẩm Hơn nữa việc kiểm tra cũng gây nhiều tốn kém trong khi đó
loại bỏ được phế phẩm ít Mặc dù vậy phương pháp này cũng có một số tác
dụng nhất định nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính thực tế (đối tượng so
với quy định)
b) Phương pháp kiểm soát chất lượng toàn diện
Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện do Feigebaum đưa ra trong lần
xuất bản cuốn sách Total Quality Control (TQC) của ông năm 1951 Trong lần
tái bản lần thứ ba năm 1983, Ông định nghĩa TQC như sau: Kiểm soát chất
lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để thể chế hóa các nỗ lực phát triển
và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho
các hoạt động Marketing, kỹ thuật và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế
nhất, thỏa mãn hoàn toàn khách hàng
Kiểm soát chất lượng toàn diện huy động nỗ lực của mọi đơn vị trong
công ty vào các quá trình có liên quan tới duy trì và cải tiến chất lượng Điều
này sẽ giúp tiết kiệm tối đa trong sản xuất, dịch vụ, đồng thời thỏa mãn nhu cầu
khách hàng
Như vậy giữa kiểm tra và kiểm soát chất lượng có khác nhau Kiểm tra là
sự so sánh, đối chiếu giữa chất lượng thực tế của sản phẩm với những yêu cầu
kỹ thuật, từ đó loại bỏ các phế phẩm Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn, toàn
diện hơn Nó bao gồm toàn bộ các hoạt động Marketing, thiết kế, sản xuất, so
sánh, đánh giá chất lượng và dịch vụ sau bán hàng, tìm nguyên nhân và biện
pháp khắc phục
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
6
Trang 8c) Phương pháp quản lý chất lượng toàn diện
Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kỹ thuật quản lý mới, góp
phần nâng cao hoạt động quản lý chất lượng, như hệ thống “vừa đúng lúc” đã là
cơ sở cho lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện TQM
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách
hàng ở mức tốt nhất cho phép Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương
pháp quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho
công tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy
động sự tham gia của mọi bộ phận và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất
lượng đã đặt ra
Phương pháp TQM có một số đặc điểm cơ bản:
- Mục tiêu: coi chất lượng là hàng đầu, luôn hướng tới khách hàng
- Quy mô: TQM phải kết hợp với JIT nghĩa là phải mở rộng kiểm soát
- Cơ sở của hệ thống TQM: bắt đầu từ con người (trong ba khối chính của
sản xuất kinh doanh là máy móc thiết bị, phương pháp công nghệ, thông tin và
nhân sự) Điều này có nghĩa là cần có sự hợp tác của tất cả mọi người trong
doanh nghiệp từ cấp lãnh đạo đến công nhân xuyên suốt quá trình từ nghiên cứu
– triển khai – thiết kế - chuẩn bị - sản xuất – quản lý – dịch vụ -sau khi bán
Kỹ thuật thực hiện: áp dụng vòng tròn cải tiến chất lượng Deming:
PDCA
Plan (Lập kế hoạch): Xác định các phương pháp đạt mục tiêu Trong công
tác quản lý chất lượng thường sử dụng các công cụ như sơ đồ nhân quả, biểu đồ
Pareto để tìm ra các nguyên nhân, phân tích và đề ra các biện pháp thích hợp
Do (thực hiện công việc): Chú ý nguyên tắc tự nguyện và tính sáng tạo
của mỗi thành viên Thực hiện những tác động quản trị thích hợp
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
7
Trang 9Check (Kiểm tra kết quả thực hiện công việc): Mục tiêu là để phát hiện
những sai lệch và điều chỉnh kịp thời trong quá trình thực hiện Trong công tác
quản lý chất lượng việc kiểm tra được tiến hành nhờ phương pháp thống kê
Huấn luyện và đào tạo cán bộ (tin vào lòng người và không cần phải kiểm tra
thái quá)
Act (điều chỉnh): Khắc phục những sai lệch trên cơ sở phòng ngừa (phân
tích, phát hiện, loại bỏ nguyên nhân và có biện pháp chống tái diễn)
Vòng tròn Deming là công cụ quản lý chất lượng giúp cho các doanh
nghiệp không ngừng cải tiến, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả mỗi chức năng
của vòng tròn Deming PDCA có mục tiêu rõ ràng song chúng có tác động qua
lại với nhau và vận động theo hướng nhận thức là phải quan tâm đến chất lượng
là trước hết Quá trình thực hiện vòng tròn PDCA người ta đưa ra vòng tròn
PDCA cải tiến
II Quản lý chất lượng tập trung
1 Quản lý chất lượng xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ
thể tham gia các hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật có liên quan
trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử
dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công
trình
Nguyên tắc chung trong quản lý chất lượng công trình xây dựng :
1 Công tác khảo sát/thiết kế, thi công xây dựng công trình phải đảm bảo
an toàn cho bản thân công trình và các công trình lân cận; đảm bảo an toàn trong
quá trình thi công xây dựng và tuân thủ các quy định của Nghị định này
2 Công trình, hạng mục công trình chỉ được nghiệm thu để đưa vào sử
dụng khi đáp ứng được các yêu cầu của thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia,
tiêu chuẩn áp dụng cho công trình, chỉ dẫn kỹ thuật và các yêu cầu khác của chủ
đầu tư theo nội dung của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan
3 Tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện
năng lực phù hợp với công việc thực hiện, có hệ thống quản lý chất lượng và
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
8
Trang 10chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện trước
chủ đầu tư và trước pháp luật
4 Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng phù hợp với tính
chất, quy mô và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình trong quá trình thực hiện
đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này
5 Người quyết định đầu tư có trách nhiệm kiểm tra việc tổ chức thực hiện
quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư và các nhà thầu theo quy
định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan
6 Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác
quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; kiểm
tra, giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm
về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật
2 Quản lý chất lượng thi công xây dựng
Chất lượng thi công xây dựng công trình phải được kiểm soát từ công
đoạn mua sắm, sản xuất, chế tạo các sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng, cấu
kiện và thiết bị được sử dụng vào công trình cho tới công đoạn thi công xây
dựng, chạy thử và nghiệm thu đưa hạng mục công trình, công trình hoàn thành
vào sử dụng Trình tự và trách nhiệm thực hiện của các chủ thể được quy định
như sau:
1 Quản lý chất lượng đối với vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử
dụng cho công trình xây dựng
2 Quản lý chất lượng của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng
công trình
3 Giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư, kiểm tra và
nghiệm thu công việc xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình
4 Giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế trong thi công xây dựng công
trình
5 Thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm thử tải và kiểm định xây dựng trong
quá trình thi công xây dựng công trình
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc - Lớp 23QLXD11
9