1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHƯƠNG PHÁP dạy học TOÁN có lời văn ở học SINH lớp 1 TRƯỜNG TIỂU học VIỆT TIẾN VĨNH bảo hải PHÒNG

31 705 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 74,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu học sinh nắm được kĩ năng giải toán có lời văn thìcác em sẽ giải chính xác và làm nền tảng cho giải toán có lời văn ở các lớp trên 5.Nhiệm vụ nghiên cứu: Cơ sở lý luận về việc vận d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN

Ở HỌC SINH LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC VIỆT TIẾN- VĨNH BẢO-HẢI PHÒNG

Sinh viên nghiên cứu: Phạm Lê Mỹ Linh Lớp: ĐH Giáo dục tiểu học K15.3

Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Thị Cỏong

Năm học: 2015-2016

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của vấn đề

Cấp tiểu học là cấp học đầu tiên nền tảng của hệ thống giáo dục tạo ranhững cơ sở ban đầu rất cơ bản bền vững cho trẻ tiếp tục học ở lớp cao hơn Mỗimôn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển kĩ năng vànhân cách cho học sinh Trong đó môn toán và tiếng việt có vị trí đặc biệt quantrọng Bởi lẽ các kiến thức và kĩ năng sau này của môn toán của tiểu học cónhiều ứng dụng trong đời sống, cần thiết cho phát triển việc học Môn toán giúphọc sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian trong thế giớihiện thực , góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,phương pháp suy luận , phương pháp giải quyết vấn đề, giúp hình thành nhiềuphẩm chất quan trọng Ở tiểu học môn toán có rất nhiều nội dung khác nhau,trong đó giải toán có lời văn chiếm một vị trí rất quan trọng Học giải toán có lờivăn không đơn thuần như học các phép tính thông thường, để giải được nhữngbài toán đòi hỏi học sinh phải tư duy cao , phải phân tích bài toán, chọn lời giảingắn gọn phù hợp với yêu cầu đề bài đưa ra và tìm cách tính đúng đắn Đồngthời giải toán có lời văn có ý nghĩa sau: Có tác dụng giáo dục học sinh có ý chívượt khó, đức tính cẩn thận chu đáo, làm việc có kế hoach , tự kiểm tra côngviệc của mình, có óc độc lập suy nghĩ sáng tạo Thông qua các bài toán có lờivăn giúp rèn luyện phát triển các năng lực giải quyết vấn đề khả năng diễn đạt

Ở lứa tuổi lớp một, kiến thức đối với các em đều mới lạ, sự nhận thức củacác em còn non kém, tư duy kém bền vững và đang ở giai đoạn phát triển Trong

đó, vốn hiểu biết vốn sốn lại quá ít, trình độ nhận thức lại không đồng đều Khigiải bài toán có lời văn các em phải đọc nhiều viết nhiều câu lời giải phù hợp vớiphép tính , với yêu cầu bài toán đã ra Qua việc giải toán có lời văn cho học sinhgiáo viên có thể dễ dành phát hiện những mặt mạnh, yếu của từng em về kiếnthức, kĩ năng, tư duy giúp học sinh phát huy được tính chủ động sáng tạo.Hướng dẫn học sinh tìm được lời giải đúng và hay là rấ khó Để dạy tốt dạngtoán này đòi hỏi phải đầu tư nghiên cứu, tìm ra những biện pháp cụ thể cho từngtiết dạy

Phương pháp dạy học phù hợp giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và kếtquả tiêp thu, phát huy tính tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh

Vì vậy mà em nghiên cứu “ Phương pháp dạy học toán có lời văn ở học sinh lớp

1 trường tiểu học Việt Tiến “

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này góp phần nâng cao phân môn và hình thành kĩ năngdiễn đạt, kĩ năng tư duy, kĩ năng suy luận cho học sinh nhằm xuất một số biệnpháp hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh lớp một

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học toán có lời văn ở học sinh lớp một

3.2 Khách thể nghiên cứu

Giáo viên và học sinh lớp 1 Trường tiểu học Việt Tiến

22 giáo viên và 140 học sinh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và sử dụng các biện pháp trên cơ sở đảm bảo tính khoa học,tính thực tiễn và khả thi có thể góp phần nâng ca chất lượng giải toán có lời văncho học sinh lớp một Nếu học sinh nắm được kĩ năng giải toán có lời văn thìcác em sẽ giải chính xác và làm nền tảng cho giải toán có lời văn ở các lớp trên

5.Nhiệm vụ nghiên cứu:

Cơ sở lý luận về việc vận dụng phương pháp dạy học toán có lời văn ở họcsinh lớp 1 trường tiểu học Việt Tiến Vĩnh Bảo Hải Phòng

Thực tiễn của về phương pháp dạy học toán có lời văn ở học sinh lớp một

Đề xuất một số biện pháp nhằm vận dụng hiệu quả các phương pháp dạyhọc toán có lời văn ở học sinh lớp một góp phần nâng cao chất lượng dạy học

6 Phạm vi nghiên cứu

Vì thời gian và khả năng có hạn nên em chỉ đi sâu nghiên cứu vấn đềsau:”Chương trình toán lớp một mạch kiến thức giải toán có lời văn”

7 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đảm bảo tính chính xác, khoa học khách quan em phối hợpcác phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 5

-Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, kháiquát hóa tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dưng cơ sở lý luậncho đề tài

-Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia : Giảng viên hướng dẫn tìm hiểu vấn

Trang 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN

CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 1 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ xưa tới nay phương pháp luôn là điều quan trọng trong tất cả các việclàm, nếu không có phương pháp rõ ràng sẽ khó khăn trong việc tiến hành dẫn tớikết quả đạt được không cao Phương pháp là cách thức con đường biện pháp đểthực hiện một hoạt động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Do vậy yếu tốphương pháp luôn được đè cao đặc biệt trong dạy học toán( môn học logic).Phương pháp dạy học là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy vàngười học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định Dạy giảitoán có lời văn ở lớp 1 là vấn đề khó nên phương pháp dạy học rất cần thiết Córất nhiều các nghiên cứu liên quan đến phương pháp dạy toán như:

-Phương pháp dạy học môn toán ở tiểu học (Nhà xuất bản giáo dục-2008) -Hướng dẫn giải toán (Nhà xuất bản giáo dục)

-Những lỗi khi giải toán ở tiểu học (Nhà xuất bản giáo dục 2010)

-Phương pháp giải bài toán ở tiểu học – Lê Công Hạnh

-Phương pháp viết nghiên cứu ứng dụng sư phạm

-Sách giáo viên thiết kế môn toán ở lớp một

-Sách giáo khoa lớp 1

-Các đề tài nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp của các trường đại học

Có vô vàn nghiên cứu liên quan đến toán học và phương pháp dạy học môntoán ở tiểu học và ở lớp một nhưng chưa có nghiên cứu nào ở trường tiểu họcViệt Tiến Vậy bài nghiên cứu của em là nghiên cứu phương pháp dạy học toán

có lời văn ở học sinh lớp 1 ở trường tiểu học Việt Tiến

1.2 Bài toán có lời văn

Bài toán có lời văn được hiểu là tình huống có vấn đề trong đó chứa đựngcác dữ kiện ẩn số nhất định, ẩn số được mô tả bằng các tình huống ngôn ngữ Việc giải nó chủ thể phải phân tích tình huống ngôn ngữ để tìm kiếm thuật giảitrong đó

Các bài toán có lời văn ở tiểu học chia làm hai dạng : bài toán đơn và bàitoán hợp Bài toán đơn là bài toán khi giải chỉ có một phép tính Khi giải tốt các

Trang 7

bài toán đơn có thể tổng hợp để giải bài toán hợp Đối với học sinh lớp một mớichỉ học bài toán đơn

Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản môn toán 1( số và phép – đo đại lượng – yếu tố hình học – giải toán có lời văn )

Mục tiêu của daỵ học giải toán có lời văn lớp một nhằm giúp học sinh : Nhận biết được thế nào là bài toán có lời văn ( cấu trúc các phần của bàitoán)

Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính cộng hoặcmột phép tính trừ Trong đó có bài toán về thêm bớt một số đơn vị ( viết đượcbài giải bao gồm : câu trả lời , phép tính và đáp số)

Bước đầu phát triển tư duy , rèn luyện phương pháp giải toán có khả năngdiễn đạt ( phân tích vấn đề, giải quyết vấn đề trình bày vấn đề bằng ngôn ngữnói và viết ) Tăng cường dạy học phương pháp giải toán nhằm giúp học sinhbiết nêu bài toán từ một tình huống cụ thể ( nêu vấn đề) biết trình bày bài giải( trình bày vấn đề) không sa vào những bài tán đánh đó với lời giải quá phức tạpvượt quá độ chuẩn Đó là tích cực rèn luyện khả năng diễn đạt cho học sinh ngay

từ lớp một, tăng cường kỹ năng giải toán thực hành luyện tập với những bài toán

có tính cập nhật gắn liền với thực tiễn sinh động liên quan đến môi trường sốngxung quanh các em

Thông qua giải toán có lời văn các em phát triển được trí tuệ, rèn luyện kĩnăng tổng hợp: đọc viết diễn đạt trình bày tính toán Toán có lời văn là mạchkiến thức tổng hợp các mạch kiến thức toán học Toán có lời văn là cầu nối giữatoán học và đời sống thực tế , giữa toán học và các môn khác

1.3 Cơ sở thực tiễn

Đối với học sinh lớp một, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc hiểubài toán có lời văn, việc hoàn thành bài toán có câu lời giải và phép tính phù hợpkhông dễ Mục đích chính của đề tài là giúp giáo viên nói-học sinh hiểu-họcsinh thực hành diễn đạt đúng

*Thực trạng học sinh lớp 1

-Một số em chưa biết tóm tắt bài toán , chưa biết phân tích đề toán để tìm

ra đường lối, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về thiếulogic

Trang 8

-Ngôn ngữ toán học còn hạn chế, kỹ năng tính toán trình bày thiếu khoahọc chưa chính xác chưa có biện pháp phương pháp học toán, giải toán một cáchmáy móc dập khuôn, bắt chước

- Học sinh phần lớn biết giải toán có lời văn có kết quả đúng của bài toán -Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế

- Trình bày bài còn chưa sạch đẹp

- Một số học sinh chưa chịu khó trong việc làm bài tập về nhà chưa rènluyện thêm

-Học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy củacác em còn mang tính trực quan là chủ yếu

Một số nguyên nhân dẫn đến việc dạy và học toán có lời văn ở tiểu họcchưa hiệu quả:

*Nguyên nhân từ học sinh:

-Đặc điểm tư duy: Lớp 1 thao tác tổng hợp còn sơ đẳng, khả năng tư duycòn hạn chế

-Đặc điểm trí nhớ: Tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế, trí nhớ trực quanhình tượng được phát triển hơn từ ngữ logic, học sinh có khả năng ghi nhớ tốtdặc biệt là ghi nhớ máy móc, chưa biết sử dụng các biện pháp ghi nhớ nhất làcác biện pháp ghi nhớ ý nghĩa, tình cảm có ảnh hưởng lớn đến đọ bền vững và

độ nhanh của ghi nhớ Trẻ nhanh nhớ nhưng rất nhanh quên

-Đặc điểm tri giác : tri giác của các em mang tính không chủ định chỉ biếtnhìn chưa biết qua sát, phụ thuộc và chính đối tương tri giác đượm màu sắc xúccảm Tri giác phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiệntượng Tronh phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai trò rất lớntrong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn cho học sinh, hướng dẫncác em biết xem xét, biết lắng nghe Vì khả năng chú ý không củ định mạnh nênviệc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý chohọc sinh Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ địnhcho giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi kéo sự chú ý của họcsinh

*Nguyên nhân từ phía giáo viên:

Trang 9

Cách tiếp cận chuyển đổi phương pháp dạy còn lúng lúng, chưa phát huyđược tính tích cực chủ động của học sinh, dạy theo phương pháp thuyết trình

“thầy truyền thụ trò tiếp thu

-Một số giáo viên dạy chưa khắc sâu được các dạng toán

-Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh họa, ngại toán tắt bằng sơ đồ hình

vẽ hoặc đoạn thẳng

-Một số giáo viên còn chưa quan tâm nhiều tới học sinh

1.4.Một số phương pháp sử dụng trong dạy toán có lời văn ở lớp một

 Phương pháp trực quan

Khi dạy “ giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp một “ thướng sử dụngphương pháp trực quan giúp học sinh tìm hiểu đề bài , tóm tắt đề toán thông quaviệc sử dụng tranh ảnh mẫu vật, sơ đồ giúp học sinh dễ hiểu bài hơn từ đó tìm

ra đường lối giải một cách thuận lợi Đặc biệt trong sgk toán lớp một có hai loạitranh vẽ giúp học sinh giải toán có lời văn đó là: một loại gợi ra phép cộng mộtloại gợi ra phép trừ vì vậy chỉ cần nhìn vào tranh vễ học sinh đã định ra đượccách giải bài toán Trong trường hợp này bắt buộc giáo viên phải sử dụng tranh

vẽ và phương pháp trực quan

 Phương pháp đàm thoại ( hỏi đáp)

Sử dụng hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích đề bài, tìm đường lối giải,chữa bài làm của học sinh

 Phương pháp phát hiện giải quyết vấn đề

Mỗi dạng toán thêm bớt giáo viên có thể biến tấu để có có những bài toán

có vấn đề Chẳng hạn bài toán “ bớt “ bài toán thêm Giáo viên có thể tạo tìnhhuống có vấn đề bằng cách cho sẵn lời giải, học sinh tự đặt phép tính hoặc chosẵn phép tính học sinh đặt câu lời giải, cho hình vẽ học sinh đặt lời bài toán vàgiải

Với những tình huống khó có thể phối hợp với các phương pháp khác đểgiúp học sinh thuận lợi chi việc làm bài như : phương pháp thảo luận nhóm,phương pháp kiến tạo

Một số hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh -Dạy theo nhóm

Trang 10

-Dạy học cá nhân

-Tổ chức trò chơi

- Liên hệ , giải các bài toán thực tế, tích hợp dạy các môn học khác

- Trong quá trình dạy toán có lời văn một việc không thể thiếu giúp cho họcsinh chủ động sáng tạo trong quá trình học tập, phát triển ngôn ngữ, kĩ năngtrình bày, giao tiếp đó chính là những bài toán do học sinh tự liên hệ nêu ra.Thông qua việc đề toán và giải ngững bài toán thực tế giúp học sinh hiểu sâukiến thức hơn

-Tích hợp dạy lồng ghép các môn học khác như : giáo dục đạo đức , giáodục kĩ năng sống cho học sinh

-Giúp học sinh nắm được các bước giải bài toán có lời văn

-Quy trình giải bài toán có lời văn thông thường qua 4 bước

-Đọc tìm hiểu đề bài

-Tìm đường lối giải bài toán

-Trình bày bài giải

-Kiểm tra lại bài giải

1.5.Một số giải pháp

Mức độ 1 :

Ngay từ đầu học kì một các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hìnhviết phép tính Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọnphép tính thích hợp

VD 1 2=3

Bài này chỉ yêu cầu học sinh viết dấu cộng vào phép tính để được 1+2=3 Sau đó đến mức độ tăng dần học sinh phải viết cả phép tính và kết quả VD:1+1=2

Và yêu cầu tăng dần Học sinh có thể nhìn tranh bài 4 trang 77 diễn đạt theo

2 cách

*Mức độ 2 :

Trang 11

Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với toán tắt bằng lời

Bài giải gồm 3 phần: câu lời giải, phép tính và đáp số

Cần luyện kĩ cho học sinh phần tóm tắt bài toán Câu lời giải không bắtbuộc theo mẫu mà để học sinh diễn đạt theo ý hiểu của mình Hướng dẫn họcsinh làm đúng theo 4 bước đề giải bài toán

Trang 12

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC CỦA TRƯỜNG

TIỂU HỌC VIỆT TIẾN 2.1 Thực trạng về việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 trường tiểu học Việt Tiến

2.1.1 Vài nét về trương tiểu học Việt Tiến

Trường tiểu học Việt Tiến được thành lập từ năm 1946 tới nay đã được 70 năm.Trước đây trường gồm 1 khu chính tại Liễu Kinh và 2 khu phụ 1 tại Viên Lang 1tại Tẩm Thượng nhưng hiện nay đã tập trung về khu chính Trường gồm 18 lớpvới 27 giáo viên và hai cán bộ quản lí Các giáo viên của trương hiện nay đều cótrình độ đại học Cơ sở vật chất của trường tuy chưa hiện đại nhưng tương đốiđầy đủ

2.1.2 Thực tề daỵ học tại trường

Sau trao đổi cùng giáo viên dạy toán có lời văn ở lớp một thấy được thựctế: đa số lớp 1 đã biết đọc biết viết biết cộng trừ một số phép tính đơn giản, họcsinh lớp 1 còn gặp một học sinh số khó khăn trong việc giải toán có lời văn đó là: Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm racách giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về thiếu logic,ngôn ngữ toán học còn hạn chế, kĩ năng tính toán, trình bày thiếu chính xácthiếu khoa học, chưa có biện pháp phương pháp học toán và giải toán một cáchmáy móc nặng nề dập khuôn bắt chước, tiếp thu một cách thụ động Do học sinhmới bắt đầu làm quen với dạng toán này nên tư duy của các em mang tính trựcquan là chủ yếu Mặt khác ở giai đoạn này các em còn chưa đọc thông viết thạo,khi đọc còn phải đánh vần nên khi đọc xong có thể vẫn chưa hiểu đề

Giáo viên đã nắm được các kiến thức, có kinh nghiệm trong việc dạy họcsinh lớp một dạy đúng và đủ theo chương trình sách giáo khoa nhưng chưa ápdụng thêm các biện pháp đổi mới, những phương pháp dạy mới, chưa thật sựquan tâm được hết các học sinh Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạynhững bài trước Những bài hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bàinày hầu như học sinh đều làm được nên giáo viên hay chủ quan, ít nhấn mạnhhoặc không chú ý lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán củacác em mà quên mất rằng đó là những bài bước đệm, bước đầu của dạng toán cólời văn sau này Đối với giáo viên dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viếtphép tính thích hợp cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán Có thể tậpcho những em học sinh giỏi tập trung nêu câu trả lời như vậy trong một thời giandài đến lúc học giải toán có lời văn học sinh sẽ không bỡ ngỡ dễ tiếp thu dễ hiểu

Trang 13

+ Cái đã cho( dữ kiện)

+Cái cần tìm ( câu hỏi)

Để làm được việc này toán lớp 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là 4 đềtoán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện và câuhỏi (biểu thị bằng dấu ) Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đóđiền số vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi Từ đó giáo viên giớithiệu cho học sinh bài toán thường có hai phần những số đã cho và số phải tìm.Giáo viên hướng dẫn cho các em giải toán có lời văn ở học sinh lớp 1 có 2 dạng

*Dạng thêm-gộp

VD: (118/SGK 1) Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa hỏi tổ

em có bao nhiêu bạn?

Bài 3 (124/SGK 1) Một hộp có 12 bút xanh và 3 bút đỏ Hỏi hộp đó có tất

cả bao nhiêu cái bút?

Trang 14

Như vậy việc dạy toán có lời văn cho học sinh lớp 1 giúp các em nắmđược các dạng, cách giải không dễ dàng cần một qua trình dài mới có thể hìnhthành cho học sinh kĩ năng và phương pháp.

Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề giải bài toán có lời văn làchuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính Chính vì vậyngay sau các bài tập “nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống”giáo viên chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng

Ví dụ : “ Từ bức tranh “ 3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới “ ởtrang 47 SGK, sau khi học sinh điền phép tính vào dãy ô trống :

3+1=4 Giáo viên hỏi tiếp : “ vậy có tất cả mấy con chim?” để học sinh trả lờimiệng “có tất cả 4 con chim”, hoặc số chim có tất cả là bao nhiêu ?” ( số chim

có tất cả là 4 )

Cứ làm như vậy nhiều lần học sinh sẽ quen dần với cách nêu lời giảibằng miệng Do đó các em sẽ dễ dàng viết được các câu trả lời sau này

Tiếp theo, trước khi chính thức được học giải toán có lời văn , học sinh

sẽ được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn gồm hai thành phầnchính là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vì khó cóthể giải thích cho học sinh bài toán là gì? Nên mục tiêu của tiết này chỉ là giớithiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán :

-Những cái đã cho (dữ kiện)

-Và cái phải tìm (câu hỏi)

Để làm việc này sách toán đã vẽ 4 bức tranh, kèm theo là 4 đề toán : 2 đềcòn thiếu dữ kiện , 1 dề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện và câu hỏi “biểuthị bằng dấu ” Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán , sau đó điền sốvào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi ( còn để trống) Từ đó giáo viêngiới thiệu cho các em bài toán thường có hai phần

-Những số đã cho

-Số phải tìm (câu hỏi)

Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “ bài toán có lời văn” Các loại toán có lời văn trong chương trình củ yếu là hai loại toán : thêm –bớt thỉnh thoảng có biến tấu một chút :

Trang 15

Bài toán có “thêm” thành bài toán gộp , chẳng hạn : “ An có 4 quả bóng ,Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”, dạng này khá phổ biến Bài toán “bớt” thành bài toán tìm số hạng chẳng hạn :” Lớp 1A có 35 bạntrong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam ? dạng này ít gặp vìdạng này hơi khó

Về hình thức trình bày bài giải , học sinh phải trình bày bài giải đầy đủtheo quy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5

-Câu lời giải

5+4=9 (con gà)Đáp số: 9 con gà -Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời gian chohọc sinh viết câu trả lời Chẳng hạn trước đây trong một tiết “ bài toán nhiềuhơn “ học sinh phải giải 8 bài toán ( 4 bài mẫu, 4 bài luyện tập), thì bây giờtrong tiết “ giải bài toán có lời văn”(thêm) học sinh phải giải 4 bài (1 bài mẫu, 3bài luyện tập)

-Để lường trước về vốn từ và khả năng đọc hiểu học sinh khi “giải bài toán

có lời văn chương trình toán lớp 1đã có những giải pháp hạn chế dùng các vầnkhó trong đề toán như : thuyền, quyển tăng cường dùng các vần và các tiếng dễđọc, dễ viết như cam gà, Lan trong đề toán

-Lựa chọn câu hỏi trong đề toán sao cho học sinh chỉ cần chỉnh sửa mộtchút xíu thôi là đọc ngay câu lời giải

-Cài sẵn cốt câu lời giải vào tóm tắt để học sinh có thể dựa vào tóm tắt màviết câu lời giải

-Cho phép thậm chí khuyến khích học sinh tự nghĩ ra nhiều cách đặt lờigiải khác nhau Chẳng hạn với bài toán:”An có 4 quả bóng , Bình có 3 quả bóng

Ngày đăng: 10/06/2016, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w