1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ebook lịch sử kháng chiến chống mỹ cứu nước 1954 1975 (tập 9 tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử) phần 2

255 678 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 255
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất thảy thực trạng trên là một thách thức hết sức nghiêm trọng đối với nhân dân miền Bắc trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương chiến lược

Trang 1

Chương 41 Xây dựng và phát huy vai trò hậu phương - căn cứ địa cách mạng

I- KHÔNG NGừNG XÂY DựNG, CủNG Cố

Và BảO Vệ HậU PHƯƠNG MIềN BắC

1 Hậu phương - một trong những nhân tố quyết

định thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước thực sự là một trang chói ngời nhất trên mọi phương diện Chỉ xét riêng về cách thức tiến hành huy

động nhân tài, vật lực - nhân tố quyết định để làm nên thắng lợi của kháng chiến, đã trở thành hình mẫu đặc sắc, nét nghệ thuật quân sự độc đáo trong tổ chức và điều hành kháng chiến của Đảng Cộng sản và sự sáng tạo, linh hoạt, nỗ lực hết mình của toàn dân tộc Việt Nam trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến lược Và để đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược chính là hậu phương - căn cứ địa cách mạng

Trang 2

Quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua; bởi vậy, bên nào tạo được sức mạnh áp đảo, bên đó sẽ chiến thắng Để có sức mạnh chiến thắng trong chiến tranh, phải huy động sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố; trong

đó, hậu phương là nhân tố cơ bản, thường xuyên quyết

định thắng lợi của chiến tranh Lênin từng khẳng định

"muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc"1

Hậu phương là "vùng lãnh thổ và dân cư của một bên tham chiến, không có, hoặc ít có chiến sự, tương đối an toàn và ổn định trong chiến tranh; nơi có điều kiện duy trì sinh hoạt về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa

và huy động các nguồn lực cho tiền tuyến, cùng với tiền tuyến tạo thành không gian chiến tranh"2 Theo cấp độ, hậu phương chiến tranh được phân chia thành: hậu phương chiến lược, hậu phương tại chỗ và các căn cứ du kích Song, trên thực tế của chiến tranh giải phóng dân tộc, có những thời điểm tuy lực lượng cách mạng chưa có

được một vùng lãnh thổ và dân cư để làm căn cứ, nhưng có một hậu phương vững chắc đó là lòng dân Chính nhờ nhân dân đùm bọc, chở che, nuôi dưỡng mà lực lượng cách mạng không ngừng phát triển, từng bước tiến công đối _

1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2006, t.35, tr.497

2 Bộ Quốc phòng - Trung tâm từ điển bách khoa quân sự:

Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Sđd, tr.453

Trang 3

phương, giành đất, giành dân, tạo lập nên những căn cứ - hậu phương cho chiến tranh

Khẳng định vai trò quyết định của hậu phương trong chiến tranh, J.Stalin chỉ ra rằng: "Không có một quân đội nào trên thế giới không có hậu phương vững chắc mà lại

có thể chiến thắng được Hậu phương có một tầm quan trọng bậc nhất đối với tiền tuyến: Chính là vì hậu phương, và chỉ có hậu phương mới cung cấp cho tiền tuyến chẳng những các yêu cầu đủ mọi loại, mà còn cả binh sĩ, cả tình cảm lẫn tư tưởng nữa Hậu phương không vững chắc, nhất định sẽ biến những đội quân ưu tú nhất

và cố kết nhất thành một nhóm quần chúng không vững vàng và hèn yếu"1

Thật vậy, tất cả mọi nhu cầu thuộc về vật chất của quân đội và chiến tranh đều do hậu phương cung cấp Quân đội là công cụ bạo lực của một quốc gia, với nhiệm

vụ chủ yếu là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu chống quân xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nên quân

đội không phải là lực lượng sản xuất ra của cải cho xã hội

và nuôi sống họ Đây là thành phần xã hội được nhà nước bao cấp toàn bộ Theo cách luận giải của Ph.Ăngghen: Quân đội tuy không làm ra tiền, song lại tiêu tốn vô số tiền Tiền ở đây chính là lương thực, thực phẩm, quần áo, giày dép, thuốc chữa bệnh, dụng cụ y tế ; tiền là súng _

1 J.Stalin: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, t.4,

tr.369

Trang 4

đạn và các phương tiện, thiết bị kỹ thuật quân sự ; đó là chưa kể tới lương cho sĩ quan và phụ cấp cho hạ sĩ quan, chiến sĩ Hết thảy những loại vật chất này đều phải do nhân dân, hậu phương cung cấp thông qua nhà nước Thật

đúng như Ph.Ăngghen từng khẳng định: không có một quân đội nào do thường dân tổ chức lại có thể tồn tại được trong thực tế, chừng nào nó chưa có một nguồn vật chất to lớn mà một quân đội chính quy hùng mạnh cần có Tuy

vậy, trong thời bình, trong một chừng mực nhất định, quân đội có tiến hành tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống cho cán bộ, chiến sĩ, phần nào đó giảm chi phí cho ngân sách nhà nước

Công tác bảo đảm vật chất của hậu phương cho tiền tuyến nói chung, cho quân đội nói riêng rất quan trọng, bởi có cung cấp đủ cơ sở vật chất cho quân đội mới duy trì

được lực lượng này Đặc biệt hơn, trong điều kiện chiến tranh, công tác bảo đảm vật chất lại càng đóng vai trò quyết định hơn, vì đây chính là cơ sở tạo sức mạnh cho quân đội giành thắng lợi trên chiến trường

ở hậu phương, nhân dân đã không quản nắng mưa, nóng rét, ngày đêm lao động quên mình để làm ra lương thực, thực phẩm, của cải và mọi nhu cầu vật chất khác để cung cấp cho quân đội và chiến trường Đó là nguồn sức mạnh, là nguyên nhân quan trọng của những thắng lợi trên chiến trường Từ thực tế lãnh đạo

đất nước Xôviết tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh

vệ quốc vĩ đại, J.Stalin đã khẳng định rằng: "Thắng lợi

Trang 5

của Hồng quân không thể nào có được nếu không có sự chi viện của nhân dân, không có tinh thần làm việc quên mình của những người Xôviết trong các nhà máy

và công xưởng, trong các giếng than và các hầm mỏ, trong vận tải và nông nghiệp"1 Vậy là, đã "có đủ lý do

để nói rằng tinh thần lao động quên mình của những người Xôviết ở hậu phương sẽ được ghi vào lịch sử cùng với cuộc đấu tranh anh dũng của Hồng quân như là một chiến công chưa từng có của nhân dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc"2

Bên cạnh việc cung cấp về vật chất và tiền của, hậu phương còn là nơi cung cấp nguồn nhân lực thường xuyên cho quân đội và chiến tranh Để xây dựng và phát triển quân đội cần phải có con người, mà những con người này

là con em của nhân dân từ hậu phương cung cấp Tuy tiêu chí đánh giá một quân đội mạnh không đồng nhất với số lượng quân đông; song thực tế chiến tranh đã khẳng định rằng: nguồn nhân lực hùng hậu là vô cùng quan trọng Chính V.I Lênin đã chỉ ra rằng: Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực hơn , thì người đó sẽ thu được thắng lợi; bởi chiến tranh sẽ đồng hành với thương vong, mất mát, nên phải có nguồn lực dự trữ từ hậu phương bổ sung kịp thời để quân đội luôn có đủ sức chiến đấu

_

1, 2 J.Stalin: Về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên

Xô, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1965, tr.114, 115

Trang 6

Mặt khác, hậu phương cũng chính là địa bàn đứng chân quan trọng của quân đội Từ đây, những thanh niên

ưu tú từ các thôn, xóm theo lệnh gọi nhập ngũ của nhà nước nhanh chóng tập trung lại ở một địa điểm thích hợp, rồi được biên chế vào đội ngũ, được huấn luyện chuyên môn, kỹ chiến thuật , được giáo dục tinh thần yêu nước, bồi dưỡng ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng đất nước

và bảo vệ Tổ quốc - những hành trang cần thiết nhất đảm bảo bản lĩnh và trí tuệ cho từng người lính trước khi ra trận Như vậy, hậu phương là xuất phát điểm đầu tiên của quân đội Hơn nữa, trong quá trình chiến tranh, không phải khi nào, trận nào cũng giành được chiến thắng; vì vậy, sau những trận không thành công, hoặc khi thực hiện

kế hoạch tạm lui quân để bổ sung lực lượng, vũ khí, thậm chí là huấn luyện bổ sung về kỹ chiến thuật thì hậu phương - căn cứ địa vẫn là nơi đứng chân, che chở an toàn nhất của các đơn vị sau mỗi mùa chiến dịch

Không chỉ đáp ứng lực lượng trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường, mà lực lượng phục vụ chiến

đấu cũng chính từ hậu phương cung cấp Đây là thành phần có vai trò cực kỳ quan trọng, đảm trách việc vận chuyển, chăm sóc thương binh, tải đạn, bảo đảm giao thông nếu thiếu nó bộ đội khó có thể giành thắng lợi trên chiến trường

Trong chiến tranh, việc thắng hay bại tất nhiên là phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có chính trị và tinh thần Lênin từng nói: "Trong mọi cuộc chiến tranh thì

Trang 7

thắng lợi, nói cho cùng, là tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường Lòng tin tưởng rằng chiến tranh mà họ tiến hành là chính nghĩa,

sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh thân mình vì hạnh phúc của anh em mình, làm cho tinh thần của binh sĩ lên cao và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy"1 Chiến tranh là sự hiểm nguy, khốc liệt, là đổ máu, hy sinh; ở đó, ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên vô cùng mỏng manh ; bởi vậy, đòi hỏi người chiến sĩ phải có ý chí và bản lĩnh rất vững vàng Yếu tố tinh thần

sẽ tác động trực tiếp đến kỹ năng chiến đấu của người lính tăng lên hoặc giảm xuống và do đó ảnh hưởng đến thành quả tác chiến trên chiến trường Như vậy, chính trị và tinh thần thực sự là nhân tố góp phần tạo nên sức mạnh cho quân đội, và nguồn sức mạnh này được cung cấp bởi chính hậu phương - nơi sinh ra và lớn lên của người lính Hậu phương đối với người lính là gia đình, là quê hương, là Tổ quốc Chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, quê hương và gia đình là nghĩa vụ thiêng liêng, mục đích cao cả của người lính, và cũng chính từ nơi đây đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người lính quên mình xông pha chiến đấu lập công

Nguồn sức mạnh của hậu phương đối với quân đội trước nhất chính là tình thương yêu của quần chúng _

1 V.I Lênin và J.Stalin: Tầm quan trọng của hậu phương

trong chiến tranh cách mạng, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1966, tr.24

Trang 8

nhân dân dành cho người lính ngoài mặt trận Đây là loại tình cảm cao quý và vô cùng đặc biệt; bởi từ tình thương đó mà nhân dân hết lòng chi viện sức người, sức của cho quân đội, cho tiền tuyến Điều đó chứng tỏ rằng

"quân đội đó sẽ có một hậu phương cực kỳ vững chắc, quân đội đó là vô địch"1

Nguồn sức mạnh của hậu phương có ý nghĩa chiến lược như vậy, nên trong quá trình chiến tranh, đối phương cũng thường tìm mọi thủ đoạn, cách thức đánh vào hậu phương, nhằm không chỉ đơn thuần là phá hoại

về cơ sở vật chất, mà đặc biệt là gây hoang mang, dao

động về tinh thần đối với người dân, dần dần làm phai nhạt ý chí, làm rạn vỡ sự đoàn kết, thống nhất, thậm chí

là làm giảm lòng tin của dân chúng Điều này sẽ ngay lập tức gây tác động trực tiếp đến sức chiến đấu của người chiến sĩ trên chiến trường

Như vậy, có hậu phương vững mạnh tức là có nguồn cung cấp sức người, sức của dồi dào cho tiền tuyến; có nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ cho người lính chiến đấu trên chiến trường Ngược lại, nếu hậu phương không vững chắc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Thực tế lịch sử chiến tranh đã minh chứng rằng: "Một quân đội không có hậu phương vững chắc thì quân đội ấy là cái gì? Chẳng là cái _

1 J.Stalin: Sức mạnh của quân đội ta, Nxb Quân đội nhân

dân, Hà Nội, 1975, tr.38

Trang 9

gì cả Những đội quân lớn nhất, được trang bị tốt nhất,

đều đã bị tan rã và biến thành tro bụi, vì không có hậu phương vững chắc, không có sự đồng tình và ủng hộ của hậu phương, của nhân dân lao động"1

Thấm nhuần sâu sắc luận điểm hậu phương - nhân tố cơ bản thường xuyên quyết định thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong suốt quá

trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng luôn thường xuyên coi trọng việc xây dựng hậu phương chiến lược, mà buổi sơ khai ban đầu là những cơ sở cách mạng trong nhân dân Chính bởi vậy, dù địch tiến hành khủng bố gắt gao, các tổ chức đảng vẫn tồn tại, trụ vững trong lòng dân, không ngừng phát triển về mọi mặt

và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành được những thắng lợi quan trọng

Để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền

về tay nhân dân, đầu năm 1941, Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quyết định chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân và xây dựng nơi đây thành căn

cứ địa của cách mạng Việt Nam Người khẳng định: Căn

cứ Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước

ta Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi Nhưng

từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và _

1 J.Stalin: Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1965, t.11,

tr.33, 34

Trang 10

thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được

Có nối được phong trào với Thái Nguyên, với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ Theo đó, cùng với thời gian, từ Cao Bằng, căn cứ địa được mở rộng ra Bắc Sơn, Đình Cả, Tân Trào rồi phát triển thành khu giải phóng rộng lớn gồm nhiều tỉnh Việt Bắc Tại đây, lực lượng chính trị và vũ trang được xây dựng, những yếu tố của một nhà nước dân chủ nhân dân được hình thành Và cũng chính từ đây, Đảng và Quốc dân đại hội đã quyết

định nhiều vấn đề trọng đại của quốc gia, dân tộc; là nơi phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-

1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam á Bên cạnh căn cứ địa chiến lược Việt Bắc, hệ thống căn cứ địa cũng khẩn trương được xây dựng ở hầu khắp các khu, tỉnh trên khắp cả nước Đây chính là tiền đề quan trọng góp phần làm nên thắng lợi nhanh chóng của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 trên phạm vi toàn quốc

Tháng 12-1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng ta đã có một hậu phương trải rộng khắp cả nước; ở Bắc và Trung Bộ là các khu du kích, các vùng giải phóng của Khu 3, Khu 4, Khu 5 ; ở Nam Bộ là các chiến khu - căn cứ hậu phương kháng chiến: chiến khu D, chiến khu Dương Minh Châu (Đông Nam Bộ), chiến khu

Đồng Tháp Mười, U Minh (Tây Nam Bộ); và đặc biệt, căn

cứ địa chiến lược Việt Bắc vẫn là Thủ đô kháng chiến của

Trang 11

cả nước Từ đây, nguồn nhân lực, vật lực - nhân tố quyết

định của mọi cuộc khởi nghĩa và chiến tranh, được căn cứ - hậu phương trên toàn quốc cung cấp đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp từng bước đi đến thắng lợi hoàn toàn Đặc biệt nhất là chỉ với lực lượng của bốn đại

đoàn bộ binh, một đại đoàn công pháo và 23.126 tấn gạo,

992 tấn thịt, 800 tấn rau, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường,

917 tấn thực phẩm khác, thêm vào đó là 261.541 dân công, 20.000 xe đạp thồ, 914 ngựa thồ và hàng ngàn thuyền, mảng 1 (lượng vật chất này chủ yếu là từ các vùng căn cứ - hậu phương Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu 3, Thanh Hóa) được huy động cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, để đánh đòn chiến lược quyết định, đuổi quân xâm lược Pháp ra khỏi bờ cõi quốc gia là thêm một minh chứng sống động nữa khẳng định quy luật "thực túc, binh cường" - nhân tố đảm bảo bằng vàng cho thắng lợi của khởi nghĩa và chiến tranh, chỉ có được khi căn cứ - hậu phương được thường xuyên xây dựng, củng cố một cách vững chắc Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những thành tựu, lý luận và kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn xây dựng hậu phương trong Cách mạng Tháng Tám 1945, trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thực sự là cơ sở vững chắc cho công cuộc xây dựng căn cứ - hậu phương _

1 Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân

Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, t.1, tr.290

Trang 12

chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta

2 Xây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh toàn diện - điều kiện tiên quyết của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Với thắng lợi Điện Biên Phủ, chúng ta đã buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh Theo hiệp định, nước ta tạm thời chia làm hai miền, vĩ tuyến 17

là giới tuyến và sau hai năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước Song, với mưu đồ xâm lược Việt Nam, giới cầm quyền Mỹ tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ (Mỹ không ký vào văn bản hiệp định), nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn dựng lên cái gọi là chính quyền Việt Nam Cộng hòa, âm mưu chia cắt lâu dài

đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn

cứ quân sự trọng yếu ở khu vực Đông Nam á, nhằm ngăn chặn và tiến công chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc đang trào dâng trên thế giới

Như vậy, trên thực tế tại hai miền Nam, Bắc nước ta lúc này tồn tại hai thể chế chính trị - xã hội khác nhau;

đồng thời đây cũng là sự đối đầu giữa lực lượng cách mạng với lực lượng phản cách mạng, giữa phong trào giải phóng dân tộc với chủ nghĩa đế quốc Việt Nam tiếp tục trở thành tâm điểm chú ý của thế giới và nhiệm vụ cách mạng mới cũng đặt ra hết sức khó khăn, nặng nề

Trang 13

Đó là miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện: sản lượng công nghiệp (1954) chỉ chiếm 15% tổng sản lượng kinh tế quốc dân Hầu hết nhà máy, xí nghiệp, bến cảng, cầu cống, đường sắt bị quân Pháp phá hủy trước khi rút khỏi miền Bắc Nông nghiệp giữ vai trò chính, nhưng kỹ thuật canh tác vốn lạc hậu, vì chiến tranh nên đã có 143 ngàn hécta đất canh tác bị bỏ hoang, thêm vào đó là hàng chục ngàn hécta nữa không trồng cấy do gần 1 triệu người Công giáo di cư vào Nam bỏ lại đã đẩy nền kinh tế miền Bắc vào tình trạng cực kỳ nghiêm trọng Mặt khác, các hủ tục, tệ nạn xã hội của chế độ cũ để lại rất trầm trọng: bộ phận lớn dân số đủ mọi lứa tuổi bị mù chữ, nhiều căn bệnh xã hội chưa có khả năng thanh toán, loại trừ do hệ thống y tế nhỏ yếu, lạc hậu1 Tất thảy thực trạng trên là một thách thức hết sức nghiêm trọng đối với nhân dân miền Bắc trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương chiến lược cho cuộc kháng chiến chống Mỹ

Tại miền Nam, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, tập đoàn cầm quyền Ngô Đình Diệm ngang nhiên vi phạm Hiệp định Giơnevơ, tổ chức tổng tuyển cử riêng rẽ, lập quốc hội, biến miền Nam thành quốc gia riêng; đồng thời, khẩn trương bắt lính, xây dựng quân đội Việt Nam Cộng hòa, với ngân _

1 Năm 1955, tổng dân số miền Bắc có hơn 13 triệu, nhưng chỉ có 78 cơ sở điều trị, với 115 bác sĩ, 3.796 y sĩ và y tá

Trang 14

sách, vũ khí, phương tiện quân sự của Mỹ và trực tiếp do các chuyên gia, cố vấn quân sự Mỹ huấn luyện, chỉ huy Cùng với thời gian, nhiều căn cứ quân sự, hải cảng, kho tàng, căn cứ huấn luyện nhanh chóng được đầu tư xây dựng trên khắp miền Nam

Đơn phương tiến hành cuộc chiến tranh chống lại nhân dân miền Nam, bằng chính sách "tố cộng, diệt cộng", chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng quân đội, cảnh sát mở liên tiếp các cuộc hành quân càn quét, nhằm thanh sát địa bàn, truy sát bắt bớ, thẳng tay chém giết, tù đày những đảng viên cộng sản, những người kháng chiến cũ Hệ thống nhà

tù, chuồng cọp, trại cải huấn của Mỹ - Diệm mọc lên khắp thành thị và nông thôn miền Nam Máu của các giới

đồng bào yêu nước vẫn tiếp tục đổ trên các địa phương từ Quảng Trị, Thừa Thiên đến mũi Cà Mau, trên khắp các

đường phố đô thị miền Nam và cả ở thành phố Sài Gòn - Gia Định Cách mạng miền Nam phải từng ngày, từng giờ

đối mặt với những thử thách cam go và thảm khốc

Trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa mà Liên Xô là trụ cột giữ vai trò là chỗ dựa tin cậy và vững chắc cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta (tuy có những bất đồng nhất định) Phong trào cộng sản quốc tế

và phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, phong trào công nhân và nông dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đang phát triển mạnh mẽ và sâu rộng trở thành hậu thuẫn rất quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của ta

Trang 15

Nhận thức sâu sắc tình hình cách mạng trong nước và quốc tế liên quan, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác

định: "Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới,

mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào"1; muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, thực hiện độc lập dân chủ "điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc,

đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam"; và "Củng cố miền Bắc tức là bồi dưỡng lực lượng cơ bản của ta, xây dựng chỗ dựa vững chắc cho nhân dân toàn quốc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng

cố hòa bình, thực hiện thống nhất"2 Mỹ là đế quốc hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế, quân sự hàng đầu thế giới; để

đánh lại chúng, không có con đường nào khác là phải huy

động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, mà như Lênin

đã nói là phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc - hậu phương đó chính là miền Bắc xã hội chủ nghĩa "Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta Nền có vững, nhà mới chắc Gốc có mạnh, cây mới tốt"3 "Củng cố miền Bắc phải luôn luôn chiếu cố miền

Nam Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách rời Miền Bắc là chỗ đứng của ta Bất kể trong tình

thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố"4 "Miền Bắc là _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.314

2, 4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,

Sđd, t.16, tr.577

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.67

Trang 16

căn cứ địa chung của cách mạng cả nước Nhiệm vụ cách

mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta"1 Và "Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc

và miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm

vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt làm hai Song hai nhiệm vụ đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực

hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng"2 Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa - xây dựng hậu phương chiến lược miền Bắc, trước nhất phải nhanh chóng

ổn định tình hình chính trị và xã hội vốn đang tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là những vùng do đối phương kiểm soát nhiều năm, đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục các tầng lớp nhân dân kiên quyết chống lại những

âm mưu và luận điệu phá hoại của kẻ địch Thực hiện Điều

21 của Hiệp định Giơnevơ, nhân dân ta đã đấu tranh buộc Pháp nghiêm chỉnh thi hành việc trao trả tù binh và thường dân bị giam giữ trong chiến tranh3 Đặc biệt, ta đã _

1, 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,

Sđd, t.21, tr.509-510, 508

3 Ta đã trao trả cho Pháp 6.800 tù binh Âu - Phi, 2.360 tù binh người Việt Đổi lại, phía Pháp đã trao trả cho ta 7.350 tù binh, 18.350 tù chính trị và 37.900 thường dân bị giam giữ

Trang 17

tổ chức tiếp quản các khu vực quân Pháp rút đi, nhanh chóng thiết lập và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân các cấp trên toàn miền Bắc; từng bước ổn định đời sống cho các tầng lớp nhân dân Đồng thời, nhân dân các địa phương tổ chức đón tiếp hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ,

đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc Đây chính là nguồn nhân lực chiến lược để Đảng Lao động Việt Nam bồi dưỡng

và đào tạo thành đội ngũ cán bộ cốt cán trực tiếp chuẩn bị cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Cùng với củng cố chính trị và xã hội, công cuộc cải tạo nền kinh tế miền Bắc từ hình thức sở hữu tư nhân sang sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất; từ nền sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, kỹ thuật lạc hậu tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa khẩn trương được tiến hành Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng là điều kiện thuận lợi

để toàn Đảng, toàn dân ta hoàn thành việc cải cách ruộng

đất, xóa bỏ vĩnh viễn chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại trong nhiều thế kỷ1, 810.000 hécta ruộng đất và nhiều trâu bò cày kéo và nông

cụ sản xuất được chia cho 2.104.000 hộ nông dân; sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh, những vùng đất hoang hóa nhanh chóng được khai phá đưa vào trồng cấy Dù vậy, _

1 Đến tháng 7-1956, đợt 5 cải cách ruộng đất đã kết thúc

ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi, với kết quả là: chia 344.000 hécta ruộng đất cho nông dân, hoàn thành việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và tàn dư chế độ phong kiến

ở miền Bắc

Trang 18

trong quá trình thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, Đảng Lao động Việt Nam cũng mắc phải sai lầm về phương pháp tiến hành Trong thư gửi đồng bào nông thôn và cán

bộ ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn, nhưng chúng ta đã mắc những khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng, "Chúng ta cần phải phát huy những thắng lợi đã thu được, đồng thời

chúng ta phải kiên quyết sửa chữa những sai lầm"; "Việc sửa chữa phải kiên quyết và có kế hoạch Việc gì sửa được

ngay thì phải làm ngay Việc gì chưa sửa được ngay thì phải kết hợp trong kiểm tra lại mà làm"1 Việc làm này không chỉ mang lại quyền lợi thiết thực - thỏa niềm mơ

ước bao đời của người nông dân, mà còn góp phần khôi phục và củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với cách mạng Và, sản lượng lương thực ở miền Bắc năm

1956 đã đạt 4 triệu tấn (năm 1939 chỉ là 2 triệu tấn)

Đi đôi với nông nghiệp, các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp được khuyến khích mở rộng; các cơ sở công nghiệp còn lại khẩn trương được khôi phục và nâng dần quy mô sản xuất Các tổ đổi công, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng được thành lập Đặc biệt, những cơ sở công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trực tiếp phục

vụ đời sống nhân dân được tập trung xây dựng và đi vào sản xuất đạt hiệu quả cao Đến năm 1956, ta đã khôi phục được 29 xí nghiệp cũ, xây dựng thêm 55 xí nghiệp _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.236

Trang 19

mới; hệ thống giao thông thủy bộ và đường sắt cơ bản

được khôi phục Kinh tế quốc doanh đã nắm phần lớn các ngành then chốt và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Bên cạnh đó, các ngành giáo dục, y tế và văn hóa có bước phát triển mới và thu được những thành tựu bước

đầu Về giáo dục, nạn mù chữ đã cơ bản được thanh toán,

hệ thống giáo dục phổ thông với chương trình 10 năm

được xác lập, giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp từng bước phát triển1 cả về số lượng, chất lượng

và phạm vi ngành nghề Về y tế, các cơ sở khám chữa bệnh được khẩn trương củng cố và phát triển2, phong trào vệ sinh dịch tễ được tăng cường, các bệnh truyền nhiễm, bệnh xã hội dần được đẩy lùi Về văn hóa - xã hội, phong trào văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao, phim

ảnh, sách báo hoạt động sôi nổi và rộng khắp thành thị

và nông thôn đã góp phần quan trọng vào việc đẩy lùi từng bước tàn dư hủ bại của chế độ phong kiến, thực dân còn tồn tại trong nhân dân

Như vậy, chỉ sau ba năm khôi phục kinh tế, thu nhập quốc dân đã đạt rồi vượt mức so với thời kỳ trước chiến _

1 Năm học 1956 - 1957, toàn miền Bắc có 606.000 học sinh mầm non, 925.000 học sinh phổ thông, 7.783 học sinh trung học chuyên nghiệp, 3.664 sinh viên đại học

2 Năm 1957, miền Bắc đã có 55 bệnh viện, 13 viện điều dưỡng, 85 bệnh xá với tổng số 19.700 giường bệnh, 362 nhà hộ sinh và 5.130 ban phòng bệnh

Trang 20

tranh Đời sống của nhân dân miền Bắc dần đi vào ổn

định Đây thực sự là bước chuẩn bị đầu tiên cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội - xây dựng hậu phương miền Bắc, tạo hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam

Tiếp đà thắng lợi của những năm đầu khôi phục kinh

tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 - 1960) Với nhận thức sâu sắc rằng: "Phát triển kinh tế và văn hóa tức là dần dần xây dựng chủ nghĩa xã hội Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài"1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã họp, ra Nghị quyết 14 về phát triển kinh tế và phát triển văn hóa trong 3 năm (1958 - 1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh; Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp và Nghị quyết về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, để định hướng chỉ đạo cụ thể đối với các cấp, các ngành, địa phương trên toàn miền Bắc

Thắng lợi của kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957) thực sự là nguồn lực thúc đẩy toàn dân nỗ lực hết mình trong việc thực hiện kế hoạch cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa (1958 - 1960) Kết quả là, nếu giữa năm 1958, ở nông thôn _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.2

Trang 21

miền Bắc, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công đạt 41%

và có 134 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đến giữa năm

1959, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công đã lên tới 70% (gồm 246.965 tổ) và 7.000 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (chiếm 8% tổng số nông hộ), trong đó có 119 hợp tác xã bậc cao, thì đến hết năm 1960 đã có 84,8% tổng số

hộ nông dân miền Bắc gia nhập hợp tác xã, với 41.000 hợp tác xã, trong đó có 4.346 hợp tác xã bậc cao (chiếm 12% tổng số hợp tác xã), tập trung được 76% tổng diện tích đất đai canh tác Cơ cấu cây trồng và vật nuôi phát triển có kế hoạch hợp lý, các thành tựu khoa học - kỹ thuật được áp dụng, công cụ lao động được cải tiến đã tạo ra mức tăng trưởng hằng năm đạt 5,6% Với thành quả này, nông nghiệp đã góp phần quan trọng để phát triển công nghiệp chế biến nông sản - thực phẩm, xuất khẩu và cải thiện đời sống nhân dân Ngoài ra, với nghề cá có 520 hợp tác xã, (chiếm 77,2%), nghề muối có 269 hợp tác xã (chiếm 85%) Điều quan trọng là, với hình thức hợp tác xã nông nghiệp được thành lập, không chỉ tạo thuận lợi để áp dụng các biện pháp khoa học, cải tiến

kỹ thuật sản xuất, khắc phục khó khăn về thiên tai, tư liệu sản xuất mà, chính đây là nơi gắn kết quan hệ cộng đồng, làng xóm trong lao động sản xuất và đời sống thường nhật ngày thêm chặt chẽ, nhân cách sống "mình vì mọi người và mọi người vì mình" được phát huy đến

đỉnh cao - một vấn đề có tính quyết định để động viên nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu

Trang 22

nước và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội - xây dựng hậu phương chiến lược của cả nước cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà

Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ chủ trương thực hiện chính sách cải tạo hòa bình Bởi, chúng ta đã có nhà nước dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên nền tảng liên minh công - nông vững chắc, có lực lượng kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo Giai cấp tư sản miền Bắc rất nhỏ, yếu, số lượng ít và chỉ thuộc loại vừa và nhỏ, vốn

là "bạn đồng minh" của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ; sau hòa bình lập lại, đại bộ phận tán thành Cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tán thành chế độ mới và chấp nhận chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương pháp hòa bình Điểm mấu chốt về kinh tế trong chính sách cải tạo hòa bình công thương nghiệp tư bản tư doanh là chuộc lại tư liệu sản xuất và trả dần tiền chuộc cho nhà tư sản Song cùng với nó là sắp xếp công ăn việc làm cho họ trong nhà máy, xí nghiệp; từng bước cải tạo họ thành người lao động Xí nghiệp tư bản tư doanh cải tạo theo hình thức công tư hợp doanh hoặc xí nghiệp hợp tác (chủ yếu là công tư hợp doanh) Công nhân

là những người trực tiếp tham gia cải tạo người tư sản với nguyên tắc: đoàn kết - đấu tranh - đoàn kết

Với đường lối, chủ trương, chính sách hợp lý, thuận lòng người trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, nên

đến cuối năm 1960, 100% số cơ sở công thương nghiệp tư

Trang 23

bản tư doanh thuộc diện cải tạo đã được tổ chức thành xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác Gần một vạn công nhân được giải phóng khỏi ách áp bức của tư bản; 1.533 tư sản được cải tạo thành người lao động; gần 90% tổng số thợ thủ công thuộc diện cải tạo đã tham gia các hợp tác xã thủ công nghiệp vừa và nhỏ, hơn 70.000 thợ thủ công chuyển sang sản xuất nông nghiệp; đồng thời, 60% tổng số người buôn bán nhỏ, làm dịch vụ và kinh doanh thuộc diện cải tạo đã tham gia hợp tác xã, tổ mua bán, làm đại lý cho thương nghiệp quốc doanh và trên 10.000 người đã chuyển sang lao động sản xuất

Cùng với kết quả của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thành phần kinh tế quốc doanh có bước phát triển mạnh mẽ: nông trường quốc doanh từ 16 nông trường (1957) đã phát triển lên 59 nông trường (1960) Đến năm

1960, công nghiệp quốc doanh chiếm 89,9% tổng giá trị sản lượng công nghiệp; vận tải quốc doanh chiếm 79,7% tổng khối lượng vận tải hàng hóa; thương nghiệp quốc doanh chiếm 49,5% Công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm năm 1960 so với 1957 tăng 60,4% Công nghiệp địa phương có bước phát triển vượt bậc: năm 1960 tăng gấp 10 lần so với năm 1957

Đến đây, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hình thức toàn dân và tập thể, cùng với nó là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thu nhập quốc dân tính theo đầu người năm

1960 tăng gấp đôi so với năm 1955, sức mua của xã hội

Trang 24

tăng 70% Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động được nâng cao một bước

Cùng với thành tựu về cải tạo và phát triển về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế qua 3 năm (1958 - 1960) cũng thu được kết quả rất đáng tự hào Về giáo dục và đào tạo:

so với năm 1957, năm 1960, số học sinh phổ thông tăng gấp 2 lần, học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 4 lần, sinh viên đại học tăng 4 lần Riêng niên học 1960 - 1961, miền Bắc có 1.900.000 học sinh phổ thông, 30.700 học sinh trung cấp chuyên nghiệp, 13.800 sinh viên đại học Về văn hóa: năm 1960 đã xuất bản 27.500.000 cuốn sách, 68.000.000 tờ báo và tạp chí, 101 bộ phim, phát triển được

190 đội chiếu bóng, 54 đoàn nghệ thuật sân khấu, 2.965 nhà văn hóa, 211 trạm truyền thanh Về y tế: năm 1960

có 203 bệnh viện và trạm y tế; các bệnh truyền nhiễm và bệnh xã hội cơ bản được thanh toán

Đặc biệt, đối với nhiệm vụ quân sự, ngay từ tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã xác định: "Bất cứ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt

đẹp rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần

đấu tranh uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng võ trang,

đều là sai lầm nguy hiểm Cho nên tăng cường Quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và của toàn thể nhân dân ta"1

_

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd,

t.15, tr.305-306

Trang 25

Để bảo vệ thành quả cách mạng ở miền Bắc và sẵn sàng chi viện chiến trường miền Nam đánh Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam được đầu tư xây dựng theo hướng từng bước tiến lên chính quy, hiện đại Các binh chủng và quân chủng được thành lập Quân số được duy trì ở mức

độ thích hợp, vũ khí và trang bị kỹ thuật được tăng cường,

được huấn luyện một cách bài bản và được bố trí theo phương án phòng thủ chiến lược quốc gia Đối với quân thường trực, số lượng được tinh giảm Một số đơn vị được chuyển sang xây dựng các nông trường làm kinh tế tại những địa bàn chiến lược trọng điểm - thực hiện nhiệm vụ kết hợp làm kinh tế với quốc phòng Đặc biệt tháng 3-1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua

Luật nghĩa vụ quân sự, nhằm chủ động chuẩn bị trực tiếp

lực lượng hậu bị cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ 330.000 cán bộ, chiến sĩ từ miền Nam, Lào và Campuchia tập kết ra miền Bắc và các đại đoàn chủ lực, lực lượng vũ trang liên khu, tỉnh được nhanh chóng chấn chỉnh, biên chế thành các sư đoàn, trung đoàn bộ binh Các đơn vị phòng thủ bờ biển, biên phòng, bảo vệ giới tuyến được thành lập Các đơn vị binh chủng, viện quân y, hệ thống cơ xưởng và kho tàng được biên chế, bố trí sắp xếp theo phương án phòng thủ miền Bắc

Thực hiện kế hoạch 5 năm xây dựng quân đội tiến lên chính quy và tương đối hiện đại (Hội nghị Trung ương 12 thông qua), tổng quân số bộ đội thường trực giảm xuống còn 160.000, biên chế thành 7 sư đoàn, 6 lữ đoàn và 12

Trang 26

trung đoàn độc lập và một số đơn vị binh chủng khác Một số quân binh chủng mới được hình thành Cơ cấu tổ chức và biên chế được điều chỉnh căn bản, từ chỗ bộ binh chiếm ưu thế tuyệt đối, đến năm 1960, tỷ lệ bộ binh và binh chủng kỹ thuật đã tương xứng với nhau: 51%/49%

Vũ khí, trang bị (nhất là hỏa lực và sức cơ động) từng bước được đổi mới nhờ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em Đặc biệt hơn, 37.250 cán bộ quân sự, chính trị, hậu cần - kỹ thuật từ cấp trung đội trở lên hoặc

được bổ túc, hoặc được đào tạo chính quy tại các trường quân sự trong và ngoài nước Bên cạnh đó, hệ thống điều lệnh, điều lệ được khẩn trương biên soạn và đưa vào vận dụng trong toàn quân, nhằm đưa bộ đội vào nền nếp chính quy, tăng cường sức mạnh và khả năng chiến đấu cho quân đội Việc huấn luyện quân sự ở các đơn vị đi vào nền nếp, nội dung sát thực, phương pháp luôn được cải tiến phù hợp Qua thực tế huấn luyện, bản lĩnh chiến

đấu, trình độ kỹ chiến thuật và chỉ huy của cán bộ, chiến

sĩ được nâng cao Phương án tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn được dự tính

và từng bước triển khai huấn luyện

Được xác định là nhân tố quyết định bản lĩnh và sức mạnh của quân đội, công tác đảng - công tác chính trị luôn được các cấp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị toàn quân thường xuyên đặc biệt coi trọng Bắt đầu từ năm 1957,

đại hội đảng bộ từ cấp tiểu đoàn trở lên được tiến hành thường xuyên theo nhiệm kỳ Tháng 11-1958, Hội nghị

Trang 27

chính ủy và chủ nhiệm chính trị toàn quân đã họp, bàn bạc và quyết nghị về tính chất, nhiệm vụ và nội dung công tác đảng, công tác chính trị; chức trách và quyền hạn của các cơ quan chính trị trong các đơn vị toàn quân Thêm vào đó, theo chỉ đạo của Tổng cục Chính trị, các

đơn vị toàn quân đã mở nhiều đợt nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, thường xuyên quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia các cuộc vận động lớn, nhằm "rèn luyện lập trường quan điểm giai cấp vô sản cho đảng viên",

"xây dựng chi bộ vững mạnh" Thông qua những việc làm thực tế này đã lôi cuốn, thúc giục toàn thể cán bộ,

đảng viên nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

được giao Cũng từ đây, hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên đã nỗ lực phấn đấu gia nhập Đảng Và đến năm

1960, tỷ lệ đảng viên trong toàn quân đã chiếm gần 40% tổng quân số Đây thực sự là nhân cốt của sức mạnh để bảo vệ hậu phương miền Bắc và để sẵn sàng chi viện miền Nam đánh Mỹ xâm lược

Những bước tiến toàn diện, vững chắc của hậu phương miền Bắc trong hơn 5 năm đầu sau hòa bình lập lại đã góp phần quan trọng, tạo thế vững chắc cho Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở rộng quan hệ quốc tế Các đoàn đại biểu đảng và chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều quốc gia dân chủ đến thăm và hội đàm với

Đảng và Chính phủ Việt Nam; ngược lại, nhiều đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Việt Nam đi thăm và hội đàm với

Trang 28

lãnh đạo các nước trong khu vực và trên thế giới đã tạo sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau ngày thêm sâu sắc hơn Cũng

từ đây, nhân dân Việt Nam nhận được sự đồng tình và giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều quốc gia khác dành cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam

Những thành tựu giành được cả trong đối nội và đối ngoại của những năm đầu tiên này đã góp phần làm cho hậu phương miền Bắc ngày càng ổn định vững chắc Khẳng định giá trị vô địch của hậu phương miền Bắc, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (9-1960) chỉ rõ: "Miền Bắc là căn cứ địa chung của cách mạng cả nước, sự lớn mạnh không ngừng của miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở miền Nam, mà còn làm cho lực lượng so sánh giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi cả nước ta càng nghiêng về phía cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành thắng lợi cuối cùng"1 Báo cáo còn nhấn mạnh: "Tích cực đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội thì có thể tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành

được thắng lợi"2 Theo đó, miền Bắc bước vào giai đoạn _

1, 2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,

Sđd, t.21, tr.509, 510

Trang 29

cách mạng mới - với nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), tăng cường chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ

Tuy đã giành được những kết quả to lớn và đúc rút

được nhiều kinh nghiệm xương máu trong 5 năm đầu

đặt nền móng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng khi triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc thực sự còn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng Đó là quan hệ sản xuất mới vừa mới được xác lập, trình độ sản xuất còn lạc hậu, nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp và bấp bênh; công nghiệp nhỏ bé và lạc hậu, thiếu những ngành mũi nhọn, chưa đáp ứng

được nhu cầu về tư liệu sản xuất đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và công nhân lành nghề số lượng ít ỏi, không đồng bộ; trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của một bộ phận lớn cán bộ, công nhân viên còn hạn chế Chính do vậy, Đảng và nhân dân miền Bắc xác định: tiến hành xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phải song song với tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng Lao động Việt Nam tập trung lãnh đạo việc xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật và coi đây là nhân tố quyết định nhất trong giai

Trang 30

đoạn quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển sức sản xuất và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa,

mở mang kinh tế quốc doanh - lực lượng chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và giúp đỡ các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, cải tiến công

cụ sản xuất Cải tạo quan hệ sản xuất là một khâu quan trọng, cần phải giải quyết dứt điểm việc đưa quần chúng lao động vào các hợp tác xã, chuyển các hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao, tăng cường công tác củng cố và quản lý các hợp tác xã cho phù hợp với yêu cầu phát triển của sức sản xuất

Đồng thời với phát triển nông nghiệp và công nghiệp, Đảng Lao động Việt Nam còn chủ trương thực hiện một bước việc

ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cùng với ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện và công nghiệp nhẹ; xây dựng cơ cấu công nghiệp hiện đại với các ngành công nghiệp điện lực, gang thép, chế tạo cơ khí tạo tiền đề cho việc đổi mới

kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động Với đặc thù kinh tế truyền thống của ta, phải dựa vào nông nghiệp mà tiến lên, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực là chủ yếu Phát triển nông nghiệp để tạo chỗ dựa cho việc thực hiện từng bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Công nghiệp nặng, nông nghiệp và công nghiệp nhẹ có quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương có rồi, phải có biện pháp làm cho tốt, chủ nghĩa xã hội là phải có biện pháp - kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần và quyết tâm phải ba phần; và muốn xây dựng

Trang 31

chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người, toàn Đảng, toàn dân tiến hành đợt chỉnh huấn mùa Xuân 1961 - đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, nhằm xây dựng nên hình tượng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có nhận thức sâu sắc quan điểm: tất cả phục vụ sản xuất, cần kiệm xây dựng đất nước, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở tiên quyết cho việc thực hiện thắng lợi nghĩa vụ của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam Riêng với công tác xây dựng Đảng, Trung ương đề ra chủ trương cải tiến công tác giáo dục lý luận và chính trị (3-1962) và mở cuộc vận động "xây dựng chi bộ và đảng bộ bốn tốt" (6-1962) nhằm bồi dưỡng tư tưởng vô sản, chống ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tiếp tục xóa bỏ tàn tích của tư tưởng phong kiến, xây dựng ý thức làm chủ nhà nước và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, quan điểm phục vụ sản xuất, cần kiệm, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, nâng cao hiểu biết cho toàn Đảng về kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, quản lý, tiến hành kiện toàn tổ chức

và cải tiến lề lối làm việc từ trung ương đến cơ sở Từ

đây, nhận thức của đảng viên và các cấp bộ đảng về đặc

điểm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tính chất khó khăn và lâu dài của nó, quan hệ máu thịt của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với sự nghiệp chống Mỹ ở miền Nam đã được nâng lên một bước Tiếp

đó, Tổng Công đoàn Việt Nam phát động phong trào thi

Trang 32

đua phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa trong tất cả các bộ ngành toàn miền Bắc Đó là, trong nông nghiệp, có phong trào "Thi đua học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong"; trong công nghiệp có phong trào "học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải"; trong quân đội có phong trào thi đua "Ba nhất"; trong ngành giáo dục có phong trào thi đua "Hai tốt" Đặc biệt hơn,

từ đây hàng ngàn đội thanh niên xung kích được ra đời, thu hút hàng triệu thanh niên ưu tú, hăng hái tiến quân vào mặt trận khoa học - kỹ thuật, giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào xung phong tình nguyện phấn đấu vượt mức kế hoạch 5 năm Kết quả cụ thể là:

Về nông nghiệp, tổng sản lượng lương thực đạt 5,8 triệu tấn (tăng 8,8% so với năm 1960), khai hoang thêm

30 vạn hécta đất canh tác của năm 1961 tạo đà, miền Bắc bước vào thực hiện cuộc vận động do Bộ Chính trị (11-1960)

và Nghị quyết Hội nghị quản lý hợp tác xã của Ban Bí thư Trung ương (12-1961) về "Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc" Sau kết quả và những kinh nghiệm rút ra từ đợt thí điểm cải tiến công tác quản

lý tại 1.052 hợp tác xã và đưa 33,7% hợp tác xã lên bậc cao vào năm 1962, toàn miền Bắc đã triển khai đại trà cuộc vận động và nhanh chóng thu được những kết quả tốt Đến năm 1965, số hộ nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp đã lên tới 88,8%, trong đó hợp tác xã bậc cao đạt 71,7% Nền nông nghiệp hợp tác hóa cùng với giai cấp

Trang 33

nông dân tập thể đã hình thành và không ngừng lớn mạnh; sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong các tầng lớp nhân dân ngày càng cao Đây chính là động lực thúc đẩy nông nghiệp có những bước chuyển về chất: tổng sản lượng nông nghiệp hằng năm tăng 4,1%; năm

1965 có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất bình quân năm đạt từ 5 tấn/hécta gieo trồng trở lên Song hành với những thành quả đạt được, khối lượng cơ sở vật chất kỹ thuật của các hợp tác xã cũng tăng nhanh Đến năm 1965, đã có 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm và 32 đội máy cày, kéo được xây dựng, 33 công trình thủy lợi lớn, 1.500 công trình vừa và nhỏ được khôi phục và xây dựng bảo đảm việc chủ động tưới tiêu cho hơn 500.000 hécta canh tác Như vậy, nông nghiệp miền Bắc đã từ lạc hậu,

độc canh, năng suất thấp, mang tính tự cấp, tự túc dần trở thành nền nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện

và có tỷ suất hàng hóa từng bước được nâng lên Nông nghiệp đã góp phần giải quyết được phần lớn nhu cầu lương thực cho nhân dân, đáp ứng một phần nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Tuy nhiên, về trình độ quản lý, cơ sở vật chất, nhất là công cụ sản xuất vẫn chưa tương xứng với yêu cầu, vẫn cần phải tiếp tục đầu tư nâng cấp và phát triển

Đối với công nghiệp, bên cạnh việc cải tiến, nâng cấp các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé chủ yếu là khai thác nguyên liệu và sửa chữa nhỏ thành cơ sở sản xuất một phần tư liệu sản xuất và những vật phẩm tiêu dùng thiết

Trang 34

yếu cho nhân dân; những khu công nghiệp mới được khẩn trương đầu tư xây dựng như: gang thép Thái Nguyên, nhiệt điện Uông Bí, thủy điện Thác Bà, sứ Hải Dương, pin Văn Điển, dệt 8-3 và dệt kim Đông Xuân Dù vậy, công nghiệp chưa thể đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đặt ra của nền kinh tế cũng như đời sống của nhân dân

Để khắc phục tình trạng này, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương mở rộng (4-1962) bàn việc xây dựng và phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai: "Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối

và hiện đại, kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, lấy công nghiệp làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp

và công nghiệp nhẹ" Tiếp đó, Bộ Chính trị phát động cuộc vận động "Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế - tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham

ô, lãng phí, quan liêu" trong ngành công nghiệp (7-1963) Với đường hướng, chủ trương, biện pháp kịp thời, sát thực; biết khích lệ tinh thần quần chúng đúng lúc đã tạo nên một "cú hích" mạnh đối với ngành công nghiệp miền Bắc

về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các ngành mũi nhọn như: điện lực, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng Do vậy, năm 1965, công suất điện năng miền Bắc đã tăng gấp 10 lần so với năm 1955; cơ khí tăng 30% năm Cũng đến năm 1965, miền Bắc đã xây dựng 1.132 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Đặc biệt, đội ngũ cán bộ

có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng

Trang 35

Đến năm 1965, toàn miền Bắc đã có 650.000 cán bộ và công nhân công nghiệp và thủ công nghiệp, trong đó có 2.615 người có trình độ đại học, 11.603 người có trình độ trung cấp Và kết quả là, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 1.248 triệu đồng (1960) lên 2.365 triệu

đồng (1965)

Thành quả quan trọng nhất của công nghiệp trong 5 năm (1961 - 1965) chính là trực tiếp phục vụ hiệu quả cho nông nghiệp trong các khâu thủy lợi, nông cụ, thiết bị

kỹ thuật nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu Cụ thể, tư liệu sản xuất cho nông nghiệp đã tăng trung bình 25% năm, so với năm 1960, năm 1965, cày cải tiến tăng 3,7 lần, bơm thuốc trừ sâu tăng 4,5 lần, máy bơm nước tăng

10 lần, điện tăng 7,5 lần, phân hóa học tăng 2,8 lần, thuốc trừ sâu tăng 8,1 lần Đây là yếu tố quan trọng để các hợp tác xã mở rộng quy mô, cải tiến quản lý, tiếp tục xây dựng và cải tiến cơ sở vật chất - kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu thâm canh tăng năng suất cây trồng theo hướng toàn diện, vững chắc

Đời sống vật chất được cải thiện đã tạo cho ngành giáo dục và đào tạo có điều kiện phát triển tốt Hầu hết các xã vùng đồng bằng và nhiều xã miền núi có trường phổ thông cấp 1 và cấp 2, huyện có trường cấp 3 So với năm 1960 thì năm 1965, số trường phổ thông các cấp tăng từ 7.066 lên 10.294, số lượng học sinh từ 1.889.600 lên 2.934.900, trong

đó, học sinh cấp 3 tăng từ 26.000 lên 78.000; về đào tạo

đại học và trung học chuyên nghiệp, từ 9 trường đại học

Trang 36

với 8.100 sinh viên lên 18 trường với 34.000 sinh viên và hàng chục trường trung cấp chuyên nghiệp với hơn 6 vạn học sinh Đến năm 1965, trong tổng dân số 16 triệu người miền Bắc có tới 4,5 triệu người đi học

Cùng với giáo dục và đào tạo, hệ thống mạng lưới y

tế được hình thành từ thành thị đến nông thôn Cũng

đến năm 1965, 70% số huyện đã có bệnh viện, 90% số xã

ở đồng bằng, 70% số xã miền núi có bệnh xá, với tổng số 1.525 bác sĩ, 8.043 y sĩ Bên cạnh đó, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện: mỗi năm có khoảng 2.000 đầu sách được xuất bản, số thư viện năm 1965 tăng 3 lần so với 1960 Năm 1965, miền Bắc đã có hơn 100 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp và phim ảnh

Đối với nhiệm vụ chiến lược xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà nòng cốt là Quân đội nhân dân - công cụ bạo lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm nhiệm

vụ quốc tế giúp cách mạng Lào và Campuchia anh em,

Đảng Lao động Việt Nam chủ trương đẩy mạnh phát triển cả về lượng lẫn về chất tất cả các thành phần lực lượng Ngoài những đơn vị từ miền Nam tập kết được tổ chức thành các lữ đoàn bộ binh, được trang bị hỏa lực mạnh, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật bài bản, sẵn sàng trở lại chiến trường miền Nam chiến đấu khi có lệnh; năm 1963, số quân thường trực miền Bắc có khoảng 173.500 cán bộ, chiến sĩ (chiếm khoảng 1% dân số); gồm

Trang 37

các sư đoàn binh chủng hợp thành của Bộ được biên chế

đầy đủ về quân số, trang bị, vũ khí, được đào luyện cơ bản về kỹ thuật, chiến thuật, có thể lực tốt và khả năng chịu đựng gian khổ, sẵn sàng lên đường vào Nam chiến

đấu; đồng thời một số các khung sư đoàn thời bình được chuẩn bị chu đáo (khung cán bộ và quân rút gọn), khi có lệnh là bổ sung đủ quân số, vũ khí, trang bị là lên đường

được ngay Cũng năm 1965, bộ đội địa phương được xây dựng lại với quân số 4,6 vạn người Bên cạnh đó là 1,4 triệu dân quân, tự vệ (với 1/5 quân số được trang bị vũ khí) và 1,2 triệu quân dự bị, trong đó có 18 vạn thuộc dự

bị loại 1 được quản lý chặt chẽ theo kiểu "ngụ binh ư nông" truyền thống, sẵn sàng chấp hành lệnh động viên

để tăng cường cho quân thường trực khi cần thiết

Mặt khác, tháng 10-1962, lực lượng phòng không và không quân được hợp nhất lại và tổ chức thành Quân chủng Phòng không - Không quân, với biên chế 12 trung

đoàn, 17 tiểu đoàn; mạng lưới rađa cảnh giới phòng không

được triển khai rộng khắp, hệ thống sân bay được phục hồi, đầu tư nâng cấp và xây dựng mới Lực lượng hải quân xây dựng 4 tiểu đoàn tàu làm nhiệm vụ tuần tiễu, vận tải, săn ngầm Lực lượng phòng thủ bờ biển tổ chức thành những đơn vị binh chủng hợp thành, chốt giữ tại các trọng điểm Đồng thời, theo địa bàn lãnh thổ, các quân khu được thành lập Bộ tư lệnh quân khu là cơ quan quân

sự cao nhất chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo công tác quân sự - quốc phòng trên địa bàn quân khu

Trang 38

Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ hậu phương miền Bắc

và sẵn sàng chi viện chiến trường miền Nam, để tạo thế

"sâu rễ, bền gốc", Đảng và Chính phủ thường xuyên triển khai nhiều biện pháp chiến lược để không ngừng củng cố nền quốc phòng toàn dân ngày thêm vững chắc

Xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng sức mạnh của nền quốc phòng miền Bắc là sức mạnh của quần chúng nhân dân có giác ngộ về chính trị và được tổ chức chặt chẽ, nên chủ trương nhất quán của Đảng Lao động Việt Nam là thường xuyên chăm lo giáo dục, nâng cao trình

độ giác ngộ chính trị, ý thức quốc phòng cho tất cả các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh thiếu niên Nhà trường các cấp gắn chặt chức năng giáo dục kiến thức với bồi đắp lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương

đồng bào, đồng chí, yêu chế độ, sống có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia dân tộc cho các thế hệ học sinh, sinh viên Đồng thời, nhiều phong trào thi đua, nhiều cuộc vận động lớn gắn liền với sinh hoạt chính trị để tuyên truyền chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước thường xuyên được tổ chức nên sự đồng thuận

về chính trị, tinh thần trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ngày càng được củng cố vững chắc Nhờ vậy, toàn dân đã tích cực đóng góp sức người sức của cho việc xây dựng những công trình quân sự, hệ thống phòng thủ

bờ biển, giới tuyến và mạng lưới giao thông chiến lược phục vụ kinh tế và quốc phòng

Trang 39

Cũng nhằm củng cố nền quốc phòng, các nông trường, lâm trường quốc doanh và quân đội, các tập đoàn sản xuất của cán bộ tập kết được xây dựng trên những địa bàn chiến lược có ý nghĩa chính trị, kinh tế và quân sự Đây chính là chủ trương chiến lược kết hợp giữa kinh tế và quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng và Nhà nước

ta Trên thực tế, từ năm 1965, nhiều nông lâm trường đã trở thành nơi đóng quân, điểm dừng chân bổ sung vũ khí, lương thực của các đơn vị chủ lực trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam chiến đấu Bên cạnh đó, trên toàn miền Bắc, hệ thống đường giao thông liên xã, liên huyện, liên tỉnh không ngừng được tu bổ và mở mới, nhằm không chỉ phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, mà còn đảm bảo cho việc vận chuyển nhân lực, vật lực chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh Mỹ Đặc biệt, dù cho kinh tế sau khi hòa bình lập lại còn rất khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự ưu tiên ngân sách cho chi tiêu quốc phòng, bảo

đảm chế độ lương ưu đãi đối với những người có công: 36.916 thương binh, hàng chục ngàn gia đình liệt sĩ, hàng vạn bệnh binh, đồng thời công tác hậu phương quân đội luôn được các cấp, các ngành, các địa phương chăm lo tận tình chu đáo Những chính sách cụ thể, thiết thực, kịp thời này đã thực sự làm cho mọi người tin yêu nhau, tin yêu Đảng và Chính phủ, chung sức, chung lòng xây dựng, bảo vệ miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam

Trang 40

Như vậy, với sự nỗ lực cao độ của toàn Đảng, toàn dân, miền Bắc đã thực hiện thắng lợi hai kế hoạch chiến lược mở đầu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo tiền đề vững chắc cho một hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ Thật đúng như đánh giá của Chủ

tịch Hồ Chí Minh: "Trong mười năm qua, miền Bắc nước

ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới" "Miền

Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt

Nam trong cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng vững mạnh"1 Đây chính là cơ

sở vững chắc để toàn Đảng và toàn dân ta tiếp tục củng cố

và nâng cao sức mạnh chiến đấu, quyết tâm đánh bại quân xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam, thu non sông

đất nước về một mối

3 Tiếp tục xây dựng và bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa - sự bảo đảm thường xuyên sức người, sức của từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam

Tiến hành cuộc xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam, ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh, giới chức quân sự Mỹ đã toan tính và sử dụng những biện pháp cứng rắn, nhằm ngăn chặn "từ gốc" nguồn _

1 Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước, Nxb

Sự thật, Hà Nội, 1986, t.II, tr.15

Ngày đăng: 10/06/2016, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Mác - Ph. Ăngghen: Về chiến tranh và quân đội, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến tranh và quân đội
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
2. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tËp 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. V.I.Lênin: Chiến tranh du kích, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh du kích
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
4. V.I.Lênin và J.Stalin: Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng
Nhà XB: Nxb. Sự thật
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Nhà XB: Nxb. Sự thật
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Nhà XB: Nxb. Sự thật
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, 2002, 2003, 2004, tËp 15, 16, 17, 20, 21, 22, 23, 24, 26, 28, 29, 30, 31, 34, 35, 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 2, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
9. Hồ Chí Minh: Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh nhân dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
10. Hồ Chí Minh: Về vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất
Nhà XB: Nxb. Sự thật
11. Hồ Chí Minh: Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Néi, 1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
12. Hồ Chí Minh: Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước
Nhà XB: Nxb. Sự thật
13. G.A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời phán quyết về Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
14. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1954 - 1975 − Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1954 - 1975 "−" Thắng lợi và bài học
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
15. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
18. Binh thư yếu lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Binh thư yếu lược
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
19. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Tháp: Ba mươi năm kháng chiến của quân dân Đồng Tháp (1945 - 1975), 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi năm kháng chiến của quân dân Đồng Tháp (1945 - 1975)
20. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định: Bình Định - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 - 1975), 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Định - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 - 1975)
21. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre: Bến Tre 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ 1945 - 1975, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến Tre 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ 1945 - 1975
22. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Nam, tập II, Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Nam", tập II, "Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w