5 lời nhà xuất bản Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm gian khổ của dân tộc ta, năm 1972 có vị trí đặc biệt quan trọng, tạo ra bước ngoặt lớn của chiến tranh với những thắn
Trang 21
lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975) Tập VII Thắng lợi quyết định năm 1972
Trang 43
Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
lịch sử kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước
(1954 - 1975)
Tập VII Thắng lợi quyết định năm 1972
(Xuất bản lần thứ hai)
Nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật
Hà Nội - 2013
Trang 5Chỉ đạo nội dung
Đại tá Nguyễn Văn Minh
Đại tá, ThS Trần Tiến Hoạt
Đại tá, TS Nguyễn Huy Thục
Đại tá, TS Nguyễn Xuân Năng
Thượng úy Lê Quang Lạng
Đại úy Nguyễn Văn Quyền
Trang 65
lời nhà xuất bản
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 21 năm gian khổ của dân tộc ta, năm 1972 có vị trí đặc biệt quan trọng, tạo ra bước ngoặt lớn của chiến tranh với những thắng lợi có tính quyết định trên cả hai miền Nam - Bắc, cả đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao Trên chiến trường Đông Dương, một mặt, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện Học thuyết quân sự Níchxơn, đẩy mạnh Việt Nam hóa, Lào hóa, Khmer hóa chiến tranh, rút dần quân chiến
đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ về nước, đồng thời ồ ạt tăng cường cho quân đội và chính quyền Sài Gòn cả vũ khí, trang
bị, huấn luyện và viện trợ mọi mặt để chế độ Thiệu đứng vững
Đầu tháng 3-1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương căn cứ vào chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và thực tế chiến trường đã quyết định điều chỉnh phương án tiến hành cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 trên toàn miền Nam: chiến trường Trị - Thiên từ hướng phối hợp trở thành hướng tiến công chủ yếu, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu 5 đẩy mạnh tác chiến phối hợp với chiến trường chính Trị - Thiên
Ngày 23-3-1972, Bộ Chính trị họp phê chuẩn phương án tác chiến chiến lược của Thường vụ Quân ủy Trung ương
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung
ương, ngày 30-3-1972 cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân giải phóng miền Nam bắt đầu bằng ba chiến dịch tiến công ở
đường 9 - Trị - Thiên, bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ kết hợp với các chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long và Khu 5, giáng một đòn sấm sét vào quân đội và chế độ Sài Gòn, làm rung chuyển cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc Mỹ Không cam chịu nhìn chế độ và quân đội Sài Gòn sụp đổ từng mảng lớn, đế quốc Mỹ lập tức huy động tối đa không quân và hải quân đánh phá dữ dội khắp các chiến trường và thúc ép quân đội Sài Gòn phản kích quyết liệt hòng tái chiếm những vùng đã mất
Trang 7Thâm độc hơn, đế quốc Mỹ dùng chính sách ngoại giao con thoi xảo quyệt với các nước lớn, thỏa hiệp với Trung Quốc và Liên Xô bằng chuyến thăm Bắc Kinh tháng 2-1972 và Mátxcơva tháng 5-1972 của Tổng thống Níchxơn hòng cô lập cách mạng Việt Nam Đồng thời, từ ngày 6-4-1972, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân và hải quân đánh phá khốc liệt, thả mìn bao vây phong tỏa hoàn toàn miền Bắc nước ta hòng bóp nghẹt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, của bạn bè quốc tế chi viện cho cuộc chiến đấu của nhân dân ta
Một lần nữa cả nước lại có chiến tranh ác liệt Quân và dân
ta dưới sự lãnh đạo đầy thao lược của Bộ Chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến đã bền lòng và kiên định đẩy mạnh cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam, kiên quyết giáng trả đích đáng và
có hiệu quả cuộc chiến tranh bóp nghẹt trên miền Bắc nước ta của không quân và hải quân Mỹ, đồng thời tăng cường giúp đỡ cách mạng Lào và cách mạng Campuchia
Cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè đỏ lửa năm 1972, cuộc chiến đấu kiên cường 12 ngày
đêm đập tan cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội - Hải Phòng bằng máy bay B52 của không quân Mỹ là biểu tượng và bài ca bất tử về sức mạnh con người và ý chí Việt Nam, buộc đế quốc
Mỹ dù nhiều lần tráo trở đã phải ký Hiệp định Pari, tôn trọng
độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc
ta, rút hết quân chiến đấu Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ
ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút" đã hoàn thành Sự sụp đổ của quân đội và chính quyền Sài Gòn - tức "ngụy nhào" chỉ còn là vấn đề thời gian
Tập VII Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
do PGS TS Hồ Khang chủ biên mang tiêu đề Thắng lợi quyết
định năm 1972 đã trình bày khá chi tiết và tương đối đầy đủ ở
tầm khái quát cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc và chiến trường Đông Dương, cả trên mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao
Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 3 năm 2013
nhà xuất bản chính trị quốc gia - sự thật
Trang 87
Chương 27
nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm Chiến Lược giành thắng lợi
quyết định
I- những chuyển biến mới về so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch
trên chiến trường năm 1971
Năm 1971 khép lại với thắng lợi to lớn, toàn diện,
mà nổi bật là chiến thắng lịch sử đường 9 - Nam Lào Với chiến thắng này, quân và dân ta ở miền Nam đã giành được thắng lợi rất quan trọng, đánh thắng một bước cơ bản chiến lược Việt Nam hóa và Đông Dương hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ, góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh ở cả ba nước trên bán đảo Đông Dương có lợi cho sự nghiệp kháng chiến của Việt Nam, Lào, Campuchia Đối với đế quốc Mỹ, sau cả một quá trình cố gắng cao độ trong nỗ lực xây dựng và tăng cường
về quân số, về trang bị, vũ khí cho quân đội Sài Gòn mạnh lên, đủ sức thay thế quân Mỹ, đủ sức đảm nhận
Trang 9vai trò nòng cốt cho Việt Nam hóa, Khmer hóa và Lào hóa chiến tranh của chính quyền Níchxơn, thì thất bại này, toan tính và âm mưu trên đây bị giáng một đòn quyết liệt Thất bại nặng nề ở đường 9 - Nam Lào chứng
tỏ quân đội chính quy của Việt Nam Cộng hòa cho dù có tới 13 sư đoàn, 8 trung đoàn, và 37 tiểu đoàn độc lập, nhưng không đủ khả năng mở những cuộc hành quân tiến công quy mô vừa và lớn Hơn nữa, sau thất bại này,
đội quân đó buộc phải chuyển dần vào thế phòng ngự
theo từng khu vực và theo tuyến như tuyến biên giới Việt
Nam - Campuchia, tuyến đường 9, tuyến Trị - Thiên, khu vực Đà Nẵng, khu vực Tây Nguyên, khu vực xung quanh Sài Gòn - Gia Định từ tây bắc đến đông nam Việc đội quân chủ lực Sài Gòn chuyển vào phòng ngự trên quy mô chiến lược và chiến dịch làm nảy sinh những mâu thuẫn mới Đó là mâu thuẫn giữa việc dồn sức phòng giữ vòng ngoài nhưng lại bộc lộ sơ hở bên trong và ngược lại; mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, giữa nhiệm vụ phòng giữ căn cứ, cơ quan đầu não
ở các thành phố, thị xã với nhiệm vụ bình định nông thôn Trong điều kiện binh lực và sự yểm trợ của quân Mỹ trên chiến trường ngày càng bị cắt giảm và quá trình đó là không thể đảo ngược thì, theo thời gian, những mâu thuẫn trên đây chẳng những không thể nào khắc phục được, mà hơn thế, ngày càng bị khoét sâu thêm, mặc dù quân đội Sài Gòn tăng lên, đông tới hơn
1 triệu tên, được Mỹ trang bị những hệ vũ khí và
Trang 10Kể từ sau khi giải phóng Atôpơ, Xaravan, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và vùng Đông Bắc Campuchia năm 1970, cho đến lúc này, việc ta và bạn giải phóng cao nguyên Bôlôven, Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Sảm Thông - Long Chẹng , đã mở rộng và tăng cường vùng giải phóng trên một địa bàn chiến lược rộng lớn nối liền hậu phương miền Bắc Việt Nam với Thượng Lào, Trung -
Trang 11Hạ Lào, miền tây Trị - Thiên và Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ với vùng Đông Bắc Campuchia, tạo thành căn cứ cách mạng ở miền Trung Đông Dương Từ nay, cách mạng ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia có chung một căn cứ rộng lớn, liên hoàn và vững chắc, thực sự là địa bàn đứng chân, xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến, tăng cường quan hệ đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai giữa quân đội
và nhân dân ba nước
Trong khi, chủ lực quân đội Sài Gòn, Campuchia, Lào
bị đánh mạnh, tinh thần của chúng sa sút nghiêm trọng, thì Mỹ vẫn buộc phải tiếp tục rút quân chiến đấu ra khỏi miền Nam Việt Nam Các sư đoàn thiện chiến Mỹ lần lượt kết thúc sự có mặt trên chiến trường Việt Nam, đầu tiên là Sư đoàn bộ binh số 9 và tiếp đó, các đơn vị như Sư
đoàn Anh cả đỏ, Sư đoàn kỵ binh không vận số 1, Sư
đoàn bộ binh số 4, Sư đoàn thủy quân lục chiến số 3, Sư
đoàn bộ binh 23 và 25, Sư đoàn dù 101, Lữ đoàn dù 173, Sư đoàn thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn bộ binh cơ giới
số 5, Sư đoàn không quân 83 Đến trước ngày 1-5-1972, quân Mỹ trên chiến trường Việt Nam chỉ còn lại 69.000 tên Quân các nước đồng minh của Mỹ cũng đang trong quá trình tương tự: từ 69.000 tên năm 1968, đến năm 1972 còn 38.000 tên Quân Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ rút đi, bỏ trống những vùng đất đai rộng lớn ở miền Nam, quân đội Sài Gòn phải điều quân chắp vá thay thế những nơi quân Mỹ rút, buộc chúng phải dàn
Trang 12Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 11
mỏng lực lượng trong thế bố trí chiến lược mỏng yếu, lộn xộn ở Trị - Thiên, Sư đoàn 3 và Sư đoàn thủy quân lục chiến (dự bị chiến lược của Việt Nam Cộng hòa) phải căng ra đảm nhiệm việc phòng giữ cả khu vực
đường 9 - bắc Quảng Trị với chiều dài từ Cửa Việt lên
đến Lao Bảo ở Khu 5, các sư đoàn 1 và 2 phải rải ra phòng giữ ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Tín, Quảng Ngãi
ở Quân khu 2, hai sư đoàn 22 và 23 dàn mỏng lực lượng bảo vệ 12 tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Quân khu 3 - vị trí chiến lược hiểm yếu của đối phương, nơi có Sài Gòn - Gia Định cùng các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Long, Phước Long, Thủ Dầu Một, Long Khánh - Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, bốn sư đoàn bộ binh và dù phải giăng ra phòng giữ từ phía tây bắc, bắc đến đông nam Sài Gòn - Gia Định Còn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Quân khu 4), đối phương bố trí ba sư đoàn 7, 19 và 21 Trên một vùng rộng sông nước, sình lầy từ Cần Thơ, Bến Tre
đến Cà Mau, Phú Quốc, có đường biên giáp với Campuchia, việc chỉ có ba sư đoàn phòng giữ không thể bảo đảm an ninh và bình định, nên lực lượng địch ở đây
bị căng kéo, phân tán mỏng để đối phó với phong trào chiến tranh du kích của ta Trong khi lực lượng quân sự của chính quyền Sài Gòn buộc phải bố trí phân tán không đều trên các địa bàn chiến lược, thì hỏa lực chi viện của Mỹ giảm mạnh, nhất là hỏa lực không quân, pháo binh Tình hình đó khiến cho quân đội Sài Gòn tuy
Trang 13đông về số lượng nhưng vẫn luôn cảm thấy "trống lưng,
hở sườn", không được che chắn, bị cô lập Cả điều này cũng
đã là tác nhân khiến tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn vốn đã sa sút càng sa sút nghiêm trọng, không thể
đảm đương nổi vai trò "nòng cốt" thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh như phía Mỹ trông đợi
Về phía ta, năm 1971, ở chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang Quân giải phóng có 7 sư đoàn, 19 trung
đoàn chủ lực cơ động; 95 tiểu đoàn, 350 đại đội, 185 trung
đội bộ đội địa phương tỉnh, huyện và hàng chục vạn du kích, tự vệ chiến đấu ở khắp các thôn, xã, thị trấn, thành phố Toàn bộ lực lượng này đứng chân trên những địa bàn chiến lược trọng yếu, hình thành thế bố trí xen kẽ với đối phương Trong điều kiện cần chớp thời cơ, mở những chiến dịch lớn hoặc mở cuộc tiến công chiến lược, nhiều sư đoàn, trung đoàn bộ binh và binh chủng mạnh
từ hậu phương miền Bắc được tăng cường cho chiến trường miền Nam Chỉ trong năm 1970 - 1971, miền Bắc
đưa nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật như xe tăng, pháo binh, cao xạ, công binh - đặc biệt là xe tăng T54, pháo 130 mm, Đ74, hỏa tiễn, súng phòng không A72, súng chống tăng B72 điều khiển bằng vô tuyến điện vào chiến trường
So sánh lực lượng quân sự ở miền Nam và Đông
Dương, quân ta mạnh hơn hẳn quân đối phương về mọi mặt, lại nắm quyền chủ động trên chiến trường và ở trong thế bố trí chiến lược có lợi, luôn luôn vây hãm
quân đối phương vào thế bị động chống đỡ
Trang 14Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 13
ở thế có lợi, quân dân ta trên khắp chiến trường Trung Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long trong năm 1971, đã tích cực thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tận dụng thời cơ nhân lúc quân chủ lực địch bị ta đánh bại ở tuyến ngoài, đẩy mạnh tiến công và nổi dậy đánh phá kế hoạch "bình định
đặc biệt" và "chương trình cộng đồng tự vệ, phát triển nông thôn" của địch ở Khu 5, trong hai đợt hoạt động Xuân - Hè và Thu - Đông 1971, ta đã diệt 23 đồn, bốt địch
và đánh thiệt hại các căn cứ quân sự Xã Đốc (Quảng Đà) Dục Mỹ (Khánh Hòa), Đèo Son (Quy Nhơn), sân bay Đà Nẵng (Quảng Đà), sông Mao (Bình Thuận), Nghĩa Hành (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn, Phù Mỹ (Bình Định), Phú Nhơn, Phú Thiện (Gia Lai), v.v Đòn tiến công quân sự trên đây trực tiếp hỗ trợ cho nhân dân các nơi này nổi dậy phá tan từng mảng ấp Tân Sinh, giành quyền làm chủ, khôi phục nhiều căn cứ lõm bí mật, vùng kiểm soát của
địch bị thu hẹp ở Nam Bộ, quân và dân ta kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, kết hợp đấu tranh quân sự với chính trị và binh vận đã giành lại các vùng trọng điểm bình định của địch ở nam, bắc đường số 4 (Mỹ Tho), Mỏ Cày, Giồng Trôm (Bến Tre), tuyến sông Mang Thít (Trà Vinh), Chương Thiện (Cần Thơ), Đức Hòa, Đức Huệ, (Long An), Dầu Tiếng, Bến Cát (Thủ Dầu Một), Củ Chi (Gia
Định) Nhìn chung, các hoạt động tiến công quân sự kết hợp với nổi dậy của nhân dân ở các địa phương thuộc Khu 5, Nam Bộ phát triển tốt, cuộc chống phá địch bình định đạt
Trang 15kết quả, đã làm cho tình hình nông thôn miền Nam biến chuyển có lợi cho cách mạng, tạo đà cho nhân dân vượt qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng năm 1969 - 1970,
đánh lùi địch nhiều nơi, giữ vững vùng giải phóng và căn
đường míttinh, bãi công, chống các hãng thầu Mỹ bóc lột công nhân, đòi tăng lương như những năm trước, giờ đây,
còn xuất hiện phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe của
thanh niên, sinh viên, học sinh đô thị Những cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào thành thị không dừng lại ở mục tiêu đòi các quyền dân sinh, dân chủ, mà hơn thế, chứa đựng và biểu lộ tinh thần dân tộc, mang nội dung:
đòi "Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược", đòi "Thiệu - Kỳ
từ chức", "miền Nam của người Việt Nam", "bãi bỏ chế độ quân sự hóa học đường", v.v Các cuộc đấu tranh chính trị
từ Sài Gòn đã lan ra các thành phố, thị xã như Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Cần Thơ Các tổ chức quần chúng như Phong trào phụ nữ đòi quyền sống; ủy ban nhân dân tranh thủ hòa bình; ủy ban nhân dân đòi quyền sống; Nghiệp đoàn 36 chợ đô thành đã tổ chức míttinh lên án
Trang 16Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 15
Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi
Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam, v.v
Những thắng lợi về quân sự, chính trị có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh và Học thuyết Níchxơn trong các năm 1970, 1971 đã tạo ra thế và lực mới, đảm bảo cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển; chúng ta "có điều kiện kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát triển quyền chủ động tiến công giành thắng lợi mới có ý nghĩa chiến lược lớn hơn trong năm 1972"1
Miền Bắc - hậu phương chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược - vẫn vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách do đế quốc Mỹ gây ra, khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi sản xuất, ổn
định đời sống nhân dân Là hậu phương trực tiếp của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, hậu phương của cách mạng hai nước Lào, Campuchia, miền Bắc xã hội chủ nghĩa luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược: bảo
vệ và tăng cường tiềm lực và sức mạnh miền Bắc, đồng thời ra sức động viên nhân tài, vật lực chi viện cho miền Nam, Lào, Campuchia ngày càng tăng Đứng trước đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, năm 1971, miền Bắc dấy lên cuộc vận động chính trị rộng lớn, phát động phong trào _
1 Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính
trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi
và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 83
Trang 17thi đua lao động sản xuất giỏi, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cao "vì tiền tuyến miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc"
Mặc dù buộc phải ngừng ném bom và các hành động quân sự khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng trên thực tế, Mỹ không tôn trọng những cam kết, vẫn tiếp tục tiến hành các chuyến bay do thám và đánh phá miền Bắc Ngày 21-11-1970, các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Linh bắn rơi 13 máy bay Mỹ khi chúng đến ném bom, bắn phá tuyến vận tải chiến lược trên địa bàn Khu 4 Cũng trong ngày này, Mỹ dùng máy bay lên thẳng (được máy bay phản lực F105 nghi binh, yểm trợ), chở lực lượng đặc biệt gồm 56 tên, do Đại tá Simôn chỉ huy, lợi dụng đêm tối, bất ngờ đổ bộ xuống thị xã Sơn Tây - địa điểm cách Hà Nội 32 km về phía tây, nhằm cướp tù binh Mỹ Níchxơn hy vọng cuộc giải thoát
tù binh Mỹ nếu thành công sẽ xoa dịu được tinh thần đấu tranh đòi rút quân Mỹ khỏi Việt Nam của nhân dân Mỹ
và sẽ mặc cả với ta tại cuộc hòa đàm Pari Song, cuộc tập kích Sơn Tây giải thoát tù binh Mỹ bị thất bại, ta cảnh giác với ý đồ của Mỹ và đã di chuyển tù binh đi nơi khác Trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, từ giữa năm 1970, thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tăng cường, mở rộng tuyến vận tải chiến lược này, bảo đảm vận chuyển thông suốt cả đêm lẫn ngày suốt bốn mùa mưa, nắng,
Đoàn 559 - lực lượng chủ yếu vận chuyển vật chất, kỹ
Trang 18rà phá bom mìn, 200 khẩu pháo cao xạ, 700 máy vô tuyến điện Trước tình hình mới, Quân ủy Trung ương,
Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh Đoàn 559 tổ chức các sư đoàn khu vực: 470, 471, 472, 473, 571 và quy hoạch toàn tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn thành 5 khu vực1 Đoàn 559 còn được tăng cường hàng vạn thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến Lực lượng này được động viên từ các tỉnh miền Bắc, làm _
1 Theo phân công, mỗi bộ tư lệnh khu vực phụ trách một số tuyến vận tải và một cụm binh trạm, cụ thể:
- Bộ Tư lệnh 471 phụ trách trục đường phía tây, tiếp chuyển hàng của Bộ Tư lệnh 472 gồm 6 binh trạm (35, 36,
38, 44, 46 và 47)
- Bộ Tư lệnh 472 phụ trách khu vực trung tâm phía tây Trường Sơn gồm 6 binh trạm (32, 33, 34, 39, 45 và 12)
- Bộ Tư lệnh 473 phụ trách các trục đường 16, 9, 14, 29,
128 và B45 phía đông Trường Sơn gồm 4 binh trạm (27, 28,
41 và 42)
- Bộ Tư lệnh 470 (thành lập tháng 4-1970) gồm 5 binh trạm (37, 50, 51, 52 và 53)
- Bộ Tư lệnh 571 (Bộ Tư lệnh hậu phương) gồm Trường Quân chính, Viện Quân y 59, Đoàn giao nhận xe (tương đương trung đoàn) và các đơn vị trực thuộc khác
Trang 19nhiệm vụ mở đường, san lấp hố bom, gùi thồ đạn, gạo, bốc dỡ hàng, bảo vệ kho tàng Trong nhiều trường hợp, những nữ thanh niên xung phong bất chấp hiểm nguy,
đã làm "lộ tiêu sống" dẫn đường cho các đoàn xe vận tải vượt ngầm dưới sự săn lùng, đánh phá của máy bay
địch Toàn bộ lực lượng trên đây trong năm 1971, đã dồn sức mở rộng mạng đường, bao gồm hệ thống trục dọc, trục ngang, đường vòng tránh các trọng điểm và mạng đường này có tổng chiều dài lên tới 20.330 km (tính đến mùa Xuân 1975), trong đó mở mới 16.790 km với 6 trục dọc, 13 trục ngang và 700 km đường vượt khẩu, 4.700 km đường vòng tránh, 1.200 km đường kín
Đáp ứng đòi hỏi của chiến tranh, 1.399 km đường ống dẫn dầu từ miền Bắc đến Bù Gia Mập được khẩn trương lắp đặt, đi vào hoạt động, bao gồm 113 trạm bơm, 257.050 m3 kho chứa vào cuối năm 1971 Đây là công trình có tầm quan trọng chiến lược, được Đảng, Nhà nước tập trung chỉ đạo Một lực lượng lớn cán bộ, công nhân các ngành cơ khí, vật tư, kiến trúc, bộ đội xăng dầu và cùng hàng vạn lao động các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hòa Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Hưng được động viên vào nhiệm vụ này
Với những nỗ lực trên đây, năm 1971, qua đường vận tải biển và đường 559 thông suốt, miền Bắc đã chuyển vào chiến trường miền Nam 135.663 tấn lương thực, 22.392 tấn thực phẩm, 29.389 tấn xăng dầu, 985 tấn thuốc quân y,
Trang 20Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 19
16.000 tấn vũ khí Ngoài việc tăng cường lực lượng, vật chất, kỹ thuật cho miền Nam, Đảng và Nhà nước ta dành một phần lớn vật chất, kỹ thuật giúp đỡ cách mạng Campuchia và Lào Trên miền Bắc, các mặt chuẩn bị theo phương án sẵn sàng đánh bại âm mưu và hành động của kẻ thù nếu đối phương liều lĩnh mở rộng chiến tranh trên bộ ra Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, sẵn sàng
đương đầu và đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân Mỹ lần thứ hai cũng được gấp rút triển khai
Trong hai năm 1970 - 1971, đế quốc Mỹ dốc sức thực hiện Học thuyết Níchxơn bằng cách xây dựng quân đội Sài Gòn mạnh đủ sức làm nòng cốt cho việc thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, tiến hành bình
định miền Nam và Lào, hòng tiêu diệt khối chủ lực Quân giải phóng, phá "đất thánh Việt cộng", cắt đứt tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, bao vây, cô lập và bóp nghẹt phong trào cách mạng miền Nam Song, chủ lực quân đội Sài Gòn bị tiêu diệt lớn ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia Những mục tiêu đề ra cho các cuộc hành quân trong năm 1971 của quân đội Sài Gòn đã bị thất bại Quân đội Sài Gòn thua trận, tinh thần chiến đấu sa sút đã
ảnh hưởng rất lớn đến nỗ lực thực hiện kế hoạch bình
định đặc biệt, Chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn do chính quyền Sài Gòn và tòa Đại sứ Mỹ, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) vạch ra Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ bị đẩy lùi một bước căn bản
Trang 21Trên thực tế, dựa vào số quân đông và được Mỹ tăng cường huấn luyện, trang bị nên quân đội Sài Gòn trong năm 1971 cũng đã bung ra đóng thêm nhiều đồn bốt, giữ
được một số lớn ấp chiến lược, khu dinh điền Cuộc đấu tranh trên mặt trận chống phá bình định diễn ra ác liệt suốt năm 1971 Tuy nhiên, do quân Mỹ tiếp tục rút đi và
ta hoạt động mạnh, chiến tranh du kích phát triển đều khắp trên cả ba vùng chiến lược; đồng bào thành thị ngày càng hướng về cách mạng với niềm tin chiến thắng, ủng
hộ cách mạng và tham gia đấu tranh chính trị mạnh mẽ , nên hoạt động bình định của địch bắt đầu chững lại và chúng buộc phải rút bớt chỉ tiêu Trong khi đó, các sư đoàn chủ lực Quân giải phóng từ các vùng biên giới đã trở lại đứng chân, hoạt động ở những địa bàn xung yếu,
áp sát các vành đai phòng thủ của địch và các đô thị lớn Mặc dù đối phương và ta còn ở thế giằng co quyết liệt, nhưng tình hình nông thôn miền Nam giờ đây đã vượt qua thời kỳ khó khăn nghiêm trọng, ta đã chặn địch lại,
đã đánh lui chúng ở nhiều nơi và tạo ra những điều kiện thuận lợi mới hết sức cơ bản để tiến lên thực hiện nhiệm
vụ chiến lược tiếp theo
Những thắng lợi trên đây ở tiền tuyến, ở hậu phương trong năm 1971, "đã làm phá sản một bước quan trọng chính sách Việt Nam hóa chiến tranh và Học thuyết Níchxơn của đế quốc Mỹ ở Đông Dương Năm 1971 là năm địch có những cố gắng lớn, nhưng
Trang 22Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 21
cũng là năm chúng bị thua nặng, ta thắng to"1; so sánh thế và lực giữa ta và địch trên chiến trường diễn biến căn bản thuận lợi cho cách mạng miền Nam, cách mạng
ba nước Đông Dương "Ta đang thế thắng, thế chủ động, thế thuận lợi, thế đi lên, mặc dầu còn có những khó khăn và nhược điểm cần phải khắc phục; địch đang ở thế thua, thế bị động, thế khó khăn, thế đi xuống, mặc dầu chúng đang còn nhiều lực lượng và có những chỗ mạnh tạm thời"2
Những thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự và chính trị ở chiến trường Việt Nam, Campuchia, Lào làm chuyển biến căn bản cục diện cách mạng ở Đông Dương, đã tác động tích cực đến các phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi rút quân
Mỹ về nước
Tại Mỹ, các tầng lớp xã hội Mỹ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đấu tranh chống cuộc chiến tranh của chính quyền Níchxơn, đòi rút quân Mỹ ra khỏi chiến tranh Việt Nam Khi Níchxơn nhậm chức Tổng thống Mỹ, 7.000 nhà hoạt động do ủy ban động viên toàn quốc đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam lãnh đạo, đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình, míttinh hô vang các khẩu hiệu phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam của chính quyền Những người _
1, 2.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.33, tr.141, 142
Trang 23tham gia phong trào nhận thức rất rõ rằng trở ngại hòa bình không phải là Hà Nội mà là cố gắng không thích hợp, không đầy đủ của Chính phủ Mỹ Ngày 15-10-1971, phong trào ngừng hoạt động vì Việt Nam đã huy động hơn một triệu người xuống đường ở Oasinhtơn, hô vang khẩu hiệu "Hòa bình ngay bây giờ!" Đặc biệt, năm 1969, trong quân đội Mỹ cũng bắt đầu dấy lên phong trào
"Chống chiến tranh Việt Nam của chính quyền" Họ tổ chức 17 cuộc biểu tình tại các doanh trại, căn cứ của binh chủng lục quân, không quân, hải quân ở Mỹ phản đối cuộc chiến tranh do chính quyền phát động, đòi Níchxơn phải chấm dứt chiến tranh ngay lập tức, phải rút hết quân Mỹ khỏi Việt Nam! Ngày 18-4-1971, 2.000 cựu chiến binh từng chiến đấu ở chiến trường Việt Nam về, kéo đến Thủ đô Oasinhtơn gặp Quốc hội, rồi đến nghĩa trang Arlingtơn tổ chức rước đuốc phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ Những cựu chiến binh vứt bỏ huân chương khen thưởng họ trong chiến tranh Việt Nam lên thềm nhà Quốc hội để phản đối cơ quan lập pháp cho phép Tổng thống tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ lên cao đã tác
động đến nhiều nghị sĩ ở Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ
Đó là một nhân tố tác động góp phần dẫn đến việc tháng 4-1971, Hạ viện Mỹ biểu quyết đòi rút hết quân Mỹ khỏi Việt Nam với số phiếu 122/260 Ngày 17-6 cùng năm, số phiếu biểu quyết của Hạ viện về việc rút quân Mỹ, chấm dứt chiến tranh Việt Nam tăng lên 158/224 và ngày 28-6
Trang 24Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 23
số phiếu đó là 175/219 Với số phiếu này, Hạ viện Mỹ quyết nghị yêu cầu Chính phủ chấm dứt chiến tranh Việt Nam Đây là lần đầu tiên Hạ viện Mỹ bỏ phiếu hủy bỏ
"chính sách Việt Nam của chính quyền" bằng luật ủy ban chính sách của Đảng Dân chủ tại Thượng viện đòi Níchxơn rút hết quân Mỹ, kể cả không quân yểm trợ, khỏi Đông Dương vào ngày 30-11-1972 Đây là những quyết định mạnh mẽ của cơ quan lập pháp Mỹ nhằm vào chính quyền hiếu chiến Níchxơn Nội bộ chính quyền Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng vì cuộc chiến tranh Việt Nam
Do bị thất bại trong chính sách Việt Nam hóa chiến tranh và bị sức ép nặng nề trong nước đòi rút quân Mỹ, tại Hội nghị Pari, phái đoàn Mỹ tỏ ra mềm mỏng hơn Mỹ không đòi hai bên cùng rút quân như trước nữa mà tuyên
bố sẵn sàng đề ra thời hạn cuối cùng cho việc rút quân
Mỹ Ngày 31-5-1971 trong cuộc gặp riêng giữa Bộ trưởng Xuân Thủy với Kítxinhgiơ, ông ta đưa đề nghị 7 điểm Trong 7 điểm này, Kítxinhgiơ nói "sẵn sàng ấn định thời hạn rút quân Mỹ", nhưng không nói ngày nào cụ thể
Ông ta còn lập lờ "người Việt Nam và người các nước
Đông Dương khác sẽ thảo luận rút các lực lượng ngoại nhập khác" Ngày 1-7-1971, tại phiên họp thứ 119 của Hội nghị bốn bên, đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trình bày sáng kiến mới gồm 7 điểm, nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền
Trang 25Nam Việt Nam1 Nhiều nghị sĩ Mỹ kể cả Níchxơn đều chung nhận xét đề nghị mới này của Chính phủ Cách mạng lâm thời _
1 Sáng kiến 7 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam:
1- Nếu Mỹ định thời hạn rút hết quân trong năm 1971 thì các bên sẽ thoả thuận cùng một lúc về thể thức của hai việc sau đây: a) Rút an toàn quân đội Mỹ và quân các nước thuộc phe Mỹ; b) Thả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh, kể cả các phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc; hai việc này bắt đầu cùng ngày và kết thúc cùng ngày
2- Mỹ chấm dứt ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến do Thiệu cầm đầu để các lực lượng chính trị, xã hội, tôn giáo ở miền Nam lập ra ở Sài Gòn một chính quyền mới tán thành hoà bình,
đẳng, tôn trọng nhau không có can thiệp của nước ngoài
4- Việc thống nhất Việt Nam sẽ tiến hành từng bước trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận, không có sự can thiệp của nước ngoài Hai bên không tham gia liên minh quân sự với nước ngoài, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự hay quân đội trên đất mình 5- Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, trung lập, đặt quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, theo 5 nguyên tắc chung sống hoà bình Cũng theo những nguyên tắc đó, miền Nam Việt Nam và Mỹ sẽ thiết lập quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội với nhau
6- Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những thiệt hại và tàn phá do Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam ở cả hai miền Việt Nam
7- Các bên thoả thuận về những hình thức tôn trọng và bảo
đảm quốc tế các hiệp định sẽ được ký kết
Trang 26Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 25
Cộng hòa miền Nam Việt Nam khai thông con đường để Quốc hội Mỹ thông qua chính sách chấm dứt chiến tranh Quốc hội Mỹ đòi chính quyền Níchxơn không được bỏ lỡ cơ hội này Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến giữa năm 1971, cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ chưa thật sự có chuyển biến lớn, hai bên còn nhiều điểm bất đồng phải tiếp tục giải quyết Lúc này hai đảng Dân chủ và Cộng hòa ở Mỹ
đang ráo riết vận động tranh cử tổng thống vào cuối năm
1972, mà vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam, rút quân Mỹ về nước trở thành nội dung rất quan trọng Để xoa dịu làn sóng phản đối chiến tranh trong nước và cũng
để tranh thủ lá phiếu ủng hộ, Níchxơn hứa hẹn trước
nhân dân Mỹ là sẽ chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước, nhưng ông ta không nói rõ chấm dứt chiến tranh
bằng cách nào và bao giờ thì rút quân Mỹ Sự "lập lờ" giữa lời hứa với hành động thực tế của Níchxơn bị nhân dân
Mỹ và dư luận thế giới phản đối mạnh mẽ Những cuộc xuống đường đấu tranh chống Mỹ trên thế giới và ở ngay trên đất Mỹ lại diễn ra sôi động Nhân dân và chính phủ nhiều nước tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Hội đồng hòa bình thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược, đã sôi nổi tổ chức những "Tuần đoàn kết với Việt Nam" Không thắng trên chiến trường và ở Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ xoay sang chính sách ngoại giao con thoi xảo quyệt nhằm lôi kéo Liên Xô, Trung Quốc, hạn chế sự giúp
đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến
Trang 27của Việt Nam, cô lập Việt Nam; dùng Liên Xô, Trung Quốc ép ta tại cuộc đàm phán Pari Đó là âm mưu rất độc
ác Dù vậy, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, Trung Quốc cho đến năm 1971, đều thống nhất ở một điểm là ủng hộ sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cả về tinh thần và vật chất Hàng chục ngàn tấn vũ khí, khí tài quân sự hiện đại và hàng trăm vạn tấn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh từ Liên Xô, Trung Quốc được chuyển đến Việt Nam, góp phần quan trọng cho nhân dân Việt Nam giữ vững và tăng cường tiềm lực quân sự và sức mạnh kháng chiến Do
đường lối đối ngoại đúng đắn, độc lập tự chủ của Đảng ta,
ta đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của thế giới và
sự ủng hộ to lớn về vật chất, tinh thần của phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt sự giúp đỡ có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc Trên thực tế, đến năm 1971, đã hình thành một mặt trận sâu rộng nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam Sự giúp
đỡ to lớn của nhân dân thế giới trong đó có nhân dân tiến
bộ Mỹ, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa là nguồn động viên quý báu đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Nhìn chung, những thắng lợi toàn diện của quân và dân ta trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao và chống phá bình định đã buộc đế quốc Mỹ trong năm 1971, phải lùi một bước, tiếp tục rút dần quân Mỹ về nước Nhưng chúng vẫn ngoan cố tìm mọi cách duy trì chính
Trang 28Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 27
quyền Nguyễn Văn Thiệu để tiếp tục thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, đảm bảo cho Mỹ "rút ra trên thế thắng", "rút ra trong danh dự" Ta thắng lớn, toàn diện; thế và lực đang lên Dù chưa đánh bại được hoàn toàn đội quân chủ lực Sài Gòn, song ta đã tạo được thời cơ chiến lược cho phép đẩy mạnh nỗ lực chủ quan, giáng một
đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ
II- Nắm bắt thời cơ, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc Tiến công chiến lược năm 1972
Mùa Xuân 1971, ta thắng lớn trên mặt trận quân
sự, chính trị và chống phá bình định ở cả ba chiến trường miền Nam, Campuchia, Lào, làm phá sản một bước quan trọng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh
và Học thuyết Níchxơn ở Đông Dương Đối phương buộc phải lùi một bước, từ chủ động mở các cuộc hành quân tiến công trên chiến trường ba nước Việt Nam, Campuchia, Lào đã phải lui về giữ thế phòng ngự chiến dịch và chiến lược, bị động chống đỡ với các cuộc tiến công của
ta Cục diện chiến trường biến chuyển mau lẹ có lợi cho cách mạng Quân chủ lực Sài Gòn không còn khả năng làm nòng cốt cho Việt Nam hóa, Khmer hóa và Lào hóa chiến tranh, đang đứng trước nguy cơ suy sụp và tan rã từng mảng nếu ta tiếp tục mở những cuộc tiến công vừa
và lớn Một thời cơ mới để đưa cách mạng tiến lên giành thắng lợi quyết định đã xuất hiện Lường định khả năng
Trang 29diễn biến của tình hình, ngay từ tháng 5-1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ cần kíp cho quân và dân ta là: "Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ
sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương, đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia
và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài"1 Ngay trong tháng 6-1971, Quân ủy Trung
ương họp nghiên cứu về tình hình miền Nam, Campuchia, Lào và bàn kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị Quân ủy Trung ương nhận thấy đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai mặc dù bị thất bại nặng nề, toàn diện, nhưng chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam, Campuchia, Lào bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới Đối phương quyết bám giữ miền Nam Việt Nam, thực hiện cho được Việt Nam hóa chiến tranh Bằng hành động quân sự quyết liệt và ngoại giao xảo quyệt, Mỹ vừa rút dần quân chiến
đấu Mỹ, vừa tìm cách làm cho ta suy yếu phải chịu thua, _
1 Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam, tháng 5-1971, lưu tại Viện Lịch sử
quân sự Việt Nam
Trang 30Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 29
buộc phải chấm dứt chiến tranh theo âm mưu và kế hoạch của Mỹ sắp đặt Quân ủy Trung ương nhấn mạnh:
"Tình hình đang chuyển biến mau lẹ, đòi hỏi ta phải có sự
cố gắng cao nhất, tranh thủ thời gian, khắc phục khó khăn, nhược điểm để xây dựng thế và lực của ta trên chiến trường lên nhanh hơn nữa, kịp thời nắm lấy thời cơ, hành động bất ngờ, giành lấy thắng lợi cao nhất, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút hết quân Mỹ, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền tan rã, sụp đổ một bước quan trọng"1 Quân ủy Trung ương xác định quyết tâm chiến lược năm 1972: "Tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên cả ba vùng, trên khắp các chiến trường Đông Dương, miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, giành thắng lợi cao nhất"2 Tại hội nghị này, sau khi tổng hợp, phân tích lượng thông tin về tình hình
địch, ta ở chiến trường Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên và Trị - Thiên, Quân ủy Trung ương dự kiến, trong năm 1972:
"Hướng chủ yếu số 1 là chiến trường biên giới Campuchia
và miền Đông Nam Bộ; hướng chủ yếu số 2 là chiến trường Tây Nguyên; hướng phối hợp quan trọng là miền núi tây Trị - Thiên Trị - Thiên tuy là hướng phối hợp quan trọng, nhưng lại gần miền Bắc, có điều kiện bảo đảm hậu cần, vì vậy phải gấp rút chuẩn bị để có thể đánh lớn khi cần thiết hoặc có lợi" Để phối hợp với đòn tiến công của _
1, 2 Nghị quyết Quân ủy Trung ương, tháng 6-1971, số 236,
lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trang 31bộ đội chủ lực, Quân ủy Trung ương còn đề ra nhiệm vụ
đẩy mạnh "phong trào tiến công và nổi dậy ở đồng bằng, phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang mạnh ở đô thị, tiến công vào ba chỗ dựa của chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, tạo nên cục diện mới có lợi cho ta trong trường hợp ngừng bắn, tạo điều kiện để đưa phong trào cách mạng tiến lên một cách vững chắc trong tình hình mới"
Đối với miền Bắc, về quân sự, ra sức củng cố và nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giỏi cho lực lượng vũ trang nhân dân, nhằm đối phó thắng lợi với những cuộc tập kích đường không, đường biển của không quân, hải quân Mỹ, tiêu diệt các toán biệt kích và mọi hành động xâm lược phiêu lưu của đối phương Cần xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh sẵn sàng đối phó kịp thời khi cần thiết, có lực lượng dự trữ bổ sung đầy đủ, kịp thời cho miền Nam Hội nghị Bộ Chính trị tháng 5-1971 và Hội nghị Quân
ủy Trung ương tháng 6-1971 đánh giá sát diễn biến của tình hình thực tế trên chiến trường và âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, nhận thấy thời cơ chiến lược đang xuất hiện,
đề ra chủ trương nhằm tận dụng và thúc đẩy thời cơ, chuẩn
bị mọi mặt cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972
Thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung
ương, ở miền Nam, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Mặt trận Tây Nguyên, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Trị -
Trang 32Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 31
Thiên cùng các tỉnh bắt đầu xây dựng kế hoạch quân sự
và đấu tranh chính trị năm 1972, chỉ đạo các đơn vị Quân giải phóng, các cơ quan đảng, mặt trận, các đoàn thể quần chúng huy động mọi lực lượng chuẩn bị chiến trường; trong đó, công tác mở đường chiến dịch và chiến
đấu, công tác vận chuyển vật chất dự trữ cho các hướng tác chiến theo dự kiến của Quân ủy Trung ương là vô cùng quan trọng và khẩn trương, vì yêu cầu mọi công tác chuẩn bị phải hoàn tất trước tháng 3-1972
Tháng 10-1971, Trung ương Cục họp Hội nghị lần thứ chín, xác định quyết tâm kiên quyết thực hiện thắng lợi Nghị quyết Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Trung
ương Cục nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ trước mắt của chiến trường B2 là: Tranh thủ thời gian, phấn đấu hoàn thành công tác chuẩn bị, xây dựng thế tiến công chiến lược mới bằng ba quả đấm mạnh trên cả ba vùng chiến lược; tiếp đó, mở cuộc tiến công và nổi dậy rộng lớn nhằm đánh suy sụp nặng quân đội và chính quyền Sài Gòn, đánh bại cơ bản kế hoạch bình định của đối phương
Để đạt được yêu cầu trên, Thường vụ Trung ương Cục chỉ
rõ yêu cầu, nhiệm vụ trên từng vùng chiến lược:
1- Đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của đối phương ở nông thôn
2- Đẩy mạnh đòn đánh tiêu diệt quân đối phương của
bộ đội chủ lực, phát triển thế tiến công liên tục khắp các chiến trường, làm cho quân địch suy sụp và tan rã nặng 3- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở đô thị lên một bước mới, nhất là Sài Gòn - Gia Định; khoét sâu mâu
Trang 33thuẫn Mỹ - Thiệu, đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, tiến tới cao trào đấu tranh chính trị rộng lớn, phối hợp chặt chẽ với
đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực ở hướng chính, buộc địch phải thay đổi tay sai, lập một chính phủ vãn hồi hòa bình
Thực hiện quyết tâm của Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền quyết định mở chiến dịch tiến công mang mật danh Chiến dịch Nguyễn Huệ trên chiến trường miền Đông Hướng chủ yếu của chiến dịch được xác định là khu vực
đường 13, khu vực quyết chiến là địa bàn Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành; sau đó phát triển về hướng Lai Khê hoặc Dầu Tiếng Hướng phối hợp: Tây Ninh và các phân khu 1, 5, 23 (Long An); tỉnh Bình Phước Hướng phối hợp quan trọng: Long Khánh, Biên Hòa Hướng nghi binh:
đường 22, khu vực quyết chiến Xa Mát, Trảng Sụp; sau đó phát triển về hướng đồng bằng Khu 8 hoặc vùng tây thành phố Sài Gòn Lực lượng sử dụng là toàn bộ các sư đoàn chủ lực Miền cùng lực lượng vũ trang địa phương Từ những tháng cuối cùng của năm 1971 cho đến trước ngày chiến dịch mở màn, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã khẩn trương mở và sửa chữa 943 km đường chiến dịch, chiến đấu; làm 10 bến phà qua sông Sài Gòn; vận chuyển
đến các kho dự trữ trên các hướng chiến dịch 45.000 tấn vật chất, kỹ thuật, riêng gạo đạt 14.500 tấn Lương thực, thực phẩm chuẩn bị bảo đảm đủ cho bộ đội hoạt động cả năm 1972
Trang 34Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 33
Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm Khu 8 và Khu 9, tuy không phải là hướng chính đánh tiêu diệt chủ lực quân đội Sài Gòn, nhưng là hướng trọng tâm đánh phá bình định, mở mảng, mở vùng, phối hợp với các chiến trường khác Bộ Tư lệnh Quân khu 9 hạ quyết tâm: Tập trung lực lượng chủ yếu tiến công tiểu khu Chương Thiện ở hai quận Long Mỹ và Kiến Thiện - Ngang Dừa, giải phóng vùng tây nam và bắc huyện Long Mỹ, đồng thời sử dụng một lực lượng hợp lý tiến công vào Sư đoàn 21
và Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn ở U Minh, ghìm chặt lực lượng này, tạo điều kiện cho các địa phương chống phá
đối phương bình định, mở rộng vùng giải phóng Quân khu 8 và Quân khu 9 khẩn trương bố trí sắp xếp lực lượng quân sự, chính trị trên các hướng trọng điểm đã xác định Song song với việc bố trí lực lượng, Quân khu huy động nhân dân các địa phương và lực lượng công binh mở 6 tuyến đường vận chuyển qua các cánh rừng sình lầy từ miền Đông Nam Bộ xuống vùng Đồng Tháp Mười và vận chuyển gạo, đạn ém sẵn ở các hướng Mọi công việc chuẩn bị đều hoàn tất cuối tháng 2-1972 Các lực lượng vũ trang, chính trị, binh vận trong tư thế sẵn sàng vào trận theo lệnh của quân khu
ở Khu 5, quán triệt ý định chiến lược của Trung ương
và căn cứ vào tình hình địch, ta trên chiến trường, Khu ủy
và Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định tập trung lực lượng chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy, phối hợp với các chiến trường, với nhiệm vụ:
- Tiến công và nổi dậy diệt và làm tan rã lớn chủ lực
Trang 35quân đội Sài Gòn, phá vỡ từng mảng lớn hệ thống phòng ngự cơ bản của địch và hệ thống kìm kẹp của chúng ở đồng bằng, giành quyền làm chủ phần lớn nông thôn
- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng thành cao trào tiến công cách mạng trong các đô thị - nhất là thành phố Đà Nẵng
Tháng 10-1971, Khu ủy Khu 5 lại ra chỉ thị Phát động phong trào thi đua quyết thắng giặc Mỹ với ba cao trào:
- Cao trào diệt và làm tan rã lớn quân đội Sài Gòn
- Cao trào tiến công và nổi dậy giành quyền làm chủ nông thôn
- Cao trào cách mạng trong các đô thị
ở các tỉnh đồng bằng, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xác định hai trọng điểm tiến công và nổi dậy ở bắc Bình Định và Quảng Nam Mục tiêu của đợt tiến công nhằm tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 4 - Sư đoàn 22 và một bộ phận cơ động của Sư đoàn 2 quân
đội Sài Gòn; đánh bại kế hoạch bình định đặc biệt và chương trình cộng đồng tự vệ và phát triển nông thôn của
địch, mở rộng vùng giải phóng từ phía nam tỉnh Quảng Ngãi đến phía bắc đường 19 Đông nối với căn cứ cách mạng hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum; giải phóng khu vực Quế Sơn, Tiên Phước và tây huyện Thăng Bình, Nông Sơn, Trung Phước (Quảng Nam), Đức Phổ, Ba Tơ, Giá Vụt (Quảng Ngãi), phối hợp chặt chẽ với cuộc tiến công của Mặt trận Tây Nguyên
Để hoàn thành nhiệm vụ đó, lực lượng vũ trang Quân khu được tăng cường về số lượng, củng cố về chất lượng
Trang 36Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 35
Khối chủ lực cơ động của Quân khu ngoài Sư đoàn bộ binh 3 (gồm Trung đoàn 21, Trung đoàn 12 và 2) và Sư
đoàn 2 đã có, tháng 1-1972, Quân khu thành lập thêm Sư
đoàn bộ binh 711 (gồm Trung đoàn 31, 38, đến cuối tháng 4-1972 có thêm Trung đoàn 9 - Sư đoàn 101); 5 tiểu đoàn pháo, cối; 5 tiểu đoàn và 6 đại đội đặc công Lực lượng vũ trang tỉnh, huyện có 22 tiểu đoàn, 60 đại đội, 62 trung
đội bộ binh Toàn Quân khu tổ chức được 203 đội, tổ du kích đặc công hóa và 91 tổ du kích công binh Quân khu cấp tốc mở các lớp bồi dưỡng về nghệ thuật chiến dịch cho 2.000 cán bộ cao cấp, trung cấp nhằm nâng cao trình
độ chỉ huy tác chiến lên một bước mới Giữa năm 1971, toàn Khu tập trung lực lượng làm đường, vận chuyển và huấn luyện chiến, kỹ thuật cho cán bộ, chiến sĩ Nhân dân các tỉnh Quảng Đà, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình
Định đã góp 15 vạn ngày công bạt núi, san đèo, bắc cầu, mở mới 565 km đường chiến dịch, chiến đấu và sửa chữa 600 km đường từ tây Trường Sơn đến các tỉnh đồng bằng duyên hải Cuối tháng 11-1971, Đoàn 559 bắt đầu giao hàng cho Khu 5, nhưng trước đó, suốt trong 3 tháng ròng rã, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ trong khu đêm đêm
bí mật vượt qua các vùng kiểm soát của đối phương, xuống các vùng sâu ở phía đông quốc lộ 1 lấy gạo dân
đóng góp, chuyển lên vùng căn cứ Công việc vận chuyển gạo, đạn trên chiến trường Khu 5 không chỉ đổ mồ hôi,
mà cả máu; nhiều chiến sĩ đã ngã xuống trên đường vận chuyển vì bị địch phục kích Gian khổ, ác liệt khôn lường, nhưng vì nhiệm vụ, không một ai nao núng
Trang 37Nhờ tinh thần ấy, cuối năm 1971, Khu 5 đã dự trữ được 2.300 tấn lương thực, thực phẩm, tạm đủ cho lực lượng
có điều kiện thì giải phóng Kon Tum Hướng phát triển có thể là hướng Plâyku, có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng tây Plâyku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền
Đông Nam Bộ"1 Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, từ cuối năm 1971, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã bắt tay vào chuẩn bị chiến dịch Toàn bộ lực lượng công binh mặt trận và một bộ phận các đơn vị bộ binh được huy động làm hệ thống đường vận tải từ sông Sê Sụ vào Kon Tum
và hệ thống đường chiến dịch, chiến đấu 60, 70, 50 nối từ
đường 128 xuống phía đông bắc Kon Tum Tháng giêng, tháng hai là mùa khô, nhưng riêng phía bắc Kon Tum thỉnh thoảng có những trận mưa lớn kéo dài nhiều ngày Mưa làm cho đường trơn, lầy lội Con đường 50k từ ngã
ba biên giới vòng qua phía bắc Tân Cảnh - đường cơ động của xe tăng, phần "đất mượn" bị lún, lở, xe tăng không đi _
1 Điện số 236/Đ, ngày 10-9-1971 của Bộ Quốc phòng gửi
Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5 và Miền, lưu tại Viện Lịch
sử quân sự Việt Nam
Trang 38Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 37
được, buộc phải sửa chữa làm lại, nên chậm trễ so với kế hoạch Toàn bộ hệ thống đường Tây Nguyên được lát những tấm phên đan bằng tre, nứa để chống trơn Bộ đội phải luồn rừng đi xa 3 - 4 km chặt tre, luồng, nứa vác về
đan phên lát đường, chống lầy Tre, luồng chặt phải rút hết ngọn để tránh máy bay trinh sát phát hiện Những
đoạn đường trống bộ đội phải dùng sức vít những ngọn tre, cành gỗ vắt qua trên mặt đường Công việc trên mất biết bao công sức, mồ hôi của cán bộ, chiến sĩ công binh Tính
ra, mặt trận đã huy động 12 vạn ngày công mở 508 km
đường mới, sửa chữa 480 km đường cũ Riêng Đoàn 671
đã san núi, phá ngầm làm 300 km đường bộ, đường sông
đưa hàng vào cánh Bắc, cánh Trung, cánh Nam Mặt trận Tây Nguyên
Tháng 10-1971, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định động viên mọi lực lượng đẩy nhanh tốc độ chuẩn bị chiến trường và vận chuyển đạn, gạo lót sẵn Một phong trào thi đua "Trường Sơn chuyển mình, Pô Cô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Tây Nguyên" được phát động Cả Tây Nguyên dấy lên phong trào thi đua sôi nổi với một khí thế cách mạng mới Trong các buôn làng, tiếng chày giã gạo nuôi quân rộn vang thâu đêm "Kho gạo cách mạng" được lập thêm Các kho hàng phía trước như kho D27, D28, D51, D74, H35
được xây dựng và bắt đầu nhận hàng Cán bộ chủ trì các cơ quan mặt trận đều ra mặt đường đôn đốc việc mở
đường thông xe và vận chuyển Ngoài các đơn vị vận tải chuyên nghiệp, các đơn vị bộ binh, pháo binh,
Trang 39Trường Quân chính, Trường Quân y, Viện 211, các cơ quan Mặt trận Tây Nguyên được huy động đi vận chuyển cho chiến dịch Các bác sĩ, y tá, hộ lý, dược sĩ đều ra mặt
đường gùi gạo, thồ đạn đến các cụm kho trên các hướng chiến dịch Ngày nổ súng đến gần, nhưng đường sá chưa xong, con đường 50k cho xe tăng tiến công bị lún, sệ phải làm lại; địch lại đánh phá liên tục ngày đêm nên số lượng gạo, xăng, dầu, đạn dự trữ cho chiến dịch chưa đủ Đến ngày 15-3, gạo dự trữ chiến dịch do Đoàn 559 chuyển vào mới đạt 15% kế hoạch Khó khăn chồng chất, tưởng chừng không thể vượt qua Mặt trận Tây Nguyên phải tung người đi mở thêm các cửa khẩu thu mua, tập trung lực lượng phương tiện vận chuyển gạo nhanh từ các nơi
về khu vực chiến dịch, đồng thời phối hợp với các cơ quan kinh tài các tỉnh huy động gạo dân đóng góp chuyển tới mặt trận Nhờ nỗ lực của quân và dân Tây Nguyên và
Đoàn 559, đến tháng 3-1972, vật chất cho chiến dịch mới
đủ cho bộ đội hoạt động giai đoạn đầu, nhưng mọi việc chuẩn bị khác khá tốt
Cùng với việc làm đường chiến dịch, chiến đấu, vận chuyển đạn, gạo, các đơn vị bộ binh và binh chủng được
Bộ Tổng tư lệnh và Khu 5 bổ sung, tăng cường cho Tây Nguyên cũng lần lượt đến chiến trường Vùng ba biên giới phía tây bắc Kon Tum lại nhộn nhịp như bừng lên một sức sống mới, nhiều khu rừng trú quân mới được chuẩn bị đón Sư đoàn 320A, Trung đoàn 24B, Tiểu đoàn
đặc công 20B của Bộ bổ sung cho Tây Nguyên và Sư
đoàn 2 bộ binh (thiếu 1e) của Quân khu 5 tăng cường,
Trang 40Chương 27: nắm bắt thời cơ lớn, hạ quyết tâm 39
cùng nhiều đơn vị chuyên môn, kỹ thuật khác Đêm đêm,
từ hành lang chiến lược 559, những đơn vị xe tăng, thiết giáp, pháo xe kéo, vận tải cơ giới nối đuôi nhau tiến vào các khu rừng tạm dừng, chuẩn bị cho chiến dịch Lần đầu tiên sau nhiều năm chiến tranh, khối chủ lực cơ động Tây Nguyên phát triển nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng Quân đông, trang bị tốt, có cả xe tăng, pháo tự hành 57 mm
và súng B72 điều khiển trực tiếp bằng vô tuyến điện Tất cả đang trong tư thế sẵn sàng nổ súng phối hợp cùng các chiến trường
ở Trị - Thiên, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu cùng các tỉnh vận động được 3.200 đồng bào các dân tộc đi dân công phục vụ tiền tuyến, cùng các đơn vị công binh của
Đoàn 559 và Quân khu làm mạng đường Sa Trầm, Ba Lòng, Ly Tôn, Đa Đa, La Dụt, Tam Quan và hệ thống
đường vòng tránh các trọng điểm đánh phá của đối phương ở đường 12, đường A Run, Ba Đa, A Lưới Mở mạng đường phục vụ cho việc vận chuyển vật chất, cơ
động lực lượng, đảm bảo cho tác chiến lớn của quân chủ lực trong chiến dịch tiến công Quảng Trị là một kỳ công
Bộ đội, dân công, thanh niên xung phong phải chịu đựng những trận bom, pháo ác liệt của đối phương dội xuống;
bí mật bạt núi, xẻ đồi, đắp ngầm, làm cầu suốt ngày đêm dưới những tán lá xanh của rừng đại ngàn và sự rình rập, đánh phá ngày đêm của đối phương Các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên huy
động 5.000 dân công hỏa tuyến phối hợp với lực lượng của
Đoàn 559, bằng các phương tiện xe đạp thồ, ôtô, gùi bộ,