Tại thành phố Hồ Chí Minh, cơ sơ hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được nhu cầu gia tăng dân số và các phương tiện đi lại nên thường xuyên xảy ra tình trạng ùn tắc giao thông, trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên có một phần quan trọng là công tác quy hoạch không theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của xã hội. Chương trình hành động số 12CtrHĐTU ngày 16 tháng 3 năm 2011 của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 20112015 với mục tiêu “tập trung đầu tư xây dựng, từng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông, hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ, kết nối Vùng thành phố Hồ Chí Minh; phát triển nhanh vận tải hành khách công cộng, ưu tiên giao thông công cộng sức chở lớn; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông; nâng cao hiệu lực; hiệu quả quản lý Nhà nước; từng bước cải thiện tình trạng ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông”.
Trang 1MỤC LỤC
Tran
g
Phần mở đầu 1
Phần nội dung 2
Chương I: Cơ sở lý luận về quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 3
1 Khái niệm 3
2 Vai trò, đặc điểm và ý nghĩa 3
3 Cơ sở pháp lý 5
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị và quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 8
1 Đặc điểm 8
2 Những thuận lợi, khó khăn 13
3 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý quy hoạch hệ thống Đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 16
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị nhằm xây dựng hệ thống Đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh 1
1 Mục tiêu 18
2 Những giải pháp 19
3 Những kiến nghị 22
Phần Kết luận 24 Tài liệu tham khảo
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo trình học Quản lý Hành chính Nhà nước (Chương trình chuyên viên) – NXB Khoa học và Kỹ thuật năm 2011.
2 Các bài giảng, tài liệu của Thầy, Cô Trường Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh;
3 Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phương hướng, Nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020;
4 Chương trình hành động số 12-CtrHĐ/TU ngày 16/3/2011 của Thành ủy Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015;
5 Chương trình hành động số 27-CtrHĐ/TU ngày 26/7/2012 của Thành ủy Thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ trên địa bàn thành phố;
6 Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015;
7 Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020;
8 Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025;
9 Nghị định số 39/2010/NĐ-CP ngày ngày 07 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị;
10 Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020;
11 Quy định chức năng và nhiệm vụ của Ban Quản lý Đường sắt đô thị;
12 Các thông tin trên Trang tin điện tử của Bộ ngành Trung ương và sở ngành thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước là một trong những chương trìnhhọc rất quan trọng đối với cán bộ công chức của các cơ quan thực hiện chức năngquản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội ở nước ta.Trải qua thời gian học tập lớp Bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước ngạchChuyên viên chính Khóa 8 năm 2013, với những kiến thức bổ ích và thiết thựccùng với sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô, sự giúp đỡ tận tình của các họcviên cùng khóa, tôi đã tích lũy được cho mình một lượng kiến thức nhất định vềquản lý Nhà nước để có thể vận dụng vào thực tiễn công tác, góp phần hoàn thiện
bộ máy nhà nước, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vựccông tác của mình
Từ các nội dung chính của chương trình tôi nhận thấy học phần III- Quản
lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực là nội dung quan trọng và cốt lõi nhất củakhóa học, trong đó quản lý nhà nước về đô thị là đề tài được lớp học nghiên cứu
và thảo luận sôi nổi nhất
Quản lý nhà nước về đô thị gồm nhiều nội dung, tuy nhiên với những kiếnthức hạn chế tôi xin chỉ đề cập đến nội dung quản lý nhà nước về quy hoạch xâydựng đô thị
Với nội dung nêu trên, quản lý quy hoạch xây dựng đô thị có vai trò quantrọng trong quá trình hoạt động xây dựng phát triển đô thị Những quy hoạch, kếhoạch, dự án, thiết kế xây dựng dù có chất lượng cao nhưng nếu không đượcquản lý tốt sẽ không thể phát huy tác dụng Không những vậy, quản lý đô thịcòn có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với việc phân bổ, huy động cácnguồn lực phát triển đô thị cũng như đảm bảo công bằng xã hội
Tại thành phố Hồ Chí Minh, cơ sơ hạ tầng giao thông chưa đáp ứng đượcnhu cầu gia tăng dân số và các phương tiện đi lại nên thường xuyên xảy ra tìnhtrạng ùn tắc giao thông, trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên cómột phần quan trọng là công tác quy hoạch không theo kịp tốc độ phát triển nhanhchóng của xã hội
Chương trình hành động số 12-CtrHĐ/TU ngày 16 tháng 3 năm 2011 củaThành ủy thành phố Hồ Chí Minh được ban hành nhằm thực hiện Nghị quyết Đạihội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai
Trang 4đoạn 2011-2015 với mục tiêu “tập trung đầu tư xây dựng, từng bước hoàn chỉnh
hệ thống giao thông, hình thành mạng lưới giao thông đồng bộ, kết nối Vùngthành phố Hồ Chí Minh; phát triển nhanh vận tải hành khách công cộng, ưu tiêngiao thông công cộng sức chở lớn; nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của ngườitham gia giao thông; nâng cao hiệu lực; hiệu quả quản lý Nhà nước; từng bước cảithiện tình trạng ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông”
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chương trình hành động là nâng caohiệu quả công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch phát triển giao thông vận tải trênđịa bàn thành phố theo quy hoạch tổng thể đã được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Phấn đấu đến năm 2015 khối lượng vận tải hành khách công cộng đáp ứngđược 15% nhu cầu đi lại, góp phần kìm hãm và giảm dần số vụ ùn tắc giao thông
Cùng với những thực tiễn trong công việc và trong khuôn khổ chương trìnhbồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viên chính đã được
tiếp thu tại Trường Cán bộ thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin chọn đề tài: “QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ NHẰM XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” với
mong muốn tích lũy và nâng cao thêm kiến thức phục vụ cho công tác ngàycàng tốt hơn Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mặc dù đã cố gắng rất nhiềunhưng do thời gian có hạn cũng như việc vận dụng kiến thức và kinh nghiệmchuyên môn còn có những hạn chế nhất định, chưa đạt hiệu quả như mong muốn
vì vậy tiểu luận này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định.Kính mong quý Thầy, Cô đóng góp ý kiến để tiểu luận này được hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH
HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1 Khái niệm:
Về cơ bản, đô thị là một khu vực định cư của các lao động chủ yếu hoạtđộng trong lĩnh vực phi nông nghiệp Quản lý đô thị là một ngành khoa học tổnghợp với sự ứng dụng của nhiều ngành khoa học khác như kinh tế đô thị, quản lýnhà nước, quy hoạch đô thị, kiến trúc đô thị, xây dựng, giao thông, xã hội đô thị,khoa học môi trường, v.v…
- Quản lý nhà nước về đô thị là “hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nước sử dụng quyền lực công can thiệp và điều chỉnh các mối quan hệ xãhội và các quá trình phát triển như tổ chức khai thác và điều hòa việc sử dụngcác nguồn lực (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài chính và con người), đảmbảo pháp luật về lĩnh vực quản lý đô thị được thực hiện, nhằm tạo dựng và duytrì điều kiện thuận lợi cho hình thức định cư ở đô thị và phát triển bền vững
- Đường sắt đô thị (còn được gọi là metro, tàu điện ngầm) được hiểu là các
tuyến đường sắt, mà việc tổ chức chạy tàu được thực hiện như trên mạng đườngsắt (Quốc gia) hoặc trên tuyến đường sắt có kết cấu chuyên dụng (ngoài 2 raychính, có thêm ray thứ 3 để cấp điện sức kéo); sử dụng đầu máy toa xe bìnhthường hoặc đầu máy toa xe chuyên dùng (đoàn toa tự hành ghép nối nhiềumôđun, chạy bằng diesen [diesen multi unit, viết tắt là DMU] hoặc chạy điện[electric multi unit, viết tắt là EMU]); vận hành độc lập hoặc chạy chung trêntuyến đường sắt chạy tàu đường dài, thực hiện chức năng luân chuyển khách bêntrong đô thị và vùng ngoại ô
- Tàu điện ngầm là hệ thống giao thông chở khách với tốc độ cao trênđường ray, nhiều lượt, nhiều chuyến trong ngày, lượng khách lớn, thuận tiện vàthoải mái Đa số các thành phố lớn trên thế giới đều có tàu điện ngầm Thôngthường các chuyến đi và về đều mang tính nhất định Giống như xe bus nhưngtàu điện ngầm lại hữu ích trong việc đi lại hơn và đảm bảo được chất lượng antoàn trong cuộc sống nhiều hơn
2 Vai trò, đặc điểm và ý nghĩa:
2.1- Vai trò:
- Trong giai đoạn công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay, quản lý nhà nước
về đô thị đang tập trung thực hiện những nhiệm vụ cơ bản là:
+ Quản lý có hiệu quả quá trình phát triển đô thị và đô thị hóa;
+ Quản lý đảm bảo trật tự không gian đô thị và cung cấp nhà ở cho các đốitượng thu nhập thấp;
Trang 6+ Quản lý đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụtiện nghi đô thị, bảo vệ và phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở ở đô thị;
+ Quản lý trật tự và an toàn xã hội đô thị;
+ Bảo vệ môi trường và các tài nguyên đô thị đảm bảo mục tiêu phát triểnbền vững
- Khái quát vai trò của hệ thống đường sắt đô thị trong phát triển kinh tế - xã
hội và giải quyết giao thông đô thị của thành phố Hồ Chí Minh và Vùng đô thị.
+ Hệ thống đường sắt đô thị có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế
- xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, đóng vai trò then chốt trong trong việc giảiquyết ách tắc giao thông đô thị và liên kết Vùng thành phố Hồ Chí Minh
+ Với quy mô dân số thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 là 10 triệungười, khách vãng lai là 2,5 triệu người; dân số Vùng thành phố Hồ Chí Minh là
20 – 22 triệu người, để phát triển bền vững cần phải lập quy hoạch điều chỉnh,
bổ sung xây dựng hệ thống giao thông công cộng hoạt động hiệu quả, trong đóđường sắt đô thị với sức chở lớn đóng vai trò “xương sống”, là “động mạchchính” của mạch máu giao thông, các phương tiện giao thông khác có sức chởnhỏ hơn đóng vai trò “mao mạch” lan tỏa khắp thành phố giúp cho người dân dễdàng tiếp cận, sử dụng giao thông công cộng một cách thuận tiện, nhờ vậy hạnchế được phương tiện giao thông cá nhân, khắc phục vấn nạn kẹt xe, ô nhiễmmôi trường và biến đổi khí hậu
2.2- Đặc điểm:
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thựchiện di dời ra bên ngoài các ngành công nghiệp thâm dụng lao động hoặc gây ônhiễm môi trường; dãn dân ra các đô thị vệ tinh; xây dựng các khu liên hợp dân
cư – công nghiệp, v.v… Điều này phản ánh tính hiện thực của dự báo nêu trên
Do đó việc sử dụng dự báo nêu trên khi quy hoạch giao thông đường sắt đô thị
là cần thiết
Về quy hoạch đô thị, hiện nay có quan điểm muốn tách bạch giữa giao
thông đối nội và giao thông đối ngoại, yêu cầu đưa giao thông đối ngoại ra
ngoài; nhưng thực tế cho thấy ranh giới giữa vận chuyển khách nội đô và ngoại
ô ở các đô thị lớn trên thế giới ngày càng bị xóa nhòa và trở nên khó phân chia
do dân cư và diện tích lãnh thổ của thành phố liên tục phát triển Ở thành phố
Hồ Chí Minh tình hình cũng cũng tương tự như vậy: một khu vực hôm nay làngoại ô, ngày mai đã thành nội đô (ví dụ như huyện Thủ Đức chẳng hạn); nếuvẫn quan niệm như trên thì ga khách Sài Gòn sẽ phải di dời sang tỉnh Đồng Nai.Việc đề cập đến vấn đề trên nhằm đạt được sự thống nhất quan điểm trong quyhoạch đường sắt đô thị cho thành phố Hồ Chí Minh trong đề án quy hoạch giaothông này
Trang 71.3- Ý nghĩa:
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước diễn ra dưới nhiều hình thức nhưxây dựng pháp luật, định hướng, tổ chức, giám sát, kiểm tra, điều chỉnh nhằmđảm bảo pháp luật được thực thi, quyền lợi và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chứcđược bảo đảm và thực hiện, các giá trị xã hội, giá trị văn hoá, nguồn lực tàinguyên thiên nhiên và xã hội (kể cả giá trị phi vật thể) được gìn giữ và bảo vệ.Trong phạm vi hẹp, quản lý đô thị chủ yếu tập trung vào việc thực thi pháp luật,thuộc nhiệm vụ của UBND các cấp
- Quản lý nhà nước về đô thị thực chất là quản lý vấn đề định cư ở đô thị,một vấn đề đặc thù và đặc trưng cho đô thị Đây là điểm phân biệt quan trọnggiữa quản lý nhà nước đô thị với quản lý nhà nước trên một đơn vị hành chínhlãnh thổ Quản lý mọi mặt trên một đơn vị hành chính sẽ bao gồm cả các hoạtđộng kinh tế ngành Quản lý đô thị về cơ bản không bao gồm các hoạt độngquản lý kinh tế ngành và quản lý lĩnh vực đặc thù như tôn giáo, an ninh quốcgia, nông nghiệp, công thương nghiệp, vv…
- Thuận lợi và tiện ích: hệ thống đường sắt đô thị (metro, tàu điện ngầm)được thiết kế với độ an toàn rất cao Khi di chuyển bằng metro, bạn không phảicăng thẳng như đi xe máy, không sợ va quệt hay té ngã…Sử dụng metro bạn cóthể vừa đọc báo, vừa ăn sáng hoặc có thể chợp mắt, nghỉ ngơi một lúc mà đi xemáy bạn không bao giờ có được Di chuyển bằng metro bạn không sợ mưa nắng,khói bụi,…Bạn có thể đi từ nhà bằng xe đạp, xe máy, xe buýt đến ga metro.Xung quanh nhà ga là hệ thống bến bãi xe buýt, bãi gửi xe đạp xe máy, ô tô vàcòn có cả hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại…Sau khi di chuyển bằngmetro bạn xuống ga nơi bạn muốn đến, sau đó bạn có thể sử dụng hệ thống xebuýt nối kết để đến nơi bạn muốn Trong tương lai bạn có thể đi đến bất cứ nơiđâu trên thành phố chỉ bằng metro mà không bao giờ bị kẹt xe Ngoài ra, một ưuđiểm vượt trội khi sử dụng metro so với các phương tiện khác là tính chính xác
về thời gian, bạn hoàn toàn kiểm soát được thời gian khi sử dụng metro
- Thời gian vận hành hợp lý: căn cứ theo thói quen đi lại và xu hướng pháttriển nhu cầu đi lại của người dân thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gầnđây và nâng cao chất lượng phục vụ của giao thông đường sắt đô thị đối vớihành khách
3 Cơ sở pháp lý:
3.1- Cơ sở pháp lý chung:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyếtnghị thông qua Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, làmnền tảng định hướng cho sự phát triển đất nước trong thời kỳ mới
Trang 8Tại Kỳ họp thứ hai tháng 11 năm 2011, Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam khoá XIII cũng đã thông qua Nghị quyết số 10/2011/QH13
về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 Một trong những nhiệm
vụ chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2015 là rà soát, đánh giá các dự án phát triểnkết cấu hạ tầng giao thông, nhất là ở các vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên bố trí
vốn đầu tư dứt điểm để sớm đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả Phát triển
nhanh hệ thống giao thông đô thị, nhất là giao thông công cộng Từng bước pháttriển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống hạ tầng các đô thị lớn gắn với bố trí, cơcấu lại sản xuất và phân bố dân cư; nâng cao năng lực các dịch vụ tổng hợp của
ba cảng biển lớn ở ba khu vực
Cơ sở pháp lý của công tác quản lý quy hoạch đô thị gồm nhiều nguồn,trong đó có nguồn văn bản quy phạm pháp luật: Luật và dưới Luật của Trungương và địa phương; các đồ án quy hoạch đô thị và các quy chuẩn tiêu chuẩn;các Nghị quyết Quốc hội; Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.Các văn bản dưới luật bao gồm Nghị định, Thông tư, và kể cả các Chỉ thị và vănbản chỉ đạo điều hành khác
Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đô thị ở Việt Nam chưa đượctổng hợp thành những bộ luật bao trùm nội dung của công tác này Vì vậy, các
cơ quan phải sử dụng các cơ sở pháp lý chưa được hệ thống hóa, nằm ở nhiềuvăn bản khác nhau Tính đến năm 2009, có 5 nhóm văn bản chính đóng vai tròquan trọng để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến quản lý đô thị, đó là:
-Luật Quy hoạch đô thị 2009;
-Luật Xây dựng 2003 và các văn bản hướng dẫn;
-Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn;
-Luật Nhà ở 2005 và các văn bản hướng dẫn;
-Luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản hướng dẫn;
Ngoài 5 văn bản chính nêu trên, các cơ quan quản lý còn sử dụng nhiềuvăn bản khác như Bộ Luật Dân sự 2005, Luật tổ chức UBND và HĐND 2001,Luật Đầu tư 2005, Luật Đấu thầu 2005, Luật Bảo vệ môi trường 2005, LuậtGiao thông đường bộ 2008; Luật Tài nguyên nước 1998, Luật Trưng mua trưngdụng tài sản 2008, Luật Phòng cháy chữa cháy 2001, Luật Doanh nghiệp 2001,Luật Thanh tra 2004, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2008,v.v… và cácvăn bản dưới luật hướng dẫn thi hành làm cơ sở điều chỉnh các hoạt động quản
lý trên toàn quốc Duy nhất có Luật Thủ đô dành riêng cho Hà Nội có nhữngquy định liên quan đến các đô thị khác quy định về vấn đề quản lý đô thị
Trang 9Bên cạnh các quy phạm pháp luật dưới dạng văn bản, các cơ quản quản lýcòn căn cứ vào các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, nhất là các đồ án quyhoạch chi tiết là căn cứ pháp lý quan trọng để phê duyệt và triển khai thực hiệncác dự án đầu tư Ngoài ra, các tiêu chuẩn quy chuẩn quy hoạch, xây dựng vàtiêu chuẩn ngành khác cũng là các căn cứ sử dụng trong cấp phép các công trình,phê duyệt các dự án và phương án phát triển, cải tạo và xây dựng đô thị.
Nghị định số 39/2010/NĐ-CP ngày ngày 07 tháng 04 năm 2010 của Chínhphủ về quản lý không gian xây dựng ngầm đô thị
Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ ChíMinh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020
Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 08 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải thànhphố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020
Chương trình hành động số 12-CtrHĐ/TU ngày 16 tháng 3 năm 2011 củaThành ủy thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thànhphố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2011-2015.Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Ủy bannhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyếtĐại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình giảm ùn tắc giao thônggiai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020
Trang 10CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VÀ
QUY HOẠCH HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1 Đặc điểm:
1.1- Thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị:
- Tình trạng xây dựng còn lộn xộn, đa số không phép, trong sử dụng đất đôthị còn phổ biến hiện tượng không theo quy hoạch và pháp luật
- Chất lượng của các đồ án quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị nhìnchung còn yếu, tính khả thi chưa cao, mỹ quan đô thị nghèo nàn, đơn điệu, chắp vá
- Các cơ sở pháp luật và văn bản pháp quy về quy hoạch xây dựng kiếntrúc đô thị còn thiếu cụ thể và thiếu đồng bộ
- Cơ chế và thủ tục hành chính trong việc giao đất, cấp giấy phép xây dựngvẫn chưa được thực hiện triệt để theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bảnpháp luật khác cũng như Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, nhìn chung còn phứctạp, phiền hà và tiến bộ rất chậm
- Năng lực cán bộ thiết kế quy hoạch kiến trúc đô thị, quản lý quy hoạchxây dựng kiến trúc đô thị nhìn chung còn yếu kém, chưa tương xứng với pháttriển đô thị của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Hệ thống cơ quan quản lý quy hoạch xây dựng kiến trúc đô thị chưa hoànthiện, nhất là cấp cơ sở
- Phương thức quản lý quy hoạch xây dựng kiến trúc đô thị còn mangnhững đặc điểm của cách làm chắp vá, tùy tiện, riêng rẽ, thiếu thống nhất, chưachuyển đổi kịp theo cơ chế kinh tế thị trường, vv
1.2- Thực hiện công tác lập Quy hoạch: Làm cơ sở để xây dựng và từng
bước hoàn chỉnh, hiện đại hoá mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt,đường thuỷ, đường hàng không đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 nhằmđảm bảo cho thành phố phát triển ổn định, cân bằng, bền vững và lâu dài, gópphần đưa thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đô thị trung tâm cấp quốc gia, làhạt nhân của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm thương mại -dịch vụ lớn ở khu vực Đông Nam Á
Trang 111.3- Kế hoạch 5 năm Phát triển Kinh tế Xã hội (2011 - 2015) đề cập nhu cầu
phát triển cấp thiết giao thông ở những thành phố lớn của Việt Nam Kế hoạch đềnghị việc phát triển đô thị trong tương lai phải đi đôi với việc đánh giá môi trườngphù hợp, một vấn đề được xem là thiếu ý thức về môi trường trong dự án pháttriển cơ sở hạ tầng ở những khu công nghiệp khu vực Đông Nam
Dân số ở khu đô thị thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của khu vựcĐông Nam, năm 1997 là 6.88 triệu, năm 2002 là 7.65 triệu và dự kiến sẽ lên đến13.5 triệu vào năm 2020 Kết quả là lượng giao thông đô thị tăng đột biến vànhững vấn đề ách tắc giao thông sẽ tiếp tục leo thang Đơn cử là tốc độ lưu thôngtrung bình của xe ô tô là 23.8km/giờ năm 2002 được dự báo sẽ giảm xuống còn13.3km/giờ năm 2020 Không còn nghi ngờ khả năng dẫn đến ô nhiễm không khínghiêm trọng và gây cản trở những hoạt động kinh tế và xã hội Một trong sốnhững vấn đề tồn tại là lưu lượng xe, đặc biệt là xe gắn máy, hiện nay chiếm đến94% tổng nhu cầu giao thông đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đề ra mục tiêuchính sách công cộng để giảm tỷ lệ này xuống 50% cho đến năm 2020
1.4- Với công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, nền kinh tế đất nước
đã có những bước phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực Việc chuyển đổi sang
cơ chế thị trường cùng với việc gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO)
đã thúc đẩy tiến trình đô thị hoá phát triển mạnh mẽ trên cả nước TPHCM vớidân số hiện nay khoảng 8,5 triệu người (năm 2009), cùng với khoảng hơn 10triệu dân sinh sống tại các tỉnh thành lân cận (như Đồng Nai, Long An, BìnhDương…) tạo thành vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là một trong nhữngtrung tâm ngoại giao, kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hoá và du lịch lớn của cảnước, là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng gồm: hệ thống giaothông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và hàng không Trong những năm gầnđây, cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, TPHCM đã có sự phát triểnmạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có hạ tầng giao thông vận tải, gópphần giải quyết phần lớn các vấn đề bức xúc trong giao thông đô thị đem lạihiệu quả kinh tế - xã hội cao
Ngày 22 tháng 01 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số101/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển GTVT TPHCM đến năm 2020 vàtầm nhìn sau năm 2020 Trong đó việc quy hoạch hệ thống đường sắt đô thịtrong thành phố có các nội dung chủ yếu sau:
cho chạy tàu ngoại ô và xây dựng 2 tuyến đường sắt nhẹ: Trảng Bàng - Tân ThớiHiệp, Thủ Thiêm - Nhơn Trạch - Cảng hàng không quốc tế Long Thành;
Trang 12 Quy hoạch hệ thống tàu điện ngầm (metro): Xây dựng 6 tuyến xuyêntâm và vành khuyên nối các trung tâm chính của thành phố và 3 tuyến xe điệnchạy trên mặt đất (monoray).
Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 568/QĐ-TTg ngày
08 tháng 4 năm 2013 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vậntải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 Trong đóviệc quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị có các nội dung chủ yếu sau:
Xây dựng 08 tuyến xuyên tâm và vành khuyên nối các trung tâm chính củathành phố, chủ yếu đi ngầm trong nội đô và 3 tuyến xe điện mặt đất hoặc đườngsắt một ray (Tramway hoặc Monorail), cụ thể:
- Tuyến số 1: Bến Thành - Suối Tiên, chiều dài khoảng 19,7 km; nghiên
cứu kéo dài tới thành phố Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương như sau:+ Kéo dài tới thành phố Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai: Từ ga Suối Tiên, đi dọctheo quốc lộ 1 đến ngã 3 Chợ Sặt, thành phố Biên Hòa
+ Kéo dài đến Bình Dương: Từ ga Suối Tiên – Mỹ Phước – Tân Vạn –Đường XT1 – ga Trung tâm (Khu liên hợp Công nghiệp – Đô thị – Dịch vụ BìnhDương)
- Tuyến số 2: Đô thị Tây Bắc (huyện Củ Chi) – quốc lộ 22 – Bến xe Tây
Ninh – Trường Chinh – (nhánh vào Depot Tham Lương) – Cách Mạng ThángTám – Phạm Hồng Thái – Bến Thành – Thủ Thiêm, chiều dài khoảng 48,0 km;
- Tuyến số 3a: Bến Thành – Phạm Ngũ Lão – Ngã 6 Cộng Hòa – Hùng
Vương – Hồng Bàng – Kinh Dương Vương – Depot Tân Kiên – ga Tân Kiên,chiều dài khoảng 19,8 km Nghiên cứu kéo dài tuyến số 3a kết nối thành phốTân An (tỉnh Long An) từ ga Hưng Nhơn đi dọc theo quốc lộ 1;
- Tuyến số 3b: Ngã sáu Cộng Hòa – Nguyễn Thị Minh Khai – Xô Viết
Nghệ Tĩnh – Quốc lộ 13 – Hiệp Bình Phước, chiều dài khoảng 12,1 km Nghiêncứu kết nối với thị xã Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) từ ga Hiệp Bình Phước
và đi dọc quốc lộ 13, kết nối với tuyến đường sắt đô thị số 1 của tỉnh BìnhDương
- Tuyến số 4: Thạnh Xuân – Hà Huy Giáp – Nguyễn Oanh – Nguyễn Kiệm
– Phan Đình Phùng – Hai Bà Trưng – Bến Thành – Nguyễn Thái Học – Tôn Đản– Nguyễn Hữu Thọ – Khu đô thị Hiệp Phước, chiều dài khoảng 36,2 km;
Trang 13- Tuyến số 4b: Ga Công viên Gia Định (tuyến số 4) – Nguyễn Thái Sơn –
Hồng Hà – Cảng hàng không quốc tế Tân Sân Nhất – Trường Sơn – Công viênHoàng Văn Thụ - Ga Lăng Cha Cả (tuyến số 5), chiều dài khoảng 5,2 km;
- Tuyến số 5: Bến xe Cần Giuộc mới – quốc lộ 50 – Tùng Thiện Vương –
Phù Đổng Thiên Vương – Lý Thường Kiệt – Hoàng Văn Thụ – Phan Đăng Lưu
- Tuyến số 6: Bà Quẹo – Âu Cơ – Lũy Bán Bích – Tân Hòa Đông – Vòng
xoay Phú Lâm, chiều dài khoảng 5,6 km
Quy hoạch xây dựng 07 Depot như sau: Suối Tiên – diện tích khoảng 27,7
ha (tuyến số 1), Tham Lương – diện tích khoảng 25,0 ha (tuyến số 2), Tân Kiên– diện tích khoảng 26,5 ha (tuyến số 3a), Hiệp Bình Phước – diện tích khoảng20,0 ha (tuyến số 3b), Thạnh Xuân – diện tích khoảng 27,0 ha, Nhà Bè – diệntích khoảng 20,0 ha (tuyến số 4), Đa Phước - diện tích khoảng 32,0 ha (tuyến số5), tổng diện tích các Depot khoảng 158,2 ha và các ga đường sắt đô thị: Gatrung tâm (Ga Bến Thành), Ga nối ray và ga đấu nối giữa các tuyến (ga BàQuẹo, ga Ngã 6 Cộng Hòa; ga Lăng Cha Cả ), Ga trung gian: Trung bình từ
700 m đến 2.000 m bố trí 01 ga
- Tuyến xe điện mặt đất số 1: Ba Son – Tôn Đức Thắng – Công trường Mê
Linh – Võ Văn Kiệt – Lý Chiêu Hoàng – Bến xe Miền Tây hiện hữu, chiều dàikhoảng 12,8 km Định hướng kéo dài từ Ban Son đến khu đô thị Bình Quới (Thanh
Đa – Bình Thạnh)
- Tuyến Monorail số 2: Quốc lộ 50 (quận 8) – Nguyễn Văn Linh – Trần
Não – Xuân Thủy (quận 2) – Khu đô thị Bình Quới (Thanh Đa – Bình Thạnh).Định hướng kết nối với tuyến đường sắt đô thị số 3a, chiều dài khoảng 27,2 km;
- Tuyến Monorail số 3: Ngã tư (Phan Văn Trị – Nguyễn Oanh) – Phan
Văn Trị – Quang Trung – Công viên phần mềm Quang Trung – Tô Ký – ga TânChánh Hiệp, chiều dài khoảng 16,5 km
Quy hoạch xây dựng 03 Depot cho các tuyến xe điện mặt đất hoặcMonorail như sau: Bến xe Miền Tây, diện tích khoảng 2,1 ha (tuyến xe điện mặtđất số 1); đường Nguyễn Văn Linh, diện tích khoảng 5,9 ha (tuyến Monorail số2); đường Tân Chánh Hiệp – diện tích khoảng 5,9 ha (tuyến số Monorail số 3).Tổng diện tích các Depot khoảng 13,9 ha
Trang 14Bản đồ quy hoạch hệ thống đường sắt đô thị của thành phố Hồ Chí Minh
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ METRO