Tình hình nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và những kiến nghị .... CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA CỦA LÀO TRONG SỰ SO SÁN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT 000
Somdeth KEOVONGSACK
SO S¸NH PH¸P LUËT CñA Céng HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO
Vµ Céng HßA X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM VÒ B¶O Hé
NH·N HIÖU HµNG HãA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT 000
Somdeth KEOVONGSACK
SO S¸NH PH¸P LUËT CñA Céng HßA D¢N CHñ NH¢N D¢N LµO
Vµ Céng HßA X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM VÒ B¶O Hé
NH·N HIÖU HµNG HãA
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 62 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Ngô Huy Cương
2 TS Nguyễn Thị Quế Anh
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu nêu trong Luận án là trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận án
Somdeth KEOVONGSACK
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Ký hiệu các chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUÂN ÁN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 8
1.2 Tình hình nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa 14
1.3 Tình hình nghiên cứu về thực trạng áp dụng pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa và những kiến nghị 17
1.4 Nhận xét, đánh giá và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
của luận án 21
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 27
2.1 Khái quát chung về nhãn hiệu hàng hóa 27
2.1.1 Quá trình hình thành nhãn hiệu hàng hóa 27
2.1.2 Chức năng của nhãn hiệu hàng hóa 28
2.1.3 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa 32
2.1.4 Phân loại nhãn hiệu hàng hóa 40
2.1.5 Phân biệt nhãn hiệu hàng hóa với một số đối tượng khác 46
2.2 Khái quát chung về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 50
2.2.1 Quá trình hình thành pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 50
2.2.2 Khái niệm pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 61
2.2.3 Ý nghĩa của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 64
Kết luận chương 2 67
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HÓA CỦA LÀO TRONG SỰ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
VIỆT NAM 69
3.1 Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hóa 70
3.2 Thực trạng pháp luật về xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 73
3.2.1 Nguyên tắc xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 73
3.2.2 Thực trạng áp dụng quy định về xác lập quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 74
3.3 Thực trạng quy định pháp luật về chủ sở hữu, nội dung quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 83
3.3.1 Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa 83
3.3.2 Nội dung quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa 84
3.4 Bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 88
3.4.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 88
3.4.2 Quy định pháp luật về bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 91
3.4.3 Thực trạng các cơ quan bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 117
Kết luận chương 3 121
CHƯƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
HÀNG HÓA TỪ KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM 123
4.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 123
4.2 Kinh nghiệm của Việt Nam trong việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 125
4.2.1 Kinh nghiệm trong việc ban hành văn bản pháp luật về
bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 125
Trang 74.2.2 Kinh nghiệm trong việc xáp lập quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 126
4.2.3 Kinh nghiệm trong việc bảo vệ quyền đối với
nhãn hiệu hàng hóa 127
4.2.4 Kinh nghiệm trong việc nâng cao nhận thức xã hội về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 130
4.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở Lào 133
4.3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 133
4.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ
nhãn hiệu hàng hóa 154
Kết luận chương 4 157
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 164
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (Lào) là một trong những nước đang phát triển trên thế giới và mới giành được quyền độc lập từ các thế lực bên ngoài hơn ba mươi năm trở lại đây Bắt đầu từ năm 1986, Đảng và Chính phủ Lào đã đổi mới chính sách kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường Chính phủ Lào luôn luôn tạo mọi điều kiện thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó việc hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế toàn cầu đã trở thành nhu cầu tất yếu của Chính phủ Lào
Kết quả đó, Lào đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm
1998 và ký Hiệp định song phương về đầu tư thương mại với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới Đặc biệt nhất là ngày 3/2/2013 vừa qua Lào đã trở thành thành viên thứ 158 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đây có thể được coi là thời khắc lịch sử trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Lào Trước khi gia nhập WTO, Chính phủ Lào cũng đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách hệ thống luật pháp và thể chế để đảm bảo cho nhân dân Lào có được các điều kiện cần thiết nhằm thu được những tiềm năng kinh tế và lợi ích từ quá trình phát triển Chính phủ Lào tin rằng, việc gia nhập WTO sẽ giúp thúc đẩy phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia Ngoài ra, việc gia nhập WTO sẽ giúp mở đường để Lào có thể thực hiện được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2020
Trước những tiềm năng thuận lợi và thành công trong việc đàm phán gia nhập WTO, thách thức và những khó khăn lớn đang ở phía trước Lào là phải thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, đặc biệt nhất là Lào phải xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) tuân thủ đầy đủ và hiệu quả theo quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên
Trang 9quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs)
Trong khi đó, Lào cũng không khác với các nước đang phát triển khác, tình trạng vi phạm quyền SHTT ở thị trường trong nước vẫn đang diễn ra ngày càng gia tăng trên nhiều lĩnh vực khác nhau với các hành vi vi phạm đa dạng và phức tạp, nhất là hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) Bởi vì Lào có biên giới với các nước láng giềng hoàn toàn là trên đất liền cho nên việc vận chuyển hàng hóa vi phạm quyền SHTT qua lại biên giới và lưu thông trên thị trường của Lào là rất khó kiểm soát và trở nên ngày càng gia tăng Những gia tăng và lan rộng của hàng hóa vi phạm quyền SHTT tại Lào là do nhận thức và hiểu biết của các doanh nghiệp, người tiêu dùng lẫn cán bộ nhà nước từ Trung ương đến địa phương vẫn còn hạn chế về việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và NHHH nói riêng
Nhãn hiệu hàng hóa là một trong những đối tượng quyền SHTT đầu tiên được pháp luật Lào bảo hộ Chính phủ Lào đã ban hành Nghị định số 06/CP
về NHHH vào năm 1995 Với những nỗ lực và quyết tâm gia nhập WTO, Quốc hội Lào đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ số 08/QH ngày 24/12/2007 Đây là Luật SHTT đầu tiên của Lào điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền SHTT trong một văn bản pháp luật chuyên biệt này
Mặc dù, Luật SHTT được ban hành và có hiệu lực từ năm 2008, nhưng Chính phủ Lào vẫn chưa ban hành văn bản pháp luật nào quy định hướng dẫn việc thi hành pháp luật này Trong thực tế triển khai áp dụng, Luật SHTT 2007 Lào đã bộc lộ nhiều bất cập Điều này dẫn đến việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của luật này vào cuối năm 2011 để làm cho nội dung phù hợp với các yêu cầu và đòi hỏi của pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền SHTT Nhưng Luật SHTT 2011 Lào vẫn còn vấp phải nhiều bất cập, nhiều nội dung quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), nội dung quyền, cũng như các biện pháp và chế tài thực thi quyền SHTT vẫn còn chưa được cụ thể
Trang 10Trước tình trạng trên, Chính phủ Lào cũng hết sức nỗ lực trong việc bảo
hộ quyền SHTT, song phải thừa nhận rằng, nó chưa đáp ứng ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn khách quan xuất phát từ các điểm bất cập chính sau:
- Hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT chưa đáp ứng được tính đầy đủ
và hiệu quả theo đòi hỏi của Hiệp định TRIPs
- Hoạt động thực thi bảo hộ quyền SHTT của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có hệ thống và biện pháp đồng bộ
- Việc xử lý các vụ xâm phạm quyền SHTT của các cơ quan chức năng còn thiếu nghiêm túc, mức xử phạt còn thấp, không đủ răn đe người vi phạm
- Năng lực và kiến thức về SHTT nói chung và NHHH nói riêng của cán
bộ chuyên môn còn hạn chế, nhận thức của cộng đồng xã hội còn chưa cao Tình trạng này đã làm cho việc bảo hộ NHHH ở Lào chưa đạt được kết quả cao, gây nản lòng cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Phải thừa nhận rằng, trên thực tế có rất nhiều cách để xây dựng hệ thống bảo hộ quyền SHTT một cách có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tế và tương đồng với pháp luật của các nước trong khu vực Trong
đó, cách nhanh chóng và hiệu quả nhất là tăng cường việc học hỏi kinh nghiệm của quốc gia tiên phong như Việt Nam là rất quan trọng và bổ ích đối
Trang 11Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài: “So sánh pháp luật của Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo
hộ nhãn hiệu hàng hóa” sẽ góp phần giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và
thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu và người tiêu dùng, cũng như tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, đồng thời đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ cam kết quốc tế trong lĩnh vực SHTT
Tác giả tin rằng, từ kinh nghiệm thực tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO trong thời gian qua sẽ giúp tác giả gặt hái được bài học quý giá trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo hộ quyền SHTT cho quốc gia mình
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: là làm rõ về lý luận và thực tiễn pháp luật bảo hộ
NHHH của Lào, trên cơ sở so sánh, đối chiếu với pháp luật bảo hộ NHHH của Việt Nam và quốc tế Từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào từ kinh nghiệm của Việt Nam để làm cho pháp luật bảo hộ NHHH của Lào
tương đồng với các nước khu vực và phù hợp với các công ước quốc tế
Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục đích trên, luận án đã đặt ra
nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 12- Nghiên cứu lý luận về pháp luật bảo hộ NHHH;
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam;
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam;
- Nghiên cứu về bộ máy và các biện pháp, chế tài thực thi bảo hộ NHHH của Lào và Việt Nam, từ đó đưa ra đề xuất, các giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật bảo hộ NHHH của Lào trong tương lai
Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định hiện
hành về pháp luật bảo hộ NHHH của Lào, Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan Nghiên cứu những hoạt động bảo hộ NHHH của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền của Lào và Việt Nam
Về mặt thời gian, luận án tập trung nghiên cứu pháp luật bảo hộ NHHH của Lào từ năm 1995, đến hết 6 tháng đầu năm 2014 và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo hộ NHHH của Lào đến năm 2020
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, tác giả luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp lý, như: Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu tại chương 2; Phương pháp phân tích pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2 và chương 3; Phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2
và chương 3; Phương pháp đánh giá pháp luật được sử dụng chủ yếu tại chương 2 và chương 3; Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở tất cả các chương của luận án để chỉ rõ những điểm tương đồng, điểm khác biệt và điểm cần khắc phục của hệ thống pháp luật bảo hộ NHHH của Lào
Để thực hiện các phương pháp trên, tác giả luận án sử dụng các tài liệu
Trang 13DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Somdeth Keovongsack (2012), “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo pháp
luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”, Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật,
Trang 14TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt:
1 Nguyễn Thị Lan Anh (2012), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu theo luật nước ngoài, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Nguyễn Thị Quế Anh (2010), "Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của
nhãn hiệu", Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN, Luật học, số (26)
3 Michael Blakeney, Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ, Bài 4: Nhãn hiệu
và Chỉ dẫn địa lý, do chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí
tuệ (ECAPII) dịch và cung cấp
4 Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 8/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam
về một số biện pháp cấp bách chống hàng giả, hàng kém chất lượng
5 Chỉ thị số 825/CT-TTg ngày 2/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ Việt
Nam về việc tăng cường công tác thực thi quyền sở hữu công nghiệp
6 Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883
7 Hoàng Anh Công (12/2006), “Pháp luật hải quan với việc thực thi quyền
sở hữu trí tuệ ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số (89)
8 Cục sở hữu công nghiệp và Viện sở hữu trí tuệ Liên Bang Thủy Sỹ
(2002), Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội
nhập, NXB Bản Đồ, Hà Nội
9 Cục sở hữu trí tuệ (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật
và áp dụng, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
10 Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (2005), Báo cáo hoạt động sở hữu trí tuệ,
Trang 15hữu trí tuệ, NXB Khoa học và Kỹ thuật
13 Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (2012), Báo cáo thường niên - Hoạt động sở
hữu trí tuệ, NXB Khoa học và Kỹ thuật
14 Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam (2013), Báo cáo tổng quan về hoạt động
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, số 9131/HSTT-PCCS ngày
25/10/2013
15 Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam, Danh sách nhãn hiệu chứng nhận đã được
Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ, http://noip.gov.vn/noip/
RESOURCE.NSF/vwResourceList/1644A67C8D33914A4725785C000E763B/$ FILE/NhanCN.pdf, truy cập ngày 6/4/2013
16 Nguyễn Bá Diễn (2010), Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội
quốc tế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội
17 Lê Đăng Doanh (11/2010), “Cần có văn bản hướng dẫn các dấu hiệu đặc
trưng của tội phạm xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và tội sản xuất hàng giả”, Tạp chí Kiểm sát, số (21)
18 Dự án hỗ trợ thương mại đa biên II (EU - Việt Nam MUTRAP II) (2007), Vị
trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức Thương mại thế giới trong
hệ thống thương mại đa phương, NXB Lao động-Xã hội, Hà Nội
19 Dự án hỗ trợ thương mại đa biên III (EU - Việt Nam MUTRAP III)
(4/2011), Tầm quan trọng của thực thi pháp luật bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ, Hà Nội
20 Trần Minh Dũng, Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính,
sohuu-tri-tue-bang-bien-phap-hanh-chinh, truy cập ngày 05/02/2012
http://thanhtra.most.gov.vn/vi/cac-bai-nghien-cuu-shtt/bao-ve-quyen-21 Dương Tử Giang, Phạm Vũ Khánh Toàn (2013), Báo cáo tổng hợp kết
quả rà soát Luật sở hữu trí tuệ và các kiến nghị, http://luatsuadoi.Vib